Xem Nhiều 2/2023 #️ Bảo Vệ Môi Trường Trong Khai Thác Khoáng Sản # Top 2 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Bảo Vệ Môi Trường Trong Khai Thác Khoáng Sản # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bảo Vệ Môi Trường Trong Khai Thác Khoáng Sản mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hoạt động khai thác khoáng sản luôn tiềm ẩn nguy cơ gây tác động xấu tới môi trường, là tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú, do vậy, trong thời gian qua Quảng Ninh luôn chú trọng tới vấn đề này.

Vận hành trạm quan trắc nước thải tự động – Trạm xử lý nước thải +25 Núi Nhện (Thống Nhất). Ảnh: Ngọc Linh

Theo thống kê, trên địa bàn tỉnh có 243 mỏ và điểm quặng của 33 loại khoáng sản. Trong đó, than đá có trữ lượng lớn (tập trung tại khu vực Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Đông Triều) được thăm dò, khai thác, tiêu thụ và sử dụng phù hợp với quy hoạch. Ngoài ra còn có các mỏ đá vôi, đất sét, cát san lấp, cao lanh… phân bố rộng khắp tại các địa phương là Hạ Long, Cẩm Phả, Hoành Bồ, Đông Triều và một số huyện miền Đông. Thời gian qua, các doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư chiều sâu, thay đổi công nghệ, cải tiến thiết bị và hạn chế những tác động xấu đến môi trường.

Hiện nay, hầu hết các đơn vị khai thác khoáng sản (đặc biệt là các đơn vị khai thác than) đã thực hiện lập dự án cải tạo phục hồi môi trường trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, trong đó đã đưa ra các giải pháp cải tạo phục hồi môi trường khi kết thúc quá trình khai thác mỏ. Riêng giai đoạn 2016-2018, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã phục hồi được 415ha bãi thải, trong đó các khu vực nhìn từ QL18A, tỉnh lộ đã được ưu tiên xanh hóa hoàn toàn. Điều đặc biệt, để đẩy nhanh thời gian phủ xanh, TKV đã triển khai giải pháp trồng cây với mật độ cao. Theo yêu cầu, mật độ trồng cây chỉ là 2.500 cây/ha, song để đảm bảo phủ xanh nhanh, giảm thời gian từ 5-6 năm xuống còn 3-4 năm, có những nơi, ngành Than đã trồng trên 5.000 cây/ha.

Với nỗ lực ấy, tính đến hết năm 2018, TKV đã cải tạo, phục hồi được trên 1.000ha bãi thải mỏ. Điển hình là các bãi thải: Chính Bắc Núi Béo, Nam Khe Tam, Đông Khe Sim, Mông Gioăng, Khe Dè và đỉnh Đông Cao Sơn. TKV dự tính Tết trồng cây xuân Kỷ Hợi 2019 và kế hoạch trồng rừng giai đoạn 2018-2020, phủ xanh trên 200ha bãi thải cũ. Ngoài ra, Tổng Công ty Đông Bắc cũng đã chỉ đạo 4 mỏ lộ thiên kết thúc khai thác, triển khai cải tạo, phục hồi môi trường theo đúng các nội dung dự án được duyệt.

Không chỉ vậy, TKV còn yêu cầu các đơn vị trực thuộc thực hiện việc đổ thải đất đá theo đúng các quy hoạch, thiết kế và tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong khai thác mỏ. Các bãi thải được đổ cốt cao +300 trở xuống; đổ thải theo tầng thấp có chiều cao tầng 30-50m, chiều rộng mặt tầng 20-30m. Khu vực chân các bãi thải cơ bản đã được xây dựng đê và đập chống trôi lấp đất đá đảm bảo an toàn cho dân cư và môi trường, có hệ thống thoát nước.

Tưới nước dập bụi tại khai trường Công ty CP Cọc Sáu.

Ngành Than cũng đang tích cực triển khai đề án đảm bảo môi trường cấp bách. Bên cạnh đó, các đơn vị ngành Than đều đã triển khai thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường (BVMT) không khí, chống bụi, chống ồn. Đặc biệt, TKV đã chỉ đạo các đơn vị không vận chuyển than trên QL18, QL10 và các tuyến tỉnh lộ; hoàn thành băng tải Lép Mỹ – cảng Km6; triển khai tuyến băng tải Khe Ngát – Điền Công, thay thế việc vận chuyển than bằng ô tô chủ yếu trên tuyến đường kho G9 – cảng Khe Dây và một phần than cục, than bùn trên tuyến đường Vàng Danh – Điền Công.

Các tuyến băng tải này đi vào hoạt động đã góp phần giảm được bụi phát sinh, đảm bảo an toàn giao thông và cải thiện cảnh quan cho các khu vực vận chuyển than đi qua, nhất là các khu vực đô thị. Song song với đó, TKV cũng đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện dự án Trung tâm Chế biến và kho than tập trung vùng Hòn Gai, chấm dứt hoạt động của Nhà máy Tuyển than Nam Cầu Trắng…

Các đơn vị khai thác khoáng sản ngoài than trên địa bàn đã có hệ thống rãnh, hố lắng thu gom nước mưa chảy tràn để lắng cặn trước khi thải ra môi trường. Một số đơn vị tận dụng nước mưa chảy tràn sau khi lắng cặn để tuần hoàn tưới nước dập bụi, phục vụ sản xuất, tạo cảnh quan môi trường.

Nhằm từng bước khắc phục, hạn chế vấn đề ô nhiễm môi trường trong khai thác, chế biến khoáng sản, đồng thời nâng cao hơn nữa công tác quản lý nhà nước, từ năm 2009, toàn bộ các dự án đầu tư khai thác khoáng sản mới trên địa bàn tỉnh đều phải lập và được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) hoặc cam kết BVMT thì mới được tỉnh xem xét làm thủ tục giao đất, cho thuê đất. Các hồ sơ ĐTM, đề án BVMT, đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường được xem xét thẩm định nghiêm túc, đảm bảo chất lượng, đúng thời hạn quy định.

Đặc biệt, thời gian qua tỉnh đã ban hành các văn bản chỉ đạo về công tác bảo vệ trong hoạt động khai thác khoáng sản, như: Đề án quản lý tài nguyên và BVMT trong hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh; Chỉ thị số 21/2008/CT-UBND về việc tăng cường công tác quản lý BVMT đối với hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; thành lập Quỹ BVMT tỉnh Quảng Ninh; Đề án đảm bảo môi trường cấp bách ngành Than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020…

Chính Sách Bảo Vệ Môi Trường Trong Khai Thác Khoáng Sản

Bảo vệ môi trường trong khai thác, chế biến khoáng sản là một yêu cầu bắt buộc đối với mọi tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản dù ở bất cứ quy mô công suất và địa điểm nào.

Luật khoáng sản năm 2010, Luật bảo vệ môi trường năm 2014, Luật thuế bảo vệ môi trường năm 2010, Bộ luật hình sự năm 2015 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác đã đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường trong lĩnh vực khoáng sản nói riêng. Nhờ đó công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản đã được quan tâm không chỉ ở góc độ quản lý nhà nước mà còn được các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khoáng sản thực hiện tương đối nghiêm túc trong quá trình sản xuất kinh doanh.

Nghị định số 67/2019/NĐ-CP quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.

Tuy vậy, vấn đề bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản vẫn còn tồn tại một số bất cập trong các quy định của chính sách, pháp luật cần phải được hoàn thiện nhằm mục đích tăng cường công tác quản lý và tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường, đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững ngành công nghiệp khoáng sản quốc gia.

1. Luật khoáng sản năm 2010

Điều 30 Luật khoáng sản quy định về “bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản” diễn đạt dài nhưng vẫn mang tính chất chung chung, chưa cụ thể, đặc biệt là sử dụng cụm từ “theo quy định của pháp luật” (không rõ pháp luật nào).

Những vấn đề về bảo vệ môi trường quy định trong Điều 30:

– Phải sử dụng công nghệ, thiết bị, vật liệu thân thiện với môi trường; thực hiện các giải pháp ngăn ngừa, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường và cải tạo, phục hồi môi trường theo quy định của pháp luật.

– Phải thực hiện các giải pháp và chịu mọi chi phí bảo vệ, cải tạo, phục hồi môi trường. Giải pháp, chi phí bảo vệ, cải tạo, phục hồi môi trường phải được xác định trong dự án đầu tư, báo cáo đánh giá tác động môi trường, bản cam kết bảo vệ môi trường được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

– Phải ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường theo quy định của Chính phủ.

Đặc biệt là trong Luật khoáng sản chỉ quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản. Trong khi đó tại khoản 5 Điều 2 luật này nêu rõ “hoạt động khoáng sản bao gồm hoạt động thăm dò khoáng sản, hoạt động khai thác khoáng sản”. Như vậy, trong toàn bộ quy trình còn thiếu phần làm giàu khoáng sản nói riêng và chế biến khoáng sản nói chung chưa được đề cập đến. Điều đó đã gây lúng túng cho các nhà đầu tư thực hiện các dự án thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản. Chưa kể cho đến nay chưa có luật hay văn bản pháp luật nào điều chỉnh cụ thể về hoạt động chế biến khoáng sản.

Quy định “chi phí bảo vệ, cải tạo, phục hồi môi trường phải được xác định trong dự án đầu tư, báo cáo đánh giá tác động môi trường, bản cam kết bảo vệ môi trường” là một bài toán khó và thường không có đáp án chính xác. Vì vậy các doanh nghiệp thường tính toán, xác định chi phí này chưa đúng nhằm giảm ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường. Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cũng khó mà phê duyệt cho chính xác hoặc gần đúng khoản chi phí này.

Như vậy Điều 30 Luật khoáng sản cần phải được chỉnh sửa, hoàn thiện để đảm bảo tính thuận lợi, dễ hiểu cho các nhà đầu tư trong quá trình nghiên cứu và áp dụng pháp luật vào lĩnh vực hoạt động khoáng sản.

2. Luật bảo vệ môi trường 2014

Điều 38 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định về “Bảo vệ môi trường trong hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản” đã chi tiết và cụ thể hơn so với quy định về bảo vệ môi trường trong Luật khoáng sản năm 2010. Nội dung của Điều 38 gồm:

– Phải có biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường và thực hiện các yêu cầu về bảo vệ, cải tạo và phục hồi môi trường như : Thu gom và xử lý nước thải. Thu gom, xử lý chất thải rắn. Có biện pháp ngăn ngừa, hạn chế việc phát tán bụi, khí thải độc hại và tác động xấu khác đến môi trường xung quanh. Phải có kế hoạch cải tạo, phục hồi môi trường cho toàn bộ quá trình thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản và tiến hành cải tạo, phục hồi môi trường cho toàn bộ quá trình thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản. Phải ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường.

– Phải lưu giữ, vận chuyển khoáng sản có tính chất độc hại bằng thiết bị chuyên dụng, được che chắn tránh phát tán ra môi trường.

– Việc sử dụng máy móc, thiết bị có tác động xấu đến môi trường, hóa chất độc hại trong thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản phải chịu sự kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.

– Việc thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến dầu khí, khoáng sản khác có chứa nguyên tố phóng xạ, chất độc hại, chất nổ phải thực hiện quy định của Luật bảo vệ môi trường và pháp luật về an toàn hóa chất, an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân.

– Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền được Luật bảo vệ môi trường quy định phải chỉ đạo thống kê nguồn thải, đánh giá mức độ gây ô nhiễm môi trường của cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản; tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường của các cơ sở này.

Vì vậy có nên tồn tại quy định Điều 30 trong Luật khoáng sản năm 2010?

Nếu vẫn để Điều 30 trong Luật khoáng sản năm 2010 thì sẽ dẫn đến tình trạng chồng chéo, trùng lặp, thừa/thiếu trong quy định khi so sánh với Điều 38 Luật bảo vệ môi trường năm 2014. Điều này dẫn tới khó khăn cho tổ chức, cá nhân khi áp dụng luật vào việc lập hồ sơ, cấp phép, thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản, chế biến khoáng sản, kể cả việc thanh tra, kiểm tra, giám sát. v.v. của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

3. Luật thuế bảo vệ môi trường năm 2010

Theo khoản 1 Điều 2 của luật này thì thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường.

Đối với tài nguyên khoáng sản thì thuế bảo vệ môi trường chỉ thu đối với than đá, bao gồm: than nâu, than antraxit, than mỡ và than đá khác. Mức tính thuế là đồng/tấn hàng hóa. Giá tính thuế: đối với than nâu là 10.000 đến 30.000 đ/tấn; đối với than antraxit là 20.000 đến 50.000 VNĐ/tấn; đối với than mỡ là 10.000 đến 30.000 VNĐ/tấn; đối với than đá khác là 10.000 đến 30.000 VNĐ/tấn.

Chúng ta biết rằng, hiện nay trên đất nước Việt Nam có hàng ngàn mỏ khoáng sản đang được khai thác trong tổng số hơn 50 loại khoáng sản khác nhau. Quy mô sản lượng mỏ rất đa dạng (từ lớn đến trung bình và nhỏ). Diện phân bổ các mỏ cũng trải khắp lãnh thổ.

Nếu chúng ta xem xét, so sánh giữa sản phẩm, hàng hóa than đá (than nâu, than antraxit, than mỡ và than đá khác) với các loại khoáng sản được khai thác và cũng trở thành sản phẩm, hàng hóa thì thấy rằng nhiều loại cũng “gây tác động xấu đến môi trường” khi sử dụng chúng.

Ví dụ: Khi tổ chức, cá nhân khai thác mỏ sắt, đồng, chì – kẽm, thiếc, bôxit, v.v thì sản phẩm hàng hóa của họ sẽ là tinh quặng sắt, tinh quặng đồng, tinh quặng chì – kẽm, tinh quặng thiếc, alumin, v.v đủ tiêu chuẩn về hàm lượng, chất lượng để bán cho các nhà máy luyện kim trên thị trường.

Các nhà máy luyện kim sử dụng các sản phẩm hàng hóa này cho vào lò luyện, nấu chảy chúng (tinh quặng). Trong quá trình nóng chảy, từ các tinh quặng này xuất hiện các loại khí độc hại như sunphuric, asenic, nitric, bụi có chứa nguyên tố kim loại, thậm chí bụi, khí có chứa chất phóng xạ, …, xỉ luyện kim, đều có thể phát tán và gây ô nhiễm môi trường xung quanh.

Vì vậy, khi đưa ra sắc thuế bảo vệ môi trường (trong lĩnh vực khoáng sản) cần phải có sự nghiên cứu khoa học để đảm bảo tính công bằng, hợp lý, theo đúng nguyên tắc gây ảnh hưởng môi trường thì phải đóng góp để khôi phục môi trường. Giá tính thuế bảo vệ môi trường trên đơn vị sản phẩm, hàng hóa cũng phải được xác định đúng, không áp đặt tùy tiện gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, làm tổn hại đến sự phát triển kinh tế, xã hội.

4. Bộ luật hình sự năm 2015

Khi vấn đề bảo vệ môi trường trở thành một vấn đề lớn, gây nhiều bức xúc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người dân, có thể gây thảm họa cho cộng đồng nên công tác quản lý môi trường của Nhà nước cũng được đề cao hơn so với trước đây.

Bộ luật hình sự năm 2015 đã giành một chương (chương XIX) với 12 điều quy định “các tội phạm về môi trường”. Trong chương này có 4 điều gồm:

Điều 235 Tội gây ô nhiễm môi trường,

Điều 236 Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại,

Điều 237 Tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường,

Điều 238 Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông,

Một điểm đặc biệt là tại Điều 236 đã quy định người có thẩm quyền thuộc cơ quan quản lý nhà nước có các hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại, cho phép chôn, lấp, đổ, thải trái quy định của pháp luật chất thải nguy hại, chất thải có chứa chất phóng xạ, gây nhiễm xạ môi trường thì đều bị phạt tiền, hoặc phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù.

Như vậy có thể nói rằng pháp luật đã có các quy định rất nghiêm khắc đối với người, tổ chức trong xã hội có hành vi vi phạm đến vấn đề bảo vệ môi trường. Các quy định này vừa có tính chất răn đe, phòng ngừa, vừa xử phạt nghiêm minh nhằm mục tiêu bảo vệ môi trường để phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần bảo vệ môi trường toàn cầu vì cuộc sống tốt đẹp của loài người đang sinh sống trên trái đất.

Tỉnh Ninh Bình quyết định đóng cửa mỏ khoáng sản tại mỏ đá núi Nước Mọc, xã Quảng Lạc, huyện Nho Quan để quản lý, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác.

5. Nghị định số 19/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường

Nghị định này giành Chương 2 gồm 7 điều (từ Điều 4 đến Điều 10) hướng dẫn việc cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản.

Nghị định số 40/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường.

Trong đó tại Điều 2 quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2015/NĐ-CP. Đối với lĩnh vực khai thác khoáng sản đó là sửa đổi, bổ sung các điều 7, 8 và 9.

Việc cải tạo, phục hồi môi trường là việc làm cần thiết để trả lại toàn bộ hoặc một phần cảnh quan tự nhiên ban đầu của khu vực được khai thác khoáng sản. Công việc này cũng có thể mang ý nghĩa thay đổi cảnh quan, làm mới khu vực đã khai thác xong khoáng sản để sử dụng vào mục đích khác như: khu du lịch sinh thái, công viên, khu vui chơi công cộng, v.v.

Để có kinh phí đóng cửa mỏ, cải tạo phục hồi môi trường khu vực đã khai thác xong khoáng sản thì yêu cầu ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường là cần thiết. Đây là nguồn kinh phí chủ động để thực hiện công việc cải tạo, phuc hồi môi trường thuộc dự án khai thác mỏ.

Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn những bất cập cần được xem xét, nghiên cứu để hoàn thiện khung chính sách như: Quy định tổ chức, cá nhân có dự án đầu tư khai thác khoáng sản phải lập, trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt phương án cải tạo phục hồi môi trường trước khi xin cấp giấy phép khai thác khoáng sản là chưa phù hợp. Việc này nên để cho tổ chức, cá nhân thực hiện trong năm đầu tiên của thời kỳ xây dựng cơ bản mỏ. Có như vậy, việc xác định chi phí để cải tạo, phục hồi môi trường mới tiệm cận đến độ chính xác cao hơn. Quy định về việc nộp tiền ký quỹ được thực hiện hàng năm hoặc theo giai đoạn còn mang tính tùy tiện (dẫn tới hiện tượng chây ì, nộp chậm, thậm chí không nộp). Theo thống kê ở các địa phương thì số tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm túc việc nộp tiền ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản chỉ 40÷45%. Mặt khác, quy định tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải thực hiện ký quỹ tại quỹ bảo vệ môi trường địa phương hoặc quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam cũng cần được xem xét, điều chỉnh lại nhằm mục đích đảm bảo cơ quan quản lý nguồn kinh phí này thật sự có uy tín, chọn mặt gửi tiền, cho nhà đầu tư khai thác khoáng sản và cho Nhà nước.

6. Nghị định số 155/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Nghị định này đã tổng hợp tương đối đầy đủ các hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội nói chung và trong lĩnh vực khoáng sản nói riêng gây tác động xấu đến môi trường. Tương ứng với hành vi vi phạm là mức xử phạt bằng tiền kết hợp các mức xử phạt bổ sung khác nhau. Nếu Nghị định này được thi hành đúng, nghiêm túc thì giá trị răn đe là rất lớn. Đây là công cụ hữu hiệu yêu cầu tất cả tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện đúng pháp luật về bảo vệ môi trường.

Tuy nhiên, khi nghiên cứu kỹ nội dung Nghị định, thấy rằng còn có một số điểm, khoản quy định chưa sát thực tế, dẫn đến khó thực hiện. Ví dụ:

– Điểm b khoản 3 Điều 9 “Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 30 triệu đồng đối với hành vi không có cơ sở vật chất – kỹ thuật, thiết bị chuyên dụng để đo đạc, lấy mẫu, xử lý, phân tích các mẫu về môi trường đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật theo quy định”.

– Khoản 3 Điều 32 “Phạt tiền từ 150 triệu đồng đến 200 triệu đồng đối với hành vi không có phương án cải tạo, phục hồi môi trường được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt”, và một số điểm, khoản khác thuộc Nghị định này.

Có thể nói Nghị định số 155/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đã đưa ra chế tài về kinh tế để bắt buộc tổ chức, cá nhân thực hiện đầy đủ nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động của mình. Để các quy định này có hiệu lực và hiệu quả cao, cần thiết phải tổng kết thực tiễn, nghiên cứu để bổ sung, hoàn thiện quy định có cơ sở khoa học để thuận tiện khi áp dụng, tránh tình trạng lúng túng trước câu hỏi : “phạt ai” hoặc “ai phạt”.

Một số kiến nghị:

1. Hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản là hoạt động mang tính đặc thù cao. Công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản vì thế cũng mang tính đặc thù tương ứng. Vì vậy, cần phải có chính sách phù hợp để vừa phát triển được ngành công nghiệp khai khoáng, vừa bảo đảm bảo vệ môi trường tương ứng và tương thích.

2. Hiện nay các văn bản quy phạm phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đã được ban hành khá đầy đủ. Tuy nhiên việc áp dụng để thực hiện các quy định còn nhiều khó khăn, phức tạp cho cả người thực thi công vụ thanh tra, kiểm tra và cho cả các tổ chức, cá nhân do có một số văn bản hoặc điều, khoản quy định trong một số văn bản có sự chồng chéo, thiếu rõ ràng, chưa cụ thể, v.v, như đã đề cập ở trên. Do vậy, cần thiết phải tập trung đầu mối, nghiên cứu khoa học nhằm đưa ra các quy định rõ ràng, cụ thể, dễ áp dụng, dễ thực hiện trong thực tiễn quản lý và sản xuất, kinh doanh.

3. Trong hầu hết văn bản quy phạm pháp luật về môi trường đều có tiêu đề về bảo vệ môi trường trong hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản. Nhưng khi nghiên cứu kỹ nội dung, thấy rằng phần bảo vệ môi trường trong hoạt động thăm dò khoáng sản chưa được quy định; phần bảo vệ môi trường trong hoạt động chế biến khoáng sản chưa được quy định đầy đủ. Vì vậy, cần phải được nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện.

4. Các ngành kinh tế đều có đặc thù hoạt động khác nhau, do vậy yêu cầu về bảo vệ môi trường trong hoạt động của chúng cũng khác nhau. Ví dụ bảo vệ môi trường trong hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản sẽ khác với yêu cầu bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp hay trong hoạt động của ngành công nghiệp khác, v.v. Để việc áp dụng, thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường một cách thuận lợi, có hiệu quả cao cần phải xây dựng các quy định theo nhóm chuyên ngành kinh tế, không gộp chung Điều, khoản quy định như hiện nay, nhất là các quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường. Theo đó, Luật bảo vệ môi trường, các Nghị định của Chính phủ nên thiết kế chương/phần riêng: Bảo vệ môi trường trong hoạt động thăm dò khoáng sản; bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản; bảo vệ môi trường trong hoạt động chế biến (làm giàu) khoáng sản, cụ thể, chi tiết, rõ ràng, minh bạch các quy định để dễ thực hiện. Xây dựng và ban hành riêng các quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường trong hoạt động khoáng sản nói chung và cho từng loại khoáng sản nói riêng một cách phù hợp.

TS. Lê Văn Thành

Hội Khoa học và Công nghệ Mỏ Việt Nam

Tài liệu Hội thảo “Bảo vệ môi trường trong khai thác, chế biến, sử dụng than, khoáng sản và dầu khí”

Đề Tài: Pháp Luật Về Bảo Vệ Môi Trường Trong Khai Thác Khoáng Sản

Published on

Download luận văn thạc sĩ ngành luật với đề tài: Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản ở Việt Nam, cho các bạn tham khảo

1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐẶNG VĂN CƯƠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC, CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI – 2014

2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐẶNG VĂN CƯƠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC, CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM Chuyên ngành : Luật kinh tế Mã số : 60 38 01 07 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Doãn Hồng Nhung HÀ NỘI – 2014

3. Lêi cam ®oan T”i xin cam ®oan ®©y lµ c”ng tr×nh nghiªn cøu khoa häc cña riªng t”i. C¸c sè liÖu, vÝ dô vµ trÝch dÉn trong luËn v¨n ®¶m b¶o ®é tin cËy, chÝnh x¸c vµ trung thùc. Nh÷ng kÕt luËn khoa häc cña luËn v¨n ch­a tõng ®­îc ai c”ng bè trong bÊt kú c”ng tr×nh nµo kh¸c. T¸c gi¶ luËn v¨n §Æng V¨n C­¬ng

5. 1.4.5. Hệ thống các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 30 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN 33 2.1. Nội dung các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 29 2.1.1. Quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong hoạt động khoáng sản 33 2.1.2. Thẩm quyền quản lý nhà nước về hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 34 2.1.3. Cấp phép trong hoạt động khái thác và chế biến khoáng sản 38 2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam 51 2.2.1. Chủ thể thể trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 51 2.2.2. Quyền của chủ thể khai thác và chế biến khoáng sản 53 2.2.3. Nghĩa vụ của chủ thể khai thác và chế biến khoáng sản 56 2.2.4. Đánh giá tác động môi trường của hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 59 2.3. Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam 64 2.3.1. Thực trạng áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 64 2.3.2. Những ví dụ thực tế trong hoạt động khai thác chế biến khoáng sản gây ảnh hưởng tới môi trường 69 2.3.3. Những mặt tích cực của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 73 2.3.4. Những mặt tồn tại của pháp luật về bảo về môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 74

6. 2.3.5. Nguyên nhân của những khó khăn, tồn tại của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 76 2.3.6. Các biện pháp khuyến khích bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 78 Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN 82 3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 82 3.1.1. Mục đích phải nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 82 3.1.2. Chiến lược quy hoạch và phát triển hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản 83 3.2. Giải pháp nâng cao các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 89 3.2.1. Giải pháp nâng cao pháp luật 89 3.2.2. Giải pháp nâng cao tổ chức thực hiện 90 3.2.3. Giải pháp phối hợp 91 KẾT LUẬN 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

7. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, khi thế giới đang bước vào kỷ nguyên của các tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại thì đồng thời nhân loại cũng phải đối mặt với những thách thức lớn lao cho sự tồn tại. Đó là những nguy cơ suy giảm nghiêm trọng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự suy thoái các yếu tố quan trọng, căn bản của môi trường sống. Tình hình đó đã đặt ra cho toàn nhân loại nhiệm vụ cấp thiết phải có những hành động kịp thời để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản nói riêng đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu, là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nước có nền công nghiệp mỏ phát triển. Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác có nhu cầu rất lớn về tài nguyên khoáng sản để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặt khác, hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản hiện nay đang được xã hội hóa với tốc độ cao. Sự ra đời của Luật khoáng sản năm 2010 đã tạo khung pháp lý vững chắc, môi trường đầu tư an toàn trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản, cũng như về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản. Ngành công nghiệp mỏ ở Việt Nam đã và đang trên đà phát triển, nhu cầu sử dụng tài nguyên khoáng sản ngày càng tăng cao. Tuy nhiên, tài nguyên khoáng sản là một tài nguyên đặc biệt, không tái tạo được và cũng không phải vô tận. Do tài nguyên khoáng sản trong lòng đất bị con người khai thác liên tục nên trữ lượng của chúng ngày càng cạn kiệt. Mặt khác, hoạt động khai thác, chế biến khoáng làm cho cơ cấu hoặc trạng thái môi trường bị biến đổi và biến dạng rất lớn. Hầu hết các mỏ ở nước ta hiện nay đều áp dụng công nghệ khai thác và chế biến lạc hậu. Đặc biệt là

8. công nghệ khai thác lộ thiên đã phá hoại cảnh quan môi trường, phá hủy bề mặt của đất và là nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất. Tình trạng ô nhiễm môi trường không khí và ô nhiễm nguồn nước ở các vùng mỏ nước ta hiện nay đang ở mức báo động. Nó đã và đang gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến con người, kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng mỏ nói riêng và toàn xã hội nói chung. Trong tình hình hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản ngày càng gia tăng ở Việt Nam, những tác động xấu của hoạt động này đến môi trường ngày càng đa dạng và phức tạp đòi hỏi sự quan tâm của Nhà nước, cũng như sự điều chỉnh của pháp luật. Hiện nay, một số văn bản pháp luật quy định về hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản tạo ra cơ sở pháp lý nhất định để hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản phát triển, bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu sót trong những quy định đó chưa đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh hoạt động này trên thực tế để bảo vệ môi trường. Đặc biệt, việc thực thi những quy định này còn yếu kém, nhiều bất cập, cần bổ sung kịp thời. Với những lý do trên, em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản ở Việt Nam” để làm luận văn tốt nghiệp. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Hiện nay ở nước ta, ngoài một số bài báo, công trình nghiên cứu như: chúng tôi Nguyễn Đức Khiển, Luật và các tiêu chuẩn chất lượng môi trường, Nxb Hà Nội, 2002; ThS. Bùi Đức Hiển, Về quyền được sống trong môi trường trong lành ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Luật học, số 11/2011; TS. Doãn Hồng Nhung, Chính sách pháp luật về quản lý, khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường. Tạp chí Lý luận và bảo vệ khoa học và nghiệp vụ của Bộ Tài nguyễn và Môi trường. Số 05 (163). Kỳ 1 tháng 3-201337, Quang Thọ (2011), “Phòng chống nạn khai thác than trái phép ở Quảng Ninh”, chúng tôi ngày 28/09/2011, Nguyễn Cảnh Nam, Nguyễn Quang Tuyết (2010), “Kiến nghị hoàn thiện một số vấn đề về

13. Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN 1.1. TỔNG QUAN VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC, CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN VÀ VAI TRÒ CỦA KHOÁNG SẢN ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN 1.1.1. Khái niệm tài nguyên khoáng sản Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất có ích cho con người và sinh vật. Tài nguyên là các tác nhân cơ bản tạo nên môi trường sống của con người. Không có tài nguyên thì không có môi trường. Khoáng sản là những dạng vật chất rất gần gũi và đóng vai trò to lớn trong đời sống con người như sắt, than đá, kẽm, vàng, dầu khí, nước khoáng thiên nhiên… Khoáng sản có thể tồn tại ở trạng thái rắn, lỏng hoặc khí. Khoáng sản hầu hết là tài nguyên không tái tạo được, là tài sản quan trọng của quốc gia, phải quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển bền vững kinh tế-xã hội trước mắt và lâu dài, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Có rất nhiều cách để phân loại các tài nguyên: – Theo tính chất, các tài nguyên được phân thành: Tài nguyên đất, nước, khí hậu, sinh vật… – Theo khả năng tái tạo, các tài nguyên được phân chia thành: Tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo được. Tài nguyên tái tạo được gọi là những nguồn tài nguyên có thể tự duy trì hoặc bổ sung một cách liên tục khi được sử dụng một cách hợp lý, bao gồm: Năng lượng mặt trời, nước, gió, động vật, thực vật, vi sinh vật…

14. Tài nguyên không tái tạo được là những nguồn tài nguyên có mức độ giới hạn nhất định trên trái đất, chúng ta chỉ có thể khai thác ở dạng nguyên khai một lần, bao gồm: Khoáng sản, dầu mỏ… Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về tài nguyên khoáng sản. Định nghĩa được nhiều người chấp nhận như sau: Tài nguyên khoáng sản là tích tụ tự nhiên của các khoáng chất ở thể rắn, lỏng, khí ở trên hoặc ở trong vỏ trái đất, có hình thái, số lượng, chất lượng đáp ứng những yêu cầu tối thiểu cho phép khai thác, sử dụng, có khả năng đem lại giá trị kinh tế ở thời điểm hiện tại hoặc tương lai. Môi trường địa chất của lãnh thổ Việt Nam là loại môi trường có lịch sử phát sinh, phát triển và hình thành đặc biệt phức tạp và rất đa dạng. Nhờ đó Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản rất phong phú và đa dạng về chủng loại. Theo thống kê chưa đầy đủ thì đến nay đã phát hiện và ghi nhận trên lãnh thổ Việt Nam có không ít hơn 60 trong số 66 loại khoáng sản phổ biến nhất trong vỏ trái đất. Có trên 80 trong số 200 dạng nguyên liệu khoáng được khai thác, chế biến và sử dụng trong nhiều lĩnh vực kinh tế biên giới. Bao gồm: Nhóm khoáng sản năng lượng – nhiên liệu(dầu mỏ, khí đốt thiên nhiên, than đá, đá dầu…); nhóm sắt và hợp kim sắt (Fe, Mn, Cr…); nhóm kim loại phóng xạ (U, Th); nhóm kim loại đất hiếm (La, Ce, Pr, Nd, Gd, Yb…) và hiếm (Ta, Nb, Cd, Ge…); nhóm kim loại quý (Au, Ag, Fe); nhóm hóa chất và phân bón (apatit, photphoric, berit, pyrit); nhóm nguyên liệu trẻ (sét chịu lửa, quarit, magnerete…); nhóm vật liệu xây dựng (sét gạch ngói, đá xây dựng, đá ốp lát trang trí, đá vôi, đá phiến lớp…); nhóm nguyên liệu kỹ thuật và khoáng chất công nghiệp khác (giophit, thạch anh áp điệu…); nhóm đá quý và bán quý (rubi, saphia…);nhóm nước khoáng nóng. Những khoáng sản đã phát hiện được kể trên đã được điều tra, thăm dò địa chất với những mức độ rất khác nhau. Bước đầu có thể đưa ra những nhận định như sau:

15. – Trên lãnh thổ Việt Nam có những loại khoáng sản có tiềm năng lớn đạt tầm cỡ thế giới như: Bauxit, đất hiếm, khí đốt thiên nhiên, đá vôi, các thạch anh, than nâu, đá ốp lát trang trí mỹ nghệ. – Có nhiều loại khoáng sản có tiềm năng trung bình đến lớn, đáp ứng được phần nào nhu cầu sử dụng để phát triển kinh tế-xã hội trong nước và góp phần tham gia vào thị trường nguyên liệu khoáng sản khu vực và thế giới như Apatit, sa khoáng tổng hợp ven biển, cromit và một số loại khoáng chất công nghiệp. – Có nhiều loại khoáng sản đã được phát hiện có thể có triển vọng về tiềm năng lớn. Song chưa được làm sáng tỏ đến mức cần thiết để có thể khẳng định về quy mô và chất lượng của chúng như: đá quý và đồng, chì, kẽm, vàng… Dưới góc độ pháp luật, khoáng sản được hiểu là các tài nguyên trong lòng đất, trên mặt đất dưới dạng tích tụ tự nhiên khoáng vật, khoáng chất có ích ở thể rắn, thể rắn, thể lỏng, thể khí hiện tại hoặc sau này có thể khai thác, khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ mà sau này có thể khai thác lại, cũng là khoáng sản. Điều 2, khoản 1 Luật khoáng sản năm 2010 có quy định: “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải mỏ” [25]. Tóm lại, khoáng sản là khoáng vật, khoáng vật có ích được tích tụ tự nhiên hàng nghìn năm ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng và trên mặt đất. Khoáng sản là tài nguyên hầu hết không tái tạo được, là tài sản quan trọng của quốc gia. Giá trị to lớn của khoáng sản cũng như tính phức tạp của của vấn đề môi trường phát sinh trong quá trình khai thác và chế biến khoáng sản tất yếu dẫn tới nhà nước quản lý khoáng sản bằng pháp luật. 1.1.2. Phân loại tài nguyên khoáng sản Có nhiều căn cứ phân loại khoáng sản: Thứ nhất, theo chức năng sử dụng, khoáng sản được phân ra làm ba nhóm lớn:

16. – Khoáng sản kim loại: + Nhóm khoáng sản sắt và kim loại sắt: Sắt, mangan, crom, niken, coban… + Nhóm kim loại cơ bản: Thiếc, đồng, chì, kẽm… + Nhóm kim loại nhẹ: Nhôm, titan, berylly… + Nhóm Kim loại quý hiếm: Vàng, bạc, bạch kim + Nhóm kim loại phóng xạ, nhóm kim loại hiếm và kim loại đất hiếm. – Khoáng sản phi kim loại: + Nhóm khoáng sản hóa chất và phân bón: Apatit, photphorit, muối mỏ thạch cao… + Nhóm nguyên liệu: Sứ, gốm, thủy tinh chịu lửa… + Nhóm nguyên liệu kỹ thuật: Kim cương, thạch anh, atbet… + Nhóm vật liệu xây dựng: Đá macma, đá vôi, đá hoa, cát sỏi… – Khoáng sản cháy: Than (than đá, than nâu, than bùn), dầu khí (dầu mỏ, khí đốt)… Thứ hai, theo mục đích và công dụng có thể phân thành: – Khoáng sản nhiên liệu hay nhiên liệu hóa thạch: Dầu mỏ, hơi đốt, than bùn, than… – Khoáng sản phi kim: Các dạng vật liệu xây dựng như đá vôi, cát, đất sét…, đá xây dựng như đá hoa cương… và các khoáng sản phi kim khác. – Khoáng sản kim loại: Các loại quặng kim loại đen, kim loại màu và kim loại đá quý. – Nhiên liệu đá màu: Ngọc thạch anh, đá mã não… và các loại đá quý như kim cương… – Thủy khoáng: Nước khoáng và nước ngọt ngầm dưới đất. – Nhiên liệu khoáng-hóa: Apatit và các muối khoáng khác như phophat… Thứ ba, theo trạng thái vật lý có thể phân thành: – Khoáng sản rắn: Quặng kim loại đen, kim loại màu, đá… – Khoáng sản lỏng: Dầu mỏ, nước khoáng… – Khoáng sản khí: Khí đốt, khí trơ…

17. 1.1.3. Vai trò của tài nguyên khoáng sản đối với nền kinh tế quốc dân Tuy không có vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của loài người như các thành phần môi trường nước, đất, không khí… nhưng tài nguyên khoáng sản cũng là những yếu tố hết sức quan trọng trong việc bảo đảm sự duy trì và phát triển xã hội. Xét từ phương diện cá nhân, con người có thể sống mà không cần đến tài nguyên khoáng sản nhưng trên bình diện chung thì một xã hội không thể phát triển bền vững và toàn diện nếu không có bất kỳ nguồn tài nguyên khoáng sản nào. Vai trò và tầm quan trọng của tài nguyên khoáng sản được thể hiện ở những khía cạnh sau: – Khoáng sản là nguyên liệu chính cho nhiều ngành công nghiệp then chốt. Ví dụ: đá vôi dùng trong sản xuất xi măng, sản xuất vật liệu xây dựng, quặng sắt được dùng trong ngành luyện kim, cơ khí… – Thực tiễn những năm gần đây nhắc ta nhớ đến tầm quan trọng của các nguồn năng lượng từ hóa thạch như than đá, dầu mỏ, khí thiên nhiên. Đây là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho nhiều ngành kinh tế quan trọng cũng như phục vụ sinh hoạt hàng ngày của con người. Nền công nghiệp hóa dầu đồ sộ cũng đã được tạo dựng nhờ những tài nguyên này. – Xuất khẩu khoáng sản thường đem lại nguồn thu lớn cho các quốc gia. Đây cũng là xu hướng chung của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như phục vụ cho việc trả các món nợ nước ngoài. – Bản thân ngành công nghiệp khoáng sản cũng là ngành chiếm tỷ trọng cao trong ngành kinh tế của nhiều nước. Nhiều nước có nguồn thu ngân sách chủ yếu là từ khai thác khoáng sản mà ví dụ điển hình là Côoet, Brunei… Việt Nam có lợi thế rất lớn đó là có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú. Kết quả điều tra địa chất đã phát hiện trên 5.000 mỏ và điểm quặng với trên 60 loại khoáng sản khác nhau với các quy mô lớn, vừa và nhỏ. Trong đó, chủ yếu là quy mô vừa và nhỏ. Các khoáng sản tuy có quy mô trữ

18. lượng lớn như than Quảng Ninh, sắt (Thạch Khê – Hà Tĩnh), apatit (Lào Cai), boxit (Nam Việt Nam), đất hiếm (Lai Châu) nhưng lại có mặt hạn chế là điều kiện địa chất phức tạp (than, sắt), giá trị trên thị trường thế giới thấp, khó tiêu thụ và thường phân bố ở vùng có điều kiện tự nhiên không thuận lợi, cơ sở hạ tầng kém phát triển. Các khoáng sản có quy mô trữ lượng vừa và nhỏ bao gồm khá nhiều loại khoáng sản thường phân bố không tập trung mà trải trên diện rộng với những đặc điểm địa chất mỏ rất khác nhau. Điều này gây khó khăn cho việc đầu tư quy mô lớn và khó áp dụng trong công nghệ thăm dò, khai thác đồng loạt cho nhiều mỏ. Đây cũng chính là những lý do khiến cho ngành công nghiệp mỏ Việt Nam tụt hậu khá xa so với các nước phát triển trong khu vực và thế giới. Mức đóng góp của ngành công nghiệp mỏ vào nền kinh tế quốc dân còn thấp và chưa tương xứng với tiềm năng hiện có [36]. Trong những năm gần đây, nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và nhà nước, ngành công nghiệp mỏ của nước ta đã có những bước phát triển đáng kể. Đặc biệt, việc ban hành Luật khoáng sản năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo ta khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh về lĩnh vực tài nguyên khoáng sản. Số dự án đầu tư vào hoạt động khoáng sản tăng nhanh. Công nghiệp mỏ của Việt Nam từng bước hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới. Khung pháp lý của Luật khoáng sản năm 2010 bước đầu tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước từ nhiều thành phần kinh tế khác nhau tham gia hoạt động khoáng sản. Nguồn đầu tư vào lĩnh vực này có mức tăng đáng kể và phần lớn là từ ngoài nguồn ngân sách nhà nước. Mức thu ngân sách từ các hoạt động khoáng sản tăng đáng kể. Rõ ràng lượng dự án đầu tư vào lĩnh vực khoáng sản tăng mạnh thì nguồn thu vào ngân sách nhà nước từ lĩnh vực này cũng tăng theo tương ứng. Đối với nhiều địa phương, nhất là các tỉnh miền núi, biên giới, nguồn thu từ thuế tài nguyên khoáng sản và các loại thuế, lệ phí khác từ hoạt động khoáng sản vào ngân sách

20. chuyển nhượng để lại thừa kế quyền khai thác, khai thác khoáng sản đi kèm. Bên cạnh đó tổ chức cá nhân trong quá trình khai thác khoáng sản phải đáp ứng điều kiện được đặt ra như nộp lệ phí giấy phép, tiền sử dụng số liệu, thông tin về tài nguyên khoáng sản của Nhà nước, thuế tài nguyên khoáng sản và nghĩa vụ tài chính khác, tận thu khoáng sản, bảo vệ tài nguyên khoáng sản, bảo đảm an toàn lao động và vệ sinh lao động; thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường phù hợp với báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được chấp thuận; bảo đảm tiến độ xây dựng cơ bản mỏ và hoạt động sản xuất phù hợp với báo cáo nghiên cứu khả thi về khai thác khoáng sản và thiết kế mỏ đã được chấp thuận… Để được cấp giấy phép khai thác khoáng sản, tổ chức, cá nhân phải có đủ các điều kiện sau đây theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật khoáng sản 2010: a) Có dự án đầu tư khai thác khoáng sản ở khu vực đã thăm dò, phê duyệt trữ lượng phù hợp với quy hoạch quy định tạ các điểm b, c và d điều 10 của Luật này. Dự án đầu tư khai thác khoáng sản phải có phải có phương án sử dụng nhân lực chuyên ngành, thiết bị, công nghệ tiên tiến phù hợp; đối với khoáng sản độc hại còn phải được Thủ tướng cho phép bằng văn bản. b) Có báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bảng cam kết bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. c) Có vốn chủ sở hữu ít nhất bằng 30% tổng vốn đầu tư của dự án đầu tư khai thác khoáng sản [25]. Sau 12 tháng kể từ ngày giấy phép có hiệu lực tổ chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản chưa bắt đầu việc xây dựng cơ bản mỏ mà không có lý do chính đáng thì tổ chức sẽ bị thu hồi giấy phép khai thác khoáng sản, kèm theo đó là giấy phép khai thác khoáng sản cũng chấm dứt hiệu lực (khoản 1 Điều 58 Luật khoáng sản năm 2010). Diện tích khu vực khai thác của một giấy phép khai thác khoáng sản được xem xét trên cơ sở của dự án

22. 1.3. SỰ CẦN THIẾT PHẢI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN Trong quá trình hội nhập Quốc tế của đất nước do Đảng ta lãnh đạo, ngày nay hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản gây ảnh hưởng tới môi trường nước ta, có lúc đã đến mức báo động; đất đai bị xói mòn, thoái hóa; chất lượng các nguồn nước bị suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng nề; khối lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài nguyên thiên nhiên trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, không có qui hoạch; đa dạng sinh học bị đe dọa nghiêm trọng, điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch ở nhiều nơi không đảm bảo. Việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ; quá trình đô thị hóa, sự gia tăng dân số quá cao, tình trạng đói nghèo chưa khắc phục được tại một số vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; các thảm họa do thiên tai và những diễn biến xấu về khí hậu toàn cầu đang tăng, gây áp lực lớn lên tài nguyên và môi trường. Từ những lý do sau đây chúng ta nhận thấy rõ vẫn đề bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản là cần thiết. Tác động của hoạt động khai thác khoáng sản tới môi trường Hoạt động khai thác khoáng sản tác động một cách trực tiếp được các yếu tố môi trường tự nhiên khu vực mỏ như: – Làm trôi đất, nước và làm thay đổi môi trường sống của các loài động, thực vật hoang dã: Khi thi công các công trình thăm dò, khai thác khoáng sản đòi hỏi phải gạt bỏ lớp đất mặt thảm thực vật với diện tích lớn dẫn đến làm thay đổi môi trường sống của động thực vật hoang dã. Phá hoại nơi cư trú và đường di chuyển của các loài vật, địa hình bị biến dạng, đất, nước bị trôi mất. Khai thác hầm lò làm mặt đất bị sụt lở dẫn đến gây ra những sự thay đổi hệ thống sinh thái – Ô nhiễm thổ nhưỡng và đất: Quá trình khai thác mỏ đặc biệt là khai thác bằng phương pháp lộ thiên làm cho đất bị phá hoại với diện tích lớn. Bãi

23. thải đất bóc và bãi thải quặng chiếm diện tích đất lớn đồng thời gây ra xâm thực làm ô nhiễm đất dẫn đến năng suất giảm trở đi xấu hơn – Ô nhiễm tiếng ồn: Âm thanh các vụ nổ mìn, khoan tiếng ồn của các phương tiện giao thông gây xáo trộn các hoạt động của con người và các động vật hoang dã dẫn đến việc nhiều loài vật phải di chuyển chỗ ở do ảnh hưởng của tiếng ồn. – Gây ô nhiễm môi trường nước: Các hoạt động khai thác và tuyển khoáng làm cho nước mặt và nước ngầm bị nhiễm axit, kim loại nặng và các nguyên tố độc hại khác, gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến nước sinh hoạt va nước công nghiệp. Những mỏ áp dụng phương pháp khai thác bằng sức nước gây ra thay đổi dòng chảy và biến đổi cơ cấu, khoáng sàng, quặng trôi chảy gây ra lắng động bùn cát ở các cửa sông, cảng biển làm cho chất lượng nước thay đổi theo chiều hướng xấu. Môi trường dưới nước cũng bị biến đổi gây ra ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh sản và phát triển của các loài vật dẫn đến giảm số lượng quần thể và có nguy cơ bị tuyệt chủng. Các khu có hoạt động khai thác mỏ thường xuyên thải ra các nguồn nước bẩn có khả năng gây ra ô nhiễm môi trường cao [21]. Tác động của các hoạt chế biến khoáng sản tới môi trường Hoạt động chế biến khoáng sản có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao đặc biệt là môi trường nước và không khí. Khi chế biến khoáng sản cũng gây ra sự ô nhiễm môi trường do trình độ công nghệ kỹ thuật yếu kém, hiện nay hai trung tâm luyện kim đen lớn nhất trong toàn quốc là Thái nguyên và Biên hòa qua điều tra cho thấy sự ô nhiễm môi trường vượt chỉ số cho phép từ 2 đến 10 lần. Các bãi chứa bãi thải, nước thì bụi khói đang ảnh hưởng đến môi trường cả vung dân cư rộng lớn và các sông Đồng nai, sông Cầu. Nhà máy supe phốt phát và hóa chất Lâm Thao và các nhà máy phân lân An Tấn hàng năm xử lý vài trăm ngàn tấn quặng pirit và thường thải ra sông Hồng trên 2000 tấn axit suphuaric, hàng trăm ngàn tấn xỉ, hàng ngàn tấn flo, chúng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh vào mùa khô.

24. Hiện nay, phương pháp chủ yếu chế biến khoáng sản là đập, nghiền, sàng, tuyển rửa, tuyển trọng lực, tuyển nổi, tuyển từ và tuyển điện… ít sử dụng các phương pháp tuyển hóa học, tuyển vi sinh, tuyển nhiệt hoặc sơ đồ tuyển hỗn hợp… Tại hàng nghìn cơ sở quy mô nhỏ hầu như chỉ khai thác, chọn tay theo kiểu “đào bới thu gom” hoặc “dễ làm khó bỏ” và “giàu đào khó bỏ”. Với công nghệ và thiết bị như vậy nên không thu hồi được các khoáng vật và nguyên tố cộng sinh, chất lượng quặng tinh thấp và ổn định. Đồng thời dẫn đến hiệu quả khai thác khoáng sản thấp, lãng phí tài nguyên và suy thoái môi trường [21]. 1.4. PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN 1.4.1. Khái niệm và đặc điểm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản là lĩnh vực pháp luật tương đối mới không chỉ đối với hệ thống pháp luật Việt Nam mà còn đối với hệ thống pháp luật của nhiều nước đang phát triển. Để đưa ra định nghĩa về pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản và xác định phạm vi của pháp luật khoáng sản là không dễ. Tài nguyên khoáng sản vốn là tài sản của quốc gia nên sự can thiệp trực tiếp của cơ quan nhà nước vào việc quản lý bảo vệ tài nguyên khoáng sản và hoạt động khoáng sản là rất lớn… Theo nội dung của điều 1 Luật khoáng sản năm 2010, Luật này quy định việc điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản; bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; thăm dò, khai thác khoáng sản; quản lý nhà nước về khoáng sản trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Khoáng sản là dầu khí; khoáng sản là nước thiên nhiên không phải là nước khoáng, nước nóng

27. – Khuyến khích đầu tư lâu dài trong khai thác mỏ bằng cách đưa ra những tiêu chuẩn rõ ràng về môi trường với mức chuẩn và thủ tục tiến hành ổn định và có thể dự đoán được. 1.4.3. Bảo vệ môi trường ở Việt Nam Ở Việt Nam, bảo vệ môi trường khoáng sản nói chung và trong hoạt động khai thác nói riêng là vấn đề đặc biệt “nóng”. Là quốc gia đang phát triển Việt Nam có nhu cầu khai thác và sử dụng lượng tài nguyên khoáng sản rất lớn. Hiện nay trên nước ta có trên 30 loại khoáng sản đang được khai thác. Có 559 khu vực được đăng kí khai thác mỏ (265 khu vực không kim loại, 108 khu vực kim loại mầu và đen, 45 khu vực khai thác vàng, 16 khu vực khai thác đá quý, 125 khu vực khai thác than). Ngoài ra còn có rất nhiều khu vực trái phép do địa phương quản lý. Phổ biến nhất là các khu vực có kim loại màu, kim loại quý, nhất là vàng, bạc, thiếc, chì, kẽm, đồng. Điều này đã làm ô nhiễm môi trường và thất thoát tài nguyên khoáng sản rất nghiêm trọng. Hàng năm chúng ta khai thác trên 10 triệu tấn than, 3000 – 4000 tấn thiết, trên 70.000 tấn quặng ilemenit, 10 triệu m3 đá xây dựng, trên 50000 tấn kẽm… Với trình độ công nghệ, kĩ thuật còn lạc hậu đã thải ra chục triệu chất thải và chục triệu tấn gây ô nhiễm môi trường, làm biến dạng môi trường sinh quyển [39]. Ví dụ: để khai thác được 1 tấn thiếc phải xử lý khoảng 5000 tấn đất đá, hàng vạn m3 nước; để khai thác được 1 tấn vàng phải xử lý khoảng 600 nghìn quặng, hàng ngàn kg sianua hay thủy ngân. Lượng nước thải này ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn nước mặt, nước ngầm. Việc khai thác với trình độ công nghệ kĩ thuật còn yếu kém làm cho đất nông nghiệp, rừng bị phá hủy nghiêm trọng, nhất là vào mùa lũ quét đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, văn hóa xã hội đất nước. Bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản đã trở thành đòi hỏi mang tính cấp thiết. Tuy nhiên đây là vấn đề mang tính tổng hợp và phức tạp. Do vậy, để giải quyết tốt nhất vấn đề môi trường trong hoạt động khoáng sản

28. cần phải áp dụng một cách đồng bộ các biện pháp kĩ thuật, giáo dục, khoa học công nghệ. Cụ thể: Biện pháp kinh tế: Đây được đánh giá là biện pháp mang lại hiệu quả cao trong công tác bảo vệ môi trường nhờ tính linh hoạt và mềm dẻo. Thực chất của các biện pháp kinh tế là sử dụng lợi ích vật chất để kích thích các chủ thể tiến hành các hạt động có lợi và hạn chế hành vi có hại cho môi trường. Áp dụng biện pháp này sẽ gắn kết được lợi ích kinh tế với nghĩa vụ bảo vệ môi trường của các chủ thể tiến hành hoạt động khoáng sản. Các công cụ tài chính được sử dụng để bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản gồm: – Thuế tài nguyên: Điều 3 Luật thuế tài nguyên năm 2009 quy định: Người nộp thuế tài nguyên là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên. Tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nhỏ, lẻ bán cho tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua và tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua cam kết chấp thuận bằng văn bản về việc kê khai, nộp thuế thay cho tổ chức, cá nhân khai thác thì tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua là người nộp thuế. Mục đích của việc thu thuế tài nguyên là nhằm bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên được tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả, góp phần bảo vệ môi trường và bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Nộp thuế tài nguyên cũng chính là nghĩa vụ của các tổ chức cá nhân được phép khai thác khoáng sản – Thuế môi trường: Mục đích của việc thu thuế môi trường là nhằm bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên được tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả, góp phần bảo vệ môi trường và bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Từ đó, một phần của ngân sách nhà nước sẽ được sử dụng quay trở lại cho bảo vệ môi trường. Đây là việc làm có ý nghĩa to lớn, trực tiếp góp phần ngăn chặn giảm thiểu ô nhiễm và tiết kiệm nguồn lực cho tương lai, không để xảy ra tình trạng ưu tiên phát triển còn hậu quả môi trường thì xử lý sau. Tuy nhiên, chi tiêu cho bảo

29. vệ môi trường ở nước ta vốn là vấn đề khó khăn do chúng ta chưa đánh giá được chính xác mức độ chi tiêu cho bảo vệ môi trường bởi lẽ còn nhiều khoản được chi tiêu lồng ghép cho các chương trình khác, chưa có các chương trình nghiên cứu hoặc bóc tách khoản chi đó ra hay là nói trong điều khoản nói chung đó, tỷ lệ chi tiêu cho khoa học, công nghệ và môi trường còn thấp so với GDP trong so sánh với nước ngoài. – Phí bảo vệ môi trường: Phí nói chung, phí bảo vệ môi trường nói riêng được hiểu là khoản nghĩa vụ tài chính mà các tổ chức, cá nhân phải chi trả khi được hưởng dịch vụ nào đó. Để đảm bảo môi trường sống cho các đối tượng xã hội, Nhà nước phải đầu tư khoản tài chính rất lớn cho công tác bảo vệ môi trường, do vậy trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân là đóng góp một phần chi phí nói trên cho Nhà nước. Điều 148 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định: 1. Tổ chức, cá nhân xả thải ra môi trường hoặc có hoạt động làm phát sinh nguồn tác động xấu đối với môi trường phải nộp phí bảo vệ môi trường. 2. Mức phí bảo vệ môi trường được quy định trên cơ sở sau đây: a) Khối lượng chất thải ra môi trường, quy mô ảnh hưởng tác động xấu đối với môi trường; b) Mức độ độc hại của chất thải, mức độ gây hại đối với môi trường; c) Sức chịu tải của môi trường tiếp nhận chất thải. 3. Mức phí bảo vệ môi trường được điều chỉnh theo lộ trình phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội và yêu cầu bảo vệ môi trường của từng giai đoạn phát triển của đất nước. 4. Nguồn thu từ phí bảo vệ môi trường được sử dụng đầu tư trực tiếp cho việc bảo vệ môi trường [26].

30. Thông qua một loạt các công cụ tài chính nêu trên, việc sử dụng các thành phần môi trường đã trở thành một phần trong chi phí sản xuất nhờ đó mà cộng đồng doanh nghiệp nâng cao được ý thức của mình về trách nhiệm làm giảm sự hủy hoại môi sinh. Chỉ có như vậy thì công tác bảo vệ môi trường mới có thể thực sự trở thành sự nghiệp của toàn dân. Việc sử dụng các biện pháp kinh tế để kích thích phát triển và đổi mới công nghệ hứa hẹn viễn cảnh môi trường trở nên tốt đẹp hơn bởi các công nghệ gây ô nhiễm sẽ được thay thế bằng những công nghệ không gây hại cho môi trường. Các biện pháp kỹ thuật – công nghệ: Đây là biện pháp cơ bản và quan trọng để bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản. Nội dung chính của nhóm biện pháp này là: Hoàn thiện công nghệ sản xuất, sử dụng công nghệ tiên tiến hiện đại, công nghệ nổ mìn bom ít bụi, ít khí độc ở mỏ lộ thiên với các phương tiện chống bụi hiện đại. Mặt khác, cần tăng năng suất lao động, đảm bảo chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn lao động và vệ sinh môi trường. Đồng thời cũng bao gồm cả việc thay thế các chất độc hại dùng ở các nhà máy sàn tuyển bằng các chất không hoặc ít độc hại… Các biện pháp kỹ thuật – công nghệ chính cần áp dụng ở các xí nghiệp nhà máy, dây chuyền công nghệ như sau: Một là, ở mỏ hầm lò: – Đảm bảo tốt chế độ thông gió ở đường lò khi đào và thông gió chung cho mỏ. – Áp dụng khoan ướt cho đá và khoan khô với máy hút và lọc bụi khi đào lò. – Áp dụng các biện pháp chống bụi và chống khí nổ mìn như tạo màn sương, treo các túi nước ở gần gương lò… khi đào lò. Hai là, ở mỏ lộ thiên: – Sử dụng các thiết bị hút và lọc bụi tại các máy khoan khi làm việc. – Sử dụng công nghệ nổ mìn ít gây bụi, nổ mìn với các bua nước chèn lỗ mìn, sử dụng thuốc nổ ít gây khí độc.

31. – Làm ẩm đất đá trước khi xúc bốc nhờ phun tưới nước. – Phun tưới nước, dung dịch muối hoặc một số chất keo để chống bụi trên các đường ô tô vận tải. – Phun tưới nước ở các điểm chuyển tải, các điểm thải đất đá để chống bụi. Ba là, ở các khu vực sàn tuyển, nhà máy tuyển. – Cần bao che các khu vực, các bộ phận thiết bị làm phát sinh bụi đồng thời kết hợp hút và lọc bụi bằng phương pháp khô hoặc ướt. – Thay thế các thiết bị sàng tuyển gây bụi bằng thiết bị ít gây bụi. – Thay thế các phương pháp khô bằng phương pháp tuyển ướt. – Thay thế các thuốc tuyển gây độc hại bằng các thuốc tuyển ít độc hại hơn. – Trung hòa các chất độc hại như khử sunphua, khử axit hoặc kiềm dư. Như chúng ta đã biết việc áp dụng công nghệ cũ và lạc hậu là nguyên nhân chủ yếu gây ra những tác động xấu đối với môi trường trong hoạt động khoáng sản. Để giảm nhẹ những ảnh hưởng đó thì việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới phải được coi là ưu tiên hàng đầu. Đổi mới công nghệ là điều kiện tất yếu để duy trì và phát triển sản xuất đồng thời cũng là động lực quan trong thúc đẩy tăng năng suất, tăng sản lượng và đặc biệt tăng mức độ an toàn và cải thiện môi trường. Biện pháp giáo dục: Môi trường bị suy thoái là do thái độ và hành vi ứng xử của con người. Vì vậy, để bảo vệ tốt môi trường cần phải không ngừng nâng cao nhận thức về môi trường, thường xuyên giáo dục đạo đức môi trường cho toàn thể cộng đồng. Đây cũng chính là mối quan tâm hàng đầu của bất cứ một xã hội văn minh nào. Thông qua hoạt động tuyên truyền và giáo dục, mọi người nhận thức được tác hại của sự ô nhiễm, suy thoái môi trường và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Các hoạt động giáo dục cộng đồng càng mở rộng thì hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường ngày càng cao. Giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng. Khi con người vì sự vô ý thức đã tàn phá môi trường trong đó chính họ đang sống thì việc thức tỉnh họ là

32. điều cần thiết và phải được thực hiện trước sự trừng phạt và răn đe. Khi con người đã có ý thức tự giác thì việc bảo vệ môi trường sẽ được thực hiện một cách dễ dàng và đem lại hiệu quả cao. Đây cũng chính là thực chất và ý nghĩa của biện pháp giáo dục. Các biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: – Đưa giáo dục ý thức bảo vệ môi trường vào chương trình học tập chính thức của các trường phổ thông, dạy nghề, cao đẳng và đại học. – Sử dụng các phương tiện truyền thông để giáo dục cộng đồng. – Tổ chức các hoạt động cụ thể: ngày môi trường, tuần lễ môi trường. – Tổ chức các diễn đàn. Biện pháp pháp lý: Trong số những biện pháp được sử dụng để bảo vệ môi trường thì biện pháp pháp lý giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Pháp luật với tư cách là hệ thống các quy định điều chỉnh hành vi xử sự của con người sẽ có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ môi trường. Ý nghĩa của các biện pháp pháp lý thể hiện rõ những khía cạnh sau: Một là, pháp luật quy định quy tắc xử sự mà con người buộc phải thực hiện khi khai thác, sử dụng các yếu tố của môi trường. Pháp luật với tư cách là công cụ điều tiết vĩ mô các hành vi của các thành viên trong xã hội có tác dụng rất lớn trong việc định hướng quá trình khai thác và sử dụng môi trường. Con người sử dụng và khai thác môi trường theo những tiêu chuẩn nhất định sẽ hạn chế những tác hại, ngăn chặn được sự suy thoái. Hai là, pháp luật quy định những chế tài hình sự, kinh tế, hành chính buộc các cá nhân, tổ chức phải thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật trong việc khai thác, sử dụng các yếu tố của môi trường. Bằng những chế tài kinh tế, hình sự, dân sự, hành chính, pháp luật đã tác động tới những hành vi vi phạm vừa có tác dụng ngăn chặn vi phạm pháp luật môi trường vừa có tác dụng giáo dục công dân tôn trọng luật bảo vệ môi trường [36].

33. Vai trò to lớn của pháp luật trong bảo vệ môi trường còn thể hiện ở việc ban hành các tiêu chuẩn môi trường. Các tiêu chuẩn này thực chất là những tiêu chuẩn kĩ thuật. Tuy nhiên, do được ban hành bằng các văn bản pháp luật nên chúng trở thành tiêu chuẩn pháp lý tức là những tiêu chuẩn mà các cá nhân, tổ chức trong xã hội phải tuân thủ nghiêm ngặt khi khai thác, sử dụng các yếu tố của môi trường. 1.4.4. Nguyên tắc cơ bản về bảo về môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 1.4.4.1. Nguyên tắc coi trọng tính phòng ngừa bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản Khoáng sản là tài nguyên quan trọng của quốc gia tác động trực tiếp đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ảnh hưởng đến sự bền vững của kinh tế – xã hội trước mắt và lâu dài, bảo đảm quốc phòng và an ninh. Chính vì vậy, chúng ta phải bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý tiết kiệm, hợp lý nguồn tài nguyên khoáng sản… Thực tế hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản ở nước ta mang lại những lợi ích kinh tế rất lớn. Song hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản lại có khả năng gây ảnh hưởng rất xấu đến môi trường và đời sống con người. Hầu hết các vùng khai thác khoáng sản không có kế hoạch hoàn nguyên môi trường đất gây hậu quả là phá hoại môi trường đất, làm tăng diện tích đất trống đồi núi trọc, giảm diện tích rừng, gây hiện tượng xói lở. Bên cạnh đó, ô nhiễm không khí và ô nhiễm nguồn nước ở các vùng khai thác và chế biến khoáng sản là rất nghiêm trọng. Khoáng sản hầu hết là các tài nguyên không tái tạo được. Trong khi nhu cầu sử dụng khoáng sản của con người ngày càng lớn khiến cho nguồn tài nguyên khoáng sản suy giảm đáng kể. Trữ lượng khoáng sản cạn kiệt gây mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống của con người. Nếu hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản tác động sống đến môi trường hay nói cách khác là phá hoại môi trường thì con người muốn cải tạo

34. lại môi trường cũng cần nhiều sức lực, nguồn kinh phí lớn và nhất định là phải trong thời gian dài mới có khả năng khôi phục lại được hiện trạng. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp con người chỉ có thể cải tạo mà không khôi phục được lại hiện trạng ban đầu của môi trường. Chính vì những lý do trên, Luật khoáng sản năm 2010 đã xác định nguyên tắc coi trọng tính phòng ngừa là một trong những nguyên tắc căn bản. Luật khoáng sản thể hiện rất rõ nguyên tắc này. Theo đó, hoạt động khoáng sản phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch khoáng sản, gắn với bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh và các tài nguyên thiên khắc, bảo đảm quốc phòng, an ninh trật tự an, toàn xã hội (khoản 1 Điều 4). Nguyên tắc này hướng tới việc ban hành và áp dụng các quy định của pháp luật về khoáng sản vào sự ngăn chặn chủ thể thực hiện các hành vi có khả năng gây nguy hại tới môi trường [25]. Các biện pháp ngăn chặn để bảo vệ môi trường rất đa dạng. Tuy nhiên, bản chất chính của các biện pháp phòng ngừa có thể là khuyến khích các lợi ích, hoặc triệt tiêu các lợi ích vốn là động lực của việc vi phạm pháp luật ảnh hưởng đến môi trường, nâng cao ý thức tự giác của con người trong việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản. Tuân thủ các nguyên tắc này thì một dự án khai thác và chế biến khoáng sản phải tính đến hiệu quả về tổng thể về kinh tế – xã hội. Trước khi cấp phép cho dự án khai thác và chế biến khoáng sản phải tính đến hết các tác động của dự án đối với kinh tế-xã hội và tác động đến môi trường… Các dự án muốn được cấp phép để khai thác và chế biến khoáng sản thực hiện theo quy trình hết sức chặt chẽ, nằm trong quy hoặc, phải có dự án khả thi… Khai thác khoáng sản luôn áp dụng những công nghệ tiên tiến, hướng vào chế biến sâu. Đảm bảo được tính phòng ngừa về môi trường sẽ đem lại nhiều lợi ích cho con người.

35. 1.4.4.2. Nguyên tắc đảm bảo sự phát triển bền vững trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản Phát triển bền vững là phát triển nhằm đáp ứng các như cầu tồn tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới năm 1992 ở Rio de Janerio (Brazil), các nhà hoạt động kinh tế, xã hội, môi trường cùng với các nhà chính trị thống nhất về quan điểm phát triển bền vững, coi đó là trách nhiệm chung của các quốc gia, của toàn nhân loại. Ở Việt Nam, quan điểm phát triển bền vững đã được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX là: phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đối với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế – xã hội gắn chặt với bảo vệ, cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học. Hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản cần được điều chỉnh trên nguyên tắc phát triển bền vững vì: Thứ nhất, khoáng sản là tài nguyên không tái tạo được và tiềm năng khoáng sản ở nước ta có hạn: Thứ hai, hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản là một trong những hoạt động có tác hại rất lớn tới môi trường. Thực chất của hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản chính là mối quan hệ giữa bảo vệ, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản với phát triển khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản. Bởi mục tiêu cuối cùng của hoạt động khoáng sản không dừng lại ở việc phát hiện và bảo vệ tài nguyên khoáng sản. Trong hệ thống các quy định pháp lý về hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản thì Luật khoáng sản có vai trò cơ bản, Luật này là nền tảng pháp lý cho việc thực hiện các biện pháp giữa khai thác khoáng sản và các giải pháp bảo vệ môi trường. Luật khoáng sản năm 2010 là có vai trò là nền tảng pháp lý bảo đảm cho sự phát triển bền vững trong hoạt động khai thác và

36. chế biến khoáng sản. Luật khoáng sản năm 2010 đã được xây dựng trên nguyên tắc phát triển bền vững. Luật khoáng sản năm 2010 chỉ ra biện pháp bảo vệ môi trường là một chiến lược, chính sách của hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản. Điều này được cụ thế hóa tại khoản 1 Điều 3 Luật khoáng sản năm 2010: “Nhà nước có chiến lược, quy hoạch khoáng sản để phát triển bền vững kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh trong từng thời kỳ” [25]. Luật khoáng sản năm 2010 coi đánh giá tác động môi trường là một điều kiện để được thực hiện hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản. Luật thuế tài nguyên môi trường (được Quốc hội ban hành cuối năm 2010 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2012) quy định thuế bảo vệ tài nguyên môi trường đối với một số đối tượng chịu thuế, trong đó quy định một số khoáng sản phải chịu thuế như là than đá…(Điều 3). 1.4.5. Hệ thống các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản Bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản là lĩnh vực còn rất mới mẻ ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong những năm gần đây nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng Nhà Nước, lĩnh vực này đã có những bước phát triển đáng kể. Hệ thống các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản đã tương đối đầy đủ. Trước hết, phải kể đến Luật khoáng sản năm 2010. Với tư cách là luật chung, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định nghĩa vụ bảo vệ môi trường của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội. Trong lĩnh vực hoạt động khoáng sản, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ “áp dụng công nghệ phù hợp, thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, đảm bảo tiêu chuẩn bảo vệ môi trường”. Tiếp đến là Luật khoáng sản năm 2010 và Luật bảo vệ môi trường năm 2014… Để đảm bảo cho sự thống nhất giữa luật chung và luật chuyên ngành cũng như tạo ra những điều kiện cần thiết để luật bảo vệ môi trường được thực hiện, Luật khoáng sản năm 2010

37. quy định: “Tổ chức, cá nhân được phép hoạt động khoáng sản phải sử dụng công nghệ, thiết bị, vật liệu và thực hiện các quy định khác của luật bảo vệ môi trường để hạn chế tối đa tác động xấu đến các thành phần môi trường” [25]. Ngoài ra còn có các quy định về việc bảo vệ quyền lợi của nhân dân địa phương nơi có khoáng sản được khai thác, chế biến. Theo đó “các tổ chức, cá nhân được phép khai thác, chế biến khoáng sản có trách nhiệm kết hợp yêu cầu của hoạt động khai thác, chế biến với việc xây dựng cơ sở, bảo vệ, phục hồi môi trường, môi sinh và đất đai của địa phương” [25]. Thứ nhất, khoáng sản là tài nguyên không tái tạo được và cũng không phải là vô tận. Thứ hai, hoạt động khoáng sản thường gây ra ảnh hưởng lớn, nghiêm trọng đến môi trường xung quanh. Nguyên nhân là do hoạt động khoáng sản thường được tiến hành trên quy mô rộng, số lượng khai thác nhiều, thời gian hoạt động kéo dài và sử dụng nhiều phương tiện, hóa chất trợ giúp. Mặt khác, khoáng sản luôn là loại tài nguyên có giá trị hàng đầu của mỗi quốc gia. Khai thác khoáng sản là quốc sách phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy, vừa để đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế vừa tránh cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, Nhà nước vẫn cho phép các cá nhân, tổ chức sử dụng, khai thác tài nguyên khoáng sản nhưng đồng thời gắn trách nhiệm phải bảo vệ môi trường đối với các cá nhân, tổ chức đó. Muốn thu được lợi ích từ quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản hơn ai hết chính các chủ thể tiến hành các hoạt động khoáng sản phải có ý thức bảo vệ môi trường, có phương án bảo vệ môi trường có hiệu quả, khả thi. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên hàng ngàn năm, ở thể rắn, thể lỏng, thể khí, tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất. Khoáng sản hầu hết là tài nguyên không tái tạo được, là tài sản quan

38. trọng của quốc gia. Giá trị to lớn của khoáng sản cũng như tính phức tạp của các quan hệ xã hội và ảnh tới môi trường của hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản tất yếu dẫn tới Nhà nước quản lý khoáng sản bằng pháp luật. Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản là một lĩnh vực pháp luật tương đối mới. Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản có thể hiểu là lĩnh vực pháp luật chuyên ngành bao gồm các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình quản lý, khai thác, chế biến các nguồn tài nguyên khoáng sản. Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khái thác và chế biến khoáng sản có những đặc điểm riêng: Pháp luật khoáng sản là sự giao thoa giữa pháp luật kinh tế và pháp luật bảo vệ môi trường; Pháp luật khoáng sản có phạm vi điều chỉnh rộng; Pháp luật khoáng sản thể hiện rõ tính chất quản lý nhà nước; Và pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản cũng có những nguyên tắc đặc thù của nó; nguyên tắc coi trọng tính phòng ngừa để bảo vệ môi trường; nguyên tác bảo đảm sự phát triển bền vững.

39. Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN 2.1. NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN 2.1.1. Quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong hoạt động khoáng sản Quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản là hoạt động thường xuyên của cả hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản từ Trung ương đến địa phương. Quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản nói riêng được thực hiện bằng nhiều biện pháp như: kinh tế, hành chính, giáo dục tuyên truyền và các hình hình thức giáo dục như: lãnh đạo, chỉ huy, khen thưởng, xử phạt, kiểm tra, thanh tra, giám sát, tổng kết rút kinh nghiệm, phổ biến nhân rộng các mô hình, cách làm có hiệu quả, bổ sung, sửa đổi, bãi bỏ những quy định không phù hợp. Nội dung quản lý nhà nước về khoáng sản được quy định tại Điều 3 Luật khoáng sản năm 2010. Bao gồm: 1. Nhà nước có chiến lược, quy hoạch khoáng sản để phát triển bền vững kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh trong từng thời kỳ. 2. Nhà nước bảo đảm khoáng sản được bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả. 3. Nhà nước đầu tư và tổ chức thực hiện điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản theo chiến lược, quy hoạch khoáng sản; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển công nghệ trong công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản và hoạt động khoáng sản.

40. 4. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư, hợp tác với các tổ chức chuyên ngành địa chất của Nhà nước để điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản. 5. Nhà nước đầu tư thăm dò, khai thác một số loại khoáng sản quan trọng để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh. 6. Nhà nước khuyến khích dự án đầu tư khai thác khoáng sản gắn với chế biến, sử dụng khoáng sản để làm ra sản phẩm kim loại, hợp kim hoặc các sản phẩm khác có giá trị và hiệu quả kinh tế – xã hội. 7. Nhà nước có chính sách xuất khẩu khoáng sản trong từng thời kỳ phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững kinh tế – xã hội trên nguyên tắc ưu tiên bảo đảm nguồn nguyên liệu cho sản xuất trong nước [25]. Việc tổ chức thực hiện toàn bộ các nội dung quản lý nhà nước về khoáng sản như trên sẽ góp phần thúc đẩy công nghiệp mỏ phát triển ổn định và bền vững hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường, hướng các tổ chức, cá nhân được phép hoạt động khoáng sản đi đúng hành lang pháp luật quy định. Công tác quản lý nhà nước về khoáng sản chỉ đạt được hiệu quả cao khi tiến hành đồng bộ các biện pháp, cách thức, trong đó vai trò của cán bộ quản lý nhà nước có ý nghĩa quyết định [25]. 2.1.2. Thẩm quyền quản lý nhà nước về hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản Theo một định nghĩa chung nhất, thẩm quyền là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước do pháp luật quy định. Như vậy, có thể nói thẩm quyền quản lý nhà nước về khoáng sản chính là nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan hành chính nhà nước các cấp từ Trung ương đến địa phương. Sự quản lý nhà nước đối với hoạt động khoáng sản được quy định như sau.

41. Theo quy định tại Điều 80 và Điều 81 Luật khoáng sản năm 2010 thì thẩm quyền về quản lý nhà nước về khoáng sản quy định như sau: Điều 80. Trách nhiệm quản lý nhà nước về khoáng sản của Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ 1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khoáng sản. 2. Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về khoáng sản trong phạm vi cả nước, có trách nhiệm: a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về khoáng sản; ban hành quy chuẩn kỹ thuật, định mức, đơn giá trong điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, thăm dò khoáng sản; b) Lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược khoáng sản; lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch khoáng sản theo phân công của Chính phủ; c) Khoanh định và công bố các khu vực khoáng sản theo thẩm quyền; khoanh định và trình Thủ tướng Chính phủ quyết định khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản theo thẩm quyền; d) Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về khoáng sản; đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản và hoạt động khoáng sản; đ) Cấp, gia hạn, thu hồi Giấy phép thăm dò khoáng sản, Giấy phép khai thác khoáng sản; chấp thuận trả lại Giấy phép thăm dò khoáng sản, Giấy phép khai thác khoáng sản, trả lại một phần diện tích khu vực thăm dò, khai thác khoáng sản; tổ chức đấu giá quyền khai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền;

44. quan cho tổ chức, cá nhân được phép hoạt động khoáng sản tại địa phương theo quy định của pháp luật; b) Thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, khoáng sản chưa khai thác, tài nguyên thiên nhiên khác theo quy định của pháp luật; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội tại khu vực có khoáng sản; c) Báo cáo Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp tình hình hoạt động khoáng sản trên địa bàn; d) Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về khoáng sản; đ) Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về khoáng sản theo thẩm quyền [25]. Việc phân công, phân cấp trong quản lý nhà nước về khoáng sản luôn là yếu tố quyết định đến hiệu quả công tác quản lý. 2.1.3. Cấp phép trong hoạt động khái thác và chế biến khoáng sản 2.1.3.1. Phân cấp thẩm quyền cấp phép trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản Điều 56 Luật khoáng sản 2010 đã được sửa đổi, bổ sung quy định thẩm quyền cấp phép khai thác khoáng sản thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp giấy phép khai thác tận thu khoáng sản theo quy định tại Điều 49 và Điều 50 của Luật Khoáng sản năm 2010, giấy phép khảo sát, giấy phép thăm dò, giấy phép khai thác, giấy phép chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và than bùn, giấy phép khai thác, giấy phép chế biến khoáng sản đối với khu vực đã được điều tra, đánh giá hoặc thăm dò, phê duyệt trữ lượng khoáng sản mà không nằm trong quy hoạch khai thác, chế biến khoáng sản của cả nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc không thuộc diện dự trữ tài nguyên khoáng sản quốc gia. Bộ Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền cấp giấy phép những trường hợp còn lại. Với quy định này, thực

45. trạng cấp giấy phép trong hoạt động khai thác khoáng sản thời gian qua đã diễn ra rất phức tạp, thiếu sự quản lý và giấy phép chủ yếu do Ủy ban nhân dân tỉnh cấp. Báo cáo của Viện Tư vấn phát triển – CODE (thuộc Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam) cho thấy: Giai đoạn 2005 – 2008, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố đã cấp tới 4.213 giấy phép hoạt động khoáng sản, riêng khâu khai thác chiếm 3.882 giấy phép. Trong số đó có 82% giấy phép khai thác là vật liệu xây dựng thông thường, than bùn và 16% giấy phép khai thác loại khoáng sản khác, còn lại là giấy phép khai thác tận thu. So với giai đoạn trước, giai đoạn 1996 – 2008 (việc cấp phép phụ thuộc các bộ, ngành chức năng) chỉ mới cấp tổng cộng 928 giấy phép hoạt động khoáng sản với 353 giấy phép khai thác. Cũng theo số liệu từ báo cáo của 51 tỉnh thành (đã nộp), mà Tổng cục Địa chất – Khoáng sản, Bộ Tài nguyên và Môi trường đưa ra. Đến ngày 30 tháng 8 năm 2011, số giấy phép khai thác khoáng sản do Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố cấp còn hiệu lực là 3.899 giấy phép. Nếu tính tổng số 63 tỉnh thành, ước tính có khoảng 4.200 giấy phép khai khoáng đã được cấp (các dự án khai khoáng do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp, tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2011, gồm 659 giấy phép [23]. Như vậy, chỉ trong vòng 3 năm số lượng giấy phép khai thác khoáng sản mà các địa phương cấp đã cao gấp 10 lần so với số lượng giấy phép mà các bộ, ngành chức năng cấp trong 12 năm. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lãnh thổ, họ là đại diện quyền sở hữu tài nguyên của nhân dân trong tỉnh thì họ nên có quyền quyết định đối với việc sử dụng tài nguyên trên địa bàn do Bộ, Ngành Trung ương cấp quyền khai thác đã vi phạm quyền đại diện sở hữu của Ủy ban nhân dân tỉnh. Trên thực tế Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng gặp nhiều trở ngại trong việc quản lý các đơn vị do Trung ương cấp quyền khai thác, đặc biệt là đối với các Tập đoàn và Công ty lớn. Tuy nhiên, do trình độ quản lý còn yếu kém của Ủy ban nhân

Khoáng Sản Là Gì? Khái Quát Về Hoạt Động Khai Thác Khoáng Sản

Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ.

+ Quản lý Nhà nước về đất đai và vấn đề quy hoạch sử dụng đất đai

+ Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp và vai trò của nông nghiệp

Khoáng sản là gì? Khái quát về hoạt động khai thác khoáng sản

1. Khoáng sản là gì?

Khoáng sản là những dạng vật chất rất gần gũi và đóng vai trò to lớn trong đời sống con người như sắt, than đá, kẽm, vàng, dầu khí, nước khoáng thiên nhiên… Giá trị to lớn của khoáng sản cũng như tính phức tạp của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tất yếu dẫn tới Nhà nước quản lý khoáng sản bằng pháp luật. Vậy dưới góc độ pháp luật, Khoáng sản là gì?

Khoáng sản được hiểu bao gồm các tài nguyên trong lòng đất, trên mặt đất dưới dạng những tích tụ tự nhiên khoáng vật, khoáng chất có ích ở thể rắn, thể lỏng, thể khí, hiện tại hoặc sau này có thể khai thác. Khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ mà sau này có thể được khai thác lại, cũng là khoáng sản (khoản 1 Điều 3 Luật khoáng sản 1996; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khoáng sản 2005).

Luật khoáng sản 2010 được Quốc hội thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010 có quy định về “khái niệm Khoáng sản là gì?” như sau: “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ”.

Khoáng sản là gì

Nếu bạn không có nhiều kinh nghiệm trong việc viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp. Bạn cần đến dịch vụ chỉnh sửa luận văn , Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, … để giúp mình hoàn thành những bài luận đúng deadline? Khi gặp khó khăn về vấn đề viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp, hãy nhớ đến Tổng đài tư vấn luận văn 1080, nơi giúp bạn giải quyết những khó khăn mà chúng tôi đã từng trải qua.

2. Phân loại khoáng sản

Theo tính chất của công dụng, Khoáng sản được chia ra làm bốn nhóm: Khoáng sản kim loại, khoáng sản phi kim, khoáng sản nhiên liệu và khoáng sản nước.

– Khoáng sản kim loại là những quặng, qua quá trình chế luyện, lấy ra kim loại hoặc hợp chất của chúng, thuộc nhóm này gồm: Nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắt (sắt, Mangan, Crôm…); Nhóm kim loại cơ bản (Thiếc, Đồng, Chì, Kẽm…); Nhóm kim loại nhẹ (Nhôm, Titan, Magiê…); Nhóm kim loại phóng xạ (Uran, thori, rađi) và nhóm kim loại hiếm và đất hiếm.

– Khoáng sản phi kim là những quặng được sử dụng trực tiếp hoặc qua chế biến để lấy ra đơn chất hoặc hợp chất không kim loại: nhóm khoáng sản hóa chất và phân bón (lưu huỳnh, apatit, phôtphorit…); Nhóm nguyên liệu gốm sứ – chịu lửa (sét, kaolin…) và nhóm nguyên liệu kiến trúc xây dựng (cát, đá vôi, đá hoa…).

– Khoáng sản nhiên liệu gồm các đá có nguồn gốc sinh vật (than bùn, than đá, dầu…). Loại khoáng sản này ngoài việc làm chất đốt, khoáng sản nhiên liệu còn để sản xuất ra hóa phẩm, dược phẩm và các thành phần khác (sợi nhân tạo, vật liệu khuôn đúc.v.v…).

– Khoáng sản nước: Là các loại nước được dùng cho sinh hoạt và công nghiệp như nước khoáng, bùn khoáng sử dụng trong y tế và sinh hoạt.

3. Khái quát về hoạt động khai thác khoáng sản

3.1 Khái niệm khai thác khoáng sản là gì?

Trước đây, trong thời kỳ bao cấp hoạt động khai thác khoáng sản chủ yếu do các tổng công ty, công ty Nhà nước thực hiện tại các mỏ đã được tìm kiếm, thăm dò bằng nguồn vốn của Nhà nước như apatit, quặng sắt, than, đá vôi, sét làm nguyên liệu xi măng, thiếc… với số lượng rất ít. Sau năm 1996 khi Luật khoáng sản được ban hành, với chính sách đầu tư của Nhà nước, hoạt động khai thác đã phát triển nhanh cả về quy mô và thành phần kinh tế tham gia hoạt động khoáng sản, nhất là trong vài năm trở lại đây.

Khái niệm khai thác khoáng sản là gì

3.2 Vai trò của khoáng sản

Tuy không có vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của loài như các thành phần môi trường nước, đất và không khí… nhưng tài nguyên khoáng sản cũng là những yếu tố hết sức quan trọng trong việc bảo đảm sự duy trì và phát triển xã hội. Xét từ phương diện cá nhân, con người có thể tồn mà không cần đến tài nguyên khoáng sản, nhưng trên bình diện chung thì một xã hội không thể phát triển bền vững và toàn diện nếu không có bất kì một tài nguyên khoáng sản nào. Vai trò và tầm quan trọng của khoáng sản được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:

– Về phương diện kinh tế: Khoáng sản là nguồn nguyên liệu chính cho nhiều ngành công nghiệp then chốt, như đá vôi dùng cho sản xuất xi măng, sản xuất vật liệu xây dựng; quặng sắt được dùng cho ngành luyện kim, cơ khí… Than đá, dầu mỏ, khí gas… là những khoáng sản cung cấp năng lượng chủ yếu cho nhiều ngành kinh tế quan trọng cũng như phục vụ sinh hoạt hằng ngày của con người, nước khoáng, nước nóng thiên nhiên là những tài nguyên có giá trị cao trong việc bảo vệ sức khỏe con người, đồng thời cũng là nguồn nguyên liệu đặc biệt đối với một số ngành công nghiệp.

Bản thân ngành công nghiệp khoáng sản là một ngành chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế của nhiều nước, như công nghiệp khai thác đồng ở Chilê, công nghiệp than đá ở Ucraina, công nghiệp dầu mỏ ở Cooet, Irăc và Veneduela. Xuất khẩu khoáng sản thường đem lại nguồn thu lớn cho các quốc gia, nhiều nước có nguồn thu ngân sách chủ yếu là từ khai khoáng: Bruei, Cooet, Veneduela là những ví dụ điển hình.

– Về phương diện chính trị: Khoáng sản tạo cho các quốc gia có một vị trí quan trọng trong giao lưu quốc tế. Nó góp phần không nhỏ vào việc làm tăng tính độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia. Thậm chí trong một số trường hợp, nó còn làm tăng các ảnh hưởng về mặt chính trị của quốc gia này đối với quốc gia khác, các quốc gia không có tài nguyên khoáng sản thường phụ thuộc rất nhiều về kinh tế cũng như chính trị đối với các quốc gia có ưu thế trong vấn đề này. Vai trò, tầm quan trọng của tài nguyên khoáng sản còn thể hiện trong các ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của các hoạt động khoáng sản tới môi trường xung quanh.

Từ khóa tìm kiếm: Khoáng sản là gì , Khái niệm khai thác khoáng sản là gì , Phân loại khoáng sản , Vai trò của khoáng sản.

Bạn đang xem bài viết Bảo Vệ Môi Trường Trong Khai Thác Khoáng Sản trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!