Xem Nhiều 12/2022 #️ Bệnh Zika Ở Phụ Nữ Có Thai: Những Điều Cần Biết / 2023 # Top 12 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 12/2022 # Bệnh Zika Ở Phụ Nữ Có Thai: Những Điều Cần Biết / 2023 # Top 12 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bệnh Zika Ở Phụ Nữ Có Thai: Những Điều Cần Biết / 2023 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ chuyên khoa II Bùi Thị Thu – Bác sĩ Sản phụ khoa – Khoa sản phụ khoa – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng.

Các triệu chứng zika ở bà bầu thường nhẹ và thường hết trong vài ngày. Tuy không gây ảnh hưởng nhiều sức khỏe người mẹ, nhưng bệnh Zika có thể gây các dị tật nghiêm trọng ở trẻ, đặc biệt là tật đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh.

1. Những con đường lây truyền bệnh zika cho phụ nữ có thai

Phụ nữ có thai có thể mắc bệnh Zika khi bị đốt bởi muỗi Aedes mang mầm bệnh. Có 2 loại muỗi Aedes có khả năng gây lây truyền vi-rút Zika đó là Aedes aegypti và Aedes albopictus. Trong đó muỗi Aedes aegypti hay còn gọi là muỗi vằn (do muỗi có các vạch đen trắng trên thân) là tác nhân gây bệnh chủ yếu ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Muỗi Aedes thường đốt người vào ban ngày, đặc biệt là vào sáng sớm hoặc khi trời gần tối, muỗi thường đậu ở rèm cửa, nơi treo quần áo. Ngoài lây truyền bệnh Zika, muỗi Aedes cũng là tác nhân gây các bệnh sốt xuất huyết, bệnh sốt vàng và bệnh chikungunya.

Vi-rút Zika còn có thể lây qua đường quan hệ tình dục. Theo một số nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới WHO, vi-rút Zika có thể tồn tại tới 188 ngày trong tinh dịch nam giới mắc bệnh. Nếu quan hệ tình dục không có các biện pháp bảo vệ trong khoảng thời gian này, phụ nữ mang thai có thể bị lây bệnh Zika từ bạn đời. Ngoài ra, vi-rút Zika có thể lây truyền cho phụ nữ mang thai qua đường truyền máu hoặc ghép tạng.

2. Các triệu chứng zika ở bà bầu

Hầu hết các người bệnh nhiễm Zika không có triệu chứng hoặc chỉ có các triệu chứng nhẹ như sốt nhẹ từ 37.8- 38.5 độ C, đau đầu, phát ban, ngứa, mệt mỏi. Một số người có thể bị viêm kết mạc mắt và đau xương khớp (thường là khớp nhỏ ở tay chân). Các triệu chứng zika ở bà bầu không khác biệt so với các đối tượng khác. Bệnh không có thuốc điều trị đặc hiệu, người bệnh chỉ cần nghỉ ngơi, uống nhiều nước, uống thuốc hạ sốt, giảm đau Paracetamol nếu cần. Các triệu chứng thường hết trong khoảng 2-7 ngày.

3. Tật đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh khi bà bầu bị zika

Vi-rút Zika có thể lây từ mẹ sang thai nhi, khả năng lây cao nhất là trong ba tháng đầu thai kỳ. Tuy không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe người mẹ, nhưng vi-rút Zika có thể gây các dị tật ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe thai nhi. Trong đó, tật đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh là dị tật đáng lo ngại nhất. Tật đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh xuất hiện 1-10% số trẻ được sinh ra bởi bà bầu bị zika ba tháng đầu thai kỳ. Đặc điểm của những trẻ này khi sinh ra là:

Một phần hộp sọ trẻ bị sụp, các đường khớp sọ chồng lên nhau, da đầu dư thừa, xương chẩm trẻ nhô cao.

Não bộ trẻ biến đổi bất thường: vôi hóa dưới vỏ não, lượng chất trắng giảm, giảm sản thùy nhộng tiểu não, những khoảng chứa dịch tăng, thể chai bất thường, vỏ não mỏng với những nếp nhăn bất thường.

Một hoặc cả hai chân trẻ bị vẹo, một hoặc nhiều khớp bị co cứng bẩm sinh.

Mắt trẻ có những bất thường như sẹo hoàng điểm, teo đám rối mạch mạc vòng mạc, thiểu hoặc bất sản thần kinh thị giác, có các đốm sắc tố võng mạc trung tâm, đục thủy tinh thể, khuyết mống mắt,…

Trẻ có các khiếm khuyết về chức năng thần kinh như mất khả năng vận động, giảm trương lực cơ, mất khả năng nhận thức, khóc quá nhiều, dễ kích thích, động kinh, giảm hoặc mất thị lực, thính lực.

Tật đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh hiện chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu. Trẻ mắc bệnh cần được theo dõi chặt chẽ trong những năm đầu đời. Chụp ảnh sọ não sẽ được thực hiện thường xuyên để đánh giá sự phát triển của não bộ. Các phương pháp phẫu thuật có thể được thực hiện nếu não còn phát triển, ngoài ra trẻ cần được tập vật lý trị liệu phục hồi chức năng để cải thiện chất lượng cuộc sống.

4. Phát hiện tật đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh như thế nào?

Trẻ không may sinh ra với dị tật đầu nhỏ do vi-rút Zika sẽ đối mặt với hàng loạt vấn đề về sức khỏe, chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ bị dị tật là một gánh nặng đối với gia đình và xã hội. Do đó phát hiện sớm tình trạng dị tật của thai có vai trò quan trọng. Những phụ nữ mang thai đang sống trong vùng có lưu hành dịch Zika hoặc đã từng đến vùng dịch Zika, khi có các triệu chứng như sốt, đau đầu, phát ban, viêm khớp, viêm kết mạc cần đến các cơ sở y tế để xét nghiệm vi-rút Zika. Nếu các kết quả xét nghiệm xác định phụ nữ có thai nhiễm Zika trong ba tháng đầu hoặc có phơi nhiễm với nguồn bệnh, những phụ nữ này cần khám thai theo định kỳ, thực hiện siêu âm 3-4 tuần/lần để phát hiện các dấu hiệu bất thường ở thai nhi.

Tật đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh có thể phát hiện sau 18 tuần bằng siêu âm. Bác sĩ sẽ đo kích thước đầu thai nhi, qua hai chỉ số quan trọng nhất là chu vi đầu và đường kính lưỡng đỉnh, bác sĩ sẽ đánh giá sự phát triển của vòng đầu, qua đó có thể phát hiện dị tật đầu nhỏ. Siêu âm cấu trúc não có thể phát hiện những bất thường của cấu trúc não, là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng não bé.

Khi có chẩn đoán xác định trẻ mắc dị tật đầu nhỏ, trên cơ sở tư vấn từ bác sĩ, cha mẹ sẽ quyết định có chấm dứt thai kỳ hay không.

5. Các biện pháp phòng ngừa bệnh zika ở phụ nữ có thai

Để phòng ngừa bệnh Zika, phụ nữ có thai nên tránh bị muỗi đốt bằng cách:

Ngủ màn vào cả ban ngày và ban đêm, lắp màng chắn muỗi ở cửa sổ và cửa ra vào.

Diệt lăng quăng, bọ gậy; hạn chế trữ nước trong xô, chậu; loại bỏ nước đọng trong chậu hoa, lốp xe,…

Mặc quần áo dài và che kín cơ thể, đặc biệt là vào sáng sớm và vài giờ trước khi trời tối vì đây là thời điểm muỗi hoạt động mạnh.

Sử dụng các sản phẩm chống muỗi dạng xịt hoặc dạng thoa an toàn cho phụ nữ có thai.

Vi-rút Zika có thể lây qua đường tình dục do đó phụ nữ có thai cần thận trọng khi quan hệ tình dục với bạn tình nhiễm hoặc phơi nhiễm vi-rút Zika (đang sống hoặc đã từng đến vùng lưu hành dịch Zika). Phải sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục hoặc không quan hệ tình dục ít nhất 6 tháng kể từ khi bạn tình có triệu chứng bệnh Zika hoặc từ lần cuối phơi nhiễm.

Phụ nữ mắc bệnh Zika hoặc phơi nhiễm với vi-rút Zika phải sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục hoặc không quan hệ tình dục trong ít nhất 8 tuần kể từ khi có triệu chứng bệnh hoặc từ lần cuối phơi nhiễm để hạn chế khả năng mang thai trong thời kỳ mắc Zika.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec mang đến Chương trình chăm sóc thai sản trọn gói cho các sản phụ ngay từ khi bắt đầu mang thai từ những tháng đầu tiên với đầy đủ các lần khám thai, siêu âm 3D, 4D định kỳ cùng các xét nghiệm thường quy để đảm bảo người mẹ luôn khỏe mạnh và thai nhi phát triển toàn diện.

Sản phụ sẽ được tư vấn và kiểm tra sức khỏe dưới sự theo dõi sát sao của các Bác sĩ Sản khoa giàu kinh nghiệm, chuyên môn, giúp các bà mẹ có thêm kiến thức để bảo vệ sức khỏe trong thai kỳ cũng như giảm thiểu những biến chứng ảnh hưởng tới mẹ và con.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Bệnh Lý Tuyến Giáp Ở Phụ Nữ Mang Thai / 2023

Tuyến giáp là một tuyến nội tiết, hình cánh bướm, thường nằm ở phía trước, dưới của cổ. Chức năng của tuyến giáp là tổng hợp hormone giáp trạng, tiết vào máu và đến các mô trong cơ thể. Hormone tuyến giáp giúp cơ thể sử dụng năng lượng, giữ ấm, giúp não, tim, cơ và các cơ quan khác hoạt động ổn định.

Những thay đổi bình thường của chức năng tuyến giáp ở phụ nữ mang thai

– Thay đổi về hormone: Khi mang thai cơ thể người mẹ sẽ sản sinh ra 2 hormone chính: βhCG (human chorionic gonadotropin) và estrogen. Việc tăng βhCG trong 3 tháng đầu của thai kỳ có thể làm giảm nhẹ hormone TSH (hormone kích thích giáp trạng), lúc này gọi là cường giáp cận lâm sàng. TSH sẽ tăng trở lại ở giai đoạn sau của thai kỳ. Estrogen (hormone sinh dục nữ) sẽ làm tăng hormone tuyến giáp gắn protein trong huyết thanh, tuy nhiên hormone tuyến giáp tự do (FT3, FT4) không tăng, do đó không ảnh hưởng đến chức năng tuyến giáp. Như vậy chức năng tuyến giáp vẫn bình thường nếu TSH, FT3 và FT4 bình thường.

– Thay đổi về kích thước: Tuyến giáp có thể thay đổi về kích thước trong quá trình mang thai: Kích thước lớn hơn khoảng 10-15%, gọi là bướu cổ. Tỷ lệ này cao hơn ở phụ nữ sống ở vùng núi – nơi thiếu hụt I-ốt. Siêu âm là biện pháp tốt nhất giúp phát hiện tăng kích thước tuyến giáp. Khi thai phụ có tăng kích thước tuyến giáp thì nên đến gặp bác sĩ để được xét nghiệm chức năng tuyến giáp.

Tác động của chức năng tuyến giáp đến mẹ và bé

Trong 10-12 tuần đầu của thai kỳ, đứa trẻ phụ thuộc hoàn toàn vào chức năng tuyến giáp của người mẹ. Hết 3 tháng đầu, cơ thể của bé sẽ tự sản xuất ra hormone tuyến giáp. Mặc dù vậy, bé vẫn phải phụ thuộc chính vào lượng I-ốt bà mẹ ăn vào. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo phụ nữ mang thai nên bổ sung 200 mcg I-ốt/ngày để duy trì chức năng tuyến giáp.

Cường giáp và thai kỳ

– Những nguyên nhân thường gặp gây cường giáp trong quá trình mang thai:

Nhìn chung, Basedow là nguyên nhân gây cường giáp thường gặp nhất (80-85%), tỷ lệ gặp 1/1500 phụ nữ mang thai. Thêm vào đó, một vài trường hợp hCG tăng quá cao cũng gây triệu chứng cường giáp. Chẩn đoán Basedow trong thời kỳ mang thai khó khăn hơn vì các triệu chứng hay xúc cảm, sợ nóng, da nóng ẩm và vã mồ hôi dễ nhầm với các triệu chứng của nghén. Xét nghiệm đo độ tập trung I-ốt không làm được vì sẽ ảnh hưởng đến thai nhi. Do đó chẩn đoán dựa vào tiền sử, nhịp tim nhanh trên 100 lần/phút, siêu âm tuyến giáp to, lan tỏa, xét nghiệm TSH, FT4, TRAb.

– Những nguy cơ của Basedow và cường giáp đối với phụ nữ mang thai:

Bệnh có thể mới xảy ra trong 3 tháng đầu của thai kỳ hoặc ở phụ nữ đã bị Basedow trước đó. Ngoài các triệu chứng kinh điển, người mẹ còn có thể bị đẻ non hoặc tiền sản giật. Ngoài ra, mẹ sẽ có nguy cơ cao bị suy tim, nhiễm độc giáp cấp. Bệnh Basedow có thể được cải thiện vào 3 tháng cuối thai kỳ hoặc cũng có thể nặng hơn ở thời kỳ hậu sản.

– Những nguy cơ của Basedow và cường giáp đối với thai nhi. Có 3 cơ chế sau:

+ Cường giáp không được kiểm soát tốt: Dẫn tới đứa trẻ bị tim bẩm sinh, thai chậm phát triển, trẻ bị đẻ non, thai chết lưu và có thể bị dị tật bẩm sinh. Đó là lý do tại sao điều trị cường giáp cho phụ nữ có thai là hết sức quan trọng.

+ TSI (hormone kích thích tuyến giáp) tăng quá cao: Basedow được biết đến như một bệnh tự miễn dịch, cơ thể tự sinh ra kháng thể kích thích tuyến giáp (TSI). Kháng thể này qua nhau thai và có thể tác động đến tuyến giáp của thai nhi gây cường giáp ở trẻ sơ sinh. Do vậy, với phụ nữ mang thai bị Basedow phải định lượng TSI ở 3 tháng cuối thai kỳ. Ở trường hợp được điều trị bằng thuốc kháng giáp trạng tổng hợp thì ít gặp TSI cao vì thuốc qua nhau thai. Phụ nữ có thai cần kể tiền sử bệnh đã được điều trị bằng thuốc kháng giáp trạng và đã ngừng thuốc rất lâu rồi với bác sĩ để được tư vấn tốt hơn.

+ Thuốc kháng giáp trạng tổng hợp: Methimazol (Thyrozol) và PTU là 2 thuốc điều trị cường giáp chính hiện nay. Cả 2 thuốc này đều qua nhau thai và có thể ảnh hưởng đến chức năng tuyến giáp và gây bướu cổ thai nhi. Kinh nghiệm cho thấy nhóm PTU vẫn được lựa chọn nhiều hơn, có thể vì PTU ít qua nhau thai hơn so với nhóm Methimazol. Mặc dù vậy, các nghiên cứu gần đây nhận thấy cả 2 nhóm thuốc trên đều an toàn với phụ nữ có thai. Nên điều trị với liều thấp, duy trì FT4 ở giới hạn cao của bình thường sẽ tốt cho thai nhi hơn. Trong quá trình điều trị thai nhi được theo dõi đều về tốc độ phát triển, nhịp tim thai, siêu âm tìm bướu cổ cho thai.

– Lựa chọn điều trị phụ nữ cường giáp thai kỳ:

Cường giáp nhẹ (triệu chứng nghèo nàn, nồng độ hormone tăng nhẹ) thông thường sẽ được theo dõi chặt chẽ mà chưa cần điều trị gì cho cả mẹ và em bé sau sinh. Khi cường giáp nặng cần phải điều trị thì thuốc kháng giáp trạng tổng hợp nên lựa chọn là PTU và theo dõi chặt chẽ (xét nghiệm TSH, hormone tuyến giáp hàng tháng) tránh gây suy giáp cho người mẹ và đứa trẻ.

Những phụ nữ không thể điều trị với thuốc kháng giáp trạng tổng hợp (dị ứng thuốc) thì phẫu thuật cũng có thể được lựa chọn. Tuy nhiên phẫu thuật cắt tuyến giáp cần được cân nhắc hết sức chặt chẽ vì nguy cơ cao trong gây mê, phẫu thuật cho cả mẹ và thai nhi.

Chống chỉ định điều trị I-ốt phóng xạ cho phụ nữ có thai vì I-ốt phóng xạ qua nhau thai gây mất chức năng tuyến giáp của trẻ.

Thuốc ức chế bê ta giao cảm có thể được dùng để giảm triệu chứng đánh trống ngực và run do cường giáp. Nên dùng liều nhỏ, thông thường loại thuốc này chỉ cần thiết cho đến khi cường giáp được kiểm soát bằng thuốc kháng giáp trạng tổng hợp.

– Thông thường phụ nữ bị Basedow sau khi sinh bệnh sẽ nặng lên (thường ở 3 tháng đầu tiên sau sinh), do đó cần tăng liều thuốc kháng giáp trạng trong thời điểm này. Đồng thời cần kiểm soát chặt chức năng tuyến giáp. Đứa trẻ có thể bú sữa mẹ nếu bà mẹ được điều trị bằng PTU vì PTU gắn với protein máu cao và ít qua sữa mẹ hơn các thuốc khác.

Suy giáp và thai kỳ

– Nguyên nhân: Bệnh tự miễn (viêm tuyến giáp Hashimoto) là nguyên nhân chính gây suy giáp. Suy giáp có thể xảy ra khi mang thai, là do giai đoạn đầu của Hashimoto, điều trị suy giáp chưa đủ liều, trước đó điều trị cường giáp bằng thuốc kháng giáp trạng.

– Nguy cơ suy giáp đối thai kỳ đối với mẹ: không điều trị hoặc điều trị không đủ liều gây nên thiếu máu (hồng cầu giảm), bệnh lý về cơ (đau cơ, yếu cơ), suy tim sung huyết, tiền sản giật, bất thường về nhau thai, trẻ sinh ra nhẹ cân và chảy máu sau sinh. Những biến chứng này hầu hết xảy ra ở những thai phụ suy giáp nặng. Hầu hết suy giáp nhẹ sẽ không có triệu chứng hoặc các triệu chứng là do việc mang thai.

– Nguy cơ suy giáp thai kỳ đối với em bé: Hormone tuyến giáp cực kỳ cần thiết cho sự phát triển não trẻ. Trẻ sinh ra suy giáp bẩm sinh (không có chức năng tuyến giáp) có thể bất thường nghiêm trọng về nhận thức và sự phát triển của hệ thần kinh. Điều này có thể phòng nếu trẻ được phát hiện sớm ngay sau sinh. Vì vậy, tại Mỹ tất cả những đứa trẻ được sinh ra đều được sàng lọc suy giáp bẩm sinh để được điều trị thay thế hormone tuyến giáp sớm nhất có thể. Ảnh hưởng của thai phụ bị suy giáp lên sự phát triển của não trẻ còn chưa rõ ràng. Suy giáp thai kỳ nặng không được điều trị có thể dẫn đến giảm sự phát triển não trẻ. Một số nhà khoa học khuyên nên kiểm tra TSH trước khi mang thai hoặc khi có thai càng sớm càng tốt, đặc biệt ở những phụ nữ có nguy cơ cao mắc bệnh lý tuyến giáp (trước đó điều trị cường giáp, tiền sử gia đình mắc bệnh lý tuyến giáp, bướu cổ). Phụ nữ suy giáp cần chắc chắn làm TSH khi mang thai, hormone tuyến giáp cần cao hơn trong thai kỳ, do đó thường phải tăng liều levothyroxine. Nếu TSH bình thường, không cần phải kiểm tra nhiều, phụ nữ cần tư vấn bác sĩ nếu muốn có thai. Phụ nữ bị suy giáp cần được điều trị để TSH và FT4 bình thường.

– Điều trị suy giáp thai kỳ:

Điều trị suy giáp ở phụ nữ mang thai giống như với đàn ông và phụ nữ không mang thai bị suy giáp, đó là dùng hormone tuyến giáp tổng hợp để thay thế. Thường sẽ phải tăng liều hormone lên 25-50% khi mang thai, thỉnh thoảng có trường hợp phải tăng liều gấp đôi. Phụ nữ nên điều chỉnh liều levothyroxine tối ưu trước khi mang thai và kiểm tra TSH ngay khi có thai để bác sĩ điều chỉnh TSH về mức bình thường. Chức năng tuyến giáp được kiểm tra mỗi 6-8 tuần trong suốt quá trình mang thai để chắc chắn chức năng tuyến giáp bình thường. Nếu thay đổi liều levothyroxine thì cần kiểm tra chức năng tuyến giáp sau 4 tuần. Sau sinh càng sớm càng tốt, liều levothyroxine được đưa về giống như trước khi mang thai.

Điều quan trọng nên biết rằng vitamin dành cho phụ nữ mang thai có chứa sắt và can-xi, sẽ làm giảm hấp thu hormone tuyến giáp qua đường tiêu hóa. Do đó cần uống các thuốc vào những thời điểm khác nhau, cách nhau ít nhất 2-3 giờ.

Tránh Mang Thai Ở Tuổi Vị Thành Niên: Những Điều Cần Biết! / 2023

Trẻ ở độ tuổi vị thành niên thường phải đương đầu với không ít khó khăn. Bạn đang trải qua nhiều thay đổi và đang loay hoay tìm kiếm con người mà bạn muốn trở thành. Một đứa bé ra đời vào lúc này sẽ khiến mọi chuyện càng trở nên phức tạp, và có lẽ bạn chỉ muốn có con khi đã trưởng thành và độc lập. Bằng cách quan hệ tình dục an toàn, nắm bắt thông tin và có một hệ thống hỗ trợ tốt, bạn có thể tránh lâm vào tình cảnh làm cha mẹ bất đắc dĩ ở tuổi teen. Nắm được kiến thức về tình dục an toàn là điều quan trọng nhất mà bạn có thể làm cho bản thân. Những bậc cha mẹ có con ở tuổi vị thành niên cũng có thể áp dụng các bước trong bài viết này để giúp con mình tránh thai.

Phương pháp 1: Áp dụng các biện pháp tránh thai

1. Sử dụng bao cao su như một biện pháp tránh thai rẻ tiền mà hiệu quả

 Bao cao su là một trong những lựa chọn dễ dàng nhất để tránh thai. Bao cao su có thể bảo quản được lâu nhưng cũng có ngày hết hạn. Bạn cần kiểm tra thời hạn sử dụng trước khi dùng.

Bạn có thể mua bao cao su ở hiệu thuốc, hoặc chúng có thể được phát miễn phí ở nhiều trường học và trung tâm chăm sóc sức khỏe.

Cả bạn và bạn tình đều phải thoải mái khi mang bao cao su.

Thử dùng bao cao su dành cho nữ. Loại bao cao su này sẽ được đặt vào âm đạo để tránh mang thai. Bạn hãy làm theo hướng dẫn trên bao bì.

Một lợi ích đi kèm: Cả hai loại bao cao su dành cho nam và nữ còn có tác dụng ngăn ngừa các bệnh lây qua đường tình dục!

2. Uống thuốc tránh thai

Thuốc tránh thai uống còn được gọi là “viên uống tránh thai”. Bạn cần phải được bác sĩ kê toa khi sử dụng phương pháp này. Các hoóc môn trong viên thuốc có tác dụng ngăn rụng trứng, có nghĩa là sẽ không có trứng nào được thụ tinh. Viên uống tránh thai có hiệu quả tránh thai đến 91%, nhưng không có tác dụng ngăn ngừa các bệnh lây qua đường tình dục

Trao đổi với bác sĩ về các tác dụng phụ có thể xảy ra như tăng cân hoặc chảy máu giữa các kỳ kinh nguyệt. Bạn cũng có thể trải qua tâm trạng thất thường và trầm cảm.

Thuốc tránh thai sẽ có hiệu quả nhất nếu bạn uống mỗi ngày vào cùng một thời gian nhất định. Bạn có thể cài đặt lời nhắc trên điện thoại để nhớ uống thuốc.

3. Thử dùng vòng tránh thai như một biện pháp lâu dài

Đây là một dụng cụ nhỏ được cấy vào tử cung để ngăn ngừa thụ thai. Với hiệu quả lên đến 99%, vòng tránh thai là một trong những phương pháp tránh thai đáng tin cậy nhất. Chuyên viên y tế sẽ đặt vòng tránh thai cho bạn. Vòng tránh thai có thể lấy ra bất kỳ lúc nào, nhưng bạn có thể đặt trong tử cung với tác dụng đến 12 năm.

Có hai loại vòng tránh thai khác nhau: loại chứa đồng và loại chứa hoóc môn. Bạn hãy hỏi bác sĩ xem loại nào thích hợp với bạn.

Một trong những ưu điểm của vòng tránh thai chứa đồng là chúng có thể dùng như một biện pháp tránh thai khẩn cấp. Nếu được đặt trong vòng 5 ngày sau khi giao hợp, vòng tránh thai chứa đồng có thể ngăn ngừa thụ thai.

Các tác dụng phụ bao gồm kinh nguyệt không đều và đau bụng khi có kinh, nhưng tình trạng này thường sẽ khỏi sau 3 đến 6 tháng.

4. Cân nhắc sử dụng que cấy tránh thai

 Có nhiều phương pháp tránh thai bằng hoóc môn, một trong số đó là cấy que tránh thai. Chuyên viên y tế sẽ đặt chiếc que nhỏ này vào cánh tay của bạn, và nó sẽ giúp bạn ngừa thai đến 4 năm.

Que cấy tránh thai có hiệu quả ngăn ngừa thụ thai đến 99%, nhưng không có tác dụng phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Phương pháp này hay ở chỗ là bạn không phải lo lắng về cách sử dụng. Bạn không sợ mình quên dùng hoặc dùng không đúng cách!

5.  Thử sử dụng miếng dán tránh thai như một phương pháp tránh thai dễ dàng

Bạn có thể hỏi bác sĩ về miếng dán tránh thai. Miếng dán tránh thai sẽ được dán lên cánh tay, bụng, lưng hoặc mông, và mỗi tuần thay một miếng dán mới. Sau mỗi ba tuần, bạn sẽ nghỉ một tuần không dán trước khi tiếp tục dán miếng mới.

Miếng dán tránh thai có hiệu quả 91% nhưng không ngăn ngừa được các bệnh lây qua đường tình dục.

6. Tiêm thuốc tránh thai nếu bạn muốn khỏi phải lo dùng thuốc tránh thai hàng ngày

Tiêm thuốc tránh thai có thể là một lựa chọn tốt nếu bạn không muốn phải nhớ thay miếng dán hoặc uống thuốc tránh thai. Cách 3 tháng một lần, bác sĩ sẽ tiêm cho bạn một mũi thuốc ngăn rụng trứng để tránh thụ thai.

Thuốc tiêm tránh thai có hiệu quả đến 94%, nhưng không bảo vệ bạn khỏi các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Hiện nay, hầu hết các trạm y tế đều có những phòng kế hoạch hóa gia đình cung cấp dịch vụ tiêm thuốc tránh thai. Bạn có thể đến tiêm mà không mất tiền thuốc.

7.Tìm hiểu thuốc tránh thai khẩn cấp

 Bạn cũng có thể tránh mang thai bằng thuốc tránh thai khẩn cấp. Nếu trên 15 tuổi, bạn có thể mua thuốc ở hiệu thuốc mà không cần toa bác sĩ. Bạn sẽ phải trình giấy tờ để chứng minh tuổi của mình, chẳng hạn như thẻ căn cước hoặc bằng lái xe.

Đây không phải là phương pháp tránh thai thường xuyên. Bạn vẫn nên chọn phương pháp khác để tránh thai thường xuyên.

8.Cân nhắc kiêng quan hệ tình dục như một cách tránh thai an toàn nhất

 Cách tốt nhất để phòng tránh mang thai là kiêng quan hệ tình dục, tức là không giao hợp. Một số người cho rằng kiêng quan hệ tình dục cũng bao gồm cả quan hệ bằng miệng, mặc dù thực ra quan hệ bằng miệng không dẫn đến mang thai. Tuy nhiên, bạn sẽ phòng tránh được các bệnh lây qua đường tình dục nếu không quan hệ tình dục với bất kỳ hình thức nào.

Phương pháp 2: Nắm bắt thông tin

1.  Đến gặp bác sĩ

 Ngoài việc áp dụng các biện pháp tránh thai, bạn còn có thể tránh mang thai ở tuổi vị thành niên bằng cách tìm hiểu càng nhiều càng tốt về tình dục an toàn. Bác sĩ là một nguồn tuyệt vời để bạn bắt đầu tìm thông tin. Nếu đang suy nghĩ đến việc bắt đầu quan hệ thể xác, bạn hãy hỏi bác sĩ về phương pháp phòng tránh thai nào thích hợp nhất cho bạn và bạn tình.

Bạn có thể hỏi những câu như, “Theo bác sĩ thì phương pháp nào là tốt nhất để tránh mang thai ạ?” và “Em phải làm gì để phòng chống các bệnh lây qua đường tình dục?”

Bạn phải hoàn toàn trung thực với bác sĩ về chuyện quan hệ tình dục của mình. Bác sĩ sẽ không phán xét bạn.

Các bạn gái có thể đến bác sĩ sản phụ khoa để được tư vấn chuyên sâu hơn.

2. Hiểu về những câu chuyện truyền miệng

Có thể bạn đã từng nghe những câu chuyện rỉ tai về tình dục. Bạn hãy tự tìm hiểu để biết điều gì là đúng và điều gì là không đúng. Nếu bạn nghe được câu chuyện đồn đại nào, hãy hỏi bác sĩ xem đó có phải là thật không.

Một số quan niệm phổ biến cho rằng bạn sẽ không mang thai nếu giao hợp trong ngày “đèn đỏ” hoặc trong lần đầu “yêu nhau”. Những chuyện đó là không đúng!

3 Tìm đọc những nguồn đáng tin cậy

Bạn hãy tìm thông tin từ các tổ chức có uy tín như trung tâm kế hoạch hóa gia đình hoặc bộ phận chăm sóc sức khỏe ở trường học hoặc nơi làm việc. Bạn có thể biết thông tin nào là đáng tin cậy bằng cách xem xét nguồn của chúng (chẳng hạn như trên các tạp chí y học) và tác giả là người có chuyên môn, chẳng hạn như bác sĩ hoặc y sĩ.

Đến thư viện của trường học hoặc địa phương. Bạn có thể nhờ thủ thư tìm giúp các nguồn thông tin về tình dục an toàn.

4 Trò chuyện với bạn tình

 Nếu đang quan hệ tình dục hay đang suy nghĩ đến việc đó, bạn cần phải có sự giao tiếp lành mạnh với bạn tình. Nói chuyện với nhau về các hình thức tránh thai bạn sẽ áp dụng và các bạn sẽ làm gì nếu nhỡ mang thai. Đảm bảo cả hai đều cởi mở và trung thực với nhau. Đừng sợ lên tiếng nếu bạn có bất cứ e ngại nào.

Nhớ rằng thân thể của bạn là do bạn quyết định. Đừng để cho bất cứ ai ép buộc bạn phải quan hệ tình dục.

Phương pháp3: Giúp con cái tuổi vị thành niên tránh mang thai

1. Xem xét các giá trị và thái độ của bạn về tình dục

3 Trả lời trung thực

Để những cuộc trò chuyện có hiệu quả, bạn cần phải trung thực. Điều này không có nghĩa là bạn phải tiết lộ hết chuyện tình dục của mình cho con biết mà chỉ cần chuẩn bị trả lời những câu hỏi như, “Mẹ có chờ cho đến khi cưới mới quan hệ không?” Trả lời trung thực cũng đồng nghĩa là bạn đang cung cấp những thông tin hữu ích để giúp con bạn có những lựa chọn đúng đắn.

4 Chú trọng vào việc giáo dục

Trẻ vị thành niên có thể không thấy thoải mái khi nói chuyện với cha mẹ về tình dục. Điều đó là bình thường! Chỉ cần bạn khuyến khích con tìm hiểu về tình dục an toàn. Nếu ở trường có mở các lớp giáo dục giới tính, bạn hãy khuyên trẻ tham gia. Nếu trong trường học không có, bạn có thể tìm ở các trung tâm cộng đồng hoặc bệnh viện, những nơi có thể mở các lớp học như vậy trong cộng đồng.

Có thể bạn cũng cần thu thập thêm thông tin. Bạn cần nắm được thông tin khi trả lời các câu hỏi của con. Hãy vào xem các trang web của tổ chức kế hoạch hóa gia đình hoặc hỏi bác sĩ về các tài liệu hiện hành. Và đừng ngần ngại đến thư viện!

5 Theo dõi các mối quan hệ của con

 Để ý xem con bạn đang có tình cảm với ai. Nếu chúng hẹn hò, bạn hãy bảo con giới thiệu người yêu với gia đình.  Nếu có bất cứ lo ngại nào về chuyện yêu đương của con, bạn hãy nói chuyện với chúng.

Cố gắng đừng phán xét. Bạn cần phải làm sao cho con bạn không xấu hổ khi nói chuyện với bạn.

Lời khuyên

        Đừng e ngại khi nói chuyện về tình dục.

        Dành thời gian tìm ra biện pháp tránh thai tốt nhất.

        Nhớ hỏi nếu bạn không biết chắc về điều gì đó.

Anh Phương (TH)

Phụ Nữ Bị Bệnh Thận Tiểu Đường Có Thể Mang Thai Không? / 2023

1. Tần suất phụ nữ mang thai khi bị bệnh thận tiểu đường

Không có số liệu thống kê rõ ràng ở Nhật Bản về tần suất phụ nữ mang thai mắc bệnh thận tiểu đường. Theo báo cáo của Trung tâm Tiểu đường Đại học Y khoa Tokyo, số bệnh nhân mắc bệnh thận giai đoạn 3 trong số những thai phụ mắc bệnh tiểu đường đã trải qua điều trị và quản lý y tế trong suốt 14 năm từ 1997~2011 là 7 trường hợp trong số 397 trường hợp bệnh tiểu đường tuýp 1, 3 trường hợp trong số 374 trường hợp bệnh tiểu đường tuýp 2, tần suất tương ứng là 1,8% và 0,8%.

Theo một báo cáo từ Phần Lan, tần suất các bệnh nhân mắc bệnh thận giai đoạn 3 ở phụ nữ mang thai mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 là 14,7% từ năm 1988~1999, nhưng tần suất này giảm đáng kể so với khảo sát cũ là 6,5% từ năm 2000~2011. Có thể nói rằng số lượng phụ nữ mang thai mắc bệnh thận đang giảm dần theo tiến bộ trong điều trị bệnh tiểu đường.

Theo báo cáo từ Đan Mạch, trong số 665 phụ nữ mang thai khi đã bị bệnh tiểu đường trong giai đoạn 2007~2012, tỷ lệ phụ nữ có bệnh thận tiểu đường chiếm 2,3% thai phụ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 và 2,5% thai phụ mắc bệnh tiểu đường tuýp 1; tỷ lệ phụ nữ bị microalbumin niệu là 4,5% ở bệnh tiểu đường tuýp 2 và 3,4% ở bệnh tiểu đường tuýp 1, không có sự khác biệt đáng kể giữa các loại bệnh tiểu đường.

Với tình trạng già hóa của tuổi sinh sản và sự gia tăng của bệnh nhân tiểu đường, tần suất phụ nữ mang thai khi bị bệnh thận sẽ càng gia tăng trong tương lai.

2. Biến chứng chu sinh do mang thai khi bị bệnh thận tiểu đường

– Biến chứng ở người mẹ

Các biến chứng thường gặp nhất ở người mẹ là tăng huyết áp, tiền sản giật (pre-eclampsia) và tăng nguy cơ sinh mổ. Ngoài ra, khi tình trạng tăng huyết áp và protein niệu xuất hiện từ trước khi mang thai hoặc cho đến khi thai nhi chuyển biến xấu sau 20 tuần, thai phụ sẽ được coi là mắc bệnh thận tăng huyết áp thai kỳ. Trong trường hợp thai phụ bị bệnh thận giai đoạn 3 từ trước khi mang thai, cần phải chú ý vì tình trạng bệnh có thể chuyển biến xấu.

+ Tăng huyết áp

Theo nghiên cứu, tỷ lệ uống thuốc hạ huyết áp ở phụ nữ mang thai bị tiểu đường tuýp 1 kèm theo bệnh thận tiểu đường từ năm 1988~1999 là 34% trước khi mang thai, 25% ở giữa thai kỳ, 36% ở giai đoạn cuối thai kỳ; từ năm 2000~2011, tỷ lệ này tăng lên là 65% trước khi mang thai, 47% ở giữa thai kỳ, 60% ở giai đoạn cuối thai kỳ. Tuy nhiên, tần suất giá trị huyết áp tăng vượt quá 130/80 mmHg là 61% ở giai đoạn đầu thai kỳ và 93% ở giai đoạn sau, điều này dẫn đến việc khó kiểm soát huyết áp ở giai đoạn sau thai kỳ. Thông thường, ở thai phụ mắc hội chứng tăng huyết áp thai kỳ, huyết áp thường tăng sau 20 tuần mang thai. Ngoài ra, có báo cáo chỉ ra rằng ở thai phụ mắc bệnh thận mãn tính (CKD) bao gồm cả bệnh thận tiểu đường, nếu chỉ số creatinine huyết thanh là 1,3 mg/ dL trở lên thì tần suất tăng huyết áp sẽ cao hơn.

Theo kết quả nghiên cứu, phụ nữ mang thai mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 kèm bệnh thận tiểu đường có tần suất bị bệnh thận tăng huyết áp thai kỳ (tiền sản giật) cao là 42%. Ở Nhật Bản, bệnh thận tăng huyết áp khi mang thai được coi là nghiêm trọng khi protein niệu vượt quá 2g/ ngày.

+ Mổ lấy thai

Ở thai phụ bị bệnh tiểu đường tuýp 1 với bệnh thận tiểu đường, tỷ lệ mổ lấy thai có kế hoạch là 45%, mổ lấy thai khẩn cấp là 48% và tỷ lệ sinh tự nhiên là cực kỳ nhỏ. Tỷ lệ mổ lấy thai ở phụ nữ mang thai có microalbumin niệu sẽ thay đổi tùy theo cơ sở y tế trong phạm vi là từ 0~20%.

– Biến chứng ở trẻ

Về các biến chứng ở trẻ, từ ảnh hưởng của thai phụ bị bệnh tiểu đường tuýp 1 với bệnh thận tiểu đường, tần suất trẻ sinh non trước 32 tuần thai là 21% và trước 37 tuần thai là 77%. Trái ngược với những đứa trẻ khổng lồ từ thai phụ bị tiểu đường từ trước khi mang thai và thai phụ bị tiểu đường thai kỳ, trẻ từ thai phụ bị bệnh thận tiểu đường thường gặp tình trạng thai nhỏ hơn so với tuổi thai (SGA). Cũng có báo cáo rằng nhiều phụ nữ mang thai bị CKD có chức năng thận bị tổn thương sớm và dẫn đến sinh non và trẻ nhẹ cân. Tử vong thai nhi và thai chết lưu cũng có tần suất xảy ra ở mức cao khoảng 5~10%.

3. Quản lý phụ nữ mang thai khi bị bệnh thận tiểu đường

– Chuyển sang điều trị bằng insulin sớm hơn

Trong việc kiểm soát đường huyết, phụ nữ sẽ được chỉ định phương pháp điều trị bằng insulin nếu muốn con, nhưng trong trường hợp mắc bệnh thận, có những chống chỉ định ban đầu được đưa ra tùy thuộc vào chức năng thận và chú ý về thuốc uống hạ đường huyết, vì vậy thai phụ có thể chuyển sang sử dụng insulin sớm.

Bên cạnh đó, sẽ tốt hơn nếu phụ nữ có thể tự đo đường huyết cùng với điều trị bằng insulin trước khi mang thai và biết làm thế nào để đối phó với hạ đường huyết.

Do đó trong trường hợp phụ nữ muốn mang thai hoặc đã được chẩn đoán mang thai, nên ngừng sử dụng ngay hai loại thuốc này và chuyển sang loại thuốc hạ huyết áp có thể sử dụng trong thai kỳ như methyldopa, hydralazine, labetalol…Ảnh hưởng của việc dùng thuốc ACE và ARB đến thai phụ, thai nhi như dị tật, tăng giảm nước ối, sinh non, suy thận ở trẻ sơ sinh…đã được báo cáo xuất hiện 28 trường hợp trong giai đoạn từ năm 2011~2013 và đến năm 2014, Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi xã hội Nhật Bản đã một lần nữ công bố cầm sử dụng hai loại thuốc này với phụ nữ mang thai. Thường rất khó để kiểm soát huyết áp ở giai đoạn sau thai kỳ, nhiều trường hợp thai phụ sử dụng kết hợp nifedipine sau 20 tuần mang thai. Thuốc đối kháng canxi khác với nifedipine không được khuyến cáo sử dụng vì chưa có đủ bằng chứng về hiệu quả. Gần đây, đã có báo cáo rằng các biến chứng chu sinh sẽ được ngăn chặn bằng cách sử dụng thuốc hạ huyết áp thích hợp từ giai đoạn đầu mang thai.

– Chú ý trong ăn uống

Có rất ít bằng chứng về việc hạn chế protein đối với phụ nữ mang thai khi bị bệnh thận tiểu đường. Theo kết quả của thử nghiệm chế độ ăn ít protein cho phụ nữ mang thai có CKD giai đoạn 3~5 CKD hoặc có protein niệu 1g/ ngày hoặc nhiều hơn, chức năng tần suất trẻ em SGA có thể giảm. Là một chế độ ăn kiêng cho hội chứng tăng huyết áp thai kỳ, thai phụ nên hạn chế muối 7~8 g/ngày và lượng protein là cân nặng cơ thể lý tưởng × 1,0 g/ngày.

4. Tiên lượng của bệnh thận tiểu đường khi mang thai và sau khi mang thai

Theo Đại học Y khoa Tokyo, về tiên lượng dài hạn sau khi sinh, ở những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 có eGFR dưới 60, suy thận ở giai đoạn cuối sẽ xảy ra từ 1~10 năm sau khi sinh, nhưng trong trường hợp có eGFR 60 trở lên, không thấy suy giảm chức năng thận và giảm albumin niệu. Giáo sư Rossing và cộng sự so sánh sự chuyển đổi chức năng thận trong khoảng 20 năm với 67 phụ nữ không mang thai và 26 phụ nữ mang thai mắc bệnh tiểu đường tuýp 1. Độ dốc 1/creatinine gần như giống nhau ở nhóm mang thai và nhóm không mang thai, nguy cơ suy thận giai đoạn cuối, tử vong cũng không trầm trọng hơn khi mang thai. Tuy nhiên đây là nghiên cứu từ năm 2002 và có 45% cả hai nhóm sử dụng thuốc ACE.

Khi phụ nữ mắc bệnh tiểu đường kèm theo biến chứng thận tiểu đường có mong muốn mang thai, các bác sĩ khuyến cáo người bệnh nên mang thai khi ở giai đoạn 1 hoặc giai đoạn 2 của bệnh thận tiểu đường. Những người phụ nữ tiểu đường mang thai khi bị bệnh thận nguy cấp sẽ xảy ra nhiều biến chứng chu sinh như tăng huyết áp của mẹ, sinh non, mổ lấy thai, small-for gestational age (trẻ SGA)…cực kỳ nguy hiểm tới mẹ và bé. Những phụ nữ trẻ nên điều trị tiểu đường liên tục từ giai đoạn đầu của bệnh, ngăn ngừa sự phát triển của bệnh thận và lên kế hoạch mang thai với sự tư vấn của bác sĩ có chuyên môn. Vì thế, đối với phụ nữ mắc bệnh tiểu đường, mang thai có kế hoạch là vô cùng quan trọng để ngăn ngừa các biến chứng chu sinh.

Bạn đang xem bài viết: ” Phụ nữ bị bệnh thận tiểu đường có thể mang thai không?” tại chuyên mục Tiểu đường thai kỳ.

https://kienthuctieuduong.vn

Gợi ý – tìm hiểu chi tiết:

Bạn đang xem bài viết Bệnh Zika Ở Phụ Nữ Có Thai: Những Điều Cần Biết / 2023 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!