Xem Nhiều 2/2023 #️ 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 6B/Nq # Top 2 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 6B/Nq # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 6B/Nq mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trang chủHOẠT ĐỘNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG TỈNH

10 năm thực hiện Nghị quyết 6b/NQ-BCH và Chỉ thị 03/CT-TLĐ giai đoạn 2010 – 2020 

10 năm qua, đội ngũ nữ CNVCLĐ trên địa bàn tỉnh Quảng Bình ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng, là lực lượng đóng góp quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương; hiện nay, nữ đoàn viên công đoàn chiếm tỷ lệ 57,7%. 

Các đồng chí lãnh đạo LĐLĐ tỉnh biểu dương nữ CNVCLĐ tiêu biểu

Nhận thức rõ tầm quan trọng của Nghị quyết 6b/NQ-BCH về công tác vận động nữ CNVCLĐ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và Chỉ thị 03/CT-TLĐ về tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”; ngay sau khi Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành Nghị quyết, Liên đoàn Lao động tỉnh đã kịp thời xây dựng Kế hoạch triển khai đến các cấp công đoàn trong tỉnh. Trong công tác chỉ đạo đã gắn với việc tổ chức quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đặc biệt là triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20/01/2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới; Chỉ thị 05-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”… Đồng thời, chỉ đạo công đoàn trực thuộc tranh thủ sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, phối hợp với chuyên môn xây dựng kế hoạch cụ thể, phù hợp với đặc điểm tình hình của từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp.

 Kết quả thực hiện chương trình phối hợp với Hội Phụ nữ cùng cấp trong công tác vận động nữ CNVCLĐ được duy trì thường xuyên; đồng thời, tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện từ tỉnh đến cơ sở; qua đó, tổ chức phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước sâu rộng trong các cấp công đoàn được đông đảo nữ đoàn viên nhiệt tình hưởng ứng. Hầu hết Trưởng Ban nữ công LĐLĐ từ tỉnh đến huyện, thị xã, thành phố đều tham gia BCH Hội LHPN cùng cấp, lãnh đạo Hội LHPN từ tỉnh đến cấp huyện đều tham gia BCH LĐLĐ cùng cấp; vì vậy, các chủ trương, chương trình của công đoàn cũng như của hội đều được phối hợp triển khai đầy đủ, kịp thời.

Thực hiện Nghị quyết 12b/NQ-TLĐ của Tổng Liên đoàn Lao động về Ban nữ công quần chúng doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước; đến nay, có 878/878 CĐCS đủ điều kiện đã thành lập ban nữ công quần chúng. Hoạt động của Ban nữ công quần chúng các cấp công đoàn đã phát huy được vai trò tham mưu trong đề xuất những giải pháp nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho lao động nữ, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nữ công nhân, viên chức lao động.

Phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong nữ CNVCLĐ đã phát huy được vai trò, tiềm năng to lớn của nữ CNVCLĐ trong công cuộc đổi mới, góp phần phát triển kinh tế – xã hội và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới; phong trào đã được triển khai sâu rộng, gắn với các phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”; “Phụ nữ Quảng Bình học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Lao động giỏi, lao động sáng tạo” và các phong trào thi đua khác tạo nên khí thế sôi nổi trong lao động sản xuất, học tập, công tác được đông đảo nữ CNVCLĐ tham gia. Thông qua các phong trào thi đua, nữ CNVCLĐ đã không ngừng phấn đấu, rèn luyện và trưởng thành nhiều mặt; phát huy được năng lực, phẩm chất, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cơ quan, đơn vị; thực hiện tốt vai trò người mẹ, người vợ, người con trong gia đình. Nhiều nữ CNVCLĐ đã vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng, vững vàng về chính trị, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, được đảm nhận vị trí lãnh đạo, quản lý trong cơ quan Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể, đơn vị, doanh nghiệp; hàng năm có trên 95% nữ CNVCLĐ được công nhận danh hiệu “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”.

Kết quả thực hiện các chỉ tiêu của Nghị quyết 6b/NQ-TLĐ: tỷ lệ nữ tham gia BCH công đoàn các cấp đạt 39% (chỉ tiêu 30%); 100% công đoàn cơ sở có 30% nữ CNVCLĐ, đoàn viên công đoàn trở lên có cán bộ lãnh đạo chủ chốt công đoàn là nữ hoặc có nữ là ủy viên Ban Thường vụ, Ban chấp hành công đoàn. Có 100% số cán bộ chủ chốt công đoàn các cấp, 100% số cán bộ nữ công công đoàn cấp trên cơ sở được bồi dưỡng, tập huấn nội dung về bình đẳng giới, lồng ghép giới trong hoạt động công đoàn.

Với những thành tích đã đạt được 10 năm, Tổng LĐLĐ Việt Nam Bằng khen chuyên đề cho 02 cá nhân; LĐLĐ tỉnh tặng Bằng khen chuyên đề cho 20 tập thể, 33 cá nhân, Hội LHPN tỉnh tặng Bằng khen cho 4 cá nhân. Trong công tác chuyên môn, nhiều chị được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú, thầy thuốc ưu tú, được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen…

Trong những năm tiếp theo, dự báo sẽ có nhiều thuận lợi, khó khăn đặt ra đối với phong trào CNVCLĐ và hoạt động công đoàn nói chung và nữ CNVCLĐ nói riêng. Vì vậy, đặt ra cho tổ chức công đoàn các cấp phải đổi mới, sáng tạo, vận dụng linh hoạt trong phương pháp vận động nữ CNVCLĐ và tổ chức các phong trào thi đua trong lao động nữ; cần lựa chọn hình thức tuyên truyền phù hợp với điều kiện sống và làm việc của nữ CNVCLĐ, chú trọng hơn ở doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài nhà nước; tăng cường công tác tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, nâng cao chất lượng nghiệp vụ công tác nữ công; vận động nữ CNVCLĐ tích cực học tập, nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, tay nghề; tham gia các hoạt động văn nghệ, thể thao, các phong trào thi đua do các cấp công đoàn phát động; tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” gắn với phong trào “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”, chú trọng xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến, cụ thể hóa nội dung thi đua, tiêu chuẩn thi đua phù hợp với nữ CNVCLĐ trong từng cơ quan, đơn vi, doanh nghiệp nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công tác vận động nữ CNVCLĐ của các cấp công đoàn trong tỉnh.

                                                                                      Thu Hạnh 

[Trở về]

Các tin đã đăng

Liên đoàn Lao đông tỉnh hỗ trợ xây dựng 29 nhà “Mái ấm Công đoàn”. 

Lãnh đạo Liên đoàn Lao động tỉnh: Thăm hỏi gia đình có nạn nhân bị tai nạn giao thông 

Liên đoàn Lao động tỉnh: Tổ chức “Ngày hội hiến máu tình nguyện” năm 2020 

Công đoàn Quảng Bình: Niềm tin, cầu nối của người lao động 

Hỗ trợ 200 triệu đồng cho người lao động có hoàn cảnh khó khăn 

Hiệu quả Chương trình phối hợp giữa Liên đoàn Lao động tỉnh và Bảo hiểm xã hội tỉnh năm 2019 

Những giải pháp trong công tác kiểm tra, giám sát thực hiện các chính sách BHXH cho người lao động 

Kế Hoạch Thực Hiện Nghị Quyết Số 6B/Nq

Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 6b/NQ-TLĐ

01/07/2016

NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ 6 BAN CHẤP HÀNH TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM KHÓA XI

VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ỦY BAN KIỂM TRA CÔNG ĐOÀN

I. TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN KIỂM TRA CÔNG ĐOÀN CÁC CẤP

1. Kết quả đã đạt được

Trong những năm qua, tổ chức và hoạt động ủy ban kiểm tra công đoàn đã có nhiều cố gắng đổi mới về nội dung và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động.

1.1. Về tổ chức, cán bộ ủy ban kiểm tra

Về số lượng, đến cuối năm 2014 có 51.982 ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp với 200.445 ủy viên ủy ban kiểm tra. Trong đó, ủy ban kiểm tra liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành trung ương và tương đương có 524 ủy viên, cấp trên trực tiếp cơ sở có 7.883 ủy viên và công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn có 192.023 uỷ viên, Uỷ ban Kiểm tra Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam 15 ủy viên. Cán bộ kiểm tra là nữ 76.268 người chiếm 38,05%. Có 176 ủy viên chuyên trách, có 16.943 đồng chí phó chủ tịch kiêm nhiệm, 11.260 đồng chí ủy viên ban thường vụ, 38.637 đồng chí ủy viên ban chấp hành. Tổng số cán bộ chuyên trách tại các văn phòng ủy ban kiểm tra là 195 người.

Về chất lượng, cán bộ ủy ban kiểm tra tiếp tục được ban chấp hành, ban thường vụ công đoàn các cấp quan tâm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng; một số đồng chí đã được đào tạo cơ bản và chuyên sâu về tài chính và pháp luật để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao; một số cán bộ công tác lâu năm có nhiều kinh nghiệm trong công tác kiểm tra; một số cán bộ ủy ban kiểm tra được cơ cấu hợp lý, đa số chủ nhiệm ủy ban kiểm tra là ủy viên ban thường vụ, trong đó nhiều đồng chí là phó chủ tịch công đoàn cùng cấp.

1.2. Kết quả hoạt động của ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp

Được sự quan tâm lãnh đạo của ban chấp hành và sự chỉ đạo, tạo điều kiện của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn, ban thường vụ công đoàn các cấp, uỷ ban kiểm tra công đoàn các cấp đã bám sát chương trình hàng năm của Uỷ ban Kiểm tra Tổng Liên đoàn và công đoàn cấp trên để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra; số lượng, chất lượng các cuộc kiểm tra được nâng lên, công tác giải quyết, tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo đã được quan tâm chỉ đạo giải quyết kịp thời, đúng luật.

Kết quả thực hiện nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Công đoàn Việt Nam, nâng cao ý thức chấp hành Điều lệ Công đoàn; phát hiện và ngăn ngừa kịp thời các biểu hiện vi phạm Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị và các quy định của công đoàn, góp phần phát triển đoàn viên; tăng cường quản lý thu, chi tài chính, tài sản công đoàn, hạn chế tiêu cực tham nhũng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động, xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam ngày càng lớn mạnh.

2. Hạn chế và nguyên nhân

2.1. Hạn chế

– Một số ban chấp hành, ban thường vụ công đoàn các cấp ít quan tâm đến công tác kiểm tra, bố trí không đủ cán bộ chuyên trách ủy ban kiểm tra. Các công đoàn cơ sở và công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở không có cán bộ chuyên trách ủy ban kiểm tra công đoàn. Còn nhiều công đoàn cơ sở đủ điều kiện nhưng chưa thành lập ủy ban kiểm tra.

– Một số nơi thiếu cán bộ ủy ban kiểm tra nhưng chậm được bổ sung; cán bộ ủy ban kiểm tra không chuyên trách không ổn định, phần lớn thay đổi theo nhiệm kỳ, trình độ nghiệp vụ, kinh nghiệm, bản lĩnh, ý chí trong công tác kiểm tra còn hạn chế, còn biểu hiện ngại va chạm, né tránh, nể nang trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra.

– Hiệu quả hoạt động của một số ủy ban kiểm tra công đoàn còn hạn chế, số lượng các cuộc kiểm tra còn ít, chất lượng kiểm tra chưa cao; chưa thực hiện tốt chế độ thông tin báo cáo, chế độ sinh hoạt và quy trình kiểm tra theo quy định.

– Công tác bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ công tác kiểm tra cho ủy viên ủy ban kiểm tra và cán bộ làm công tác kiểm tra công đoàn các cấp chưa đảm bảo yêu cầu.

2.2. Nguyên nhân

– Một bộ phận cán bộ công đoàn chưa nhận thức đầy đủ về công tác kiểm tra, chưa quan tâm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp, tăng cường cán bộ làm công tác kiểm tra; trình độ, năng lực, bản lĩnh của một bộ phận cán bộ ủy ban kiểm tra còn hạn chế; một số nơi trang thiết bị làm việc chưa đảm bảo.

– Việc quy hoạch, lựa chọn, bố trí sắp xếp cán bộ ủy ban kiểm tra tại nhiều đơn vị chưa hợp lý, đặc biệt là ủy ban kiểm tra cấp trên cơ sở nên việc thực hiện nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra gặp nhiều khó khăn.

– Đội ngũ cán bộ ủy ban kiểm tra ở các cấp hầu hết là kiêm nhiệm, thời gian dành cho hoạt động ủy ban kiểm tra ít, tích lũy kinh nghiệm chưa nhiều, điều kiện hoạt động khó khăn.

– Sự hướng dẫn, chỉ đạo của ủy ban kiểm tra công đoàn cấp trên đối với ủy ban kiểm tra công đoàn cấp dưới một số nơi chưa kịp thời, sâu sát.

II. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU PHẤN ĐẤU

1. Quan điểm

– Kiểm tra là chức năng quan trọng của tổ chức công đoàn, là nhiệm vụ thường xuyên của ban chấp hành, ban thường vụ, ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp. Hoạt động kiểm tra phải được tiến hành chủ động, công khai, dân chủ, khách quan, thận trọng và chặt chẽ.

– Uỷ ban kiểm tra công đoàn là cơ quan kiểm tra của công đoàn, chịu sự lãnh đạo của ban chấp hành công đoàn cùng cấp và sự chỉ đạo của uỷ ban kiểm tra công đoàn cấp trên.

– Uỷ ban kiểm tra công đoàn hoạt động theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam và quy chế được ban chấp hành thông qua.

2. Mục tiêu

– Tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức trong cán bộ công đoàn các cấp trước hết trong ban chấp hành và người đứng đầu ban chấp hành về công tác kiểm tra và hoạt động ủy ban kiểm tra công đoàn.

– Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động ủy ban kiểm tra công đoàn góp phần phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm về Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị và các quy định của công đoàn. Bảo đảm công tác thu, phân cấp thu, phân phối nguồn thu, sử dụng, quản lý tài chính, tài sản, hoạt động kinh tế của công đoàn theo đúng quy định; giải quyết và tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, công nhân viên chức lao động.

– Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ uỷ ban kiểm tra, nòng cốt là đội ngũ cán bộ chuyên trách, cán bộ lãnh đạo ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam.

3. Chỉ tiêu phấn đấu

– Hàng năm có 100% ủy ban kiểm tra liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành trung ương và tương đương; ít nhất 80% ủy ban kiểm tra công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, 50% công đoàn cơ sở tổ chức kiểm tra tài chính cùng cấp;

– Hàng năm ủy ban kiểm tra liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành trung ương và tương đương tổ chức kiểm tra ít nhất 25% công đoàn cấp dưới về tài chính, 20% về chấp hành Điều lệ Công đoàn; công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở tổ chức kiểm tra ít nhất 15% công đoàn cấp dưới về tài chính, 10% về chấp hành Điều lệ Công đoàn;

– 100% dấu hiệu vi phạm khi phát hiện được kiểm tra kịp thời;

– 100% cán bộ chuyên trách ủy ban kiểm tra liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành trung ương và tương đương; ít nhất 80% cán bộ chuyên trách ủy ban kiểm tra công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở có trình độ đại học, trong đó số cán bộ được bố trí mới từ năm 2016 trở đi đảm bảo cơ cấu 50% được đào tạo về chuyên ngành luật và 50% về chuyên ngành tài chính, kế toán;

– Trong nhiệm kỳ 100% cán bộ ủy ban kiểm tra công đoàn cấp trên cơ sở và 70% trở lên cán bộ ủy ban kiểm tra công đoàn cơ sở được bồi dưỡng nghiệp vụ công tác kiểm tra và công đoàn.

III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

1. Nâng cao nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo của ban chấp hành, sự chỉ đạo của ban thường vụ công đoàn các cấp đối với tổ chức và hoạt động uỷ ban kiểm tra công đoàn

– Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu và những nội dung cơ bản của Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, các quy định của công đoàn về công tác kiểm tra nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, đoàn viên công đoàn các cấp về vị trí, vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của tổ chức và hoạt động ủy ban kiểm tra công đoàn, giúp cho lãnh đạo công đoàn các cấp trong công tác quản lý, đảm bảo công tác phòng ngừa các hành vi vi phạm.

– Tăng cường vai trò, trách nhiệm của ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch công đoàn các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác kiểm tra và hoạt động ủy ban kiểm tra công đoàn; tổ chức sơ kết, tổng kết hoạt động ủy ban kiểm tra hàng năm và nhiệm kỳ.

– Nâng cao vai trò của ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp trong việc tổ chức triển khai, thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam và chương trình công tác được ban chấp hành công đoàn cùng cấp thông qua.

2. Tiếp tục đổi mới phương pháp hoạt động ủy ban kiểm tra, tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng các cuộc kiểm tra

– Ban chấp hành công đoàn các cấp có trách nhiệm chỉ đạo xây dựng và thực hiện quy chế hoạt động, chương trình, kế hoạch công tác của ủy ban kiểm tra. Tập trung thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên như kiểm tra chấp hành Điều lệ; kiểm tra việc thu, phân phối, sử dụng, quản lý tài chính, tài sản; giải quyết và tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo. Chủ động tìm hiểu, thu thập thông tin, phát hiện và kiểm tra kịp thời các dấu hiệu vi phạm.

– Chú trọng kiểm tra ở cùng cấp và tăng cường kiểm tra cấp dưới, giám sát chặt chẽ việc thực hiện kết luận, kiến nghị của đoàn kiểm tra; đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn ủy ban kiểm tra cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, nhất là đối với cấp cơ sở.

3. Thường xuyên kiện toàn, củng cố tổ chức ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp

– Ban chấp hành công đoàn các cấp phải thường xuyên rà soát, kiện toàn tổ chức, bố trí cán bộ và tăng cường hoạt động của ủy ban kiểm tra công đoàn cấp mình, khi khuyết ủy viên ủy ban kiểm tra và các chức danh ủy ban kiểm tra thì ban chấp hành bầu bổ sung trong kỳ họp gần nhất; khi công đoàn có đủ điều kiện thành lập ủy ban kiểm tra thì phải tiến hành thành lập theo quy định.

– Xây dựng đội ngũ cán bộ ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp có phẩm chất, năng lực, nhiệt tình, bản lĩnh, khách quan, trung thực và am hiểu công đoàn, chính sách pháp luật, thông thạo nghiệp vụ và có điều kiện hoạt động.

– Chuẩn bị tốt nhân sự uỷ ban kiểm tra công đoàn trước mỗi kỳ đại hội công đoàn, đảm bảo về số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý. Chọn người đủ tiêu chuẩn và có kinh nghiệm về hoạt động kiểm tra, nhất là đối với cán bộ chuyên trách ủy ban kiểm tra, ưu tiên lựa chọn cán bộ trẻ. Cơ cấu chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra là uỷ viên ban thường vụ công đoàn cùng cấp.

– Xây dựng quy hoạch và quy định tiêu chuẩn, chức danh, định mức biên chế cán bộ văn phòng ủy ban kiểm tra công đoàn để đảm bảo chất lượng đội ngũ cán bộ. Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành trung ương và tương đương phải xây dựng, củng cố đội ngũ cán bộ chuyên trách văn phòng ủy ban kiểm tra cấp mình, ít nhất là 3 cán bộ đối với cấp liên đoàn lao động tỉnh, thành phố và 02 cán bộ đối với cấp công đoàn ngành trung ương và tương đương. Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở có 04 cán bộ chuyên trách công đoàn trở lên thì bố trí đồng chí chuyên trách công đoàn làm chủ nhiệm ủy ban kiểm tra. Định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ công chức làm công tác kiểm tra chuyên trách tại các cấp công đoàn.

– Các văn bản do ủy ban kiểm tra hoặc đoàn kiểm tra ban hành phải đảm bảo thể thức quy định và đóng dấu của ban chấp hành công đoàn cùng cấp.

4. Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ uỷ ban kiểm tra công đoàn

– Ủy ban kiểm tra tăng cường phối hợp với ban tổ chức công đoàn cùng cấp và các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của tổ chức công đoàn để bồi dưỡng nghiệp vụ hàng năm cho cán bộ ủy ban kiểm tra công đoàn cấp mình và cấp dưới. Nội dung bồi dưỡng nghiệp vụ phải thiết thực, cụ thể, dễ hiểu, phù hợp với yêu cầu trình độ, đặc điểm của đối tượng được bồi dưỡng, sát với thực tiễn hoạt động của uỷ ban kiểm tra công đoàn mỗi cấp.

– Công đoàn cơ sở không có ủy ban kiểm tra thì bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ cho đồng chí ủy viên ban chấp hành làm nhiệm vụ kiểm tra theo những nội dung quy định của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn và hướng dẫn của công đoàn cấp trên.

– Xây dựng, củng cố đội ngũ báo cáo viên, giảng viên kiêm chức là cán bộ chuyên trách ủy ban kiểm tra, có kế hoạch đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ kiểm tra như tài chính, pháp luật và công đoàn tại các cơ sở đào tạo phù hợp với từng chuyên ngành để nâng cao trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng cho cán bộ ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp hàng năm.

5. Đảm bảo điều kiện làm việc và hoàn thiện cơ chế chính sách đối với cán bộ uỷ ban kiểm tra công đoàn

– Ban chấp hành, ban thường vụ công đoàn các cấp quan tâm, tạo điều kiện về cơ sở vật chất cho hoạt động ủy ban kiểm tra như phòng làm việc, phòng tiếp đoàn viên và người lao động; đảm bảo trang thiết bị cần thiết cho cán bộ ủy ban kiểm tra hoạt động.

– Sắp xếp thời gian và tạo điều kiện để cán bộ ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp tham gia các hoạt động của ủy ban kiểm tra. Có cơ chế đảm bảo hoạt động và can thiệp, bảo vệ kịp thời khi cán bộ uỷ ban kiểm tra bị xâm phạm; hỗ trợ, giúp đỡ cán bộ uỷ ban kiểm tra công đoàn khi gặp khó khăn.

– Quan tâm đầu tư về kinh phí hoạt động đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ kiểm tra, kinh phí cho công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cán bộ ủy ban kiểm tra hàng năm.

– Căn cứ vào các chế độ, chính sách đã có đối với cán bộ kiểm tra của Đảng và thanh tra Nhà nước, Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn vận dụng, thực hiện đối với cán bộ ủy ban kiểm tra công đoàn cho phù hợp.

– Trong quá trình cải cách tiền lương cần nghiên cứu đề xuất Nhà nước đưa cán bộ chuyên trách ủy ban kiểm tra của công đoàn vào ngạch lương của ngành thanh tra, kiểm tra.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

– Ban Chấp hành giao Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết.

– Ủy ban Kiểm tra Tổng Liên đoàn hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc tổ chức triển khai, thực hiện và định kỳ tham mưu, đề xuất tổ chức sơ kết, tổng kết thực hiện Nghị quyết.

2. Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành trung ương và tương đương

– Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết phù hợp với đặc điểm tình hình của từng địa phương, ngành.

– Tổ chức tuyên truyền, phổ biến và chỉ đạo, hướng dẫn công đoàn các cấp tổ chức triển khai thực hiện, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và tổ chức thực hiện có chất lượng, hiệu quả các nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra công đoàn.

Nơi nhận:  – Uỷ viên BCH TLĐ; – Uỷ viên UBKT TLĐ; – LĐLĐ tỉnh, TP, CĐ ngành TW và tương đương; – UBKT LĐLĐ tỉnh, TP, CĐ ngành TW và tương đương;  – Các ban, đơn vị trực thuộc TLĐ; – Lưu VP và UBKT TLĐ.

TM. BAN CHẤP HÀNH CHỦ TỊCH Đặng Ngọc Tùng

Tình Hình Triển Khai Nghị Quyết 6B/Nq

Nghị quyết đã đánh giá kết quả đã đạt được về công tác tổ chức và hoạt động ủy ban kiểm tra công đoàn trong những năm qua về những cố gắng đổi mới nội dung và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động.

Về số lượng chất lượng, cán bộ

Về số lượng chất lượng, cán bộ ủy ban kiểm tra tiếp tục được ban chấp hành, ban thường vụ công đoàn các cấp quan tâm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng; một số đồng chí đã được đào tạo cơ bản và chuyên sâu về tài chính và pháp luật; một số cán bộ có nhiều kinh nghiệm trong công tác kiểm tra; một số ủy ban kiểm tra được cơ cấu hợp lý, đa số chủ nhiệm ủy ban kiểm tra là ủy viên ban thường vụ, trong đó nhiều đồng chí là phó chủ tịch công đoàn cùng cấp.

Kết quả h oạt động của ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp

Đ ược sự quan tâm lãnh đạo của ban chấp hành và sự chỉ đạo, tạo điều kiện của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn, ban thường vụ công đoàn các cấp, u ỷ ban kiểm tra công đoàn các cấp đã bám sát chương trình hàng năm của Uỷ ban Kiểm tra Tổng Liên đoàn và công đoàn cấp trên để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra; số lượng, chất lượng các cuộc kiểm tra được nâng lên, công tác giải quyết, tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo đã được quan tâm chỉ đạo giải quyết kịp thời, đúng luật.

Kết quả thực hiện nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Công đoàn Việt Nam, nâng cao ý thức chấp hành Điều lệ Công đoàn; phát hiện và ngăn ngừa kịp thời các biểu hiện vi phạm Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị và các quy định của công đoàn, góp phần phát triển đoàn viên, xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh; tăng cường quản lý thu, chi tài chính, tài sản công đoàn, hạn chế tiêu cực, phòng chống tham nhũng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động, xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam ngày càng lớn mạnh.

hạn chế, nguyên nhân, q uan điểm mục tiêu và những chỉ tiêu phấn đấu

– Hàng năm có 100% ủy ban kiểm tra liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành trung ương và tương đương; ít nhất 80% ủy ban kiểm tra công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, 50% công đoàn cơ sở tổ chức kiểm tra tài chính cùng cấp;

– Hàng năm ủy ban kiểm tra liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành trung ương và tương đương tổ chức kiểm tra ít nhất 25% công đoàn cấp dưới về tài chính, 20% về chấp hành Điều lệ Công đoàn; công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở tổ chức kiểm tra ít nhất 15% công đoàn cấp dưới về tài chính, 10% về chấp hành Điều lệ Công đoàn;

– 100% dấu hiệu vi phạm khi phát hiện được kiểm tra kịp thời;

– 100% cán bộ chuyên trách ủy ban kiểm tra liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành trung ương và tương đương; ít nhất 80% cán bộ chuyên trách ủy ban kiểm tra công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở có trình độ đại học, trong đó số cán bộ được bố trí mới từ năm 2016 trở đi đảm bảo cơ cấu 50% được đào tạo về chuyên ngành luật và 50% về chuyên ngành tài chính, kế toán;

– Trong nhiệm kỳ 100% cán bộ ủy ban kiểm tra công đoàn cấp trên cơ sở và 70% trở lên cán bộ ủy ban kiểm tra công đoàn cơ sở được bồi dưỡng nghiệp vụ công tác kiểm tra và công đoàn.

– Nâng cao nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo của ban chấp hành, sự chỉ đạo của ban thường vụ công đoàn các cấp đối với tổ chức và hoạt động uỷ ban kiểm tra công đoàn

– Tiếp tục đổi mới phương pháp hoạt động ủy ban kiểm tra, tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng các cuộc kiểm tra

– Thường xuyên kiện toàn, củng cố tổ chức ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp

– Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ uỷ ban kiểm tra công đoàn

Quy định trách nhiệm của công đoàn ngành trung ương

– Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết phù hợp với đặc điểm tình hình của từng địa phương, ngành.

– Tổ chức tuyên truyền, phổ biến và chỉ đạo, hướng dẫn công đoàn các cấp tổ chức triển khai thực hiện, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và tổ chức thực hiện có chất lượng, hiệu quả các nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra công đoàn.

Tình hình triển khai Nghị quyết tại CĐCTVN

Để triển khai Nghị quyết 6b/NQ-TLĐ của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động ủy ban kiểm tra công đoàn, Công đoàn Công Thương Việt Nam đã ban hành kế hoạch số 389/KH-CĐCT, ngày 07/9/2015.

Theo đó, Công đoàn Công Thương Việt Nam (CĐCTVN) là một công đoàn đa ngành nghề, hoạt động ở hầu hết các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Tính đến ngày 30/6/2015, CĐCTVN quản lý và chỉ đạo trực tiếp: 1 6 công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở và 580 công đoàn cơ sở với 164.692 đoàn viên/ 175.470 lao động.

Tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2015, hệ thống UBKT Công đoàn Công Thương Việt Nam gồm: Cấp Ngành có 01 UBKT với 09 ủy viên; c ấp trên trực tiếp cơ sở có 16 UBKT với 64 ủy viên (trong đó:có 397 UBKT trực thuộc công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở với 1.278 UV UBKT); c ấp cơ sở có 123 đơn vị có ủy ban kiểm tra hoặc người làm nhiệm vụ UBKT với 389 ủy viên (Trong số 153 công đoàn cơ sở trực thuộc Công đoàn Công Thương Việt Nam có 30 đơn vị dưới 30 đoàn viên chưa có ủy ban kiểm tra hoặc người làm nhiệm vụ của UBKT. Tính chung toàn Ngành kể cả công đoàn cơ sở trực thuộc công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở toàn Ngành có 542 UBKT với 1.749 ủy viên.

Trong thời gian qua UBKT Công đoàn các cấp trực thuộc CĐCTVN đã có nhiều nỗ lực, cố gắng, tích cực, chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch công tác, bám sát chương trình và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả, cả về thời gian và nội dung trên cơ sở quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam, Quy chế hoạt động của UBKT. Mặt khác UBKT CĐCTVN và UBKT công đoàn các cấp đã phát huy vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của mình, chỉ đạo và chủ động tổ chức chương trình công tác nên đã góp phần nâng cao ý thức chấp hành Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị và các quy định của công đoàn; phát hiện và ngăn ngừa kịp thời các biểu hiện vi phạm để xử lý; nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm trong quản lý, sử dụng tài chính tài sản và hoạt động kinh tế công đoàn đảm bảo sử dụng hợp lý, tiết kiệm, thiết thực, hiệu quả và đúng chế độ, hạn chế tiêu cực, chống lãng phí và phòng chống tham nhũng; giải quyết và tham gia giải quyết các khiếu nại, tố cáo phát sinh đảm bảo pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động khi có tranh chấp lao động, góp phần vào việc phát triển đoàn viên và xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh, nâng cao vai trò, vị thế của tổ chức công đoàn.

Kết quả hoạt động của UBKT chưa được đồng đều ở các cấp, chỉ mới tập trung ở cấp Ngành và cấp trên trực tiếp cơ sở, tính chuyên nghiệp và chuyên môn hóa trong hoạt động UBKT chưa cao, đội ngũ cán bộ UBKT thường xuyên biến động, trình độ nghiệp vụ, kinh nghiệm, bản lĩnh ý chí trong công tác kiểm tra, sự am hiểu về pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ UBKT còn hạn chế, còn tư tưởng e ngại, né tránh, nể nang trong thực hiện nhiệm vụ trước yêu cầu, do sức ép của công việc và những diễn biến khó khăn, phức tạp trong hoạt động UBKT. Chất lượng một số cuộc kiểm tra chưa cao, một số đơn vị việc giải quyết và tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa đảm bảo, công tác thông tin báo cáo hoạt động về thời gian, nội dung, số lượng báo cáo, việc tổ chức sinh hoạt UBKT một số đơn vị chưa đảm bảo.

Để tiếp tục phát huy những kết quả đáng khích lệ đã đạt được, khắc phục yếu kém,tồn tại và thực hiện đảm bảo Nghị quyết 6b/NQ-TLĐ của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động ủy ban kiểm tra công đoàn, Công đoàn Công Thương Việt Nam đã đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể, giải pháp thực hiện trong Kế hoạch số Số 389/KH-CĐCT, ngày 07 tháng 9 năm 2015 như sau:

– Tiếp tục đổi mới và nâng cao hơn nữa về nhận thực trong cán bộ công đoàn các cấp trước hết trong ban chấp hành và người đứng đầu ban chấp hành về công tác kiểm tra và hoạt động ủy ban kiểm tra công đoàn.

– Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động ủy ban kiểm tra công đoàn góp phần ngăn ngừa, hạn chế vi phạm về Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị và các quy định của công đoàn. Bảo đảm công tác thu, phân cấp thu, phân phối nguồn thu, sử dụng, quản lý tài chính, tài sản, hoạt động kinh tế của công đoàn theo đúng quy định; giải quyết và tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của đoàn viên, công nhân viên chức lao động.

– Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ủy ban kiểm tra, nòng cốt là đội ngũ cán bộ chuyên trách, cán bộ lãnh đạo ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam.

– Công đoàn Công Thương Việt Nam và 100% công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, 50% công đoàn cơ sở có ủy ban kiểm tra thực hiện kiểm tra cùng cấp hàng năm về thực hiện Điều lệ hoặc tài chính. 100% dấu hiệu vi phạm Điều lệ khi phát hiện được kiểm tra.

– Hàng năm Ủy ban Kiểm tra Công đoàn Công Thương Việt Nam kiểm tra ít nhất 25% công đoàn cấp dưới về tài chính và 20% về chấp hành Điều lệ. Ủy ban kiểm tra công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở kiểm tra ít nhất 20% công đoàn cấp dưới về tài chính và 15% về chấp hành Điều lệ.

– 100% đơn vị thực hiện đảm bảo công tác quy hoạch cán bộ Ủy ban kiểm tra, thường xuyên kiện toàn, bổ sung khi thiếu ủy viên UBKT.

– 100% Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở và 80% công đoàn cơ sở có ủy ban kiêm tra ban hành đầy đủ quy chế hoạt động, chương trình hoạt động theo định kỳ và tổ chức triển khai thực hiện đảm bảo các chức năng, nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp.

– Trong nhiệm kỳ 100% cán bộ ủy ban kiểm tra công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở và 90% cán bộ ủy ban kiểm tra công đoàn cơ sở được tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ hoạt động ủy ban kiểm tra công đoàn.

– Công đoàn các cấp trực thuộc Công đoàn Công Thương Việt Nam có trách nhiệm xây dựng, tổ chức triển khai kế hoạch thực hiện Nghị quyết và hoạt động ủy ban kiểm tra công đoàn.

– Tiếp tục đổi mới phương pháp hoạt động ủy ban kiểm tra, tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng các cuộc kiểm tra.

– Thường xuyên thực hiện công tác quy hoạch, kiện toàn, củng cố tổ chức ủy ban kiểm tra công đoàn.

– Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ ủy ban kiểm tra công đoàn.

– Đảm bảo điều kiện làm việc để ủy ban kiểm tra công đoàn thực hiện đảm bảo các chức năng, nhiệm vụ theo quy định.

Với đặc điểm tình hình thực tế của Ngành, của Công đoàn Công Thương Việt Nam đã tiến hành phổ biến, quán triệt, triển khai Nghị quyết tới các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành, ủy viên Ủy ban Kiểm tra, cán bộ nhân viên Cơ quan Công đoàn Công Thương Việt Nam và đến công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, công đoàn cơ sở trực thuộc Công đoàn Công Thương Việt Nam. Đối với các công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị để xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức hoặc phối hợp tổ chức triển khai phù hợp, đảm bảo thời gian, nội dung, đối tượng và đưa những nội dung của Nghị quyết vào các chương trình công tác hàng năm, định kỳ và sơ tổng kết th eo quy định.

Công đoàn Công Thương Việt Nam và các cấp công đoàn triển khai phổ biến bằng nhiều hình thức như thông qua tổ chức các Hội nghị, hội thảo, tập huấn, tọa đàm, gửi văn bản, đăng tải lên trang thông tin điện tử và nhiều hình thức phù hợp khác. Để triển khai thực hiện đảm bảo Nghị quyết 6b/NQ-TLĐ, ngày 03 tháng 8 năm 2015 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động ủy ban kiểm tra công đoàn đã đặt ra yêu cầu rất lớn đối với các cấp công đoàn nói chung và ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp, tuy nhiên qua thực tế hoạt động cần thiết có những kiến nghị với các cấp công đoàn như sau:

Đối với Tổng Liên đoàn:

– Đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cần có ý kiến tham gia với Nhà nước để có quy định, chế tài để người sử dụng lao động thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật nói chung, của Bộ Luật Lao động, Luật Công đoàn, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo trong việc giải quyết tranh chấp lao động.

– Đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức đạo tạo, tập huấn nghiệp vụ hoạt động UBKT các cấp và vận dụng chế độ, chính sách phù hợp để động viên, khích lệ cán bộ làm công tác kiểm tra như chế độ bồi dưỡng đối với cán bộ tham gia các đoàn kiểm tra theo Quyết định số 12/2014/QĐ-TTg ngày 27/1/2014 của Thủ tướng Chính phủ.

– Cần đưa vào chương trình đào tạo cán bộ công đoàn của các trường đào tạo cán bộ công đoàn nội dung hoạt động của UBKT là môn bắt buộc.

– Cần quy định việc tổng kết hoạt động Ủy ban kiểm tra hàng năm từ cấp trên trực tiếp cơ sở trở lên như một số mảng chuyên đề khác, theo đó có chế độ động viên khen thưởng hàng năm.

Đối với BCH, BTV công đoàn các cấp trong Ngành:

– Đề nghị các cấp công đoàn tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động UBKT công đoàn các cấp đảm bảo sự thường xuyên, tập trung, thống nhất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Chỉ đạo 100% công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở kiểm tra đồng cấp, tăng cường kiểm tra cấp dưới. Chỉ đạo, đôn đốc UBKT các cấp bổ sung, hoàn thiện và ban hành các quy chế hoạt động, xây dựng và triển khai thực hiện chương trình, kế hoạch hoạt động của UBKT.

– Các cấp công đoàn quan tâm thực sự đến công tác quy hoạch cán bộ ủy ban kiểm tra, đối với công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở cần bố trí chủ nhiệm ủy ban kiểm tra là cán bộ chuyên trách, tốt nhất là các phó chủ tịch kiêm nhiệm.

– Điều chỉnh tăng số lượng ủy viên ủy ban kiểm tra cho phù hợp với quy định mới của Điều lệ về số lượng và có kế hoạch, chiến lược đào tạo, nâng cao trình độ của cán bộ lãnh đạo, cán bộ UBKT về tiêu chuẩn và số lượng và tiêu chuẩn đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ hoạt động UBKT.

– Tăng cường tập huấn nghiệp vụ hoạt động cho UV UBKT các cấp tại một số đơn vị chưa tổ chức tập huấn, đổi mới nội dung và phương pháp trong công tác bồi dưỡng cán bộ, nâng cao năng lực để đáp ứng yêu cầu của hoạt động UBKT.

– BCH, BTV các cấp cần tăng cường chỉ đạo, đôn đốc và hỗ trợ việc thực hiện chế độ thông tin báo cáo và trao đổi nghiệp vụ, nhằm đáp ứng cho nhu cầu tổng hợp báo cáo đánh giá hoạt động giúp cho công tác quản lý, điều hành hoạt động đạt kết quả.

Lê Văn Hiếu

Giải Pháp Trong Thực Hiện Nghị Quyết Năm 2022

Năm 2021 với khối lượng công việc chiếm 1/5 của nhiệm kỳ cũng là năm tạo nền tảng, điều kiện để triển khai cho cả nhiệm kỳ phải tập trung thực hiện. Tại Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XI, các đại biểu tập trung đánh giá những kết quả đạt được, bài học kinh nghiệm trên cơ sở đó đề xuất giải pháp thực hiện Nghị quyết năm 2021.

Xây dựng Đảng

Phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Lê Thị Nghĩa Nhân nhận định: Trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cũng còn 1 bộ phận chưa ngang tầm với nhiệm vụ, trình độ chuyên môn chưa đồng đều. Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thật sự đầu tư cho công việc chuyên môn, thiếu ý thức phấn đấu, chưa thể hiện tính tiến công.

Phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy đề xuất, ngành tuyên giáo nghiên cứu khuyến khích đầu tuần cho điểm tin báo địa phương để nắm chắc thông tin các chủ trương nghị quyết của Đảng. Có như vậy mới đảm bảo tốt việc tuyên truyền đưa chủ trương, nghị quyết đến với cơ sở.

Bí thư Huyện ủy Chợ Lách Nguyễn Văn Đảm nêu ý kiến: Trong điều kiện tỉnh đang chịu tác động nặng nề từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng thì việc chủ động trong chuyển đổi cây trồng, vật nuôi để phát triển kinh tế là rất cần thiết. Về mục tiêu năm 2021, thống nhất “Phát huy mạnh mẽ tinh thần “Đồng khởi mới” theo phương châm “Hai chân – Ba mũi” trên tất cả các lĩnh vực, trong đó xác định lĩnh vực đột phá là xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh cải cách hành chính.

Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết năm 2020, Phó trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Trần Tú Anh cho rằng: Tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên, nhân dân cơ bản ổn định, phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Nhà nước.

Chủ đề “Bứt phá về đích” năm 2020 được lan tỏa, tạo khí thế thi đua hoàn thành các chỉ tiêu nhiệm kỳ. Công tác tuyên truyền đã tạo được sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên, nhân dân. Ban Chỉ đạo 35 các cấp thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu cấp ủy lãnh đạo công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhất là trên không gian mạng. Việc tổ chức quán triệt nghị quyết đại hội Đảng các cấp và có đổi mới, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động.

Phó trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy Bùi Văn Hản Em nhận định: Cùng với xây dựng nông thôn mới, xây dựng giao thông nông thôn theo Đề án số 3333 của UBND tỉnh, nhất là vận động nhân dân khắc phục hạn mặn, phòng chống dịch Covid-19, cho thấy vai trò, sức mạnh to lớn của nhân dân và rút ra nhiều kinh nghiệm trong huy động sức dân. Vì vậy, trong đánh giá việc thực hiện Nghị quyết năm 2020, cần bổ sung bài học phải biết dựa vào dân, lấy sức dân để giải quyết những vấn đề của dân.

Phát triển kinh tế

Giám đốc Sở Tài chính Võ Văn Phú cho biết, qua thời gian phục hồi kinh tế, đến thời điểm hiện tại, tổng thu ngân sách tỉnh đạt khoảng 91% kế hoạch, khả năng có thể cán mức 5 ngàn tỷ đồng, kỳ vọng đạt chỉ tiêu đề ra. Ngoài ra, việc chi ngân sách nhà nước được tổ chức chặt chẽ, đáp ứng nhiệm vụ chống dịch Covid-19, hạn mặn và các hoạt động quốc phòng – an ninh. Dự báo năm 2021, là năm đầu nhiệm kỳ và năm khôi phục kinh tế sau hàng loạt khó khăn tạo giá trị gia tăng cao ngay, do đó đề nghị giảm chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế bình quân 2021 còn 7,5% (dự thảo chỉ tiêu giai đoạn 2020 – 2025 là 8,5 – 9,5%).

Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã (HTX) tỉnh Nguyễn Thanh Phương nhìn nhận: Thời gian qua, hầu hết các HTX có quy mô nhỏ, hiệu quả chưa cao, nguyên nhân chủ yếu là thiếu người điều hành. Đồng thời đề nghị trong báo cáo tình hình thực hiện nghị quyết năm 2020 của Tỉnh ủy cần cập nhật lại số liệu về tổ chức HTX; nhấn mạnh có 165 HTX gắn với chuỗi giá trị; đề xuất chỉ tiêu năm 2021 xây dựng 6 HTX điểm, kiểu mẫu, phát triển thêm 15 HTX.

Phó trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy Bùi Văn Hản Em đề xuất: Về nhiệm vụ, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục, tập trung thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, con người Bến Tre phát triển toàn diện; giải quyết tốt việc làm, phát triển nguồn nhân lực; đảm bảo tốt các chính sách an sinh xã hội. Dựa vào thực tiễn địa phương, tỉnh nên quan tâm nâng cao chất lượng dạy nghề, truyền nghề.

Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Nguyễn Quốc Bảo cho rằng, để góp phần thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XI, Nghị quyết Tỉnh ủy năm 2021, từng cấp ủy cần tập trung và phát huy tốt dân chủ; đánh giá việc cụ thể hóa của từng địa phương, ngành và cơ sở; tổng kết và đánh giá các mô hình kiêm nhiệm. Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, tỉnh cần chú trọng và ưu tiên việc bảo vệ môi trường, nhất là rác thải trong sinh hoạt, sản xuất.

Quốc phòng – an ninh

Phó giám đốc Công an tỉnh Lê Văn Hòa đánh giá tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội diễn biến ngày một phức tạp, nhất là an ninh mạng; dịch Covid-19 có tác động tiêu cực đến kinh tế, kéo theo hệ lụy là các loại tội phạm gia tăng… Chỉ tiêu năm 2021 đề ra là kéo giảm tai nạn giao thông trên cả 3 tiêu chí từ 5 – 10% so với năm 2020 là khả thi. Năm 2021, ngành Công an chủ động, kịp thời giải quyết dứt điểm các vụ việc nổi lên; triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh, trấn áp tội phạm, bài trừ tệ nạn xã hội; đẩy mạnh thực hiện phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; kiềm chế gia tăng và làm giảm tội phạm, tạo chuyển biến rõ nét về trật tự an toàn xã hội.

Trong năm 2020, hoạt động đánh bắt hải sản còn vi phạm vùng biển nước ngoài, không theo quy định và không khai báo. Theo Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh Nguyễn Chí Quang, số tàu đánh bắt hải sản tuy có giảm so với năm 2019 nhưng tỷ lệ vẫn còn cao, nguyên nhân xác định là do nhận thức của ngư dân trong việc chấp hành quy định. Vì thế, cần tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức của ngư dân; tăng cường hơn nữa công tác quản lý, tuần tra, lắp đặt định vị đối với các tàu đánh bắt xa bờ; thực hiện nghiêm xử lý, xử phạt hành chính đối với các chủ tàu vi phạm.

H. Hiệp – P.Tuyết – Q.Hùng – C.Trúc – Phan Hân

Bạn đang xem bài viết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 6B/Nq trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!