Xem Nhiều 1/2023 #️ Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Việt (Giai Đoạn Vần) # Top 5 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Việt (Giai Đoạn Vần) # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Việt (Giai Đoạn Vần) mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: – Môn Tiếng Việt là môn có tầm quan trọng bậc nhất trong các môn học, có đọc thông, viết thạo, hiểu được nội dung văn bản thì mới nắm được thông tin, giải quyết những vấn đề mà văn bản nêu ra. Nghĩa là, học tốt môn Tiếng Việt thì mới có thể học tốt môn học khác. – Yêu cầu các em khi học xong lớp Một là phải đọc thông, viết thạo được hết các âm, vần, tiếng, từ, câu mà các em đã học (ở môn Tiếng Việt). Do đó, giai đoạn học âm và vần là nền tảng quan trọng trong việc học tập và tiếp thu những kiến thức cơ bản về sau. Nếu giai đoạn học vần các em chưa nắm vững thì sẽ dẫn đến sự tiếp thu khó khăn ở giai đoạn tập đọc. – Dạy tiếng Việt cho học sinh lớp Một không thể nào không chú trọng đến giai đoạn vần, có nắm được hết vần thì các em mới đọc được tiếng nếu mất căn bản từ giai đoạn này các em sẽ không ghép vần được, không đọc được tiếng hoặc ghép rất chậm, dẫn đến khó khăn cho việc học tập môn Tiếng Việt nói riêng và các môn học khác nói chung . Chính vì thế chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt (giai đoạn vần)” ở khối 1, trường Tiểu học Nguyễn Viết Xuân năm học 2010 – 2011. II- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: – Ý thức học tập của học sinh khối 1 đối với môn Tiếng Việt. – Ý thức của giáo viên về tầm quan trọng của môn Tiếng Việt. – Sự quan tâm của phụ huynh học sinh đối với việc học của con em mình. – Sự giúp đỡ của ban giám hiệu đối với môn Tiếng Việt. – Cơ sở vật chất: + Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học trong nhà trường. + Đồ dùng học tập của học sinh. – Biện pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt (giai đoạn vần). III- PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI: Về không gian: Biện pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt (giai đoạn vần) ở khối 1, trường Tiểu học Nguyễn Viết Xuân. 2. Về thời gian: – Trong năm học 2010 – 2011, chúng tôi chia quá trình nghiên cứu ra làm 3 giai đoạn. + Từ đầu năm – giữa học kì I: điều tra, khảo sát thực trạng của học sinh. + Từ giữa học kì I – cuối học kì I: lập đề cương, đưa ra giải pháp, vận dụng thực tế, chỉnh sửa bản nháp. + Từ cuối học kì I – giữa học kì II: thống kê, so sánh, đối chiếu kết quả, hoàn chỉnh đề tài. + Từ giữa học kì II – cuối học kì II: tiếp tục vận dụng đề tài. IV- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU : Khi đi sâu vào nghiên cứu chúng tôi lựa chọn, vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp, nhiều hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực chủ động của học sinh. 1-Phương pháp đọc tài liệu: – Phương pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học (PTS Lê Phương Nga- Đỗ Xuân Thảo- Lê Hữu Tĩnh). – Để có một giờ dạy học nhẹ nhàng hơn, tự nhiên hơn, chất lượng hơn và hiệu quả hơn (Nguyễn Hữu Du- Sở GD&ĐT Vũng Tàu). – Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới (TS Nguyễn Trí). – Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy sách giáo khoa lớp Một chương trình Tiểu học mới (Đặng Huỳnh Mai). – Các tài liệu bồi dưỡng của dự án PEDC, hướng dẫn giáo viên về tăng cường Tiếng Việt. – Chỉ thị 40/2008/CT-BGD&ĐT ngày 22 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường học phổ thông giai đoạn 2008- 2013. – Thông tư 32/TT- BGD&ĐT về việc hướng dẫn đánh giá, xếp loại học sinh Tiểu học. – Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học lớp 1. – Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở tiểu học. – Phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực. – Tài liệu dạy học hòa nhập lấy HS làm trung tâm. – Tài liệu một số kĩ năng dạy học đặc thù trong lớp học hòa nhập. – Chuyên đề GDTH tập 42, 43, 44. – Tạp chí giáo dục Tiểu học của Bộ GD&ĐT. – Tài liệu về trò chơi học tập môn Tiếng Việt. – Tài liệu hướng dẫn tự làm đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt. * Qua các tài liệu trên chúng tôi tham khảo và vận dụng vào việc làm đề tài. 2-Phương pháp điều tra 2.1-Phương pháp đàm thoại: + Với phụ huynh học sinh mỗi giai đoạn 1 lần: 5 lần/ năm (đầu năm, giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II, cuối học kì II.) + Họp tổ chuyên môn: 2lần/ tháng. + Ban giám hiệu 1 tháng/ 1 lần. + Với học sinh trong các tiết dạy và trong các tiết hoạt động tập thể. 2.2-Phương pháp dự giờ, thăm lớp : + Dự giờ minh họa chuyên đề. + Dự giờ đồng nghiệp: 2 tiết / 1 tháng. + Thao giảng: 1 tiết/ tháng. + Giáo án điện tử 1 tiết / HK. + Khối trưởng chịu trách nhiệm tổ chức hội thảo các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra việc thực hiện của giáo viên trong tổ để có sự điều chỉnh kịp thời. 2.3- So sánh, đối chiếu kết quả: + Giáo viên điều tra kết quả đầu năm, phân loại học sinh để có biện pháp dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh. + So sánh kết quả qua từng giai đoạn: đầu năm, giữa học kỳ I, cuối học kỳ I, giữa học kỳ II, cuối học kỳ II (5 lần/ 1 năm). 3- Các phương pháp khác: – Những phương pháp đặc biệt chú ý khi giảng dạy Tiếng Việt Một: miêu tả, hỏi đáp, quan sát, sử dụng đồ dùng trực quan, rèn luyện theo mẫu thực hành giao tiếp, trò chơi, nêu vấn đề. Tất cả các phương pháp trên sẽ giúp chúng tôi có một giải pháp mới, có một cái nhìn mới trong việc giảng dạy môn Tiếng Việt (giai đoạn vần) ở lớp Một. B-NỘI DUNG: I- CƠ SỞ LÝ LUẬN: – Đối với học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp Một nói riêng, các kĩ năng “nghe, nói, đọc, viết” là những kĩ năng quan trọng hàng đầu. Như chúng ta đã biết: Đọc, viết là một dạng ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó. – Đọc, viết trở thành một yêu cầu cơ bản đầu tiên đối với những người đi học. Trước tiên, trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học. – Đọc, viết là công cụ để học các môn học khác. Nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập, tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học, nó là kĩ năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh. Nếu đọc yếu (đọc sai chữ, tốc độ chậm) sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của học sinh. – Dạy tiếng Việt tức là dạy tiếng mẹ đẻ cho học sinh mà tiếng mẹ đẻ có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống mỗi con người, đó là công cụ để giao tiếp và tư duy. Lớp Một là lớp đầu cấp, mà giai đoạn học âm và vần lại là giai đoạn đầu tiên học sinh được làm quen ở môn Tiếng Việt, ở giai đoạn học vần học sinh được tiếp xúc một cách tỉ mỉ với từng con chữ để biết đọc, biết viết tiếng mẹ đẻ giúp các em học tốt môn Tiếng Việt. Vì thế, trẻ học tiếng Việt chính là học kĩ năng nghe – nói – đọc – viết tiếng mẹ đẻ, từ những lý luận nêu trên có thể khẳng định rằng giai đoạn học vần là giai đoạn quan trọng trong suốt quá trình học tiếng Việt của học sinh sau này. II- CƠ SỞ THỰC TIỄN: – Học sinh nắm được cấu tạo vần dẫn đến các em học tốt ở giai đoạn tập đọc. – Ở lớp Một rất quan trọng trong việc hình thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh trong từng tiết học. – Năm học 2010 – 2011 chúng tôi được giao nhiệm vụ dạy lớp 1 (2 buổi/ngày) với tổng số học sinh là: 203/ 101 nữ, trong đó: Mẫu giáo chính quy: 154/79 Chưa qua mẫu giáo: 42/ 20 Lưu ban: 7/ 2 Hầu hết các em là con em gia đình làm nông, làm thuê nên phụ huynh ít có thời gian quan tâm đến việc học của con em mình. Thông qua việc giảng dạy và kiểm tra thường xuyên với từng học sinh từ đầu năm (sau 2 tuần thực dạy) chúng tôi đã nắm được thực trạng chung về chất lượng của các em như sau: TSHS Giỏi Khá Trung bình Yếu 203 SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% 40 19,7 58 28,6 65 32,0 40 19,7 Kết quả trên cho thấy là lớp 2 buổi/ngày mà tỉ lệ học sinh yếu còn nhiều. Nếu thực trạng này kéo dài sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng không những cho môn Tiếng Việt mà còn ảnh hưởng đến các môn học khác. Kết quả đó là một sự khó khăn và trăn trở cho chúng tôi. Vì thế, chúng tôi đã tìm ra một số nguyên nhân của thực trạng đó là: 1.Về học sinh: – Do các em đã quen với môi trường ở lớp mẫu giáo chơi nhiều hơn học và hôm nay đã sang với môi trường mới (lớp Một) học nhiều hơn chơi cho nên các em còn quá bỡ ngỡ khi đến lớp, đến trường. – Sự phát triển nhận thức của học sinh cùng lứa tuổi không đồng đều, việc lĩnh hội kiến thức thiếu vững chắc. – Sự tập trung chú ý chưa cao, tư duy chưa phát triển. – Đa số học sinh còn thụ động, nhút nhát, khó nhớ, mau quên. – Chưa nắm được quy tắc đánh vần, một số em đánh vần chưa đúng quy tắc do phụ huynh dạy trước ở nhà. – Nhận thức học tập của các em còn nhiều hạn chế. – Phần đông gia đình học sinh là dân ở nhiều nơi tập trung về sinh sống, do đó, cách phát âm ở các em có nhiều sai sót, lẫn lộn như: phát âm chưa rõ, thói quen nói theo tiếng địa phương. – Học sinh thường phát âm sai các vần dễ lẫn lộn. Ví dụ: ưi/ ươi, ai/ ay, ao/ au, ăc/ ăt, ui/ iu, ăn/ ăng, an/ anh, ơi/ ưi – Bên cạnh đó, một số em chưa có ý thức học tập, không tập trung trong giờ học dẫn đến không nắm chắc hết các vần sau khi kết thúc giai đoạn vần. 2. Về giáo viên: – Chưa có trách nhiệm đối với việc rèn nền nếp học cho học sinh. – Chưa đi sâu vào cách tổ chức lớp học như thế nào cho sinh động để gây hứng thú và tính tích cực trong học tập của học sinh. – Chưa phát hiện kịp thời học sinh yếu để kèm cặp. – Dạy theo lối áp đặt và chạy theo thời gian, không dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của học sinh. 3. Về phụ huynh: – Do địa bàn ở đây là biên giới, dân cư số đông là Việt kiều Campuchia về, mặt bằng dân trí không đồng đều, đời sống vật chất gặp nhiều khó khăn, nhận thức còn hạn chế, có nhiều phụ huynh chưa quan tâm đến việc học tập của con em mình, còn giao phó cho giáo viên vì cho rằng “việc học ở trường là đủ” không cần phải bận tâm kể cả những buổi nghỉ thứ bảy, chủ nhật, hoặc có quan tâm thì dạy con chưa đúng quy tắc đánh vần. Từ những ý thức sai lầm ấy đã dẫn đến chất lượng học tập của con em mình chưa cao. 4. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học: III- NỘI DUNG VẤN ĐỀ: * Phân công thành viên trong tổ: – Mỗi giáo viên chủ nhiệm chịu trách nh … – Phân loại đối tượng HS từ đó có phương pháp phù hợp với từng đối tượng HS. – Vận dụng các phương pháp / kĩ thuật dạy học vào tiết học một cách hiệu quả. – Xây dựng nề nếp học tập, sử dụng hiệu quả 15 phút truy bài đầu giờ. + Kẻ bảng con, kẻ bảng lớp, khăn ẩm. + Sắp xếp ngăn nắp đồ dùng học tập. + Thực hiện các kí hiệu lấy đồ dùng dạy học. + Xây dựng góc ngôn ngữ. + Xây dựng đôi bạn cùng tiến; sắp xếp chỗ ngồi hợp lí. – Mỗi tháng hợp 2 lần gv đưa ra các giải pháp mới để rút kinh nghiệm triển khai toàn khối thực hiện các giải pháp, phương pháp rút kinh nghiệm kịp thời. – Tăng cường làm đồ dùng dạy học. – Tham mưu với BGH để có sự chỉ đạo kịp thời. 1. Với giáo viên: – Khi dạy lớp Một người giáo viên cần chú ý coi trọng quan điểm dạy học, phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh, làm cho học sinh được đọc nhiều, viết nhiều. – Nội dung, phương pháp giảng dạy của giáo viên phải phù hợp với từng đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu. – Mặt khác giáo viên cần tăng cường những lời khen để động viên, khuyến khích các em nhằm tạo hứng thú học tập tốt cho các em. – Giáo viên phải chịu khó quan tâm đến từng cá nhân học sinh đặc biệt là học sinh yếu kém, đọc mẫu, viết mẫu đúng hướng dẫn. – Khi lên lớp giáo viên phải cố gắng khắc phục khó khăn để có đồ dùng trực quan, tranh ảnh, vật thật phục vụ cho bài dạy. Ví dụ: Những đồ dùng trực quan đơn giản: + Cái chổi dạy vần ôi. + Ngôi sao dạy vần ao. + Quả cam dạy vần am. + Cái bàn dạy vần an. + Cuộn len dạy vần en. + Cái bảng dạy vần ang. + Quả chanh dạy vần anh. + Cuốn sách dạy vần ach. + Thước kẻ dạy vần ươc. + Hộp sữa dạy vần ôp. + Tờ lịch dạy vần ich. – Trong giờ học, giáo viên phải đặc biệt chú ý cho học sinh sử dụng thật nhiều bộ chữ cái ghép tiếng Việt, giáo viên cần nghiên cứu, suy nghĩ để có thể phát huy tác dụng của bộ chữ ghép. Cần hướng dẫn tốt cho học sinh thực hành, luyện tập cá nhân ghép vần, ghép tiếng, hoặc tổ chức trò chơi, để học sinh được “học mà chơi, chơi mà học”. Ví dụ: Cho học sinh tìm vật có tên chứa vần vừa học trong số những vật mà giáo viên đã chuẩn bị để trên bàn, điều này góp phần không nhỏ trong việc gây hứng thú cho học sinh. – Ở mỗi tiết dạy Tiếng Việt (học vần) giáo viên cần nắm được những vần mà học sinh chưa nhớ, giáo viên ghi những vần đó vào bảng phụ để rèn học sinh vào 15 phút đầu giờ và các tiết buổi chiều để thuận lợi cho giáo viên kiểm tra học sinh yếu hằng ngày. – Việc tổ chức lớp học, tổ chức luyện tập, củng cố có thể thực hiện linh hoạt bằng nhiều hình thức khác nhau, cá nhân, nhóm đôi, nhóm bốn, tổ, cả lớp – Vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp, nhiều hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh là: miêu tả, giảng giải, hỏi đáp, sử dụng đồ dùng trực quan, rèn luyện theo mẫu, trò chơi. – Trong tiết dạy, khi giáo viên hướng dẫn học sinh đọc, giáo viên phải là người phát âm chuẩn xác. Ví dụ: ở bài học vần ong + Giáo viên phải đọc mẫu thật chuẩn. + Khi dạy, giáo viên cho học sinh ghép vần mới ở bộ chữ o ghép với n và g được vần ong. + Cho học sinh phân tích: o-ng-ong, đánh vần o ngờ ong. + Khi ghép tiếng mới học sinh chỉ thay phụ âm đầu để ghép, vần giữ nguyên, lúc này giáo viên đến giúp đỡ học sinh yếu, có thể gợi ý cho học sinh lấy âm đầu đã học để ghép với vần mới và nhẩm đánh vần thành tiếng mới. + Gọi học sinh đọc cá nhân. – Như vậy, giáo viên phải rèn cho học sinh yếu nắm được tất cả các âm, vần, trong lúc học giáo viên có thể ôn cho học sinh nhớ lại các âm, vần đã học. – Khi dạy vần mới, dạy theo nội dung sách giáo khoa, dạy đánh vần vần mới, hướng dẫn ghép âm, vần thành tiếng mới. – Hướng dẫn học sinh đọc từ ngữ, câu ứng dụng làm quen với cách đọc từ, cụm từ,câu ngắn, hướng dẫn học sinh viết vần mới vào bảng con. Cho học sinh luyện tập bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. – Ở giai đoạn âm giáo viên dạy cho học sinh nắm chắc tất cả các âm đã học (đọc được, viết được, ghép được tiếng). – Ở giai đoạn vần, đặc biệt là trong tiết học mới, giáo viên cần dạy cho học sinh cơ chế đánh vần đúng và chuẩn xác. Nếu học sinh chưa phát âm chuẩn ta so sánh để học sinh đọc đúng hơn. Vì vậy, giáo viên cần tìm tòi suy nghĩ dạy cho học sinh cách phát âm chuẩn để các em phát âm đúng và viết đúng chính tả ở môn Tiếng Việt và các môn học khác. Trao đổi kĩ với phụ huynh cơ chế đánh vần, tiếng. Ví dụ: đánh vần “ôi”: ô-i-ôi. Đánh vần tiếng “chổi”: chờ-ôi-chôi-hỏi-chổi. Giáo viên thường xuyên kiểm tra trong từng tiết dạy và truy bài 15 phút đầu giờ, học sinh đọc nhiều, viết nhiều, giáo viên đặt ra những câu văn ngắn có các vần dễ lẫn lộn để học sinh luyện đọc nhiều. – Giai đoạn vần giáo viên dạy cho học sinh nắm chắc tất cả các vần đã học (đọc được, viết được, ghép được tiếng). 2. Với học sinh: Phân loại học sinh để có kế hoạch bồi dưỡng, phụ đạo cụ thể: Đối với học sinh khá giỏi: – Nâng cao hơn khi học sinh đã có được khả năng căn bản về nghe, nói, đọc, viết, tìm nhiều tiếng, từ có chứa vần vừa học. Ví dụ: bài vần im Tím, kim, mỉm, nhím, thím, phim Màu tím, kim chỉ, con nhím, mỉm cười, chú thím, bộ phim – Đối với phát triển lời nói tự nhiên thì giáo viên có thể hỏi để học sinh trả lời câu dài hơn và đảm bảo tròn câu, đủ ý, nói lưu loát hoặc khi viết không chỉ viết đúng mà phải đẹp sắc sảo từng nét viết, động viên khuyến khích học sinh có ý thức tự giác học ở mọi lúc, mọi nơi. Đối với học sinh khá: – Theo dõi sự chú ý của học sinh, kiểm tra kịp thời sự tiếp thu bài phân tích sai lầm và hướng dẫn sửa chữa. – Tìm cách nâng dần những kĩ năng, kiến thức đã đạt được, hoàn thiện hơn vốn tiếng Việt cho học sinh. Đối với học sinh trung bình-yếu: – Học sinh yếu phải được sắp xếp ngồi ở đầu bàn hai dãy để giáo viên lên xuống, tiện việc quan tâm và uốn nắn các em. Đồng thời, mỗi học sinh yếu sẽ ngồi với một học sinh khá giỏi, bởi vì có câu: “học thầy không tày học bạn” sẽ giúp các em thực hiện tốt phong trào “đôi bạn cùng tiến”. – Ngoài ra trong giờ học, mỗi học sinh có một tấm bìa cứng màu trắng kích thước 15 x 20cm dùng để kê tay trong khi viết và cũng là phương tiện học vần rất tốt: Giáo viên dạy bài nào thì khi phân tích vần xong học sinh sẽ tự tay mình viết vần đó vào tấm bìa theo thứ tự. Ví dụ: Hôm nay học vần “ui, ưi” thì tấm bìa của các em đã ghi: ia, ua, ưa, oi, ai, ôi, ơi, học sinh sẽ ghi tiếp vần ui, ưi vào sau vần “ơi” để các em khắc sâu, nhớ lâu hơn và một lần nữa tự khẳng định lại kiến thức mình vừa học. – Mỗi học sinh có một bộ chữ cái tiếng Việt để học sinh ghép tiếng sau khi giáo viên giới thiệu từ khóa. – Mặt khác, giáo viên cần tổ chức, hướng dẫn cho học sinh thói quen tự học vần, tiếng, từ qua hình ảnh các con vật, truyện, sách, báo được trưng bày ở “Góc ngôn ngữ” vào các giờ chơi, các tiết hoạt động ngoài giờ để các em khắc sâu và ghi nhớ các vần đã học. – Bên cạnh đó giáo viên thường xuyên tổ chức cho các em tham gia vào các trò chơi như: hái quả tìm vần, bốc thăm tên các con vật có chứa vần đã học, chọn đồ vật được chuẩn bị sẵn ở “Góc ngôn ngữ” đọc tên và nói tên vần; tổ chức cho học sinh đọc truyện theo nhóm đôi để các em được tiếp xúc với mặt chữ nhiều và gây sự hứng thú trong học tập. 3. Với phụ huynh: – Tăng cường các cuộc họp phụ huynh sau các giai đoạn (giữa học kì I- cuối học kì I- giữa học kì II- cuối học kì II) để báo cáo kết quả học tập của các em đồng thời vận động cha mẹ học sinh phối hợp chặt chẽ hơn trong việc giáo dục học sinh làm cho mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường ngày càng tốt đẹp. – Bên cạnh đó giáo viên có thể trao đổi với phụ huynh về cơ chế đánh vần, tiếng, để phụ huynh có thể kèm thêm con em mình ở nhà. Ví dụ: đánh vần “ôi”: ô-i-ôi. Đánh vần tiếng: “chổi” chờ-ôi-chôi-hỏi-chổi. Đồng thời tự chọn những biện pháp mới giúp dạy và học có hiệu quả hơn. IV- KẾT QUẢ: Qua từng bước thực hiện những biện pháp mới vào thực tiễn khối 1, kết quả môn Tiếng Việt đạt được ở các giai đoạn như sau: Các giai đoạn Lớp Tổng số học sinh Giỏi Khá Trung bình Yếu SL TL % SL TL % SL TL % SL TL % GHKI 1A 70 34,5 60 29,6 53 26,1 20 9,8 1B 74 34,5 58 28,6 54 26,6 17 8,3 1C 1D 1E 1G TC 203 CHKI 1A 1B 1C 1D 1E 1G TC 203 GHKII 1A 1B 1C 1D 1E 1G TC 203 Bên cạnh những ưu điểm, đề tài vẫn còn những mặt hạn chế: một số học sinh còn thụ động, chưa hăng say trong học tập, vẫn còn học sinh yếu. Vì vậy, từ đây đến cuối năm chúng tôi sẽ nghiên cứu thêm và bổ sung những biện pháp mới để tạo sự hứng thú học tập nhằm hạn chế số học sinh yếu. C- KẾT LUẬN: I-BÀI HỌC KINH NGHIỆM : Khi vận dụng đề tài vào thực tiễn, chúng tôi nhận thấy để nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt (giai đoạn vần) cho học sinh cần phải: + Vận dụng linh hoạt nhiều biện pháp, nhiều hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh là những ưu điểm lớn nhất của phương pháp dạy học Tiếng Việt Một (giai đoạn vần) do đó, giáo viên cần thực hiện tốt việc rèn học sinh yếu trong từng tiết dạy. + Sắp xếp một cách khoa học về chỗ ngồi của từng đối tượng học sinh, đồng thời có tính thực tế trong việc sử dụng phương pháp dạy học, vận dụng triệt để bộ chữ cái mà học sinh ghép vần và tiếng trong mỗi tiết dạy để học sinh nắm vững về vần hơn. + Tổ chức lớp học sinh động với vai trò: “thầy chủ đạo, trò chủ động” nhằm phát huy tính tích cực khả năng độc lập của học sinh. + Áp dụng đổi mới phương pháp dạy và học nâng cao năng lực của học sinh mà vẫn đảm bảo tiết học nhẹ nhàng, thoải mái, để học sinh“học mà chơi, chơi mà học”. + Giáo viên cần phải có sự chuẩn mực trong cách đọc: đọc đúng, phát âm chính xác, to, rõ ràng. + Giáo viên phải có sự kiên trì, nhẫn nại và dịu dàng khi rèn đọc, viết cho học sinh. + Phải có sự kết hợp chặt chẽ với phụ huynh để hướng dẫn các em rèn luyện thêm khi ở nhà. III- HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP: Từ kết quả đã đạt được khi vận dụng những biện pháp nâng cao chất lượng giai đoạn vần, hướng nghiên cứu tiếp của chúng tôi là: “Biện pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt (giai đoạn tập đọc)” vào năm học tới 2010 – 2011. —— ****** ——

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Học Vần

TRƯỜNG THCS THỔ CHÂU – KHỐI TIỂU HỌC

CHUYÊN ĐỀNÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY HỌC VẦN LỚP 1

A. ĐẶT VẤN ĐỀ:1) Vị trí, tầm quan trọng của phân môn Học vầnHọc vần là phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình tiểu học nói chung và trong môn Tiếng Việt nói riêng, vì nó là phần học mở đầu lớp đầu tiên của cấp Tiểu học. Có học phần này, học sinh mới chiếm lĩnh được một công cụ giao tiếp quan trọng: chữ viết ghi âm Tiếng Việt. Đây chính là phương tiện để các em có điều kiện học tốt các môn khác và học lên các lớp trên.2) Thực trạng của việc dạy – học phân môn Học vầnXác định tầm quan trọng của vấn đề, trong những năm qua, bộ phận chuyên môn của trường đã có nhiều cố gắng trong công tác chỉ đạo, từng bước nâng dần chất lượng dạy và học phân môn này. Cuối mỗi năm học, đa số học sinh lớp 1 nói chung đều đạt được mục tiêu, đặc biệt là 4 kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết) quan trọng mà môn học đề ra. Sau giai đoạn học vần, về cơ bản các em đều đã đọc đúng các âm, vần, tiếng của tiếng Việt (trừ các vần khó, ít sử dụng); đọc trơn được các câu ngắn, các đoạn văn có độ dài khoảng 20 tiếng, có nội dung đơn giản phù hợp với lứa tuổi. Các em cũng viết đúng khá đúng quy trình, đúng mẫu các chữ cái ghi âm, vần, tiếng, từ ngữ vừa học, viết đúng dấu thanh, chữ viết cỡ vừa rõ ràng, đúng nét, rõ khoảng cách và thẳng hàng. Tỷ lệ chất lượng của môn tiếng Việt hàng năm đều tăng.Tuy nhiên, so với mặt bằng chung về chất lượng môn học vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều học sinh đến cuối năm vẫn còn tình trạng: đọc chưa thông, viết chưa thạo; việc nhận diện, ghép vần, tiếng, kỹ năng đánh vần, đọc trơn,…còn hạn chế.Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả này, song yếu tố bất cập trong giảng dạy của giáo viên là vấn đề đáng quan tâm. Một trong những hạn chế nổi bật là kỹ năng vận dụng, phối hợp các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trên lớp. Nhiều giáo viên còn rất lúng túng trong khâu lựa chọn, vận dụng phương pháp, biện pháp dạy học trong từng hoạt động. Do đặc thù của đơn vị trường khối 1chỉ có 1 lớp nên hạn chế trong việc học hỏi lẫn nhau. Các giáo viên dạy lớp khác còn lúng túng khi được phân công dạy thay lớp 1.Xuất phát từ những bất cập nêu trên, bộ phận chuyên môn khối tiểu học tổ chức chuyên đề : “Nâng cao chất lượng giảng dạy môn Học vần lớp 1” nhằm thúc đẩy chất lượng chuyên môn của cấp học trong năm học 2011-2012 và những năm tiếp theo. II. NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG VIỆC DẠY VÀ HỌC PHÂN MÔN HỌC VẦN:1) Thuận lợi: a) Đối với giáo viên:+ Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp quản lý, đặc biệt là bộ phận chuyên môn khối Tiểu học, cụ thể:– Ban giám hiệu trường đặc biệt quan tâm đến chất lượng lớp 1. Thường xuyên tổ chức các tiết thao giảng, dự giờ, thăm lớp hỗ trợ việc nâng cao chất lượng dạy – học.– Hàng năm tổ chức các phong trào dạy và học (hội thi giáo viên dạy giỏi) giúp giáo viên có dịp chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong giảng dạy.– Đảm bảo công tác thông tin hai chiều trong chỉ đạo chuyên môn,…+ Giáo viên dạy lớp 1 nhiệt tình trong công tác, có tinh thần tự học, tự rèn luyện nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, có nhiều năm giảng dạy lớp 1.+ Cơ sở vật chất từ phòng lớp, bàn ghế, các phương tiện phục vụ dạy học trang bị cho khối 1 từng bước được cải thiện.+ Phụ huynh học sinh đa số đều rất quan tâm đến việc học tập của con em mình.b) Đối với học sinh:+ Tất cả trẻ em đúng 6 tuổi đều được vào học lớp 1, được xã hội, gia đình quan tâm, thậm chí có nhiều gia đình “cùng học” với trẻ.+ Đa số trẻ đều được qua lớp mẫu giáo, được chuẩn bị các kĩ năng thích ứng với hoạt động học tập giúp các em có tâm thế sẵn sàng học tập khi vào học lớp 1.2) Khó khăn:a) Đối với giáo viên:+ Đôi lúc chưa chú ý nhiều đến việc đổi mới phương pháp dạy học, chưa có tính sáng tạo trong việc đầu tư cho kế hoạch bài học. Đôi khi giáo viên có phần chủ quan trong dạy học vì kiến thức lớp 1 thường đơn giản

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Trong Trường Thcs

– Câu (sentence) là sự kết hợp của một nhóm từ (a group of words). Nó được chia làm 2 phần: chủ ngữ (subject) và vị ngữ (predicate).

– Động từ trong câu (verb) luôn phải hoà hợp với chủ ngữ về giống (gender), số (number), thời/thì (tense), cách (case)…

– Nó phải là một sự thông báo hoàn chỉnh (cả về mặt ý nghĩa và ngôn từ).

– Nó thường được bắt đầu bằng chữ cái in hoa (capital letter) và kết thúc bằng một dấu chấm câu (a full stop).

Về mặt định nghĩa, giúp học sinh nhận biết đó chính là một câu đơn hay câu cơ bản (a basic sentence).

Tập trung vào cá nhân / chủ thể cụ thể. Nó phải là câu trả lời cho các dạng câu hỏi:

Who does what? / What does what?

What does what →When/Where/How/Why ?

Who does what → When/Where/How/Why ?

Dựa trên sự có mặt của 5 yếu tố cơ bản trong câu có thể giúp học sinh nắm được 7 loại câu đơn, bao gồm:

(4) S + V + O I + Od → My mother buys me a new bike (O I = indirect object: tân ngữ gián tiếp) S V O I O d

(5) S + V + C S → They are beautiful (C S = subject complement: bổ ngữ cho chủ từ) S V C S

S V O A

Giáo viên cần phân tích rõ vị trí, chức năng của từng thành phần trong mỗi loại câu, đặc biệt lưu ý học sinh về vị trí của các trạng từ tần suất trong câu bởi lẽ phần lớn các trạng từ nằm ở cuối hoặc đầu câu, riêng trạng từ tần suất thường được đặt sau động từ “tobe” và trước động từ thường.

Qua phân tích, nhận định các loại câu cơ bản, chúng ta có thể nhận thấy rằng hai yếu tố chủ ngữ và động từ là thành phần không thể thiếu trong một câu. (Ngoại trừ câu mệnh lệnh, hoặc dạng câu tỉnh lược)

Vậy giữa chủ ngữ, động từ và các yếu tố khác trong câu sự hòa hợp như thế nào ? Có phải cứ có đủ 5 yếu tố cơ bản đã nêu trên là cấu tạo thành 1 câu hoàn chỉnh không ? Có thể xét ví dụ sau:

→ Đây không phải là 1 câu hoàn chỉnh vì động từ “be” chưa phù hợp với chủ ngữ ” He”.

→ Câu hoàn chỉnh phải là: He is a doctor.

Như vậy , từ định nghĩa về câu và sự phân tích cấu tạo của câu thì giữa động từ và chủ ngữ nhất thiết phải có sự hoà hợp về giống, số, thời, thể, cách. Ngoài ra, động từ còn phải phù hợp với các yếu tố khác, đặc biệt là các trạng từ trong câu. Dựa vào sự dung hoà này giáo viên có thể thiết kế một số dang bài tập luyện tập cho học sinh như:

Exercise 1: Correct mistake for there sentences(Sửa lỗi câu cho các câu sau)

a/ Ba have two sisters. → has (động từ không phù hợp )

b/ This is my father. Her name’s Ba. → His (giống không phù hợp)

c/ They are student. → students (Số không phù hợp)

d/ I am going to visit my grand parents now → tomorrow…. (Trạng từ không phù hợp)

e/ She is a teacher good. → Đảo good trước teacher (vị trí từ loại không phù hợp)

Reoder the following words to make full sentences. ( Sắp xếp các từ cho sẵn thành câu hoàn chỉnh).

Phong / plays / in / soccer / the / usually / afternoon

→ Phong usually plays soccer in the afternoon.

→ Thu lives in the countryside.

Exercise 3: Complete these sentences with the correct form of word in the parentheses (Hoàn thành các câu sau dùng dạng đúng của từ trong ngoặc)

a/They are…………….(farm) .They work very hard everyday

b/ The city is very………………(beauty)

→ The city is very beautiful.

c/ Mr Lam chúng tôi car to work now. (drive).

→ Mr Lam is driving his car to work now.

Với các dạng bài tập này có thể giúp học sinh nắm vững cấu trúc cơ bản của một câu đơn cũng như vị trí, chức năng và sự hoà hợp của các yếu tố cấu thành câu.Và khi được luyện tập nhiều, học sinh sẽ dần dần cải thiện và nâng cao kỹ năng viết của mình, các em sẽ viết được một câu văn hay, chính xác cả về văn phong lẫn ý nghĩa.

Đối với học sinh khối lớp đầu cấp, việc ghi chép lại những gì đã học có thể giúp học sinh củng cố và ghi nhớ được bài học đôi khi nhiều hơn ta tưởng. Đồng thời qua việc ghi chép lại, học sinh có thể hạn chế việc mắc lỗi trong quá trình viết, từng bước cải thiện, nâng cao kỹ năng viết của mình.

* Complete the dialogue: Một một học sinh sẽ chép lại một lời thoại từ đoạn hội thoại đã cho ( có chứa vốn ngữ liệu đã học ), sau đó chuyền cho bạn kế bên chép lại một câu đáp phù hợp với lời thoại trước. Quá trình luyện tập có thể cho học sinh đổi vai để nắm bắt hết toàn bộ nội dung của đoạn hội thoại. Hình thức này tương tự như cách thực hiện một bài hội thoại dây chuyền (chain dialogue).

Lan: Good afternoon, Nga. Nga: … …, … .

Lan: How are you? Nga: … … …, … .

Lan: Fine, thanks. Nga: Goodbye.

* Complete the sentences: Một học sinh chỉ chép lại phần đầu của một câu, sau đó chuyền cho bạn bên cạnh chép tiếp phần cuối để hoàn thành câu (hoặc ngược lại). Câu được hoàn thành phải đảm bảo cả về cấu trúc và ý nghĩa (dựa trên ngữ liệu đã được cung cấp).

– When it’s hot, I ……………………………..

– When it’s cold, I …………………………….

– When it’s cool, I ……………………………

– When it’s warm, I …………………………….

* Reoder sentences to make a complete dialogue: Giáo viên đưa ra một số câu để cấu thành đoạn hội thoại nhưng được sắp xếp một cách lộn xộn và yêu cầu học sinh tái tạo lại đoạn hội thoại bằng cách sắp xếp và chép lại những mẫu câu đó thành đoạn hội thoại hoàn chỉnh.

Chép chính tả cũng là một hình thức chép lại có hiệu quả. Ở dạng bài tập này học sinh vừa được luyện tập khả năng nghe hiểu, vừa được củng cố cấu trúc ngữ pháp và từ vựng đã học bằng việc ghi lại đúng chính tả các từ, câu, đoạn văn vừa được nghe. Có nhiều cách chép chính tả khác nhau với mức độ từ dễ đến khó:

* Nghe, chép lại các từ hoặc các câu đơn giản: cách chép này thường chú trọng vào các từ có âm hoặc chính tả khó, dễ gây nhầm lẫn đối với học sinh.

* Nghe, chép lại các từ hoặc cụm từ quan trọng trong văn cảnh (spot dictation): Học sinh được đưa cho một đoạn văn chưa hoàn chỉnh, sau đó được yêu cầu vừa theo dõi bài đọc vừa nghe và ghi lại các từ còn thiếu ở chỗ trống.

Ở phần này, giáo viên thiết kế lại một đoạn văn đã hoàn chỉnh trong sách giáo khoa bằng cách bỏ bớt một số từ quan trọng để giới thiệu cho học sinh (viết lên bảng hoặc dùng bảng phụ), sau đó yêu cầu học sinh gấp sách, theo dõi lên bảng kết hợp nghe và viết lại các từ còn thiếu).

* Nghe, chép lại toàn bài: Đối với học sinh lớp 6 thì giáo viên nên thiết kế những đoạn văn ngắn có câu, từ đơn giản, nội dung phù hợp với vốn ngữ liệu mới vừa được cung cấp để tránh gây áp lực cho học sinh, đặc biệt là những học sinh yếu.

Giáo viên đưa ra một bài hội thoại mẫu đồng thời cung cấp một số từ, cụm từ chủ chốt. Học sinh dựa vào bài mẫu và dùng những từ đã cho để viết thành một bài hội thoại mới tương tự như bài mẫu. Với dạng bài tập này nên cho học sinh đọc kỹ bài hội thoại mẫu để các em có thể vừa nắm được nội dung vừa nhận biết những từ, ý văn cần thay thế.

Step 1: Read this dialogue

What do you want? → I want a hot drink.

Step 2: Now use the key words and make the similar dialogues

Hình thức bài tập này cũng tương tự với dạng bài xây dựng hội thoại có hướng dẫn. Học sinh được đưa cho một đoạn văn, một câu chuyện hay một bài học. Dựa vào bài mẫu đó, yêu cầu học sinh viết lại một đoạn văn với một số thay đổi theo yêu cầu.

Every morning, I get up. Then I get dressed. I brush my teeth and wash my face. I have breakfast. Then I go to shool

→ Every morning, Ba gets up. He ……………………………………………………………….

Get up / 5.30. / brush teeth / wash face. / have breakfast / 6.00. / After breakfast / school / 6.30. / go home / lunch / 11.30. / afternoon / homework / play sports. / have dinner / 6.30. /evening / watch TV. / bed / 10.00.

* Writing messages (viết lời nhắn): Học sinh có thể viết và chuyền cho nhau những yêu cầu, đề nghị đơn giản qua mẫu giấy nhỏ.

– How about………………?

– Why don’t we…………………?

* Writing letters (viết thư): Viết thư là một trong những hình thức giao tiếp qua viết phổ biến. Có nhiều hình thức viết thư khác nhau như: thư mời, xin lỗi, cám ơn, chúc mừng, đề nghị, thăm hỏi, hướng dẫn,…

* Interviews(viết bài phỏng vấn ngắn): Thông thường phỏng vấn là một thủ thuật phổ biến dành cho luyện tập giao tiếp bằng ngôn ngữ nói( speaking), tuy nhiên giáo viên vẫn có thể sử dụng hình thức này như một dạng bài tập luyện tập phối hợp để rèn kỹ năng viết cho học sinh. Trước khi phỏng vấn, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh soạn ra một bảng câu hỏi (questionare) và định hướng cách trả lời (các câu hỏi nên có nội dung đơn giản để học sinh có thể thu được kết quả phỏng vấn cao), cho học sinh tiến hành phỏng vấn (theo cặp hoặc theo nhóm nhỏ), sau khi phỏng vấn xong yêu cầu các em ghi lại các câu trả lời ở dạng đầy đủ sau đó sắp xếp các câu trả lời sao cho có logic và viết lại thành một bài phỏng vấn hoàn chỉnh.

Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Âm, Vần ( Lớp 1 )

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG TIỂU HỌC VÕ VĂN TẦN Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. CHUYÊN ĐỀ THÁNG 9 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC PHÂN MÔN HỌC ÂM,VẦN ( LỚP 1 ) A/- ĐẶT VẤN ĐỀ:

1. Vị trí, tầm quan trọng của phân môn Học âm,vần:

Học vần là môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình tiểu học nói chung và trong môn Tiếng Việt nói riêng, vì nó là phần quan học mở đầu lớp đầu tiên của cấp Tiểu học. Có học phần này, học sinh mới chiếm lĩnh được một công cụ giao tiếp quan trọng: Chữ viết ghi âm Tiếng Việt. Đây chính là phương tiện để các em có điều kiện học tốt các môn khác và học lên các lớp trên.

2. Thực trạng của việc dạy – học phân môn Học Âm,Vần:

Xác định tầm quan trọng của vấn đề, trong những năm qua, Phòng Giáo dục Tiểu học đã có nhiều cố gắng trong công tác chỉ đạo, từng bước nâng dần chất lượng dạy và học phần môn này. Cuối mỗi năm học, đa số học sinh lớp 1 nói chung, đều đạt được mục tiêu, đặc biệt là 4 kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) quan trọng mà môn học đề ra. Sau giai đoạn học vần, về cơ bản các em đều đã đọc đúng các âm, vần, tiếng của Tiếng Việt (trừ các vần khó, ít sử dụng) đọc trơn được các câu ngắn, các đoạn văn vần ngắn có độ dài khoảng 20 tiếng, có nội dung đơn giản phù hợp với lứa tuổi; các em cũng viết khá đúng quy trình, đúng mẫu các chữ cái ghi âm, vần, tiếng, từ ngữ vừa học, viết đúng dấu thanh, chữ viết cỡ vừa, rõ ràng, đúng nét, rõ khoảng cách và thẳng hàng.

Kết quả nêu trên có thể nói là tiền đề khá vững chắc để các cấp quản lý và đội ngũ giáo viên từng địa phương trên địa bàn phát huy. Tuy nhiên, so với mặt bằng chung về chất lượng môn học, hàng năm vẫn còn nhiều đơn vị có tỷ lệ học sinh yếu khá cao, nhiều học sinh đến cuối năm vẫn còn tình trạng: đọc chưa thông, viết chưa thạo, việc nhận diện, ghép vần, tiếng, kỹ năng đánh vần, đọc trơn, … còn nhiều hạn chế.

Làm thế nào để khắc phục vấn đề này? Theo đề nghị của một số đơn vị trường học, được sự quan tâm, chỉ đạo của Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Phòng Giáo dục Tiểu học tổ chức chuyên đề: “Nâng cao chất lượng giảng dạy Học Âm ,Vần lớp 1” với mong muốn thúc đẩy chất lượng chuyên môn của cấp học trong năm học 2016 – 2017 và những năm tiếp theo.

B/- NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG VIỆC DẠY VÀ HỌC PHÂN MÔN HỌC ÂM,VẦN:

– Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp quản lý, đặc biệt là Phòng GD&ĐT quận 12, Sở GD&ĐT Tp Hồ Chí Minh cụ thể:

+ Phối hợp tổ mạng lưới chuyên môn, thường xuyên tổ chức các hội nghị chuyên đề, các tiết thao giảng, dự giờ, thăm lớp hỗ trợ việc nâng cao chất lượng dạy – học.

+ Thường xuyên tổ chức các phong trào dạy và học (Hội thi giáo viên dạy giỏi, viết chữ đẹp, đồ dùng dạy học, ứng dụng CNTT trong dạy học, …) trong năm giúp đội ngũ giáo viên có dịp chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong giảng dạy.

+ Đảm bảo công tác thông tin hai chiều trong chỉ đạo chuyên môn, …

– Đa số giáo viên dạy lớp 1 nhiệt tình trong công tác, có tinh thần tự học, tự rèn nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, có nhiều năm giảng dạy lớp 1.

– Ban giám hiệu trường đặc biệt quan tâm đến chất lượng khối 1, hỗ trợ cho khối nhiều lĩnh vực đáp ứng nhu cầu giảng dạy.

– Cơ sở vật chất từng phòng lớp, bàn ghế, phương tiện phục vụ dạy học trang bị cho khối 1 từng bước được cải thiện.

– Phụ huynh học sinh đa số đề rất quan tâm đến viêc học tập của con em mình.

– Tất cả trẻ em đúng 6 tuổi đều được vào học lớp 1, được xã hội, gia đình quan tâm, thậm chí có nhiều gia đình “cùng học” với trẻ.

– Ở những vùng có điều kiện, đa số trẻ đều qua lớp mẫu giáo, được chuẩn bị các kỹ năng thích ứng với hoạt động học tập giúp các em có tâm thế sẵn sàng học tập khi vào học lớp 1.

-Một số giáo viên còn trẻ,chưa có nhiều kinh nghiệm giảng dạy

– Trong mỗi tiết dạy, giáo viên chưa biết cách phát huy khả năng tự phát hiện của học sinh, chưa phát huy hết tính ưu việt của hoạt động nhóm, đặc biệt là vai trò của nhóm trưởng.

– Học sinh mới chuyển từ mầm non lên tiểu học nên việc ổn định nề nếp lớp gặp nhiều khó khăn.

– Học sinh nói chưa trọn câu,chưa đủ ý.Học sinh còn nhỏ chưa mạnh dạn trong giao tiếp.

-Một số phụ huynh chưa quan tâm đến việc học của con em mình

C/- MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN HỌC ÂM,VẦN:

Đổi mới phương pháp dạy học được coi là yếu tố vô cùng quan trọng mà đội ngũ giáo viên dạy lớp 1 phải hết sức quan tâm khi dạy phân môn, cụ thể khi dạy phần này, giáo viên cần chú ý:

1. Vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp, nhiều hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh là một trong những đặc điểm lớn nhất của phương pháp dạy học nói chung. Đổi mới phương pháp dạy phân môn này là ở chỗ biết kết hợp sử dụng tích cực hóa các hoạt động của học sinh.

2. Những phương pháp đặc biệt chú ý khi giảng dạy học vần là: Phương pháp dùng lời nói, hỏi – đáp, quan sát, miêu tả, sử dụng đồ dùng trực quan, bộ chữ rời, bảng cái, luyện tập theo mẫu, thực hành giao tiếp, trò chơi,tổ chức lớp học tự quản theo mô hình VNEN.

3. Khi vận dụng từng phương pháp, phải chú ý nhiều hơn đến cách thức hoạt động của học sinh để tiếp nhận các tri thức Tiếng Việt, cũng như việc hình thành và phát triển các kỹ năng (đọc, viết, nghe, nói).

4. Việc tổ chức hoạt động có thể dưới nhiều hình thức linh hoạt: cá nhân, từng đôi một, nhóm nhỏ, nhóm lớn, cả lớp, đặc biệt chú ý đến hình thức tổ chức dạy học theo nhóm.

5. Vận dụng phương pháp dạy học lớp ghép vào việc sửa lỗi phát âm của học sinh ngay trong tiết học.

6. Xác định các cơ sở quan trọng khi lựa chọn phương pháp, biện pháp và hình thức tổ chức dạy học một bài học vần:

– Đối tượng học sinh để có các biện pháp cá thể hóa trong dạy học.

– Mục tiêu bài dạy theo yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng, nhằm đảm bảo yêu cầu cần đạt đối với mọi đối tượng học sinh.

– Khả năng của mình giáo viên, để cân nhắc các phương pháp, biện pháp, các hình thức tổ chức dạy học mà mình sẽ chọn nhằm vận dụng, kết hợp có hiệu quả.

– Điều kiện về cơ sở vật chất (phòng học, bàn ghế, các phương tiện hỗ trợ, …) để lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp.

7. Gợi ý một số biện pháp tổ chức từng hoạt động trọng tâm của một bài dạy Học âm,vần,tiết 1 như sau:

*Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ.

– Giáo viên kiểm tra đọc âm,vần,từ,câu thông qua các trò chơi như:Trò chơi đi chợ,Trò chơi chọn món ăn,Đi tìm kho báu,Chọn ô số.

– Giáo viên kiểm tra viết âm,vần,tiếng từ đã học ở bài trước(học sinh viết vào bảng con).

* Hoạt động 2: Bài mới.

– Giáo viên đưa tranh,khai thác tranh,rút từ khóa,rút âm,vần mới.

– Giáo viên hướng dẫn học sinh cách phát âm đúng âm,vần

– Học sinh dùng bộ chữ cài âm,vần,tiếng mới.

-Giáo viên chỉnh sữa cho học sinh còn gặp khó khăn trong phát âm, tuyên dương những học sinh có tiến bộ.

* Hoạt động 3: Viết âm,vần mới.

– Giáo viên cho học sinh quan sát chữ mẫu,giáo viên viết chữ mẫu,hướng dẫn học sinh viết đúng độ cao,độ rộng của chữ vào bảng con.Giáo viên sử dụng đúng thuật ngữ lia bút,dừng bút,rê bút để học sinh nắm.Sau đó nhận xét học sinh viết.

* Hoạt động 4: Đọc từ ứng dụng.

– Gắn các thanh chữ mẫu (có thể cho học sinh sử dụng SGK), yêu cầu học sinh đọc thầm, sau đó phát huy những học sinh khá giỏi đọc to những từ này.

– Tổ chức cho học sinh thi đua phát hiện, phân tích nhanh những tiếng chứa vần mới (Học sinh dùng bút chì gạch chân các tiếng này trong SGK).

– HDHS luyện đọc trơn (đọc đồng thanh, đọc cá nhân theo nhóm để tất cả học sinh đều được đọc và đọc được) các từ ứng dụng, chú ý chỉnh sửa phát âm cho học sinh.

– Kết hợp giải nghĩa một số từ khó thông qua tranh, ảnh, mô hình, vật thật.

* Hoạt động 5: Củng cố.

– Giáo viên chia lớp thành hai đội rồi tổ chức trò chơi tiếp sức giữa hai đội.Mỗi đội gồm 4-5 học sinh.

-Thông qua trò chơi,giúp học sinh củng cố lại âm,vần vừa học

D/- KIẾN NGHỊ – ĐỀ XUẤT:

– Nhận thức sâu sắc việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay được hiện thực theo hướng lấy hoạt động của học sinh làm trung tâm.Vì vậy, muốn để tất cả học sinh đều được học và học được, trong giờ dạy giáo viên chỉ giữ vai trò là người điều hành, tổ chức và hướng dẫn các hoạt động để học sinh đều tích cực, chủ động, sáng tạo, tự lực khám phá chiếm lĩnh tri thức.

– Có thái độ gần gũi, yêu thương, tôn trọng ý kiến học sinh, nhẹ nhàng trong việc uốn nắng, sửa sai cho các em từ cách đọc, cách viết, cách cầm bút, tư thế ngồi, …

– Luôn luôn tự học, tự rèn nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thường xuyên dự giờ, thăm lớp, học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp.

– Tận dụng tối đa thiết bị dạy học sẵn có ở trường, tự sưu tầm các vật thật xung quanh, làm thêm đồ dùng dạy học.

– Tạo mối quan hệ thường xuyên giữa phụ huynh học sinh và nhà trường để nắm chặc được chuyển biến tâm lý và tình hình học tập của học sinh.

Bạn đang xem bài viết Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Việt (Giai Đoạn Vần) trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!