Xem Nhiều 3/2023 #️ 9 Nhiệm Vụ Trọng Tâm, 5 Nhóm Giải Pháp Thực Hiện Nhiệm Vụ Năm Học 2022 # Top 9 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 3/2023 # 9 Nhiệm Vụ Trọng Tâm, 5 Nhóm Giải Pháp Thực Hiện Nhiệm Vụ Năm Học 2022 # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về 9 Nhiệm Vụ Trọng Tâm, 5 Nhóm Giải Pháp Thực Hiện Nhiệm Vụ Năm Học 2022 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Năm học vừa qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhất là do ảnh hưởng của dịch Covid-19, song với sự nỗ lực, quyết tâm, ngành GD&ĐT đã tập trung triển khai thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu, giải pháp cơ bản theo chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, UBND tỉnh và đạt nhiều kết quả nổi bật. Hầu hết các chỉ tiêu đều thực hiện đạt và vượt kế hoạch đề ra. Ngành đã triển khai tốt nhiệm vụ rà soát, quy hoạch, phát triển mạng lưới cơ sở GD&ĐT, quy mô học sinh ổn định ở các cấp học tiểu học, THCS, THPT và phát triển nhanh ở cấp học mầm non; chủ động tham mưu, sắp xếp tổ chức bộ máy nhân sự các cơ sở giáo dục theo hướng tinh gọn, phù hợp thực tế. Năm học 2019 – 2020, toàn tỉnh có 522 trường, trung tâm, với tổng số hơn 195.000 học sinh, sinh viên; số cán bộ công chức, viên chức, người lao động trong toàn ngành là hơn 16.360 người. Trong năm học, ngành tiếp tục đổi mới chương trình giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học; đẩy mạnh định hướng nghề nghiệp và phân luồng trong giáo dục phổ thông; tăng cường giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục. Cơ sở vật chất tiếp tục được đầu tư sửa chữa, bổ sung theo hướng kiên cố hóa; chế độ chính sách đối với cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên được thực hiện kịp thời, nghiêm túc; hoạt động hợp tác quốc tế được thực hiện hiệu quả qua việc ký kết và thực hiện đề án, kế hoạch hợp tác với các tỉnh Bắc Lào, Bắc Thái Lan, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc)…

Bên cạnh kết quả đạt được, ngành GD&ĐT cũng gặp một số khó khăn trong năm học, như: Tỷ lệ trẻ mẫu giáo huy động ra lớp chưa đạt kế hoạch của tỉnh giao, do thiếu giáo viên mầm non; cơ sở vật chất chưa đáp ứng nhu cầu mở lớp tại một số đơn vị; tỷ lệ chuyên cần của trẻ sau thời gian nghỉ phòng, chống dịch Covid-19 chưa cao; chế độ chính sách cho giáo viên dạy trẻ khuyết tật học hòa nhập chưa được thực hiện; nhiều đơn vị thiếu nhân viên y tế, kế toán…

5 Giải Pháp Trọng Tâm Thực Hiện Nhiệm Vụ Thu, Chi Ngân Sách Năm 2022

Quang cảnh Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương

Đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Theo Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, tình hình sản xuất, xuất khẩu khó khăn, tiêu dùng nội địa thấp, giá dầu thô giảm sâu và việc triển khai các giải pháp tài khoá để phòng chống dịch bệnh, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân đã tác động lớn đến cân đối thu, chi NSNN 6 tháng đầu năm 2020.

Cụ thể, tổng thu NSNN 6 tháng ước đạt 44,22% dự toán, giảm 11,1% so với cùng kỳ năm 2019, nếu tính cả thu từ cổ phần hóa đạt tiến độ dự toán, cộng với số thuế đã gia hạn, thì đạt khoảng trên 48% dự toán. Đây là năm có tiến độ thu ngân sách so với dự toán đạt thất nhất kể từ năm 2013 và suy giảm so với cùng kỳ ở cả 3 lĩnh vực kinh tế.

Mặc dù tình hình thời gian tới còn nhiều khó khăn, song Bộ Tài chính khẳng định “với tinh thần quyết tâm cao nhất, không chủ quan nhưng không bi quan, nhụt chí, ngành Tài chính sẽ phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất nhiệm vụ thu, chi ngân sách năm 2020”.

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng

Trong đó thu nội địa đạt 44,11% dự toán, giảm 8%; thu dầu thô đạt 59,7% dự toán, giảm 28,5%; thu cân đối từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 43,4% dự toán, giảm 21,9% so với cùng kỳ 2019. Trong thu nội địa, thu từ 3 khu vực kinh tế đều đạt thấp. Cụ thể, thu từ khu vực DNNN đạt 37,1% dự toán, giảm 21,5%; thu từ khu vực doanh nghiệp FDI đạt 41,8% dự toán, giảm 6,5%; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 37% dự toán, giảm 16,1%. “Điều này phản ánh thực chất thực trạng nền kinh tế của chúng ta”, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng đánh giá.

Trên cả nước, có 34/63 địa phương thu 6 tháng đạt trên 50% so với dự toán được giao. Nếu không kể thu tiền sử dụng đất, xổ số thì chỉ có 14/63 địa phương thu đạt trên 50% dự toán. 30/63 địa phương tiến độ thực hiện thu đạt dưới 45% dự toán.

Đáng chú ý, trong số 16 địa phương trọng điểm thu có điều tiết về Trung ương, chỉ có 5/16 địa phương đạt tiến độ thu nội địa trên 50% dự toán (Quảng Ninh, Bắc Ninh, Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa Vũng Tàu). 11 địa phương còn lại đạt dưới 50%, trong đó 8 địa phương đạt dưới 40% dự toán là chúng tôi đạt 39,3%, Đà Nẵng đạt 37,7%, Quảng Ngãi 38,5%, Quảng Nam 31,2%, Khánh Hòa 35,4%, Hải Phòng 38,5%… Điều này cho thấy tình hình hoạt động của doanh nghiệp thực sự nhiều khó khăn.

Tính đến cuối tháng 6, cơ quan Thuế đã tiếp nhận, xử lý kịp thời, đúng quy định 148 nghìn giấy đề nghị gia hạn thuế và tiền thuê đất; tổng số tiền được gia hạn khoảng 43 nghìn tỷ đồng. Báo cáo thêm, Bộ trưởng cho biết số thuế gia hạn được ước tính trên số thu thực hiện năm 2019 với mức tăng trưởng cao. Tuy nhiên, thực tế khi đó chưa tính toán được mức tăng trưởng 6 tháng đầu năm, và đến nay cũng chưa khẳng định được mức tăng trưởng năm nay. Do đó, số đối tượng bị tác động, ảnh hưởng có thể lớn, nhưng số tiền gia hạn có thể không lớn do thực chất không có thuế.

Đồng thời, Bộ Tài chính cũng đã trình Chính phủ quyết định giảm 50% lệ phí trước bạ khi đăng ký ô tô sản xuất hoặc lắp ráp trong nước; trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định nâng mức giảm trừ gia cảnh thuế thu nhập cá nhân; điều chỉnh giảm 30% mức thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay và trình Quốc hội quyết định giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác có doanh thu chịu thuế không quá 200 tỷ đồng một năm; phối hợp với các bộ, ngành rà soát cắt giảm nhiều loại phí, lệ phí cho doanh nghiệp và người dân.

Chi ngân sách cơ bản theo tiến độ dự toán

Về điều hành chi, chi NSNN 6 tháng đầu năm cơ bản theo tiến độ dự toán, đảm bảo các nhiệm vụ quan trọng phát sinh về phòng chống thiên tai, dịch bệnh, y tế, an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh. Luỹ kế 6 tháng, chi NSNN đạt 41,8% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 33,1% dự toán; chi trả nợ lãi đạt 50,3% dự toán, giảm 0,9%; chi thường xuyên đạt 48,2% dự toán.

Đến nay NSNN đã chi khoảng 15,3 nghìn tỷ đồng cho công tác phòng, chống dịch và hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19. Trong đó, 4,1 nghìn tỷ đồng chi cho công tác phòng chống dịch, chi hỗ trợ cho khoảng 11 triệu đối tượng bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 theo Nghị quyết số 42/NQ-CP của Chính phủ khoảng 11,3 nghìn tỷ đồng.

Bên cạnh đó, NSTW đã trích 1.664 tỷ đồng dự phòng năm 2020 để hỗ trợ các địa phương phòng chống dịch tả lợn Châu Phi, khắc phục hậu quả và khôi phục sản xuất sau thiên tai (hạn hán, xâm nhập mặn…); xuất cấp 13,6 nghìn tấn gạo dự trữ quốc gia để hỗ trợ các địa phương khắc phục hậu quả thiên tai, cứu trợ, cứu đói cho nhân dân trong dịp giáp hạt đầu năm 2020.

Về giải ngân vốn đầu tư phát triển, mặc dù đạt tiến độ khá so cùng kỳ năm 2019 (33,1% so với 28,6% của năm 2019), song nếu so với số vốn đầu tư công được phép giải ngân trong năm 2020 bao gồm cả nguồn các năm trước chuyển sang thì số giải ngân 6 tháng mới đạt 28,94% kế hoạch. Đặc biệt, giải ngân vốn ngoài nước mới đạt 10,2% dự toán năm 2020.

Đến nay, còn 33 bộ, cơ quan Trung ương và 7 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt dưới 20%; trong đó 17 bộ, cơ quan Trung ương đạt dưới 10%, thậm chí còn 10 bộ, cơ quan trung ương có mức giải ngân dưới 5%.

Báo cáo thêm về vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Tài chính cho biết, Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự tính sẽ thực hiện điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư công vào tháng 9. Tuy nhiên, Bộ Tài chính cho rằng cần phải điều chỉnh ngay từ tháng 7, bởi nếu đến tháng 9 mới điều chỉnh thì việc thực hiện thủ tục giải ngân nhanh nhất là đến cuối năm chỉ có thể tạm ứng theo hợp đồng. Mà nếu tạm ứng thì không có GDP vì chưa có khối lượng. Do đó, Bộ Tài chính đề nghị nên phải đẩy nhanh tiến độ và điều chỉnh kế hoach vốn đầu tư sớm để có thời gian triển khai theo quy định.

Về cân đối NSNN, cân đối NSTW và ngân sách địa phương 6 tháng đầu năm được đảm bảo. Bộ Tài chính đã chủ động phát hành 96,1 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, với kỳ hạn bình quân 14,01 năm, lãi suất bình quân 2,99%/năm, thấp hơn vay ưu đãi nước ngoài, đảm bảo nguồn đáp ứng các nhiệm vụ chi. Đồng thời, đàm phán một số khoản vay có chi phí thấp từ các tổ chức quốc tế nhằm giảm áp lực vay trong nước. Công tác trả nợ được tổ chức thực hiện đầy đủ, đúng hạn theo cam kết, góp phần củng cố xếp hạng tín nhiệm quốc gia.

Đánh giá trong những tháng còn lại, tình hình dịch bệnh Covid-19 trên thế giới còn phức tạp, ảnh hưởng lớn đến kinh tế nước ta, song lãnh đạo ngành Tài chính khẳng định “với tinh thần quyết tâm cao nhất, không chủ quan nhưng không bi quan, nhụt chí, ngành tài chính sẽ phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất nhiệm vụ thu, chi NSNN năm 2020”.

5 giải pháp trọng tâm

Để đạt được mục tiêu này, Bộ Tài chính đề nghị các bộ, ngành và địa phương tập trung thực hiện tốt các giải pháp quan trọng chủ yếu.

Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu các giải pháp về thuế phí để trình các cấp có thẩm quyền, tiếp tục tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Tập trung thực hiện hiệu quả các giải pháp về tài khóa, tiền tệ đã ban hành; tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân bị ảnh hưởng của dịch Covid-19, thu hút và chủ động tiếp nhận các dòng vốn đầu tư nước ngoài, phục hồi tăng trưởng kinh tế.

Thứ hai, cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo các lực lượng chức năng trên địa bàn phối hợp chặt chẽ với cơ quan Thuế, Hải quan tăng cường công tác quản lý thu phù hợp với từng lĩnh vực, địa bàn, đối tượng thu; đẩy mạnh chống thất thu, chuyển giá, gian lận thương mại, trốn thuế; đôn đốc xử lý thu hồi nợ đọng thuế. Đồng thời, tập trung xử lý kịp thời hồ sơ giãn thuế và tiền thuê đất theo quy định, không gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh.

Thứ ba, điều hành chi NSNN trong phạm vi dự toán được giao; phấn đấu giải ngân hết kế hoạch vốn đầu tư công năm 2020 (bao gồm cả kế hoạch năm 2019 chuyển sang); tập trung thực hiện rà soát, sắp xếp, lồng ghép các nhiệm vụ chi để cắt giảm các khoản chi thường xuyên chưa thực sự cần thiết; trong đó cắt giảm tối thiểu 70% kinh phí hội nghị, công tác trong và ngoài nước còn lại của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương và tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên khác còn lại của năm 2020, đặc biệt là các khoản chi mua sắm chưa thực sự cần thiết.

“Các địa phương chủ động đảm bảo nguồn NSĐP và sử dụng nguồn NSTW bổ sung (nếu có) để thực hiện chính sách an sinh xã hội đã ban hành; không để phát sinh tình trạng chậm, muộn, nợ chính sách trên địa bàn”, Bộ trưởng Bộ Tài chính nêu rõ.

Trường hợp sau khi sử dụng tất cả các giải pháp và nguồn lực trên mà cân đối NSNN còn khó khăn, Bộ Tài chính sẽ tập hợp báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định điều chỉnh các chỉ tiêu về NSNN tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV.

Thứ tư, về cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp, theo Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng, trong 6 tháng đầu năm chỉ có 3 doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa. Số doanh nghiệp còn phải thực hiện cổ phần hóa theo kế hoạch 6 tháng còn lại năm 2020 là 92 doanh nghiệp. Do đó, Bộ Tài chính đề nghị các bộ, ngành, địa phương trung chỉ đạo triển khai theo kế hoạch, mở rộng các phương thức bán cổ phần vốn góp, kể cả bán toàn bộ doanh nghiệp, phấn đấu đảm bảo số thu từ cổ phần, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo dự toán năm nay của NSTW là 45.000 tỷ đồng.

Thứ năm, về xây dựng dự toán NSNN năm 2021 và kế hoạch trung hạn 3 năm 2021-2023, do tác động của đại dịch Covid-19, nhiều vấn đề phát sinh cần báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý, nên việc ban hành các văn bản hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển KTXH và dự toán NSNN năm 2021 và kế hoạch tài chính – ngân sách 3 năm 2021-2023 có muộn hơn so với quy định. Sau khi có các văn bản hướng dẫn, đề nghị các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương khẩn trương chỉ đạo triển khai xây dựng, đảm bảo bám sát thực tế, thể hiện tính tích cực, ý chí quyết tâm phấn đấu cao.

9 Nhóm Nhiệm Vụ Chủ Yếu, 5 Nhóm Giải Pháp Cơ Bản Cho Năm Học 2022

Nâng cao chất lượng giáo dục và triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông (GDPT) mới là một trong các nhiệm vụ trọng tâm trong năm học mới 2019-2020.

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ vừa ký ban hành Chỉ thị về nhiệm vụ và giải pháp năm học 2019-2020 của ngành giáo dục.

Năm học 2019-2020, ngành giáo dục tập trung thực hiện các nghị quyết, kết luận của Đảng, Quốc hội, các văn bản chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về giáo dục-đào tạo.

Đặc biệt là triển khai thực hiện có hiệu quả Kết luận số 51-KL/TW của Ban Bí thư tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT. Kết luận số 49-KL/TW của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; quán triệt phương châm hành động “bứt phá” của Chính phủ để hoàn thành kế hoạch 5 năm 2016-2020.

Chỉ thị về nhiệm vụ và giải pháp năm học 2019-2020 của ngành giáo dục nêu rõ 9 nhóm nhiệm vụ chủ yếu và 5 nhóm giải pháp cơ bản thực hiện trong năm học mới.

9 nhóm nhiệm vụ chủ yếu gồm: Rà soát, quy hoạch, phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục-đào tạo trong cả nước. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục các cấp.

Nâng cao chất lượng giáo dục, triển khai Chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới; đẩy mạnh định hướng nghề nghiệp và phân luồng học sinh sau trung học cơ sở; đổi mới quản lý và nâng cao hiệu quả của giáo dục thường xuyên; tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, giáo dục thể chất cho học sinh, sinh viên, bảo đảm an toàn trường học; nâng cao hiệu quả giáo dục dân tộc.

Nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh ở các cấp học và trình độ đào tạo. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy, học và quản lý giáo dục.

Đẩy mạnh phân cấp và thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các cơ sở giáo dục. Hội nhập quốc tế trong giáo dục-đào tạo. Tăng cường cơ sở vật chất bảo đảm chất lượng các hoạt động giáo dục-đào tạo. Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.

5 nhóm giải pháp cơ bản được ngành giáo dục đưa ra cho năm học 2019-2020 gồm: Hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách hành chính về giáo dục-đào tạo. Nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ quản lý giáo dục. Tăng cường các nguồn lực đầu tư cho giáo dục-đào tạo. Tăng cường công tác khảo thí và kiểm định, đánh giá chất lượng giáo dục. Đẩy mạnh công tác truyền thông về giáo dục-đào tạo.

Bên cạnh đó, trong chiều 13/8, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Hữu Độ đã ký công văn gửi Giám đốc Sở GD&ĐT các tỉnh, thành phố lưu ý triển khai một số hoạt động đầu năm học 2019-2020.

Một trong những yêu cầu là tổ chức chỉ đạo cơ sở giáo dục bảo đảm cung cấp sách giáo khoa cho học sinh, không để xảy ra tình trạng thiếu sách giáo khoa đầu năm học.

Tổ chức Lễ khai giảng năm học 2019-2020 thống nhất trên cả nước vào buổi sáng ngày 5/9/2019. Chỉ đạo cơ sở giáo dục ổn định và duy trì nền nếp học tập ngay sau Lễ khai giảng; triển khai các giải pháp bảo đảm an ninh, an toàn trường học, đặc biệt lưu ý bảo đảm an toàn tuyệt đối trong việc đưa đón học sinh.

Bộ GD&ĐT yêu cầu các Sở GD&ĐT hướng dẫn các cơ sở giáo dục công khai các khoản thu, chi đầu năm học theo đúng quy định hiện hành; không để xảy ra tình trạng “lạm thu”; tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm người đứng đầu cơ sở giáo dục để xảy ra sai phạm trong thu, chi đầu năm học…

Tiếp Tục 9 Nhiệm Vụ, 5 Giải Pháp Trong Năm Học 2022

– Bộ trường Phùng Xuân Nhạ nhấn mạnh, năm học 2017-2018 tiếp tục tăng cường nề nếp kỷ cương, nâng cao chất lượng giáo dục với tinh thần “quyết tâm xây dựng hình ảnh của ngành giáo dục trước nhân dân, từng bước tạo niềm tin trong phụ huynh học sinh và toàn xã hội”. Những chuyển biến ban đầu

Hội nghị Giám đốc Sở GD-ĐT toàn quốc được tổ chức trong 2 ngày 14, 15/7 tại thành phố Đà Nẵng đã nhìn nhận 9 nhiệm vụ và 5 giải pháp của ngành giáo dục theo tinh thần thẳng thắn, trách nhiệm.

Ngay trong năm đầu tiên thực hiện, những nhiệm vụ và giải pháp đặt ra đã tác động đến nhận thức và hành động của toàn ngành.

Cụ thể, các địa phương đã quan tâm rà soát, sắp xếp lại mạng lưới cơ sở giáo dục và đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo.

Việc triển khai dạy và học ngoại ngữ được điều chỉnh mục tiêu và nhiệm vụ cho phù hợp phù hợp với yêu cầu và tình hình thực tế.

Đáng lưu ý, hoạt động hợp tác quốc tế được đẩy mạnh thông qua việc ký kết và triển khai hiệu quả các hiệp định, thỏa thuận hợp tác về giáo dục đào tạo, tiếp nhận công nghệ mới về dạy học, quản lý nhà trường.

Việc đổi mới kiểm tra, thi, đánh giá học sinh phổ thông thực hiện theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học; nhiều cuộc thi, hội thi đã được cắt bỏ để giảm áp lực.

Bộ GD-ĐT nhìn nhận “một trong những điểm sáng của năm học là kỳ thi THPT quốc gia được tổ chức an toàn, nghiêm túc, đảm bảo khách quan, trung thực nhưng nhẹ nhàng, giảm áp lực, giảm tốn kém đối với người dân và xã hội, tạo thuận lợi tối đa cho thí sinh”.

Cùng với đó, dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã hoàn thành, Bộ GD-ĐT hiện đang tích cực rà soát, xây dựng kế hoạch triển khai các điều kiện đảm bảo chất lượng.

Tuy nhiên, bên cạnh đó còn những hạn chế như: Thực hiện quy hoạch mạng lưới chậm được triển khai; tình trạng thiếu trường, lớp ở các khu công nghiệp, khu chế xuất còn phổ biến; tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ vẫn chưa được giải quyết; năng lực nghề nghiệp của một bộ phận giáo viên còn yếu, phương pháp giảng dạy chậm đổi mới; chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước…

Tiếp tục tăng cường kỷ cương nề nếp, nâng cao chất lượng giáo dục

Kết luận hội nghị, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực của toàn ngành trong thực hiện nhiệm vụ năm học 2016-2017.

Bước sang năm học 2017-2018, Bộ trưởng nhấn mạnh: “Mục tiêu của năm học là tiếp tục tập trung vào nâng cao kỷ cương nề nếp, đạo đức lối sống để thầy ra thầy, trò ra trò. Từng bước nâng cao chất lượng dạy và học, nâng cao chất lượng giáo dục đại trà, giáo dục mũi nhọn, học đi đôi với hành, quan tâm tới trang bị kỹ năng nhất là kỹ năng mềm, kỹ năng sống cho học sinh. Quyết tâm xây dựng hình ảnh của ngành giáo dục trước nhân dân, từng bước tạo niềm tin trong phụ huynh học sinh và toàn xã hội”.

Theo đó, 9 nhóm nhiệm vụ chủ yếu và 5 giải pháp của ngành sẽ tiếp tục được triển khai với nội hàm phù hợp với yêu cầu của từng năm học.

Trong số các giải pháp, ngành giáo dục sẽ tập trung xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục Đại học.

Bên cạnh đó, sớm ban hành chỉ số chất lượng để hướng tới phân tầng, xếp hạng chất lượng giáo dục của mỗi địa phương.

Bộ trưởng cũng lưu ý công tác thi đua, khen thưởng cần đi vào thực chất nhằm từng bước đẩy lùi căn bệnh thành tích và lộ trình thực hiện giảm tải, giảm áp lực cho học sinh, giáo viên.

9 nhóm nhiệm vụ chủ yếu

1. Rà soát, quy hoạch lại mạng lưới trường, lớp học: Khu vực thành phố, quy hoạch trường, lớp phải thoát khỏi khu vực nội đô, khắc phục tình trạng sĩ số lớp quá đông. Tăng cường xã hội hóa với nhóm trường, lớp chất lượng cao.

Ở miền núi khó khăn, có lộ trình sắp xếp trường, lớp hợp lý, đảm bảo chuẩn bị tốt tâm lý cho phụ huynh và học sinh. Riêng với bậc học mầm non và các lớp tiểu học đầu cấp khi sát nhập, dồn dịch các trường học phải đảm bảo yếu tố nhân văn…

Cấp tiểu học, THCS phải làm có lộ trình, tránh theo phong trào. Công tác quy hoạch trường, lớp phải gắn với chuẩn bị cơ sở vật chất, đào tạo lại đội ngũ giáo viên, đặc biệt là gắn với chương trình giáo dục phổ thông mới.

2. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý: Hiện nay, Bộ GD-ĐT đang hoàn thành các bộ chuẩn, quy chuẩn giáo viên và cán bộ quản lý, giảng viên sư phạm; kết hợp với các trường sư phạm xây dựng kế hoạch bồi dưỡng và đào tạo lại. Yêu cầu đặt ra là phải có lộ trình, bước đi cho hợp lý; đào tạo, bồi dưỡng và kế hoạch tuyển dụng giáo viên các cấp, tránh thừa thiếu cục bộ…

3.Nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ: Đẩy mạnh thực hiện Đề án dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2016 – 2020, tập trung rà soát, thống nhất chương trình và các tài liệu dạy học; đồng thời tập trung vào công tác khảo thí minh bạch, khách quan. Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên; các địa phương chủ động bồi dưỡng giáo viên, tránh tình trạng “chạy” chứng chỉ gây bức xúc trong xã hội.

4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy, học và quản lý giáo dục: Đẩy mạnh tin học hóa trong quản lý, quyết tâm xây dựng được hệ thống thông tin kết nối giữa Bộ với các Sở GD-ĐT thông suốt, xây dựng được cơ sở dữ liệu chung. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào việc dạy và học như mô hình lớp học thông minh nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và giảm bớt sổ sách không cần thiết cho các thầy cô giáo.

5. Công tác giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm: Năm học 201 -2018 sẽ là tâm điểm thực hiện Nghị định tự chủ trong nhà trường, Bộ sẽ nghiên cứu xây dựng Nghị định tự chủ của các trường mầm non, phổ thông.

6. Hội nhập quốc tế: Các Sở GD-ĐT phải tích cực tham mưu cho địa phương xây dựng những Đề án, chương trình thúc đẩy hội nhập quốc tế. Trong đó giải pháp quan trọng là xã hội hóa, để mỗi địa phương đều có yếu tố hội nhập ở các cấp học và ở mức độ khác nhau.

7.Tăng cường cơ sở vật chất đảm bảo chất lượng giáo dục: Rà soát hệ thống trường lớp, có kế hoạch rõ ràng cho các trường thực hiện dạy học 1 buổi, 2 buổi/ngày, kiên quyết không để xảy ra tình trạng nợ chuẩn. Có kế hoạch huy động vốn cụ thể từ nguồn vốn trung ương, vốn địa phương, nguồn xã hội hóa để khắc phục tình trạng trường, lớp học không được kiên cố hóa và giảm quy mô về sĩ số ở khu vực thành thị.

8- Phát triển nguồn nhân lực: Ở bậc phổ thông, các địa phương phải rà soát lại giáo dục cơ bản, giáo dục mũi nhọn, củng cố trường THPT chuyên, Bộ sẽ cân nhắc việc xây dựng thông tư hướng dẫn riêng về nhiệm vụ này. Thi học sinh giỏi cần được cải tiến sao cho nhẹ nhàng hơn, tạo động lực để bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao và rà soát các tiêu chuẩn tuyển thẳng, cộng điểm.

9- Phân luồng và định hướng nghề nghiệp: Đây là nhiệm vụ vô cùng khó khăn, các tỉnh phải chú trọng bố trí số lượng giáo viên nghiêm túc thực hiện giáo dục hướng nghiệp, chấm dứt tình trạng kiêm nhiệm; giáo dục hướng nghiệp, trải nghiệm phải làm tốt để học sinh định hướng nghề nghiệp, tạo tâm lý bình đẳng giữa đại học, nghề nghiệp.

1. Hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách hành chính: Tiếp tục rà soát văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giáo dục mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội, không đáp ứng yêu cầu đổi mới, kịp thời kiến nghị bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện thể chế về giáo dục và đào tạo. Tập trung xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục Đại học.

Đẩy mạnh cải cách hành chính về giáo dục và đào tạo; đơn giản hóa các thủ tục hành chính, bảo đảm gọn nhẹ.

2. Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý giáo dục: Sau khi có chuẩn, quy chuẩn của các vị trí chức danh, đề nghị Học viện Quản lý giáo dục có các chương trình bồi dưỡng kịp thời để đánh giá, phân loại xếp hạng cán bộ quản lý, công tác bổ nhiệm yêu cầu phải đạt chuẩn. Đối với lãnh đạo phải nhìn vào năng lực kỹ năng quản trị trường học chứ không phải bằng cấp.

3. Tăng cường các nguồn lực đầu tư cho giáo dục: Tích cực, chủ động tham mưu cho UBND, HĐND tỉnh/thành phố các giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa theo hướng đẩy mạnh đầu tư vào các bậc học mầm non và giáo dục trung học phổ thông. Khuyến khích xã hội hóa đầu tư vào những trường chất lượng cao theo hướng hội nhập quốc tế. Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước tham gia vào phát triển sự nghiệp giáo dục.

4. Tăng cường công tác khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục: Bộ sẽ tích hợp các thông tư trong lĩnh vực này thành các bộ chuẩn chất lượng và công bố cho các địa phương. Kiểm định chính là thước đo định lượng để thấy được mặt bằng chất lượng các địa phương đang ở đâu. Bộ cũng sẽ sớm ban hành chỉ số chất lượng để hướng tới phân tầng, xếp hạng chất lượng giáo dục của mỗi địa phương.

5.Đẩy mạnh công tác truyền thông: Cần đi vào chiều sâu, chủ động truyền thông bài bản .

Bạn đang xem bài viết 9 Nhiệm Vụ Trọng Tâm, 5 Nhóm Giải Pháp Thực Hiện Nhiệm Vụ Năm Học 2022 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!