Xem Nhiều 12/2022 #️ Bàn Về Vai Trò Nhiệm Vụ Của Người Làm Kế Toán Quản Trị / 2023 # Top 21 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 12/2022 # Bàn Về Vai Trò Nhiệm Vụ Của Người Làm Kế Toán Quản Trị / 2023 # Top 21 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bàn Về Vai Trò Nhiệm Vụ Của Người Làm Kế Toán Quản Trị / 2023 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Kế toán quản trị (KTQT) có vị trí và vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội nói chung và doanh nghiệp (DN) nói riêng. Các quan điểm về KTQT thay đổi theo hướng đi từ chi tiết tới tổng thể, từ trong nội bộ doanh nghiệp hướng tới các yếu tố bên ngoài (đối thủ cạnh tranh, khách hàng, môi trường…). Để có thể đáp ứng được các yêu cầu  chi tiết cho tới người làm KTQT tổng thể, chiến lược.

Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp tổng hợp thống kê và phân tích logic thông thường theo các nội dung: (i) Tổng hợp thống kê lịch sử phát triển KTQT trên thế giới; (ii) Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến sự biến động nhu cầu thông tin của nhà quản trị DN; (iii) Vai trò, nhiệm vụ của người làm KTQT để có thể đáp ứng nhu cầu thông tin của nhà quản trị trong từng dạng thức phát triển của KTQT.

Góc nhìn lý thuyết về kế toán quản trị

Sau hơn 200 năm hình thành và phát triển, KTQT đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển thăng trầm. Đến nay đã có nhiều cá nhân, tổ chức nghiên cứu về lịch sử của KTQT từng quốc gia, cũng như khái quát hóa thành lịch sử phát triển KTQT của thế giới. Dù dưới góc độ hay quan điểm của bất kỳ nghiên cứu nào cũng đều chỉ ra KTQT gắn liền với sự phát triển kinh tế – xã hội, với nhận thức và nhu cầu thông tin của nhà quản trị. Có thể hệ thống hóa và chỉ ra các bước phát triển cơ bản của KTQT qua hơn 200 năm như sau:

– Kế toán chi phí: Kế toán chi phí xuất hiện lần đầu tiên từ thời kỳ cuộc Cách mạng công nghiệp ở Anh nổ ra và lan rộng sang các nước khác ở châu Âu và Mỹ. Thời kỳ này là khởi nguồn của ngành công nghiệp sản xuất hàng loạt, sản phẩm sản xuất ra đến đâu được tiêu thụ hết đến đó. Các tập đoàn, định chế kinh tế hình thành và thống lĩnh thị trường. Nhà quản trị các DN trong giai đoạn này chưa quan tâm nhiều tới việc cạnh tranh với các đối thủ mà chỉ có nhu cầu xác định, kiểm soát chi phí nhằm mục đích đo lường hiệu quả và xác định lãi lỗ.

– KTQT truyền thống: KTQT truyền thống được biết đến đầy đủ bắt đầu từ những năm 1950. Giai đoạn này, thị trường bắt đầu có sự cạnh tranh, nhu cầu thông tin để ra quyết định điều hành mang tính tác nghiệp của nhà quản trị nhiều hơn. Nhà quản trị phải đối mặt với các quyết định như: Sản xuất bao nhiêu sản phẩm để đạt lợi nhuận tối ưu, mua hay tự sản xuất sản phẩm, sản xuất tiếp hay tạm dừng…

– Kế toán bền vững: Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, các DN ngày nay được kỳ vọng không chỉ đem lại lợi nhuận cho chủ sở hữu hay các nhà đầu tư mà còn được kỳ vọng: (i) Sẽ giải quyết được các yếu tố xã hội như tạo việc làm cho người lao động tại địa phương; (ii) Đóng góp vào tốc độ phát triển kinh tế của địa phương; (iii) Phải chịu trách nhiệm bảo vệ môi trường… Nhiều công ty lớn trên thế giới đã phải thực hiện các kỳ vọng và trách nhiệm này.

Thực tế đã chứng minh, nhiều DN thay vì bỏ ra chi phí nghiên cứu sản xuất kết hợp với bảo vệ môi trường thì lại chấp nhận chịu phạt do việc gây ra ô nhiễm môi trường. Và số tiền phạt này thậm chí còn lớn hơn cả số chi phí bỏ ra để nghiên cứu phương thức sản xuất mới… Chính vì vậy, nhà quản trị DN ngày nay, ngoài nhu cầu thông tin phục vụ điều hành sản xuất kinh doanh thì cũng cần các thông tin về ảnh hưởng từ các hoạt động của DN tới các yếu tố môi trường – xã hội, kinh tế xung quanh DN.

Kế toán bền vững hay còn được biết đến là kế toán phát triển bền vững đề cập tới các yếu tố vĩ mô bao gồm: Môi trường, xã hội và kinh tế. Sản phẩm của kế toán bền vững là báo cáo phát triển bền vững của DN, báo cáo này mô tả các hoạt động của DN ảnh hưởng tới yếu tố môi trường, xã hội và kinh tế xung quanh DN. Kế toán bền vững có thể được chia nhỏ thành kế toán môi trường và kế toán trách nhiệm xã hội.

Các dạng thức của KTQT nêu trên thể hiện sự phát triển của KTQT phù hợp với các giai đoạn phát triển của kinh tế – xã hội cùng với sự gia tăng của nhận thức con người về các yếu tố khác ngoài kinh tế như môi trường, xã hội. Trong hoạt động kinh doanh ngày nay ngoài việc phải đảm bảo đem lại hiệu quả lâu dài cho chủ sở hữu cũng phải có trách nhiệm với môi trường xung quanh, với xã hội và nền kinh tế mà DN đang hoạt động.

Các bước phát triển của KTQT không mang quy luật phủ định, dạng thức KTQT ở bậc cao hơn; không phủ định dạng thức KTQT ở bậc thấp hơn. Các dạng thức KTQT này tồn tại trong mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau và chúng cùng tồn tại trong một DN. Tuy nhiên, mức độ xuất hiện của từng dạng thức KTQT lại phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác, không phải mọi DN đều cần thiết phải có tất cả các dạng thức KTQT như trên.

Yêu cầu đặt ra với người làm kế toán quản trị

Người làm KTQT có thể là những chuyên gia xây dựng định mức chi phí cho DN; có thể là những người làm ở bộ phận xây dựng kế hoạch, phương án kinh doanh; có thể là những chuyên viên phân tích, đánh giá hiệu quả tài chính hoặc là những chuyên gia dự báo, phân tích thị trường. Mục tiêu cuối cùng của tập hợp những người làm KTQT truyền thống là cung cấp được đầy đủ thông tin cho nhà quản trị đưa ra được quyết định điều hành mang tính tác nghiệp – đây là bước tiến quan trọng nhất của người làm KTQT truyền thống so với nhân viên kế toán chi phí ở thời kỳ trước.

– Người làm KTQT chiến lược: Người làm KTQT chiến lược là những người không chỉ nắm rõ về hoạt động sản xuất kinh doanh của DN mà phải là những người hiểu rõ về thị trường nơi mà DN tham gia với những đối thủ cạnh tranh và nhóm khách hàng tiềm năng. Trên cơ sở các hiểu biết rõ ràng như vậy, người làm KTQT chiến lược có thể tham gia vào hoạch định chiến lược phát triển của DN, đảm bảo tạo được lợi thế cạnh tranh và đạt được hiệu quả tài chính trong dài hạn theo đúng các mục tiêu chiến lược mà chủ DN đặt ra.

– Người làm KTQT bền vững: Người làm KTQT đòi hỏi không chỉ nắm rõ hoạt động sản xuất kinh doanh, đối thủ cạnh tranh và khách hàng của DN mà còn phải am hiểu các quy định về bảo vệ môi trường, các chính sách phát triển kinh tế xã hội của địa phương và các trách nhiệm phải đóng góp của DN đối với cộng đồng. Người làm KTQT lúc này đóng vai trò như một nhà quản trị cấp cao, có thể tham gia đóng góp ý kiến trực tiếp cho các chủ sở hữu DN.

Từ quan điểm ban đầu về người làm KTQT chỉ là nhân viên kế toán chi phí làm việc trong bộ phận kế toán của DN, ngày nay quan điểm về người làm KTQT đã vượt ra khỏi phạm vi của bộ phận kế toán. Người làm KTQT có thể làm việc ở các bộ phận khác nhau trong DN, họ cũng có thể ở rất nhiều cấp độ khác nhau.

Các báo cáo KTQT hiện nay không chỉ do một bộ phận duy nhất lập ra mà có thể do nhiều bộ phận ở nhiều cấp độ khác nhau lập, các báo cáo này kết hợp với nhau tạo thành một hệ thống thông tin kế toán quản trị cung cấp cho nhà quản trị ở các cấp động trong DN có thể sử dụng để đưa ra quyết định phù hợp.

Nhìn chung, sự phát triển KTQT không mang tính phủ định. Dạng thức KTQT ở bậc cao hơn không phủ định dạng thức KTQT ở bậc thấp hơn. Các dạng thức KTQT kết hợp và hỗ trợ lẫn nhau để phục vụ nhà quản trị các cấp của DN được tốt nhất.

Người làm KTQT không còn giới hạn phạm vi ở trong bộ phận kế toán mà có thể ở các bộ phận khác trong DN. Người làm KTQT cũng có nhiều cấp độ khác nhau tương ứng với các dạng thức KTQT tồn tại trong DN. Các báo cáo KTQT do người làm KTQT lập là một hệ thống thông tin cung cấp cho nhà quản trị ở các cấp trong DN.      

1. IFAC (1998), International Management Accounting Practice Statement: Management Accounting Concepts;

2. Darius Gliaubicas (2012), The research of Management Accounting Evolution in the Context of Economic Changes, Economics and Management: 17;

3. Kaplan (1984), The Evolution of Management Accounting, The Accounting Review;

4. Shank (2007), Strategic Cost Management: Upsizing, downsizing and right(?) sizing;

5. Lê Anh Tuấn và Nguyễn Lê Nhân (2016), Kế toán môi trường và sự phát triển bền vững của DN, Tạp chí Tài chính kỳ II tháng 9/2016;

6. ICAEW (2004), Sustainability: The Role of Accountants – Sustainable Business Initiative;

7. CIMA (2011), Sustainability and the Role of the Management Accountants, Research Excutive Summary Series, vol. 7, issue 14;

8. CGMA (2014), How Management Accounting Drives Sustainable Success;

9. https://en.wikipedia.org/wiki/Sustainability_accounting.

Theo Tạp chí Tài Chính -Bộ tài chính , bài viết của Ths Nguyễn Minh Thành

Kế Toán Quản Trị, Nhiệm Vụ Của Kế Toán Quản Trị Trong Doanh Nghiệp / 2023

Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp, như: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm;

Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ;

Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận; Lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn và dài hạn;

Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh;… nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế.

Kế toán quản trị là công việc của từng doanh nghiệp, Nhà nước chỉ hướng dẫn các nguyên tắc, cách thức tổ chức và các nội dung, phương pháp kế toán quản trị chủ yếu tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện.

b/ Đối tượng nhận thông tin kế toán quản trị là Ban lãnh đạo doanh nghiệp và những người tham gia quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp không bắt buộc phải công khai các thông tin về kế toán quản trị trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

c/ Đơn vị tính sử dụng trong Kế toán quản trị, gồm: Đơn vị tiền tệ, đơn vị hiện vật, thời gian lao động hoặc các đơn vị tính khác theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.

d/ Nguyên tắc tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị:

Việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị không bắt buộc phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc kế toán và có thể được thực hiện theo những quy định nội bộ của doanh nghiệp nhằm tạo lập hệ thống thông tin quản lý thích hợp theo yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp.

Doanh nghiệp được toàn quyền quyết định việc vận dụng các chứng từ kế toán, tổ chức hệ thống sổ kế toán, vận dụng và chi tiết hoá các tài khoản kế toán, thiết kế các mẫu báo cáo kế toán quản trị cần thiết phục vụ cho kế toán quản trị của đơn vị.

đ/ Doanh nghiệp được sử dụng mọi thông tin, số liệu của phần kế toán tài chính để phối hợp và phục vụ cho kế toán quản trị.

2. Đối tượng áp dụng Thông tư

Thông tư này áp dụng cho doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại, dịch vụ.

Riêng các doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, như Công ty bảo hiểm, Công ty chứng khoán, Công ty quản lý Quỹ Đầu tư chứng khoán, Tổ chức tín dụng, Tổ chức tài chính,… vận dụng các nội dung phù hợp hướng dẫn tại Thông tư này.

3. Nhiệm vụ kế toán quản trị trong doanh nghiệp

a/ Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo phạm vi, nội dung kế toán quản trị của đơn vị xác định theo từng thời kỳ.

b/ Kiểm tra, giám sát các định mức, tiêu chuẩn, dự toán.

c/ Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị bằng báo cáo kế toán quản trị.

d/ Tổ chức phân tích thông tin phục vụ cho yêu cầu lập kế hoạch và ra quyết định của Ban lãnh đạo doanh nghiệp.

Quản Trị Sản Xuất &Amp; Vai Trò, Nhiệm Vụ Của Người Quản Trị Trong Chức Năng Sản Xuất / 2023

QUẢN TRỊ SẢN XUẤT

1

CHƯƠNG I QUẢN TRỊ SẢN XUẤT & VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN TRỊ TRONG CHỨC NĂNG SẢN XUẤT I. VAI TRÒ CỦA QUẢN TRỊ SẢN XUẤT TRONG QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 1- Khái niệm Sản xuất là quá trình biến đổi những yếu tố đầu vào thành đầu ra. Mục đích của quá trình chuyển hoá này là tạo giá trị gia tăng để cung cấp cho khách hàng. Đầu vào của quá trình chuyển đổi bao gồm nguồn nhân lực, vốn, kĩ thuật, nguyên vật liệu, đất, năng lượng, thông tin. Đầu ra của quá trình chuyển đổi là sản phẩm, dịch vụ, tiền lương, những ảnh hưởng đối với môi trường. 2- Hệ thống sản xuất Đầu vào Đầu vào

Thông tin

Đo lường hiệu quả (chi phí,chi phí, năng suất)

Hình I-1: Hệ thống sản xuất

3- Vị trí của chức năng sản xuất. – Tạo ra hàng hóa hoặc dịch vụ cung cấp cho xã hội. – Chức năng sản xuất là một trong ba chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp, đó là: chức năng sản xuất, chức năng Marketing và chức năng tài chính, cái quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. – Trên phạm vi nền kinh tế, chức năng sản xuất của các doanh nghiệp đóng vai trò quyết định trong việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ phong phú để nâng cao mức sống vật chất toàn xã hội. – Trên phạm vi thế giới, khả năng sản xuất xét trên cả phương diện sức sản xuất và hiệu quả của nó sẽ là chìa khóa thành công của mỗi nước. 4- Quan hệ giữa các chức năng và chức năng sản xuất.

Quan tri San xuat ………………………………………………… 1

2

QUẢN TRỊ SẢN XUẤT & VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN TRỊ TRONG CHỨC NĂNG SẢN XUẤT

Tài chính

SX

Marketing

Hình I-1 :Quan hệ giữa các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp

Các chức năng quản trị trong doanh nghiệp phụ thuộc lẫn nhau, nếu thiếu một trong ba, doanh nghiệp không thể thành công. Trên thực tế, việc tách rời các chức năng chỉ để nghiên cứu song nó cần thiết như nhau và phụ thuộc lẫn nhau. 5- Sự mở rộng chức năng sản xuất Chức năng sản xuất còn được gọi là chức năng điều hành hoặc chức năng sản xuất và tác nghiệp. Trước kia thuật ngữ sản xuất chỉ bao hàm việc tạo ra sản phẩm hữu hình. Sau này nó được mở rộng và bao hàm cả việc tạo ra các dịch vụ. Ngày nay, nói đến sản xuất có nghĩa là không kể việc nó tạo ra sản phẩm hữu hình hay dịch vụ. Thực tế, sản xuất dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong các nước phát triển. Các hệ thống sản xuất sẽ chia làm hai dạng chủ yếu là dạng sản xuất chế tạo (Manufacturing Operation) và dạng sản xuất không chế tạo hay dịch vụ (Non-Manufacturing Operation). Dạng sản xuất chế tạo thực hiện các quá trình vật lý, hóa học để biến đổi nguyên vật liệu thành các sản phẩm hữu hình. Dạng sản xuất không tạo ra hàng hóa hữu hình là dạng sản xuất không chế tạo hay dịch vụ. II. HỆ THỐNG SẢN XUẤT 1- Đặc tính chung của hệ thống sản xuất Hệ thống sản xuất cung cấp sản phẩm hay dịch vụ cho xã hội. Tất cả các hệ thống sản xuất đều có một số đặc tính chung đó là: Thứ nhất: Hệ thống sản xuất chịu trách nhiệm cung cấp hàng hóa hay dịch vụ mà doanh nghiệp sẽ cung cấp cho xã hội. Thứ hai: Hệ thống sản xuất chuyển hóa các đầu vào thành các đầu ra là các sản phẩm hay dịch vụ. Các đầu vào của hệ thống sản xuất có thể là: Nguyên vật liệu, kỹ năng lao động, kỹ năng quản trị, các phương tiện vốn liếng,…

Quan tri San xuat ………………………………………………… 2

QUẢN TRỊ SẢN XUẤT

3

Các đầu ra là sản phẩm hay dịch vụ, tiền lương đổ vào nền kinh tế, các ảnh hưởng xã hội và các ảnh hưởng khác. Hệ thống sản xuất là một hệ thống con trong doanh nghiệp, và doanh nghiệp là một phân hệ trong hệ thống lớn hơn…nền sản xuất xã hội…. Lúc đó ranh giới sẽ khó phân biệt và khó nhận biết các đầu vào và đầu ra. Các dạng chuyển hóa bên trong hệ thống sản xuất quyết định việc biến đầu vào thành đầu ra bao gồm các dạng như làm thay đổi trạng thái vật lý, cung cấp kỹ năng, làm dịch chuyển vị trí, giữ gìn bảo quản sản phẩm… Tóm lại: Các hệ thống sản xuất khác nhau có thể có đầu vào khác nhau, đầu ra khác nhau, các dạng chuyển hóa khác nhau, song đặc tính chung nhất của hệ thống sản xuất là chuyển hóa các đầu vào thành các đầu ra khả dụng. 2- Năng suất và sản xuất Nang _ suat =

Tong _ dau _ ra Tong _ dau _ vao

Năng suất có thể tăng lên khi: *

Sản xuất ra nhiều đầu ra hơn với cùng một lượng đầu vào

*

Sản xuất ra một khối lượng đầu ra không đổi trong khi giảm lượng đầu vào

* Sản xuất ra nhiều đầu ra hơn trong khi sử dụng ít đầu vào hơn, hay mức độ tăng lên của đầu ra lớn hơn mức độ tăng lên của đầu vào sử dụng. 3- Những đặc diểm cơ bản của nền sản xuất hiện đại Trước hết, đó là triết lý cơ bản thừa nhận vị trí quan trọng của sản xuất. Thứ hai, nền sản xuất hiện đại quan tâm ngày càng nhiều đến chất lượng. Thứ ba, nền sản xuất hiện đại nhận thức con người là tài sản lớn nhất của công ty. Thứ tư, sản xuất hiện đại ngày càng quan tâm vấn đề kiểm soát chi phí. Thứ năm, nền sản xuất hiện đại dựa trên nền tảng của tập trung và chuyên môn hóa cao. Thứ sáu, sản xuất hiện đại cũng thừa nhận yêu cầu về tính mềm dẻo của hệ thống sản xuất. Thứ bả y, sự phát triển của cơ khí hóa trong nền sản xuất hiện đại từ chỗ nhằm thay thế cho lao động nặng nhọc, đến nay trong nền sản xuất hiện đại ngày càng thấy các hệ thống sản xuất tự động điều khiển bằng chương trình. Thứ tám, ứng dụng máy tính vào sản xuất hiện đại mở rộng từ điều khiển quá trình sản xuất, đến kết hợp thiết kế với chế tạo. Thứ chín, các mô hình mô phỏng toán học ngày càng được sử dụng rộng rãi để hỗ trợ cho các quyết định sản xuất.

Quan tri San xuat ………………………………………………… 3

4

QUẢN TRỊ SẢN XUẤT & VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN TRỊ TRONG CHỨC NĂNG SẢN XUẤT

4- Hệ thống sản xuất chế tạo (Manufacturing Operation) Khi nghiên cứu các hệ thống sản xuất, người ta thường lấy các đặc trưng trong điều kiện sản xuất và phương pháp sản xuất để gán cho nó. Hệ thống sản xuất chế tạo làm ra các sản phẩm hữu hình có thể lưu giữ tồn kho trong những chừng mực nhất định. Khi có một đơn hàng về sản phẩm của hệ thống sản xuất được đặt, các sản phẩm được chuẩn bị để đáp ứng các đơn hàng theo các cách thức sau: + Một là: Các sản phẩm hòan thành đã có sẵn trong kho. + Hai là: Các modul tiêu chuẩn cần để lắp ráp sản phẩm đã lưu giữ sẵn, bao gồm: Cụm chi tiết tiêu chuẩn, chi tiết tiêu chuẩn. + Ba là: Có sẵn trong hệ thống sản xuất các nguyên vật liệu cần thiết. Các cách thức này dẫn đến các hành động khác nhau của các hệ thống sản xuất khi có đơn hàng. Căn cứ vào đó người ta chia hệ thống sản xuất thành 3 loại: (1)Hệ thống sản xuất để dự trữ (Make to stock) Hệ thống sản xuất này tạo ra các sản phẩm hoàn chỉnh và đưa vào dự trữ trước khi nhận đơn hàng. (2) Hệ thống sản xuất theo đơn hàng Các món hàng cuối cùng sẽ hòan thành sau khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng. Hệ thống sản xuất này phục vụ cho các nhu cầu có khối lượng nhỏ, sản phẩm đa dạng, không tiêu chuẩn. (3) Hệ thống sản xuất lắp ráp đơn hàng Hệ thống này ở giữa hai loại trên, nó có thể chủ động tạo ra trước các chi tiết, các kiểu mẫu, modul tiêu chuẩn, và sẽ lắp ráp các chi tiết, các modul này theo những chỉ định của khách hàng khi có đơn hàng. Sự khác nhau của các hệ thống sản xuất chế tạo còn được xét trên tính liên tục của các quá trình sản xuất diễn ra ở bên trong. Do đó, các hệ thống sản xuất còn có thể chia thành hai loại: (1) Hệ thống sản xuất liên tục Là hệ thống sản xuất trong đó các máy móc thiết bị, các nơi làm việc được thiết đặt dựa trên cơ sở phối hợp một cách hợp lý các bước công việc để biến các đầu vào thành các chi tiết, bộ phận, hay sản phẩm nhất định. Các đặc tính cơ bản: + Các tuyến công việc và các máy móc thiết bị được thiết đặt khá ổn định khi chuyển từ chế tạo sản phẩm này sang sản phẩm khác. + Dòng dịch chuyển của vật liệu tương đối liên tục. + Tính lặp lại của công việc trên nơi làm việc cao, đặc biệt trong sản xuất khối lượng lớn. + Sản phẩm của hệ thống sản xuất này là sản phẩm tiêu chuẩn, có thể có nhu cầu hoặc đặt hàng với khối lượng lớn.

Quan tri San xuat ………………………………………………… 4

QUẢN TRỊ SẢN XUẤT

5

(2) Hệ thống sản xuất gián đọan Là hệ thống sản xuất trong đó các máy móc thiết bị được nhóm lại hoặc được tổ chức phù hợp với chức năng hay công nghệ mà nó thực hiện. Sự khác biệt cơ bản của hệ thống sản xuất này với sản xuất liên tục là cho phép nó có một khả năng mền dẻo cao. Đặc trưng cơ bản của hệ thống sản xuất gián đọan là: + Tuyến dịch chuyển của đối tượng xác định riêng với từng lọai sản phẩm hoặc đơn hàng. Sự phối hợp các nơi làm việc thường được điều khiển từ một trung tâm. + Các sự gián đọan trong quá trình sản xuất + Tính lặp lại thấp, đặc biệt trong sản xuất đơn chiếc. + Sản phẩm đa dạng thích ứng với các nhu cầu riêng biệt, qui mô nhỏ. 5- Hệ thống sản xuất dịch vụ (Non-manufacturing Operation) a- Các hệ thống sản xuất dịch vụ

Là các hệ thống sản xuất không tạo ra sản phẩm có hình dạng vật chất cụ thể, mà tạo ra sản phẩm vô hình – các dịch vụ. Các dịch vụ có thể phân biệt dựa trên mức độ tiêu chuẩn hóa của nó: – Dịch vụ dự án – Dịch vụ tiêu chuẩn – Dịch vụ chế biến b- Sự khác biệt giữa hệ thống sản xuất chế tạo và dịch vụ

Những sự khác biệt cơ bản giữa sản xuất chế tạo và dịch vụ gồm có: Một là, khả năng sản xuất trong dịch vụ rất khó đo lường vì nó cung cấp các sản phẩm không có hình dạng vật chất cụ thể. Hai là, tiêu chuẩn chất lượng khó thiết lập và kiểm soát trong sản xuất dịch vụ. Ba là, trong sản xuất dịch vụ, có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người sản xuất và người tiêu dùng, các khía cạnh quan hệ giữa sản xuất và Maketing thường chồng lên nhau. Bốn là, sản phẩm của sản xuất dịch vụ không tồn kho được. Ngoài những khác biệt trên, có thể có khác biệt trong kết cấu chi phí và kết cấu tài sản. Thường thường, trong các hệ thống sản xuất dịch vụ có tỷ trọng chi phí tiền lương cao và chi phí nguyên vật liệu thấp hơn trong sản xuất chế tạo. Đồng thời tỷ lệ đầu tư vào tồn kho và tài sản cố định cũng thấp hơn so với sản xuất chế tạo. Song những khác biệt này có thể rất mờ nhạt khi xét trên bình diện chung. III. VAI TRÒ CỦA NGƯỜI QUẢN TRỊ TRONG CHỨC NĂNG SẢN XUẤT 1- Các kỹ năng cần thiết ở người quản trị sản xuất Các quản trị viên sản xuất cần có các kỹ năng cơ bản sau: – Khả năng kỹ thuật: Khi một quản trị viên ra quyết định về nhiệm vụ sản xuất để người khác thực hiện, họ cần phải hiểu biết hai khía cạnh chủ yếu: Quan tri San xuat ………………………………………………… 5

6

QUẢN TRỊ SẢN XUẤT & VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN TRỊ TRONG CHỨC NĂNG SẢN XUẤT

Một là: Hiểu biết cơ bản về qui trình công nghệ Hai là: Hiểu biết đầy đủ về công việc phải quản trị Khả năng kỹ thuật có thể được qua đào tạo và tích lũy kinh nghiệm. Với các công ty lớn, các nhà quản trị hoạt động sản xuất phức tạp có thể sử dụng đội ngũ chuyên gia giỏi và các cố vấn. – Khả năng làm việc với con người. 2- Các họat động của người quản trị sản xuất a- Vai trò của người quản trị sản xuất:

Chức năng quản trị tác động trực tiếp lên 3 vấn đề cơ bản tối thiểu cần thiết cho sự thành công của công ty: 1- Cung cấp sản phẩm phù hợp với năng lực của công ty và nhu cầu của thị trường. 2- Cung cấp sản phẩm với mức chất lượng phù hợp với mong muốn của khách hàng. 3- Cung cấp sản phẩm với chi phí cho phép có được lợi nhuận và giá cả hợp lý. Khi hoạch định mục tiêu của công ty, các quản trị viên cấp cao phải đảm bảo rằng mục tiêu này phải phù hợp với khả năng, sức mạnh thích hợp được phát triển trong hệ thống sản xuất. Các nhà quản trị sản xuất phải tác động trực tiếp có hiệu quả lên 3 vấn đề cơ bản cho sự thành công của công ty. b- Các họat động của người quản trị sản xuất

Người quản trị trong chức năng sản xuất thực hiện các hoạt động chủ yếu và ra các quyết định cơ bản sau: * Trong chức năng hoạch định: + Quyết định về tập hợp sản phẩm hoặc dịch vụ. + Xây dựng kế hoạch tiến độ, kế hoạch năng lực sản xuất. + Lập kế hoạch bố trí nhà xưởng, máy móc thiết bị. + Thiết lập các dự án cải tiến và các dự án khác. + Quyết định phương pháp sản xuất cho mỗi mặt hàng. + Tổ chức thay đổi các quá trình sản xuất. + Lập kế hoạch trang bị máy móc thiết bị * Trong chức năng tổ chức: + Ra quyết định cơ cấu tổ chức của hệ thống sản xuất: tập trung hay phân tán, tổ chức theo sản phẩm, theo chức năng hoặc hỗn hợp. + Thiết kế nơi làm việc. + Phân công trách nhiệm cho mỗi hoạt động. + Sắp xếp mạng lưới người cung ứng và nhận thầu. + Thiết lập các chính sách để bảo đảm sự hoạt động bình thường của máy móc thiết bị

Quan tri San xuat ………………………………………………… 6

QUẢN TRỊ SẢN XUẤT

7

* Trong chức năng kiểm soát: + Thực hiện sự kích thích nhiệt tình trong việc thực hiện các mục tiêu. + So sánh chi phí vớiì ngân sách. + So sánh việc thực hiện định mức lao động. + Kiểm tra chất lượng. + So sánh quá trình sản xuất với tiến đô. + So sánh tồn kho với mức hợp lý. * Trong chức năng lãnh đạo: + Thiết lập các điều khỏan hợp đồng thống nhất. + Thiết lập các chính sách nhân sự. + Thiết lập các hợp đồng lao động. + Thiết lập các chỉ dẫn & phân công công việc. + Chỉ ra các công việc cần làm gấp. * Trong chức năng động viên: + Thực hiện những đòi hỏi qua các quan hệ lãnh đạo như mục tiêu, mong muốn. + Khuyến khích thông qua khen ngợi, công nhận và khen tinh thần khác. + Khuyến khích qua hệ thống vật chất. + Động viên qua các công việc phong phú, các công việc thay đổi. * Trong chức năng phối hợp: + Thực hiện phối hợp qua các kế hoạch thống nhất. + Phối hợp qua các cơ sở dữ liệu được tiêu chuẩn hóa. + Theo dõi các công việc hiện tại và giới thiệu các công việc cần thiết. + Báo cáo, cung cấp tài liệu và truyền thông. + Phối hợp các hoạt động mua sắm, giao hàng, thay đổi thiết kế… + Chịu trách nhiệm với khách hàng về trạng thái đơn hàng. + Chức năng giáo dục và phát triển nhân sự: + Chỉ ra cách thức làm việc tốt hơn. + Khuyến khích công nhân tìm ra cách làm việc tốt hơn. + Phân công công việc có lợi hơn cho sự phát triển của công nhân. + Giúp đỡ, đào tạo công nhân. TÓM TẮT Chức năng quản trị sản xuất bao gồm hoạt động của nhóm người trong doanh nghiệp chịu trách nhiệm tạo ra sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho xã hội. Chức năng quản trị sản xuất là một

Quan tri San xuat ………………………………………………… 7

8

QUẢN TRỊ SẢN XUẤT & VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN TRỊ TRONG CHỨC NĂNG SẢN XUẤT

chức năng quản trị cơ bản của quản trị doanh nghiệp. Chức năng sản xuất sử dụng phần lớn các nguồn lực, tài sản của doanh nghiệp. Trong chiến lược phát triển doanh nghiệp thì chức năng sản xuất là một vũ khí cạnh tranh sắc bén. Các hệ thống sản xuất đóng vai trò chính trong việc sử dụng hiệu quả nguồn lực quốc gia, làm phong phú đời sống vật chất đời sống vật chất và tinh thần cho toàn xã hội. Trên pham vi quốc tế, sức mạnh của các hệ thống sản xuất quyết định vị thế của các quốc gia. Hệ thống sản xuất là hệ thống biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hiệu quả. Nhân thức rõ các yếu tố đầu đầu vào, đầu ra cũng như quá trình chuyển hóa trong hệ thống sản xuất có ý nghĩa lớn trong quả trình ra quyết định quản trị. Nền sản xuất hiện đại với có môi truờng quốc tế hóa, cơ sở nền tảng là cơ khí hóa và tự động hóa, nhằm mục đích phục vụ cho các nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú, là mục tiêu phấn đấu của các hệ thống sản xuất hiện nay. Cacï hệ thống sản xuất có thể chia làm hai loại lớn theo đầu ra của nó là hệ thống dịch vụ và hệ thống chế tạo. Với sự khác biệt cơ bản của đầu ra hệ thống chế tạo cung cấp sản phẩm hữu hình, còn hệ thống dịch vụ cung các hoạt động dạng dịch vụ, đã dẫn đến những khác biệt rất rõ ràng giữa hai hệ thống cần được nhận thức trong quá trình quản trị. Vai trò của các nhà quản trị sản xuất rất quan trọng vì quyết định của họ tác động trực tiếp lên cả ba thước đo thành công của doanh nghiệp đó là cung cấp sản phẩm phù hợp với nhu cầu trên cơ sở khả năng của công ty, cung cấp sản phẩm với chất lượng thỏa mãn nhu cầu, cung cấp sản phẩm với giá cả thích hơp. Nhiệm vụ tối quan trọng của các nhà quản trị sản xuất là tập trung khai thác mọi nguồn lực của hệ thống sản xuất phục vụ cho thành công của công ty, kể cả trong ngắn hạn cũng như dài hạn, chiến lược. CÂU HỎI ÔN TẬP 1.

Thế nào là sản xuất và quản trị sản xuất là gì?

2.

Tại sao nói quản trị sản xuất là một chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp?

3.

Thách thức hiện nay đối với các hệ thống sản xuất là gì?

4. Nghiên cứu các yếu tố đầu vào đầu ra và các quá trình bên trong hệ thống sản xuất có ý nghĩa gì? 5.

Trình bày các đặc điểm cơ bản của hệ thống sản xuất hiện đại?

6.

Sự khác biệt giữa hệ thống sản xuất dịch vụ và hệ thống sản xuất chế tạo?

7. Hãy trình bày nguyên nhân dẫn đễ những khác biệt giữa hệ thống sản xuất chế tạo và dịch vụ? 8.

Nêu các cách phân chia hệ thống sản xuất chế tạo?

9.

Trình bày những đặc điểm và điều kiện phát triển hệ thống sản xuất liên tục?

10. Lợi thế nào là quan trọng trong hệ thống sản xuất liên tục và và hệ thống sản xuất gián đoạn? Theo anh chị hệ thống sản xuất nào là ưu việt hơn? 11. Phân tích mối quan hệ giữa chức năng quản trị sản xuất và các chức năng quản trị căn bản khác?

Quan tri San xuat ………………………………………………… 8

QUẢN TRỊ SẢN XUẤT

9

12. Phân tích khả năng tác động của các quyết định trong lĩnh vực quản trị sản xuất tới khả năng cạnh tranh, và đến thành công dài hạn của doanh nghiệp?

Quan tri San xuat ………………………………………………… 9

QUẢN TRỊ SẢN XUẤT

13

CHƯƠNG II TỔ CHỨC SẢN XUẤT I. NỘI DUNG VÀ NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA TỔ CHỨC SẢN XUẤT

1- Nội dung của quá trình sản xuất –

Nội dung cơ bản của quá trình sản xuất là quá trình lao động sáng tạo tích cực của con người.

Bộ phận quan trọng của quá trình sản xuất chế tạo là quá trình công nghệ.

Quá trình công nghệ lại được phân chia thành nhiều giai đoạn công nghệ khác nhau, căn cứ vào phương pháp chế biến khác nhau, sử dụng máy móc thiết bị khác nhau.

Mỗi giai đoạn công nghệ lại có thể bao gồm nhiều bước công việc khác nhau (hay còn gọi là nguyên công). Bước công việc là đơn vị cơ bản của quá trình sản xuất được thực hiện trên nơi làm việc, do một công nhân hoặc một nhóm công nhân cùng tiến hành trên một đối tượng nhất định. + Khi xét bước công việc ta phải căn cứ vào cả ba yếu tố: Nơi làm việc, công nhân, đối tượng lao động. 2- Nội dung của tổ chức sản xuất Tổ chức sản xuất là các phương pháp, các thủ thuật kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất một cách hiệu quả. Nếu coi tổ chức sản xuất như một trạng thái thì đó chính là các phương pháp, các thủ thuật nhằm hình thành các bộ phận sản xuất có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và phân bố chúng một cách hợp lý về mặt không gian. Theo cách quan niệm này thì nội dung của tổ chức sản xuất gồm: − Hình thành cơ cấu sản xuất hợp lý. − Xác định loại hình sản xuất cho các nơi làm việc bộ phận sản xuất một cách hợp lý, trên cơ sở đó xây dựng các bộ phận sản xuất. − Bố trí sản xuất nội bộ xí nghiệp. Tổ chức sản xuất còn có thể xem xét như là một quá trình thì đó chính là các biện pháp, các phương pháp, các thủ thuật để duy trì mối liên hệ và phối hợp hoạt động của các bộ phận sản xuất theo thời gian một cách hợp lý. Nội dung tổ chức sản xuất sẽ bao gồm: − Lựa chọn phương pháp tổ chức quá trình sản xuất. − Nghiên cứu chu kỳ sản xuất tìm cách rút ngắn chu kỳ sản xuất. − Lập kế hoạch tiến độ sản xuất và tổ chức công tác điều độ sản xuất 3- Yêu cầu của tổ chức sản xuất a- Bảo đảm sản xuất chuyên môn hóa

Quan tri San xuat ………………………………………………… 10

CHƯƠNG II – TỔ CHỨC SẢN XUẤT Chuyên môn hóa sản xuất là hình thức phân công lao động xã hội làm cho xí nghiệp nói chung và các bộ phận sản xuất, các nơi làm việc nói riêng chỉ đảm nhiệm việc sản xuất một (hay một số ít) loại sản phẩm, chi tiết, hay chỉ tiến hành một hoặc một số ít các bước công việc. Việc chuyên môn hóa sản xuất phải xác định phù hợp với những điều kiện cụ thể của xí nghiệp. Các điều kiện cụ thể đó là: − Chủng loại, khối lượng, kết cấu sản phẩm chế biến trong xí nghiệp. − Qui mô sản xuất của xí nghiệp. − Trình độ hiệp tác sản xuất. − Khả năng chiếm lĩnh thị trường, mức độ đáp ứng thay đổi của nhu cầu. − Chiến lược công ty nói chung và chiến lược cạnh tranh, phát triển hệ thống sản xuất nói riêng. b- Bảo đảm sản xuất cân đối

Quá trình sản xuất cân đối là quá trình sản xuất được tiến hành trên cơ sở bố trí hợp lý, kết hợp chặt chẽ ba yếu tố của sản xuất: lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động. Cụ thể, các quan hệ cân đối đó bao gồm các quan hệ tỷ lệ thích đáng giữa khả năng các bộ phận sản xuất, các yếu tố của quá trình sản xuất theo không gian và thời gian: − Khả năng sản xuất của các bộ phận sản xuất chính. − Khả năng phục vụ có hiệu quả của các bộ phận sản xuất phụ trợ cho quá trình sản xuất chính. − Quan hệ giữa năng lực sản xuất, số lượng, chất lượng công nhân và số lượng, chất lượng đối tượng lao động. c- Bảo đảm sản xuất nhịp nhàng đều đặn

Quá trình sản xuất nhịp nhàng, đều đặn khi mà hệ thống có thể tạo ra lượng sản phẩm trong mỗi đơn vị thời gian đều nhau phù hợp với kế hoạch. d- Bảo đảm sản xuất liên tục

Quá trình sản xuất được gọi là liên tục khi các bước công việc sau được thực hiện ngay khi sau khi đối tượng hoàn thành ở bước công việc trước, không có bất kỳ một sự gián đoạn nào về thời gian. II. CƠ CẤU SẢN XUẤT

1- Cơ cấu sản xuất a- Khái niệm cơ cấu sản xuất

Cơ cấu sản xuất là tổng hợp tất cả các bộ phận sản xuất và phục vụ sản xuất, hình thức xây dựng những bộ phận ấy, sự phân bố về không gian và mối liên hệ sản xuất giữa chúng với nhau.

Quan tri San xuat ………………………………………………… 11

QUẢN TRỊ SẢN XUẤT

15

Cơ cấu sản xuất là một đặc tính chất lượng của hệ thống sản xuất. Đó chính là cơ sở vật chất kỹ thuật của một hệ thống sản xuất. Cơ cấu sản xuất cũng thể hiện hình thức tổ chức của quá trình sản xuất sản phẩm, hình thức phân công lao động giữa các khâu, các bộ phận trong hệ thống, nó biểu hiện đặc điểm cụ thể của sự kết hợp các yếu tố sản xuất trong quá trình tạo ra sản phẩm. Cơ cấu sản xuất là nhân tố khách quan tác động tới việc hình thành bộ máy quản lý sản xuất. b- Các bộ phận hình thành cơ cấu sản xuất

Bộ phận sản xuất chính là bộ phận trực tiếp chế biến sản phẩm chính của hệ thống. Bộ phân sản xuất phụ trợ là bộ phận mà hoạt động của nó có tác dụng phục vụ trực tiếp cho sản xuất chính, đảm bảo cho sản xuất chính có thể tiến hành liên tục, đều đặn. Bộ phận sản xuất phụ là bộ phận tận dụng các phế liệu, phế phẩm của sản xuất chính để tạo ra những sản phẩm phụ khác. Bộ phận phục vụ sản xuất là bộ phận được tổ chức nhằm thực hiện công tác cung ứng, bảo quản, cấp phát nguyên, nhiên vật liệu cho sản xuất. c- Các cấp của cơ cấu sản xuất

Các cấp của cơ cấu sản xuất chính là sự phân chia cơ cấu sản xuất theo chiều dọc. Các cấp sản xuất cơ bản trong hệ thống sản xuất là cấp phân xưởng, cấp ngành, cấp nơi làm việc. Phân xưởng là đơn vị tổ chức sản xuất cơ bản và chủ yếu trong các xí nghiệp có quy mô lớn có nhiệm vụ hoàn thành một loại sản phẩm hay hoàn thành một giai đoạn công nghệ trong quá trình sản xuất sản phẩm. Ngành là đơn vị tổ chức sản xuất trong các phân xưởng có quy mô lớn, đó là tổng hợp trên cùng một khu vực nhiều nơi làm việc có quan hệ mật thiết với nhau về mặt công nghệ. Nơi làm việc là phần diện tích sản xuất mà ở đó một công nhân (hay một nhóm công nhân) sử dụng máy móc, thiết bị để hoàn thành một hay một vài bước công việc cá biệt trong quá trình công nghệ sản xuất sản phẩm hoặc phục vụ quá trình sản xuất. d- Các kiểu cơ cấu sản xuất

Tùy theo điều kiện cụ thể của xí nghiệp như đặc tính kinh tế – kỹ thuật, trình độ chuyên môn hóa, quy mô … mà có thể lựa chọn cơ cấu sản xuất thích hợp. Các kiểu cơ cấu sản xuất cơ bản hiện nay là: Xí nghiệp

Phân xưởng

Xí nghiệp

Phân xưởng

Xí nghiệp

Ngành –

Nơi làm việc. – Nơi làm việc.

Ngành –

Xí nghiệp

Quan tri San xuat ………………………………………………… 12

Nơi làm việc. – Nơi làm việc.

CHƯƠNG II – TỔ CHỨC SẢN XUẤT 2- Các nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu sản xuất a- Chủng loại, đặc điểm kết cấu và yêu cầu chất lượng sản phẩm b- Chủng loại, khối lượng, đặc tính cơ lý hóa của nguyên vật liệu cần dùng c- Máy móc, thiết bị công nghệ d- Trình độ chuyên môn hóa và hiệp tác hóa sản xuất

3- Phương hướng hoàn thiện cơ cấu sản xuất Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu sản xuất mang tính khách quan, và chúng luôn biến đổi, chính vì thế cơ cấu sản xuất cần phải được hoàn thiện phù hợp với những điều kiện đã và đang được hình thành. Một cơ cấu sản xuất được coi là hợp lý khi nó phản ánh đầy đủ và đúng đắn quá trình sản xuất sản phẩm, những đặc điểm về công nghệ chế tạo, quy mô và loại hình sản xuất của xí nghiệp. Mặt khác, nó phải bảo đảm tính hợp lý xét trên cả hai mặt: sắp xếp bố trí các bộ phận sản xuất trong không gian và mối liên hệ sản xuất giữa chúng trên cơ sở tăng cường chuyên môn hóa và hiệp tác hóa sản xuất. Ngoài ra, cơ cấu sản xuất cũng phải đảm bảo khả năng nhất định trong qua trình phát triển sản xuất của xí nghiệp. Hoàn thiện cơ cấu sản xuất có thể giải quyết theo các hướng sau: a- Lựa chọn đúng đắn nguyên tắc xây dựng bộ phận sản xuất

Các bộ phận sản xuất trong hệ thống sản xuất có thể xây dựng theo các nguyên tắc đối tượng, công nghệ hay hỗn hợp. Bộ phận sản xuất được xây dựng theo nguyên tắc đối tượng nghĩa là nó chỉ có nhiệm vụ sản xuất một loại sản phẩm hay chi tiết nhất định.

Vào

Vào

Vào

Ngành đồ lớn Bào

Bào

Bàn nguội

Bào

Ra

Ngành trục Tiện

Tiện

Phay

Khoan

Mài

Ngành bánh xe răng Tiện

Phay

Xọc

Xọc

Hình II-1: Bố trí theo nguyên tắc đối tượng

Quan tri San xuat ………………………………………………… 13

Mài

QUẢN TRỊ SẢN XUẤT

17

Bộ phận sản xuất được xây dụng theo nguyên tắc công nghệ bao gồm các nơi làm việc giống nhau, bố trí các máy móc thiết bị giống nhau nhằm thực hiện một giai đoạn công nghệ nhất định. Ngaình maìi

Ngaình tiãûn Phäi liãûu

Tiãûn

Tiãûn

Tiãûn

Tiãûn

Tiãûn

Tiãûn

Phay

Phay

Phay

Maìi

Maìi

Maìi

Maìi

Maìi

Maìi

Baìo

Phay

Baìo

Baìo

Ngaình baìo

Ngaình phay

Hình II-2: Bố trí theo nguyên tắc công nghệ

Hai nguyên tắc xây dựng bộ phận sản xuất kể trên đều có những ưu điểm, nhược điểm nhất định. Trong những điều kiện nhất định chúng ta có thể kết hợp cả hai nguyên tắc để xây dựng các bộ phận sản xuất theo nguyên tắc hỗn hợp. Điều này cho phép tận dụng các ưu điểm và loại trừ bớt các nhược điểm của chúng. Bộ phận sản xuất xây dựng theo nguyên tắc hỗn hợp sẽ gồm một số bộ phận nhỏ tổ chức theo nguyên tắc đối tượng còn một số khác lại theo nguyên tắc công nghệ. Vào Vào

Vào

Ngành đồ lớn Bào

Bào

Bào

Tiện

Ngành trục Tiện

Phay

Ngành bánh xe răng

Tiện

Ra

Bàn nguội Khoan

Mài

Ngành Nhiệt luyện Xọc

Mài

Nh.Luyện Nh.Luyện

Ra

Hình II – 3: Bố trí hỗn hợp

Quan tri San xuat ………………………………………………… 14

Ra

CHƯƠNG II – TỔ CHỨC SẢN XUẤT b- Giải quyết quan hệ cân đối giữa các bộ phận sản xuất chính với các bộ phận sản xuất phù trợ và phục vụ khác, bảo đảm sự cân đối giữa các bộ phận sản xuất

Với một hệ thống sản xuất sản phẩm chủ yếu được tạo ra từ các bộ phận sản xuất chính, vì vậy, muốn gia tăng sản lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm truớc hết trông cậy vào hoạt động của chúng. Song vấn đề không hoàn toàn như vậy, các bộ phận sản xuất phù trợ và phục vụ luôn có tác dụng gia tăng hiệu quả hoạt động của sản xuất chính. Trong điều kiện trình độ kỹ thuật và tổ chức sản xuất của các bộ phận phụ trợ và phục vụ sẽ chiếm một tỷ trọng lớn lực lượng lao động, diện tích sản xuất. Việc mở rộng sản xuất, nâng cao trình độ của sản xuất chính luôn phải chú ý đến tương quan phát triển của bộ phận sản xuất phụ trợ và phục vụ. Điều đó, cho phép sử dụng triệt để khả năng sản xuất của các bộ phận sản xuất chính, đảm bảo cho quá trình sản xuất liên tục hiệu quả. c- Coi trọng bố trí mặt bằng

Bố trí mặt bằng tạo ra sự hợp lý trong cách sắp xếp bố trí các bộ phận trong không gian, đảm bảo các mối liên hệ sản xuất chặt chẽ giữa các bộ phận sản xuất, sử dụng hợp lý, tiết kiệm diện tích sản xuất. Vấn đề này sẽ được nghiên cứu cụ thể ở chương sau. III. LOẠI HÌNH SẢN XUẤT

1- Khái niệm loại hình sản xuất Loại hình sản xuất là đặc tính tổ chức – kỹ thuật tổng hợp nhất của sản xuất được qui định chủ yếu bới trình độ chuyên môn hóa của nơi làm việc, số chủng loại và tính ổn định của đối tượng chế biến trên nơi làm việc. Thực chất, loại hình sản xuất là dấu hiệu biểu thị trình độ chuyên môn hóa của nơi làm việc. 2- Đặc điểm các loại hình sản xuất a- Loại hình sản xuất khối luợng lớn

Sản xuất khối lượng lớn biểu hiện rõ nhất đặc tính của hệ thống sản xuất liên tục. Đặc điểm của loại hình sản xuất khối lượng lớn là nơi làm việc chỉ tiến hành chế biến, chi tiết của sản phẩm, hay một bước công việc của qui trình công nghệ chế biến sản phẩm, nhưng với khối lượng rất lớn. Với loại hình sản xuất này, người ta hay sử dụng các máy móc thiết bị và dụng cụ chuyên dùng. Các nơi làm việc được bố trí theo nguyên tắc đối tượng. Công nhân được chuyên môn hóa cao. Đường đi sản phẩm ngắn, ít quanh co, sản phẩm dở dang ít. Kết quả sản xuất được hạch toán đơn giản và khá chính xác. b- Đặc điểm của các loại hình sản xuất hàng loạt

Trong loại hình sản xuất hàng loạt, nơi làm việc được phân công chế biến một số loại chi tiết, bước công việc khác nhau. Các chi tiết, bước công việc này được thay nhau lần lượt chế biến theo định kỳ. c- Đặc điểm của sản xuất đơn chiếc

Sản xuất đơn chiếc là loại hình sản xuất thuộc sản xuất gián đoạn. Trong sản xuất đơn chiếc, các nơi làm việc thực hiện chế biến nhiều loại chi tiết khác nhau, nhiều bước công việc khác nhau trong qúa trình công nghệ sản xuất sản phẩm. Mỗi loại chi tiết được chế biến với khối lượng rất ít, thậm chí có khi chỉ một chiếc. Các nơi làm việc không chuyên

Quan tri San xuat ………………………………………………… 15

QUẢN TRỊ SẢN XUẤT

19

môn hóa, được bố trí theo nguyên tắc công nghệ. Máy móc thiết bị van năng thường được sử dụng trên các nơi làm việc. Công nhân thành thạo một nghề và biết nhiều nghề. Thời gian gián đoạn lớn. Loại hình sản xuất đơn chiếc có tính linh hoạt cao. d- Sản xuất dự án

Sản xuất dự án cũng là một loại sản xuất gián đoạn, nhưng các nơi làm việc tồn tại trong khoảng thời gian ngắn theo quá trình công nghệ sản xuất của một loại sản phẩm hay đơn hàng nào đó. Sự tồn tại của nơi làm việc ngắn, nên máy móc thiết bị, công nhân, thường phải phân công theo công việc, khi công việc kết thúc có thể phải giải tán lực lượng lao độüng này hoặc di chuyển đến các công việc khác. Vì thế, người ta có thể sử dụng công nhân các bộ từ các bộ phân khác nhau trong tổ chức để phục vụ một dự án. Trong loại hình sản xuất này hiệu quả sử dụng máy thiết bị thấp, công nhân và máy móc thiết bị thường phải phân tán cho các dự án khác nhau, vì thế để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức, nó phải tổ chức theo cơ cấu ma trận. Cơ cấu này có khả năng tập trung điều phối sử dụng hợp lý các nguồn lực của hệ thống, cơ cấu ngang hình thành theo các dự án có nhiệm vụ phối hợp các hoạt động khác nhau phù hợp với tiến độ của từng dự án. 3- Các nhân tố ảnh hưỏng đến loại hình sản xuất a- Trình độ chuyên môn hóa của xí nghiệp

Một xí nghiệp có trình độ chuyên môn hóa cao thể hiện ở chủng loại sản phẩm nó sản xuất ít và số lượng sản phẩm mỗi loại lớn. Điều kiện chuyên môn hóa của xí nghiệp như vậy cho phép có thể chuyên môn hóa cao đối với các nơi làm việc và bộ phận sản xuất. Chuyên môn hóa còn có thể dẫn tới khả năng tăng cường hiệp tác sản xuất giữa các xí nghiệp làm giảm chủng loại và gia tăng khối lượng chi tiết bộ phận chế biến trong xí nghiệp nâng cao hơn nữa loại hình sản xuất. b- Mức độ phức tạp của kết cấu sản phẩm

Sản phẩm có kết cấu phức tạp là sản phẩm gồm nhiều chi tiết hợp thành, yêu cầu về kỹ thuật cao, quá trình công nghệ gồm nhiều dạng gia công khác nhau, nhiều bước công việc khác nhau. Sản phẩm càng phức tạp phải trang bị nhiều loại máy móc thiết bị, dụng cụ chuyên dùng vì thế, khó khăn trong việc chuyên môn hóa nơi làm việc nâng cao loại hình sản xuất. Sản phẩm càng đơn giản càng có nhiều khả năng chuyên môn hóa nơi làm việc nâng cao loại hình sản xuất. c- Qui mô sản xuất của xí nghiệp

Quy mô xí nghiệp biểu hiện ở sản lượng sản phẩm sản xuất, số lượng máy móc thiết bị, số lượng công nhân… Quy mô xí nghiệp càng lớn càng dễ có điều kiện chuyên môn hóa các nơi làm việc và bộ phận sản xuất. Các nhân tố ảnh hưởng đến loại hình sản xuất là khách quan, chúng gây ra tác động tổng hợp lên loại hình sản xuất. Hơn nữa, các nhân tố ảnh hưởng lên loại hình sản xuất luôn biến đổi nên công tác tổ chức sản xuất phải nghiên cứu phát hiện các yếu tố này để điều chỉnh loại hình sản xuất thích hợp. Ngoài ra, với những điều kiện nhất định, nếu chúng ta chủ động đưa ra các biện pháp thích hợp thì có thể làm ổn định nhiệm vụ sản xuất cho các nơi làm việc. Ví dụ, phân phối kế hoạch sản xuất sản phẩm nhằm giảm chủng loại chi

Quan tri San xuat ………………………………………………… 16

CHƯƠNG II – TỔ CHỨC SẢN XUẤT tiết, sản phẩm chế biến trong từng khoảng thời gian, hoặc tăng cường việc gia công hiệp tác với bên ngoài. IV. PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT

1- Phương pháp sản xuất dây chuyền a- Những đặc điểm của sản xuất dây chuyền

Sản xuất dây chuyền dựa trên cơ sở một quá trình công nghệ sản xuất sản phẩm đã được nghiên cứu một cách tỉ mỉ, phân chia thành nhiều bước công việc sắp xếp theo trình tự hợp lý nhất, với thời gian chế biến bằng nhau hoặc lập thành quan hệ bội số với bước công việc ngắn nhất trên dây chuyền. Đặc điểm này là đặc điểm chủ yếu nhất của sản xuất dây chuyền, nó cho phép dây chuyền hoạt động với tính liên tục cao. Các nơi làm việc trong sản xuất chuyên môn hóa cao. Trên nơi làm việc thường được trang bị bởi các máy móc, thiết bị, dụng cụ chuyên dùng, được thiết đặt một chế độ làm việc hợp lý nhất để có thể thực hiện công việc liên tục với hiệu quả cao. Để thực hiện các bước công việc đã sắp xếp theo trình tự hợp lý, các nơi làm việc chuyên môn hóa trong sản xuất dây chuyền sẽ được bố trí theo nguyên tắc đối tượng, tạo thành đường dây chuyền phản ảnh trình tự chế biến sản phẩm. Điều này, tạo ra khả năng bố trí sản xuất hợp lý để có dòng dịch chuyển định hướng của đối tượng với đường đi ngắn nhất. Ở thời điểm nào đó nếu chúng ta quan sát dây chuyền sẽ thấy đối tượng được chế biến đồng thời trên tất cả các nơi làm việc. Theo quá trình chế biến, một dòng dịch chuyển của đối tượng một cách liên tục từ nơi làm việc này đến nơi làm việc khác trên các phương tiện vận chuyển đặc biệt. Các đối tượng có thể vận chuyển từng cái một, từng lô hợp lý trên các băng chuyền, các bàn quay, hay các xích chuyển động,.. Ngày nay các phương tiện vận chuyển sử dụng trong dây chuyền ngày càng phong phú và trở thành yếu tố đặc biệt quan trong đảm bảo quá trình sản xuất dây chuyền liên tục, hiệu quả. b- Phân loại sản xuất dây chuyền

Nếu xét trên phương diện tính ổn định sản xuất trên dây chuyền ta có thể chia ra hai loại. + Dây chuyền cố định: là loại dây chuyền chỉ sản xuất một loại sản phẩm nhất định, quá trình công nghệ không thay đổi trong một khoảng thời gian dài, khối lượng sản phẩm lớn. Trên dây chuyền cố định, các nơi làm việc hoàn toàn chỉ thực hiện một bước công việc nhất định của quá trình công nghệ. Loại dây chuyền này thích hợp với loại hình sản xuất khối lượng lớn. + Dây chuyền thay đổi: là loại dây chuyền không chỉ có khả năng tạo ra một loại sản phẩm, mà nó còn có khả năng điều chỉnh ít nhiều để sản xuất ra một số loại sản phẩm gần tương tự nhau. Các sản phẩm sẽ được thay nhau chế biến theo từng loạt, giữa các loạt như vậy dây chuyền có thể tạm dừng sản xuất để thực hiện các điều chỉnh thích hợp. Loại hình sản xuất hàng loạt lớn và vừa có thể sử dụng loại dây chuyền này. Các dây chuyền còn khác nhau ở trình độ liên tục trong quá trình hoạt động của nó. + Dây chuyền sản xuất liên tục: là loại dây chuyền mà trong đó các đối tượng được vận chuyển từng cái một, một cách liên tục từ nơi làm việc này qua nơi làm việc khác, không có thời gian ngừng lại chờ đợi. Trong loại dây chuyền này đối tượng chỉ tồn Quan tri San xuat ………………………………………………… 17

QUẢN TRỊ SẢN XUẤT

21

tại ở một trong hai trạng thái, hoặc là đang vận chuyển, hoặc là đang được chế biến. Sự liên tục có thể được duy trì bởi nhịp điệu bắt buộc hoặc nhịp điệu tự do. Với nhịp điệu bắt buộc, thời gian chế biến trên tất cả các nơi làm việc phải bằng nhau hoặc lập thành quan hệ bội số. Băng chuyền sẽ duy trì nhịp điệu chung của dây chuyền với một tốc độ ổn định. Dây chuyền nhịp điệu tự do áp dụng trong điều kiện mà thời gian các công việc vì một lý do nào đó gặp khó khăn khi làm cho chúng bằng nhau hoặc lập thành quan hệ bội số một cách tuyệt đối, chỉ có thể gần xấp xỉ. Nhịp sản xuất sẽ phần nào do công nhân duy trì và để cho dây chuyền hoạt động liên tục người ta chấp nhận có một số sản phẩm dở dang dự trữ có tính chất bảo hiểm trên các nơi làm việc. + Dây chuyền gián đoạn: là loại dây chuyền mà đối tượng có thể được vận chuyển theo từng loạt, và có thời gian tạm dừng bên mỗi nơi làm việc để chờ chế biến. Dây chuyền gián đoạn chỉ có thể hoạt động với nhịp tự do. Các phương tiện vận chuyển thường là những loại không có tính cưỡng bức (như băng lăn, mặt trượt, mặt phẳng nghiêng..) Dây chuyền còn có thể phân chia theo phạm vi áp dụng của nó. Như thế, sẽ bao gồm dây chuyền bộ phận, dây chuyền phân xưởng, dây chuyền toàn xưởng. Hình thức hoàn chỉnh nhất là loại dây chuyền tự động toàn xưởng. Trong đó hệ thống các máy móc thiết bị sản xuất, các phương tiện vận chuyển kết hợp với nhau rất chặt chẽ, hoạt động tự động nhờ một trung tâm điều khiển. c- Các tham số của dây chuyền cố định liên tục

Quản lý sản xuất dây chuyền khá đơn giản, nhưng để có được dây chuyền sản xuất người ta phải tính toán hết sức tỷ mỷ các tham số của nó. Để đơn giản trước hết chúng ta nghiên cứu các tham số cơ bản cho loại sản xuất dây chuyền cố định và liên tục. − Đặc tính rất quan trọng của dây chuyền liên tục là tính nhịp điệu của nó. Nhịp dây chuyền là khoảng thời gian tuần tự chế biến xong hai sản phẩm kế tiếp nhau ở bước công việc cuối cùng. r = T/Q Trong đó:

r: nhịp dây chuyền( tính theo phút hay giờ) T: tổng thời gian hoạt động của dây chuyền. Q: sản lượng sản phẩm làm ra trong thời gian T.

Cần phải phân biệt nhịp dây chuyền với thời gian chế biến trên từng nơi làm việc. Nếu trong dây chuyền cố định liên tục thì thời gian chế biến trên nơi làm việc có quan hệ với nhịp sản xuất chung theo hệ thức sau: nb × r − t b = 0 Trong đó: việc nào đó.

nb: số nơi làm việc cùng được giao nhiệm vụ thực hiện một bước công tb: thời gian chế biến của bước công việc đó.

Nhịp dây chuyền thể hiện được năng suất của dây chuyền, nếu nhịp dây chuyền càng ngắn năng suất dây chuyền càng cao. Mối quan hệ này có thể biểu diễn bằng công thức:

Quan tri San xuat ………………………………………………… 18

CHƯƠNG II – TỔ CHỨC SẢN XUẤT

W là năng suất của dây chuyền.

Tính toán nhịp dây chuyền còn cho phép tìm ra thời gian các bước công việc hợp lý, bởi vì chúng ta biết rằng muốn sản xuất liên tục thì rõ ràng các bước công việc phải được phân chia sao cho thời gian thực hiện phải bằng hay lập thành quan hệ bội số với nhịp dây chuyền. − Tổng số nơi làm việc trên dây chuyền sẽ ảnh hưởng tới nhu cầu về diện tích sản xuất, máy móc thiết bị và lao động cho dây chuyền. Tổng số nơi làm việc trên dây chuyền phụ thuộc vào số bước công việc trên dây chuyền và số nơi làm việc cụ thể để thực hiện một bước công việc. Nếu ta có thể làm cho tất cả các công việc có thời gian chế biến như nhau thì mỗi nơi làm việc có thể thực hiện một công việc và như thế số nơi làm việc bằng với số bước công việc trong quá trình công nghệ. Nếu thời gian thực hiện các công việc khác nhau, thì để đảm bảo nhịp sản xuất chung mỗi bước công việc phải có nb nơi làm việc cùng tiến hành và được tính theo công thức: ⎡t ⎤ nb = ⎢ b ⎥ ⎣r⎦ Dấu [] biểu thị việc lấy tròn lên số nguyên lớn gần nhất. Tổng số nơi làm việc trên dây chuyền m m ⎡t ⎤ n = ∑ nbi = ∑ ⎢ bi ⎥ i =1 i =1 ⎣ r ⎦

Trong đó:

n: tổng số nơi làm việc trên dây chuyền. m: số bước công việc của quá trình công nghệ.

Vì trong sản xuất dây chuyền các đối tượng được tiến hành sản xuất song song nên số nơi làm việc sẽ ảnh hưởng đến số lượng sản phẩm dở dang và định mức sản phẩm dở dang trên dây chuyền − Bước dây chuyền là khoảng cách giữa hai trung tâm nơi làm việc kế tiếp nhau. Bước dây chuyền phụ thuộc vào kích thước của sản phẩm, của máy móc thiết bị và yêu cầu bố trí nơi làm việc. Bước dây chuyền ảnh hưởng đến diện tích sản xuất, đặc biệt là việc lựa chọn thiết bị và tốc độ vận chuyển. – Độ dài hiệu quả của dây chuyền là độ dài thực tế của dòng dịch chuyển đối tượng trên dây chuyền. Độ dài hiệu quả của dây chuyền phụ thuộc vào số nơi làm việc một phía của dây chuyền và bước dây chuyền. np

Trong đó:

L: độ dài hiệu quả của dây chuyền. np: số nơi làm việc cùng phía của dây chuyền.

Quan tri San xuat ………………………………………………… 19

QUẢN TRỊ SẢN XUẤT

23

Bi Bước dây chuyền thứ i Trong trường hợp bước dây chuyền đều nhau ta có L = B x np − Tốc độ chuyển động của băng chuyền. Trên dây chuyền liên tục bất cứ thời điểm nào đối tượng cũng được vận chuyển với một tốc độ đều nhau. Tốc độ dây chuyền có thể ảnh hưởng đến công suất của nó. Tham số tốc độ băng chuyền có thể sử dụng để tính toán, lựa chọn thiết bị vận chuyển. Đặc biệt tốc độ vận chuyển ảnh hưởng đến năng suất lao động, sức khỏe của công nhân và ảnh hưởng tới an toàn lao động. Tốc độ cho phép thường nằm trong khoảng 0,1 đến 4 m/phút. d- Cân đối dây chuyền

Cân đối dây chuyền là việc lựa chọn một tổ hợp các công việc phù hợp được thực hiện ở mỗi nơi làm việc sao cho công việc được thực hiện theo trình tự khả thi và khối lượng thời gian tương đối bằng nhau cần thiết cho mỗi nơi làm việc. Mục tiêu của cân đối dây chuyền là nhằm cực tiểu hóa nhu cầu lao động và các phương tiện sản xuất để sản xuất được một lượng sản phẩm cho trước. Mục tiêu biểu hiện trên hai phương diện: Một là, cực tiểu hóa số nơi làm việc (công nhân) cần thiết để đạt được chu kỳ cho trước. Hai là, cực tiểu hóa chu kỳ (tối đa hóa mức sản lượng) của một số nơi làm việc cho trước. Để cân đối dây chuyển, người ta tính tổng thời gian nhàn rỗi của dây chuyền. m

IT = n × r − ∑ t i i =1

Trong đó:

IT : tổng thời gian nhàn rỗi của dây chuyền n : số nơi làm việc. r : nhịp dây chuyền. ti : thời gian để thực hiện công việc i. m : tổng số công việc được thực hiện trên dây chuyền

Một dây chuyền cân đối hoàn chỉnh nếu IT = 0. Đôi khi mức độ cân đối hoàn chỉnh của dây chuyền được biểu hiện bằng tỉ lệ % thời gian nhàn rỗi: 100(IT)/nr Dây chuyền cân đối tốt có tỷ lệ thời gian nhàn rỗi rất thấp. Do số lượng công việc nhiều nên việc cân đối đôi khi rất phức tạp, cần phải lập chương trình máy tính để tìm được giải pháp tương đối thỏa mãn. Có thể giải quyết vấn đề cân đối dây chuyền sản xuất bằng các phương pháp sau: 1- Thử và sửa lỗi. 2- Phương pháp tự tìm kiếm. 3- Chọn mẫu bằng máy tính cho đến khi tìm thấy được giải pháp tối ưu. 4- Quy hoạch tuyến tính.

Quan tri San xuat ………………………………………………… 20

Vai Trò Và Nhiệm Vụ Của Kế Toán Bán Hàng Trong Doanh Nghiệp / 2023

Có thể nói, bộ phận kế toán chính là một trong các bộ phận quyết định đến sinh mệnh của một doanh nghiệp. Ở những công ty quy mô lớn, bộ phận kế toán sẽ có những bộ phận nhỏ gồm kế toán bán hàng, kế toán tiền lương, kế toán kê khai, quyết toán thuế,… Theo đó, nhiệm vụ của kế toán bán hàng sẽ khác nhiệm vụ những kế toán còn lại. Vậy kế toán bán hàng là gì, chức năng, nhiệm vụ của kế toán bán hàng gồm những gì?

1. Khái niệm kế toán bán hàng

2. Vai trò của kế toán bán hàng

Khi tìm hiểu về nhiệm vụ của kế toán bán hàng, chúng ta cũng nên tìm hiểu về vai trò của kế toán bán hàng trong doanh nghiệp là gì. Kế toán bán hàng đóng vai trò trong doanh nghiệp như sau:

– Đầu tiên, người làm kế toán bán hàng là người trực tiếp theo dõi và tổng hợp tất cả các hóa đơn bán hàng của doanh nghiệp. Vai trò này giúp doanh nghiệp có thể thống kê được những mặt hàng đã bán, đang còn và sự luân chuyển của các mặt hàng. Nhằm giúp doanh nghiệp phát hiện hàng hóa bán chậm, tồn kho để có biện pháp xử lý hợp lý.

– Theo dõi hoạt động bán hàng tại các bộ phận, nhân viên bán hàng, cửa hàng,… Kế toán bán hàng thực hiện vai trò quản lý tốt đội ngũ nhân lực, có sự điều chỉnh hợp lý về nhân sự.

– Liên kết với các bộ phận kế toán khác như kế toán kho, kế toán tổng hợp, công nợ phải thu. Sự theo dõi, tổng hợp hóa đơn bán hàng chính là căn cứ để có thể đưa ra các biện pháp căn chỉnh, mua – bán nguyên liệu hàng hóa một cách phù hợp. Bên cạnh đó cũng phải liên kết với bộ phận kế toán tiền gửi ngân hàng, kế toán tiền mặt.

– Theo dõi tình trạng công nợ của khách hàng, các khoản dịch vụ, sản phẩm hàng hóa phải thu tiền.

Khác với nhiệm vụ của kế toán tiền lương, kế toán kho, kế toán công nợ, nhiệm vụ kế toán bán hàng bao gồm những nhiệm vụ chính sau đây:

– Theo dõi và ghi chép, phản ánh kịp thời thành phẩm hàng hóa. Kế toán hàng hóa phải thực hiện việc ghi chép về số lượng sản phẩm hàng hóa được bán ra, hàng hóa tiêu thụ nội bộ, giá cả hàng hóa. Đây là những hoạt động để nhằm xác định kết quả bán hàng trong một khoảng thời gian nhất định. Từ đây doanh nghiệp có những chiến lược bán hàng, mở rộng hay thu hẹp sản xuất để phù hợp nhất.

– Tính giá trị vốn, chi phí của số hàng đã bán, chi phí quản lý doanh nghiệp và các khoản chi phí khác như thuế giá trị gia tăng lần đầu bán ta (nếu có) một cách chính xác tổng giá trị. Từ đây, doanh nghiệp có thể có một cái nhìn tổng quát và xác định được doanh thu của doanh nghiệp để có những điều chỉnh phù hợp nhất.

– Ghi chép và cung cấp cho ban Giám đốc, điều hành doanh nghiệp những thông tin trung thực, chính xác về tình hình bán sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp. Đây là cách thức để người quản lý có thể nắm được tình hình của doanh nghiệp mình.

– Xác định được giá mua thực tế đối với số lượng hàng hóa, sản phẩm đã được tiêu thụ một cách chính xác, phân bổ chi phí để xác định được kết quả bán hàng.

– Kiểm tra, giám sát chặt chẽ về tình hình bán hàng hóa của doanh nghiệp. Bên cạnh đó là việc giám sát, đôn đốc thu hồi, quản lý tiền hàng hóa, số tiền mà khách hàng nợ, rà soát hợp đồng nợ, thời hạn và số tiền trả nợ. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng là quản lý khách nợ nhằm mục đích đảm bảo không bị hao hụt về doanh thu, lợi nhuận của công ty để doanh nghiệp ổn định và phát triển.

– Tổ chức thực hiện, giám sát, kiểm tra tiến độ thực hiện của kế hoạch bán hàng đã đề ra, xây dựng và xác định được kế hoạch về lợi nhuận, phân phối lợi nhuận.

– Thực hiện các nhiệm vụ của kế toán bán hàng theo đúng quy định, kỷ luật của doanh nghiệp và theo quy định của pháp luật.

Trong một doanh nghiệp, vai trò, nhiệm vụ của kế toán bán hàng không thể thiếu nếu đó là doanh nghiệp chuyên hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hàng hóa. Hy vọng những thông tin trong bài viết trên đã giúp bạn hiểu hơn về chức năng, vai trò cũng như nhiệm vụ của kế toán bán hàng trong doanh nghiệp.

Bạn đang xem bài viết Bàn Về Vai Trò Nhiệm Vụ Của Người Làm Kế Toán Quản Trị / 2023 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!