Xem Nhiều 2/2023 #️ An Giang: Ngăn Ngừa, Kiểm Soát Sinh Vật Ngoại Lai Xậm Hại Sản Xuất Nông Nghiệp # Top 11 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # An Giang: Ngăn Ngừa, Kiểm Soát Sinh Vật Ngoại Lai Xậm Hại Sản Xuất Nông Nghiệp # Top 11 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về An Giang: Ngăn Ngừa, Kiểm Soát Sinh Vật Ngoại Lai Xậm Hại Sản Xuất Nông Nghiệp mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

An Giang: Ngăn ngừa, kiểm soát sinh vật ngoại lai xậm hại sản xuất nông nghiệp

13/05/2020

an-giang-ngan-ngua-kiem-soat-sinh-vat-ngoai-lai-xam-hai-san-xuat-nong-nghiep

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang 8 loài ngoại lai xâm hại được ghi nhận là: Bọ cánh cứng hại lá dừa, ốc bươu vàng, trinh nữ thân gỗ hay mai dương và 5 loài ngoại lai xâm hại nhưng chưa đánh giá mức độ gây hại gồm: Cá tỳ bà lớn (cá dọn bể lớn), rùa tai đỏ, trinh nữ móc, cây ngũ sắc (bông Ổi) và  bèo tây (bèo lục bình, bèo Nhật Bản).

Ốc bưu vàng – một trong các sinh vật ngoại lai xậm hại sản xuất nông nghiệp

Báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang cho thấy: Tính đến tháng 5/2018, diện tích trồng dừa của tỉnh bị bọ cánh cứng hại lá dừa xâm hại ở từ mức nhẹ đến mức trung bình là 226 ha, xuất hiện hầu hết các huyện, thị, thành phố.  Ốc bươu vàng là loài gây hại cho hệ sinh thái nông nghiệp; từ năm 2010 đến nay, tình hình lây nhiễm ốc bươu vàng trên đồng ruộng tại An Giang dao động từ 5.737 – 20.902 ha. 

Riêng cây trinh nữ thân gỗ lần đầu tiên An Giang ghi nhận sự xuất hiện vào năm 1970 tại một số huyện biên giới giáp nước bạn Campuchia như: An Phú, Tân Châu….Đến nay, cây trinh nữ thân gỗ đã hiện diện trên toàn tỉnh. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ cho thấy diện tích bị loài xâm hại khoảng 175 ha tập trung tại các huyện: An Phú, Châu Phú, Tịnh Biên, Tri Tôn, Thị xã Tân Châu và Thành phố Châu Đốc. Tại khu Bảo vệ cảnh quan rừng tràm Trà Sư ghi nhận sự xâm lấn của loài này với diện tích khoảng 2 ha. 

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang cũng ghi nhân các loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại gồm: Cây keo giậu, cây lược vàng, tôm hùm nước ngọt, cây cứt lợn (cỏ cứt heo), cá rô phi đen…

 Thực hiện chỉ đạo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và UBND tỉnh, thời gian qua, Ban Quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh thực hiện phòng ngừa, diệt trừ loài ngoại lai xâm hại trong phạm vi khu bảo vệ cảnh quan rừng tràm Trà Sư. Bên cạnh đó, hàng năm, Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp cùng Ban Quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh lồng ghép việc kiểm soát, phát hiện, ngăn ngừa, loài ngoại lai xâm hại vào hoạt động tuần tra bảo vệ rừng tại các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, khu bảo vệ cảnh quan thuộc phạm vi quản lý. 

Từ năm 2016 đến nay, ngành nông nghiệp đã tổ chức 1.016 lớp tập huấn, 872 hội thảo khuyến nông, khuyến ngư, chương trình nông nghiệp,…cho khoảng 55.000 lượt bà con nông dân trong đó lồng ghép tuyên truyền về loài ngoại lai xâm hại hiện diện trên địa bàn tỉnh, tác hại và biện pháp phòng trừ; phát 15.300 tài liệu bướm; 12 pa – nô tuyên truyền. Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh cũng đã chỉ đạo các Phòng Văn hóa – Thông tin định hướng cho các đài truyền thanh huyện và cơ sở phổ biến trên hệ thống loa truyền thanh kiến thức về loài ngoại lai xâm hại. Nhiều địa phương, đơn vị đã tổ chức các hoạt động cụ thể để cô lập, diệt trừ tập trung vào một số loài có nguy cơ lây lan, phát tán cao: Trinh nữ thân gỗ, ốc bươu vàng, bọ cánh cứng hại lá dừa,…

Ông Tô Hoàng Môn, Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang cho biết: Tỉnh đã xây dựng và triển khai kế hoạch phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ tại một số địa phương; lựa chọn khu vực bị cây cây trinh nữ thân gỗ xâm lấn trên diện rộng để tổ chức ra quân diệt trừ kết hợp các biện pháp thủ công, cơ giới và hóa học như: Chặt hạ cây lớn vào đầu năm (sau thời vụ xuống giống Đông xuân) để tận dụng làm chất đốt; phun thuốc hóa học theo hướng dẫn để diệt trừ cây non vào giữa mùa mưa (khoảng tháng 5 – 6); chặt hạ lần cuối vào tháng 8 (trước khi lũ về) đối với các khu đất ngập nước; vận động nông dân đưa đất đai bị cây cây trinh nữ thân gỗ xâm nhiễm vào gieo trồng các loại cây nông nghiệp khác có sức cạnh tranh cao hơn. 

“Đối với ốc bươu vàng ngành nông nghiệp tỉnh cũng đã phát động nhiều đợt ra quân thực hiện các biện pháp diệt trừ như: Thả vịt vào ruộng lúa trước khi cấy hoặc sau khi thu hoạch để ăn ốc non; làm thức ăn cho một số loài thủy sản; đặt cắm cọc dọc theo bờ ruộng bắt ổ trứng; sử dụng một số loại thuốc hóa học diệt trừ; tổ chức tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm cho nông dân về các biện pháp tổng hợp trong phòng trừ”, ông Môn thông tin.

Riêng đối với bọ cánh cứng hại lá dừa, từ năm 2005 đến nay ngành nông nghiệp đã tổ chức chiến dịch phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa và tiến hành phóng thích ong ký sinh và đến thời điểm hiện tại ong kí sinh vẫn tồn tại trong môi trường tự nhiên góp phần khống chế sự phát triển của quần thể bọ. 

Đánh giá kết quả thực hiện quản lý loài ngoại lai xâm hại trên địa bàn tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang cho rằng: Được sự quan tâm, chỉ đạo các cấp từ Trung ương và sự quan tâm, chỉ đạo UBND tỉnh An Giang nên các đơn vị trên địa bàn tỉnh đã tích cực vào cuộc thực hiện nhiều giải pháp ngăn ngừa, kiểm soát, diệt trừ loài ngoại lai xâm hại góp phần hạn chế tác hại do việc lây lan, phát tán của chúng đến các hệ sinh thái, bảo tồn loài bản địa, bảo vệ hoạt động sản xuất nông nghiệp của tỉnh được bền vững. Đặc biệt, người dân hiện cũng đã nhận thức rõ về tác hại của loài ngoại lai xâm hại đã góp phần chung tay, góp sức kiểm soát, tiêu diệt loài ngoại lai xâm hại trên địa bàn tỉnh./.

Quang Minh

Mục Tiêu Và Chức Năng Của Lập Kế Hoạch Sản Xuất Và Kiểm Soát Sản Xuất

Kiểm soát sản xuất là chủ yếu tham gia trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất và là hệ quả tất yếu để lập kế hoạch sản xuất ngắn hạn hoặc lập kế hoạch. Kiểm soát sản xuất bao gồm bắt đầu sản xuất, dispatching mục, tiến triển và cuối cùng báo cáo kế hoạch sản xuất. Nói chung, kế hoạch sản xuất có nghĩa là kế hoạch của công việc được thực hiện và kiểm soát sản xuất đề cập đến làm việc hoặc thực hiện các kế hoạch.

1.1. Mục tiêu của kế hoạch sản xuất và kiểm soát

Quy hoạch các cơ sở sản xuất theo cách thức tốt nhất có thể cùng với quy hoạch hệ thống thích hợp của hoạt động sản xuất.

Cung cấp người đàn ông, máy móc, vật liệu đúng số lượng, chất lượng và cũng có thể cung cấp cho họ vào đúng thời điểm tạo thành một yếu tố rất quan trọng. Thông tin, về những khó khăn hoặc các vị trí khó xử khác nhau để cắt sau đó, để quản lý trước.

Chức năng hierarchic, có chân trời thời gian tức là khoảng thời gian cho một số chức năng khác nhau trong năm, trong khi đối với một số chức năng, đó là trong vài tuần hoặc vài ngày, vì vậy các chức năng của kế hoạch sản xuất và kiểm soát có thể được tóm tắt thành hai loại, đó là như sau:

2. Kiểm soát hoạt động sản xuất

Vì vậy, nó có thể được nói rằng kiểm soát hoạt động sản xuất chịu trách nhiệm cho việc chuyển đổi các kế hoạch thành hành động bằng cách cung cấp một hướng dẫn cần thiết thích hợp.

Giúp trong việc lập kế hoạch.

Giúp trong việc thực hiện kế hoạch.

Đảm bảo sẵn có của các nguồn tài nguyên.

Phát hành các đơn đặt hàng cửa hàng.

Lịch bắt đầu và ngày hoàn thành của công việc.

Thu thập thông tin cần thiết cho các cửa hàng để.

Giúp đỡ trong việc kiểm soát các hoạt động.

Thiết lập ưu tiên thứ tự.

Duy trì ưu tiên thứ tự.

Kiểm tra hiệu suất thực tế.

Màn hình và WIP điều khiển, thời gian giao hàng.

Báo cáo công tác trung tâm biểu diễn.

Quản lý các nhiệm vụ cửa hàng sản xuất sàn.

Điều khiển dòng chảy công việc sản xuất.

Nhằm mục đích đạt được các kế hoạch sản xuất.

Chuẩn bị tiến độ.

Infinite tải a. Giả định khả năng hữu hạn tại bất kỳ trung tâm làm việc. b. Khả năng hạn chế là không được xem xét. c. Jobs được nạp vào trung tâm làm việc mà không xem xét đầy đủ năng lực.

Chuyển tiếp lập kế hoạch a. Các công việc được lên kế hoạch ngay sau khi nhận được một đơn đặt hàng. b. Ngày hoàn thành được phát triển bởi lịch trình của các công việc tại các trung tâm làm việc. c. Ngày hết hạn được bỏ qua trong khi lập kế hoạch. d. Ngày phát hành là 1.

Ngược Lập kế hoạch a. Công việc được lên kế hoạch từ cuối để bắt đầu. b. Hoạt động cuối cùng được lên kế hoạch đầu tiên kể từ ngày đáo hạn. c. Lập kế hoạch tiếp tục được thực hiện trong chuỗi các hoạt động cho đến khi tất cả các hoạt động của các công việc được lên kế hoạch. d. Ngày phát hành là thứ 2.

Bảo Vệ Môi Trường Trong Sản Xuất Nông Nghiệp

Việt Nam là nước có khí hậu nóng và ẩm nên rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đây cũng chính là điều kiện nảy sinh và phát triển sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng… Do vậy việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) và phân bón hóa học (PBHH) để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh, bảo vệ mùa màng, giữ vững an ninh lương thực quốc gia là biện pháp quan trọng và chủ yếu. Thực tế cho thấy việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu bất hợp lý trong trồng trọt cùng với việc không kiểm soát tình hình xả thải trong chăn nuôi hiện nay đang khiến môi trường ở khu vực nông thôn xuống cấp nhanh chóng và nghiêm trọng.

Thực trạng chung của môi trường nông nghiệp.

Đề cập đến vấn đề này, ông Đinh Vũ Thanh – Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và Môi trường, đã đưa ra nhận định trong “Hội nghị tổng kết công tác Bảo vệ môi trường nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng giai đoạn 2016 – 2020” tại Hà Nội trong tháng 10/2015 vừa qua:

– Tình trạng sử dụng phân bón không hợp lý về chủng loại, liều lượng, thời gian và phương thức bón cho cây trồng đang gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường. Đặc biệt, việc lạm dụng phân bón vô cơ trong thời gian gần đây khiến đất đai bị chai cứng, giữ nước kém và độ màu mỡ của đất giảm. Bình quân tổng lượng phân bón vô cơ các loại sử dụng vào khoảng 2,4 triệu tấn/năm, mỗi năm thải ra môi trường khoảng 240 tấn bao bì, vỏ hộp các loại và phần lớn không thu gom mà vứt bừa bãi ra đồng ruộng, kênh mương gây ô nhiễm môi trường trong vùng sản xuất nông nghiệp;

– Bên cạnh đó, tình trạng sử dụng BVTV trong nông nghiệp có xu hướng gia tăng, thiếu kiểm soát. Thống kê của Cục BVTV cho thấy mỗi năm Việt Nam nhập khẩu khoảng 70.000 đến hơn 116.000 tấn thành phẩm hóa chất BVTV. Ước tính lượng bao bì chiếm khoảng 10% tổng số thuốc tiêu thụ, tức là số lượng bao bì, vỏ đựng thuốc BVTV lên tới hàng chục ngàn tấn mỗi năm. Lượng bao bì này không được thu gom đã gây ô nhiễm nguồn nước, không khí, ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái và là nguy cơ đe dọa sức khỏe cộng đồng.

– Trong lĩnh vực chăn nuôi, khối lượng chất thải rắn của vật nuôi trong năm 2014 hơn 82 triệu tấn, trong đó chỉ khoảng 60% số chất thải được xử lý, còn lại thường được xả trực tiếp ra môi trường. Hơn nữa, tình trạng giết mổ cũng không khả quan. Hiện cả nước tồn tại gần 35.000 điểm giết mổ gia súc, gia cầm nhỏ lẻ, phần lớn nằm ngoài tầm kiểm soát của cơ quan quản lý, chỉ có 35,8% trong số đó được kiểm soát.

– Đối với lĩnh vực thủy sản, đa số vùng nuôi không có hệ thống xử lý nước và chất thải, việc kiểm soát môi trường nước và ao nuôi còn nhiều bất cập, dẫn đến lượng chất thải gây ô nhiễm từ ao nuôi rất lớn, hầu hết lượng chất thải này chưa được xử lý triệt để trước khi thải ra ngoài, gây ảnh hưởng lớn đến môi trường khu vực và ảnh hưởng ngược trở lại vùng nuôi trồng thủy sản.

Các biện pháp cần và có.

Với thực tế đó, để hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, những năm qua các cấp, các ngành và các địa phương đã triển khai thực hiện nhiều biện pháp hữu hiệu như:

– Trước hết phải chú trọng đến việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức bằng cách tăng cường các biện pháp tuyên truyền, vận động để người dân ý thức việc sản xuất nông nghiệp phải đi đôi với bảo vệ môi trường, giúp nâng cao tính thích ứng với những biến đổi xấu của khí hậu;

– Để ngăn chặn, hạn chế việc đốt rơm, rạ sau thu hoạch… nên sử dụng chế phẩm sinh học xử lý rơm, rạ, phụ phẩm ngay tại ruộng đồng để trả lại lượng mùn, chất hữu cơ cho đất;

– Về chăn nuôi: phải thường xuyên phối hợp với các địa phương tổ chức, đánh giá hiện trạng, tác động của ô nhiễm môi trường đối với phát triển kinh tế – xã hội và có biện pháp xử lý các cơ sở chăn nuôi gây ô nhiễm; Đồng thời vận động người dân đầu tư, xây dựng mô hình chăn nuôi an toàn sinh học như: nuôi lợn trên nền đệm lót sinh học; Sử dụng chế phẩm sinh học, công nghệ khí sinh học biogas nhằm xử lý chất thải chăn nuôi, giảm mùi hôi thối, diệt khuẩn có hại và tăng khả năng phòng, chống dịch bệnh cho vật nuôi, nâng cao hiệu quả chăn nuôi;

– Lĩnh vực thủy sản: nên tăng cường quản lý thức ăn, hóa chất, thuốc kháng sinh, chế phẩm sinh học sử dụng trong nuôi trồng thủy sản; Hướng dẫn bà con thực hiện nghiêm túc quy trình nuôi, nhất là quy trình chuẩn bị ao nuôi; Tiến hành quan trắc mẫu nước, xét nghiệm các chỉ tiêu kỹ thuật quan trắc, cảnh báo môi trường nước nuôi trồng thủy sản, từ đó khuyến cáo người dân không nên thả nuôi mới vào thời điểm độ mặn của nước xuống thấp và không nên cấp nước trực tiếp vào ao nuôi, cần phải qua ao lắng để xử lý một số chỉ tiêu lý hóa như độ kiềm, độ trong, chỉ số NH4 – N… nhằm đảm bảo chất lượng nước phù hợp nhất khi đưa vào ao nuôi;

– Lĩnh vực thủy lợi: Điều tiết vận hành công trình phù hợp, đảm bảo tưới tiêu theo hướng ngăn mặn xả ô nhiễm; Đầu tư nâng cấp, duy tu, sửa chữa các công trình nhằm giảm thiểu nguồn nước bị ô nhiễm trên kênh, rạch; quan trắc mẫu nước để xác định diễn biến chất lượng nguồn nước, làm cơ sở cho việc vận hành công trình hiệu quả, hạn chế thiệt hại có thể xảy ra, đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp.

– Lĩnh vực lâm nghiệp: Tập trung công tác quản lý bảo vệ rừng và nên phối kết hợp với các trường học, cơ quan và lực lượng vũ trang địa phương tích cực trồng cây góp phần nâng cao tỷ lệ phủ xanh cho thành phố;

Chúng ta phải luôn xác định bảo vệ môi trường nông nghiệp nông thôn là một công việc lâu dài, phải làm công phu, bền bỉ, cần được thực hiện một cách đồng bộ giữa các cấp, các ngành, phối hợp chặt chẽ với người dân thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến.

Hy vọng những giải pháp bảo vệ môi trường nêu trên sẽ góp phần cải thiện chất lượng môi trường cuộc sống, cũng như chất lượng môi trường trong nông nghiệp nông thôn, giúp diện mạo nông thôn cả nước ngày càng trong sạch, tạo nền tảng vững chắc cho ngành nông nghiệp, từ đó góp phần làm cho môi trường ngày càng xanh – sạch – đẹp.

Minh Khuê

Giảm Ô Nhiễm Môi Trường Trong Sản Xuất Nông Nghiệp

Hội thảo “Môi trường nông nghiệp vùng ĐBSCL hiện trạng và thách thức” do Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tổ chức, xác định: Ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL ngày càng nghiêm trọng hơn. Kết quả các cuộc khảo sát mới nhất từ các cơ quan chuyên môn báo động cần sớm có giải pháp ngăn chặn các tác động làm suy thoái, gây tổn hại môi trường, hướng đến nâng cao chất lượng sản phẩm nông-thủy sản và bảo vệ sức khỏe người dân…

Nông dân xã Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ tham quan các mô hình sản xuất lúa giống theo kỹ thuật canh tác “3 giảm, 3 tăng”, đạt năng suất cao và hạn chế ô nhiễm môi trường.

Ô nhiễm từ thuốc bảo vệ thực vật

ĐBSCL là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm, với 4 triệu ha đất có lợi thế phát triển kinh tế cho vùng và cả nước. Hằng năm, khu vực ĐBSCL đóng góp 20% GDP, với nguồn đóng góp chính là nông nghiệp và thủy sản cho cả nước. Tuy nhiên, trong những năm qua, vùng đất này đã đối mặt với nhiều khó khăn dưới tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) và hoạt động xây dựng phát triển thủy điện thiếu bền vững ở thượng nguồn sông Mekong. Tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn thường xuyên diễn ra nghiêm trọng vào mùa khô. Trong khi đó mùa mưa thường đến chậm, mưa ít đi. Nhiều năm, ĐBSCL chịu cảnh lũ ít hoặc không có lũ, làm ảnh hưởng rất nhiều đến sản xuất nông nghiệp trong vùng. Đặc biệt áp lực dịch hại trên cây trồng, mật số sâu bệnh tăng cao, thậm chí phát sinh một số sâu bệnh mới.

Bên cạnh đó, trong sản xuất nông nghiệp còn chịu tác động ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất. Theo Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL (Trường Đại học Cần Thơ), từ thập niên 80 đến nay, giá trị nhập khẩu, số lượng và chủng loại hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật nhập khẩu liên tục tăng. “Số lượng thuốc bảo vệ thực vật đăng ký sử dụng cũng tăng khoảng 10 lần trong hơn 10 năm qua. Ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp cũng từ đó tăng lên” – Tiến sĩ (TS) Nguyễn Hồng Tín, Trưởng Bộ môn Hệ thống Nông nghiệp thuộc Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL, nói.

Qua kết quả khảo sát mới đây trong lĩnh vực trồng trọt, TS Nguyễn Hồng Tín, Trưởng Bộ môn Hệ thống Nông nghiệp thuộc Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL (Trường Đại học Cần Thơ), công bố: Ô nhiễm môi trường nông nghiệp do thâm canh tăng cao, mở rộng diện tích sản xuất, định hướng tăng sản lượng… Trong đó tập trung chủ yếu trên 3 loại cây trồng mang tính ô nhiễm môi trường lớn là lúa, bắp, cây cà phê sử dụng nhiều vật tư đầu vào là giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Hiện chi phí phân bón chiếm khoảng 30% tổng chi phí sản xuất. Tính hằng năm lãng phí khoảng 130 triệu USD do thải ra môi trường (đất, nước, không khí) từ 865.000 tấn tồn dư của phân bón hóa học. Đó là do nông dân còn dựa vào kinh nghiệm, tập quán tăng số lượng, lần bón phân hơn mức khuyến cáo. Mặt khác, tình trạng phân bón giả, phân bón kém chất lượng khoảng 50% làm cho hiệu quả sử dụng phân bón thấp, môi trường thêm ô nhiễm. Hệ quả thấy rõ vùng canh tác lúa 3 vụ/năm suy thoái đất, ít phù sa tự cải tạo đất do đê bao ngăn lũ.

Theo TS Nguyễn Hồng Tín, qua điều tra, lượng thuốc bảo vệ thực vật hiện sử dụng đạt mức 2,5 kg/ha/vụ, tương đương 7,5 kg/ha/năm (3 vụ). Có 50% nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá liều với 30% lượng thuốc, chiếm gần 20% chi phí sản xuất so với mức khuyến cáo, ước tính lãng phí ra môi trường khoảng 400 triệu USD/năm.

Giải pháp

Có thể nhận thấy trong những năm gần đây song hành cùng các hoạt động sản xuất thâm canh tăng vụ, trong trồng trọt và nuôi trồng thủy sản đã bộc lộ mặt trái như: Gây ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, sụt lún đất, suy giảm mạch nước ngầm; các nguồn chất thải trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, nuôi thủy sản và nước thải nông thôn… chưa được xử lý triệt để đang gây áp lực lớn ô nhiễm môi trường và nguy cơ lây lan dịch bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe và tuổi thọ người dân vùng nông thôn. Về mặt kinh tế tăng chi phí sản xuất, giảm năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam, giảm hiệu quả sản xuất và thu nhập của nông hộ; đồng thời rủi ro trong các hợp đồng thương mại như dư, quá hàm lượng nitrate cho phép, hàng bị tái xuất, trả về…

Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất càng tăng lên. Trong giai đoạn 2000-2011 số loại thuốc bảo vệ thực vật đăng ký và sử dụng ở nước ta tăng gấp 10 lần. Riêng năm 2017 trong 430.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật nhập khẩu có 38,1% thuốc trừ cỏ, 13,2% thuốc trừ sâu, 17,5% thuốc trừ bệnh, 1,3% thuốc trừ ốc và 1,3% thuốc điều hòa sinh trưởng, còn lại 28,6% là các loại nguyên phụ liệu khác.

Theo Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản, trong các giải pháp canh tác bền vững ứng phó với BĐKH vùng ĐBSCL, do việc tiến hành xây dựng, hoàn thiện các hệ thống công trình trên quy mô toàn vùng chưa làm ngay được do tốn kém, khó khăn và không bền vững, vì vậy giải pháp ưu tiên trước mắt cho canh tác nông nghiệp trong điều kiện thích ứng. Các nghiên cứu đã chỉ ra, việc thuận theo tự nhiên, quy hoạch các giống cây/con phù hợp với thổ nhưỡng sẽ giúp biến các thách thức trở thành cơ hội, giảm chi phí cải tạo đất, nước.

Cùng quan điểm đó, TS Jeffrey Alwang – chuyên gia chương trình CURE (Consortium for Unfavorable Rice Environments), nhận định: Vùng ĐBSCL cần quy hoạch canh tác nông nghiệp theo phân vùng sinh thái nông nghiệp. Vùng thượng nguồn với vấn đề sinh kế mùa lũ, sẽ được chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo các mô hình: xả lũ 3 năm 8 vụ, lúa – thủy sản, lúa – sen, thủy sản – cá lóc, trồng lục bình… Vùng cửa sông, ven biển thay vì ngăn mặn sẽ chuyển đổi sản xuất theo hướng coi nước mặn như một nguồn tài nguyên, với các mô hình: lúa – màu, lúa – tôm, trồng cỏ chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản nước mặn… Vùng Bán đảo Cà Mau với lợi thế về rừng ngập mặn, sẽ được quy hoạch theo mô hình nông – lâm kết hợp tràm – thủy sản, tràm – lúa – thủy sản…

PGS.TS Đinh Vũ Thanh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và Môi trường cho biết, với những giải pháp trên, sản xuất nông nghiệp ĐBSCL giảm thiểu ô nhiễm môi trường và thích ứng BĐKH trong tương lai.

Bài, ảnh: HÀ VĂN

Bạn đang xem bài viết An Giang: Ngăn Ngừa, Kiểm Soát Sinh Vật Ngoại Lai Xậm Hại Sản Xuất Nông Nghiệp trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!