Xem Nhiều 12/2022 #️ Biện Pháp Thi Công Phần Hoàn Thiện / 2023 # Top 18 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 12/2022 # Biện Pháp Thi Công Phần Hoàn Thiện / 2023 # Top 18 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Biện Pháp Thi Công Phần Hoàn Thiện / 2023 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1.1 BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THI CÔNG

1.1.1 Biện pháp thi công phần hoàn thiện.

– Nghiệm thu và hoàn công mặt bằng xây.

– Dùng gạch lò nung tuynen, viên gạch thẻ có kích thước 8x8x19cm và 4x8x19, các viên gạch rắn chắc, không cong vênh, sứt mẻ, cường độ gạch đảm bảo tiêu chuẩn thiết kế.

– Vữa xây dùng cát, nước ngọt sạch không lẫn tạp chất

– Xi măng: Dùng PCB40.

– Thí nghiệm các vật liệu xây trước khi đưa vào công trình

– Vữa xây được trộn bằng máy, cường độ vữa đảm bảo các tiêu chuẩn về độ dẻo theo độ cắm của côn tiêu chuẩn = 90 ¸ 130mm.

– Sau khi xác định được tim cốt vách (tường) ta tiến hành xây tường.

– Vật liệu và công tác xây cần đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật của thiết kế và theo quy phạm TCVN – 4085 – 85 ; TCVN – 1770 – 86 ;TCVN – 4453 – 95 về kết cấu gạch đá, thi công và nghiệm thu, cát xây dựng, yêu cầu kỹ thuật, vữa xây dựng.

– Căn cứ các mốc để xác định tim cốt, để định vị chính xác vị trí xây, dùng dây búng mực chuyên dùng để xác định tim tường và mặt gạch khi xây.

– Sai số của khối xây thực hiện theo TCVN – 4315 – 86 và TCVN – 4085 – 85, các mạch vữa phải được chèn chặt, không trùng mạch, các mạch xây phải được miết kỹ.

– Khi xây lần sau phải làm sạch bề mặt xây lần trước và tưới nước làm ẩm, tránh mọi va chạm vào khối xây khi mới hoàn thành .

– Trước khi xây, gạch phải được nhúng nước, vữa xây được trộn bằng máy trộn đúng cấp phối.

– Lên sơ đồ mặt bằng xây, dùng máy kinh vĩ và thuỷ bình định vị tim trục tường, cao độ lớp xây đầu tiên, cao độ đặt lanh tô và các vị trí chí đặt ngầm trong tường.

– Lấy mẫu vữa xây để kiểm tra mác vữa ( ghi chép như lấy mẫu bêtông).

– Thả nèo bắt mỏ theo các trục của tường xây, căng dây hai mặt tường xây.

– Gạch xây được làm sạch bụi bằng cách nhúng nước trước khi xây.

– Mạch vữa xây đảm bảo 1cm ¸ 1,2cm cho mạch ngang nằm và 0,8 ¸ 1cm cho mạch đứng các mạch không trùng nhau quá 3 mạch.

– Tường xây phải để mỏ giật, không để mỏ hốc, mỏ lanh.

– Tường xây theo 4 dọc 1 ngang, khối xây khi đang thi công hoặc mới xây xong không để các vật nặng đè lên hoặc dựa lên thành tường. Không đục phá hoặc không thi công các công việc khác liền sau đó.

– Thép cài liên kết giữa tường được thực hiện đúng quy trình quy phạm. Các viên gạch theo hàng ngang phải nguyên vẹn để có đủ độ dài câu ngang qua chiều dầy của tường, không dùng gạch vỡ để xây hàng ngang. Các hàng trên cùng và dưới cùng nhất thiết phải xây quay ngang gạch.

– Khi xây các kết cấu khác như trụ, mỏ, gờ, cần chú ý các kết cấu nhô ra của khối xây, các viên gạch câu được giữ nguyên vẹn, khi xây xong một hàng phải đè giữ để viên gạch kết dính với lớp trước sau đó mới xây đè các hàng khác lên.

– Mạch vữa tiếp giáp giữa vách với tường xây, giữa mặt tường với đáy dầm được chèn vữa đặc chắc, mác vữa chèn cao hơn mác vữa xây.

– Với công trình này các hàng gạch quay ngang của các bức tường trên đơn vị thi công sẽ dùng gạch đặc để xây, mục đích chống thẩm thấu nước từ ngoài vào trong qua các lỗ gạch rỗng.

– Những mặt tường chịu ảnh hưởng của thời tiết tại các vị trí đã nêu trên khi xây xong nếu gặp thời tiết mưa Đơn vị thi công dùng các tấm bạt dứa để che chắn bề mặt tường xây.

– Khi xây xong từng khối tường hoặc bức tường nào vệ sinh sạch sẽ ngay.

– Tường xây sau khi kiểm tra đảm bảo: ngang bằng thẳng góc, mạch đều, không trùng, khối xây đặc chắc.

– Gạch xây và vữa xây được vận chuyển lên cao bằng vận thăng.

Công tác trát, hoàn thiện đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và mỹ thuật cho công trình. Thực hiện công tác trát khi khối xây đã khô mặt và tối thiểu được 7 ngày. Giải pháp và trình tự thi công như sau:

– Giàn giáo và sàn công tác được lắp dựng như công tác xây hoặc sử dụng phần giàn giáo để lại khi xây hoặc bắc lại. Để thực hiện công tác trát hoàn thiện mặt ngoài ta lắp dựng giáo hoàn thiện bên ngoài từ dưới lên trên đồng thời dùng lưới bảo vệ giăng kín xung quanh bên ngoài hệ thống giàn giáo.

– Cát trát được dùng cát đen Sông Hồng, Sông Lô trước khi đưa vào sử dụng được sàng kỹ trước khi trộn. Vữa trát được trộn bằng máy, vận chuyển bằng xe cải tiến, vận thăng hay ben cần cẩu tuỳ theo mặt bằng công trình. Vữa được đựng trong hộc và bố trí trong tầm hoạt động của người thợ để nâng cao năng xuất lao động.

– Trước khi trát, mặt trát được vệ sinh công nghiệp, tưới ẩm. Phế liệu được đổ vào ống đổ rác để đảm bảo an toàn và chống bụi hoặc đóng kiện gỗ và được đưa xuống bằng vận thăng.

– Đối với những bức trát có diện tích lớn, sử dụng máy kinh vĩ hoàn công xác định độ lồi lõm lớn nhất của mặt tường, trên cơ sở đó thực hiện chia lướt ô vuông 1,8 x 1,8m và gắn các mốc chuẩn để làm mốc cữ trong quá trình trát. Với mặt trát có độ lồi lõm lớn. Chúng tôi dùng lưới thép mắt cáo và trát làm nhiều lần để tránh hiện tượng nứt mặt trát. Chiều dày lớn vữa trát là 15mm, tiến hành trát làm 2 lớp, mỗi lớp đảm bảo độ dày từ 5 ¸ 8 mm.

– Trát trong nhà tiến hành từ tầng 1 đến tầng mái, để đảm bảo làm đến đâu sạch đến đố đảm bảo thẩm mỹ, vệ sinh cho công trình.

– Trát ngoài tiến hành từ trên xuống

– Phần điện, nước ngầm được phối hợp đặt sẵn trong quá trình thi công bê tông, xây tường trước khi tiến hành trát, lát, ốp.

– Phần trát gờ chỉ trang trí đều được căng dây, đánh cốt 2 đầu đảm bảo độ chính xác.

– Kiểm tra độ thẳng mặt trát bằng thước tầm 3m, đảm bảo độ sai số cho phép là 0,5% theo chiều đứng và 0,8% theo chiều ngang.

– Mặt tường sau khi trát phải thẳng đứng, phẳng và được bảo dưỡng tránh rạn nét chân chim, không có vết vữa chảy, vết hằn của dụng cụ trát, vết lồi lõm, gồ ghề cục bộ cũng như các khuyết tật khác ở góc cạnh.

– Đặc biệt tại mép góc của cột và tường chúng tôi tiến hành đặt lưới thép góc vừa đảm bảo mỹ quan vừa tránh tình trạng sứt sát sau này khi có các vật cứng va đập vào cạnh tường, cột.

– Tiến hành nghiệm thu mặt trát trước khi thi công bả và sơn hoàn thiện.

– Giàn giáo và sàn công tác đặt lắp dựng như công tác xây hoặc sử dụng phần giàn giáo để lại khi xây hoặc bắc lại. Để thực hiện công tác trát hoàn thiện bên ngoài từ dưới lên trên đồng thời dùng lưới bảo vệ giăng kín xung quanh bên ngoài hệ thống giàn giáo.

Yêu cầu chung:

– Trước khi thực hiện các công tác này bề mặt cấu kiện được vệ sinh sạch, nếu không đạt yêu cầu phải xử lý trước khi thực hiện. Phải lắp đặt xong hệ thống ống cấp, thoát nước và đường dây dẫn điện, hệ thống kỹ thuật ngầm trong tường.

– Tiến hành xác định cao độ chuẩn trong từng phòng và bắn cao độ xung quanh tường để làm căn cứ kiểm tra cao độ sàn khi thi công cũng như nghiệm thu.

– Kiểm tra và làm rõ các vị trí cắt gạch, xử lý mép gạch, bố trí khu vực có chu vi không đều và các khác biệt khác…

Công tác lát gạch:

Yêu cầu công tác lát nền làm sao cho mặt lát phải phẳng, không bong rộp, mạch vữa đều không bị nhai lại.

– Kiểm tra cao độ toàn bộ mặt phẳng nền nhà của từng tầng, đánh mốc chuẩn của cốt nền, trên cơ sở cốt thiết kế điều chỉnh xác định cốt mặt nền lát được kỹ sư giám sát của Chủ đầu tư đồng ý.

– Xác định các đường thẳng của mạch lát tổng thể bằng cách đo số liệu thực tế sau khi thi công và tiến hành chia gạch tổng thể giữa các phòng và hành lang các khu vực khác. Bản vẽ chi tiết được đệ trình chủ đầu tư và giám sát tư vấn thiết kế để theo dõi và kiểm tra, theo dõi và nghiệm thu.

– Làm các mốc chuẩn cho mặt lát của từng phòng ra đến hành lang. Trong từng phòng phải căng dây đặt viên gạch lát chuẩn ở các góc, kiểm tra đảm bảo phòng vuông góc mới tiến hành lát, chú ý các viên gạch bị cắt phải được bố trí ở vị trí hợp lý. Trong thời gian thi công dựa theo mốc được định sẵn trên tường để thường xuyên kiểm tra cao độ sàn.

– Chọn gạch: gạch trước khi đưa vào lát phải được chọn kỹ. Viên gạch phải phẳng mặt, không cong vênh, không sứt sẹo, đồng đều về kích thước và màu sắc.

– Cắt gạch: tại những vị trí phải cắt gạch thì dùng máy cắt nước lưỡi hợp kim để cắt.

– Sau khi lát xong hàng đầu, cứ lát xong 4 hàng thì cho lau mạch. Lát xong phòng nào cho khoá cửa phòng đó rồi mới tiến hành lát ra ngoài hành lang. Công việc lát nền được tuyển chọn công nhân có tay nghề bậc cao, trang bị đầy đủ dụng cụ. Vữa lát được trộn dẻo, đảm bảo đúng mác thiết kế. Mặt lát sau tối thiểu 2 ngày mới được đi lại nhẹ, tránh va đập hoặc xếp nguyên vật liệu lên trên.

– Kiểm tra: khi mặt lát đã khô, dùng búa gõ nhẹ lên bề mặt viên gạch, nếu có tiếng kêu vang không đanh chắc là viên gạch bị bong, phải gỡ viên gạch đó ra để lát lại. Kiểm tra độ phẳng của mặt lát bằng mắt thường và thước nhôm dài 2m, khe hở giữa thước và mặt lát tối đa cho phép là 2mm.

– Đảm bảo phẳng, đều và thẳng hàng.

– Hạn chế tối đa việc cắt gạch và bố trí các viên bị cắt ở những vị trí khuất.

Công tác ốp gạch men:

Yêu cầu mặt ốp phải phẳng, thẳng đứng, các góc phòng phải vuông, mạch ốp đều, thẳng, không bong rộp.

– Chọn gạch: gạch ốp phải phẳng mặt, không cong vênh, không có vết nứt hoặc sứt mẻ, đồng đều màu sắc và kích thước, lớp men đủ chiều dày và phủ kín mặt gạch.

– Trát lót bằng vữa XM chia làm 2 lớp, lớp 1 dày từ 1 – 1,5cm, lớp 2 dày từ 0,5 – 1cm, cán phẳng.

– Dùng thước góc để kiểm tra vuông góc.

– Mỗi hàng gạch ốp đều phải căng dây mốc. Khi đặt viên gạch ốp vào tường phải điều chỉnh ngay cho thẳng với dây và đúng mạch. Sau khi ốp được vài hàng phải dùng thước tầm xoay theo các hướng để kiểm tra độ phẳng của mặt ốp.

– Khi ốp tường bên cạnh phải dùng thước ke vuông để kiểm tra độ vuông góc giữa hai bức tường.

– Các viên gạch thiếu phải gia công bằng dao cắt và mài phẳng, không chặt gạch tuỳ tiện.

– ốp sau khi mặt trát khô, tưới ẩm mặt trát trước khi ốp.

– Gạch ốp được ngâm no nước, vớt để ráo, các viên góc 45 độ, viên nhỡ đều được mài và cắt bằng máy.

– Xoa vữa đều lên mặt cắt gạch rồi tiến hành ốp vào tường, gõ nhẹ.

– ốp từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới.

– Sau khi ốp xong dùng xi măng trắng nguyên chất để lau mạch.

– Mặt ốp đảm bảo dung sai cho phép 0,5%, các mạch rộng 1 – 2mm, thẳng hàng và không nhai mạch.

.

– Trước khi thực hiện công tác sơn bả phải được hoàn thành những công tác sau:

+ Thi công xong công tác mái

+ Thi công xong các lớp chống thấm

+ Lắp đặt xong hệ thống kỹ thuật ( ống dẫn cấp thoát nước, đường dẫn điện thoại, ống thông hơi, vật chôn ngầm…)

+ Hoàn thiện công tác trát, lát, ốp.

Không thực hiện công tác sơn bả khi bề mặt cấu kiện có độ ẩm vượt quá độ ẩm cho phép.

Bả matít

Sử dụng loại bột bả đã được nhiệt đới hoá để phù hợp với nhiệt độ và khí hậu Việt Nam. Được sử dụng trước khi phủ sơn do đó, có trọng lượng phân tử cao, hình thành những lớp sơn linh hoạt, chống ẩm, chống lại sự phát triển của rêu mốc, tạo độ bền cao, không thấm nước, không gây hiện tượng rỗ bong, không rạn chân chim.

Công việc bả được tiến hành đúng kỹ thuật, mặt tường phải để khô mới được bả tránh tình trạng để ướt làm bong dộp.

Nghiệm thu độ phẳng đều bằng đèn pha 500 W chiếu vào tường. Mảng tường nào không đạt tiêu chuẩn đánh dấu để bả lại.

Sơn tường:

Sau khi xây tường chúng tôi sẽ cho tiến hành trát và sơn bả mẫu để chủ đầu tư và tư vấn thiết kế xem xét cho ý kiến.

Sau khi được sự đồng ý và nhất trí của chủ đầu tư cũng như tư vấn giám sát chúng tôi sẽ cho tiến hành sơn đại trà.

Chuẩn bị bề mặt: Tất cả bề mặt phải khô và làm sạch bụi, dầu mỡ. Tất cả các loại nấm mốc phải được tẩy sạch hoàn toàn.

Thi công: Phải sử dụng 3 lớp.

Lớp 1: Lớp này có tác dụng làm tăng độ bền của lớp sơn vì nó có khả năng chống lại kiềm và các chất dư do vữa xi măng ngấm ra.

Lớp 2: Đây là lớp chính, lớp tạo mầu chính cho cấu kiện.

Lớp 3: Đây là lớp sơn phủ để bảo vệ lớp trong.

– TCVN 4459: 1987 Hướng dẫn pha trộn và sử dụng vữa trong xây dựng.

– TCVN 5674: 1992 Công tác hoàn thiện trong xây dựng. Thi công và nghiệm thu.

– TCXD 65 : 1989 Quy định hợp lý xi măng trong xây dựng.

1.1.2 Công tác gia công khung thép bảng pano

Việc gia công lắp dựng hoàn chỉnh được chia thành 3 giai đoạn do một kỹ sư phụ trách và chỉ thi công sau khi đã nghiệm thu hoàn chỉnh.

* Giai đoạn 1: Khảo sát, đo đạc, tính toán theo thiết kế, sản xuất và gia công.

Toàn bộ công việc này được tiến hành tại hiện trường, lấy số đo thực tế đối chiếu với số đo trên bản vẽ thiết kế để gia công cho phù hợp tại xưởng.

* Giai đoạn 2: Chia giai đoạn lắp dựng khung xương chịu lực:

Được chia thành 2 phần: Phần gia công lắp ráp và phần lắp dựng khung xương liên kết.

Phần lắp dựng khung xương liên kết vào cột: Dùng buloong liên kết chặt giữa khung vào bêtông. Ngoài ra còn hàn các gông sắt góc, sau đó hàn chết cố định vào các lõi thép trong bê tông, tạo cho khung ổn định và có độ vững chắc chống được gió bão.

* Giai đoạn 3: Giai đoạn hoàn thiện – vệ sinh.

Được tiến hành trình tự từ trên cao xuống dưới

1.1.3 Lắp đặt hệ thống điện và thiết bị điện

Công tác thi công lắp đặt hệ thống điện cho công trình bao gồm các công việc chính như sau:

Thi công lắp đặt hệ thống cáp nguồn.

Lắp đặt hệ thống dây dẫn từ cáp nguồn vào các thiết bị dùng điện.

Lắp đặt hệ thống thiết bị bảo vệ, thiết bị đóng cắt và dụng cụ tiêu thụ điện.

Hệ thống điện trong công trình được bố trí như sau:

Tuyến cáp cấp điện

Tuyến cáp cấp điện đến các tầng và các phòng.

Phương thức đi dây: Tuỳ vị trí theo thiết kế, các ống luồn dây, dây sẽ đi ngầm hoặc đặt trên giá hay hộp kỹ thuật.

Các thiết bị đóng cắt và điều khiển:

+ Công tắc, ổ cắm

+ áptômát các loại

+ Tủ điện, đồng hồ

+ Các vật liệu khác theo chỉ dẫn của thiết kế.

Vị trí các thiết bị được bố trí tại vị trí và độ cao theo thiết kế. Các vị trí không chỉ dẫn sẽ tuân thủ theo nguyên tắc thiết kế chung.

Thi công hệ thống điện và lắp đặt thiết bị tuân thủ theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN – 027 – 91.

Công tác lắp đặt được chi thành 2 phân đoạn:

+ Tuyến cáp nguồn: được thi công trong giai đoạn hoàn thiện bên ngoài.

+ Hệ thống điện trong nhà: được thi công ngay trong quá trình thi công bêtông và sau công tác xây tường bao che.

Trình tự lắp đặt hệ thống trong nhà:

Đi dây theo thiết kế.

Đấu hộp nối, tủ bảng điện, các thiết bị bảo vệ.

Kiểm tra thử tải cho từng phân đoạn, từng tầng và toàn bộ hệ thống.

Lắp hoàn chỉnh các thiết bị tiêu thụ điện.

Sau khi công tác xây thô xong, đợi khối xây thô thì cho thi công lắp đặt hệ thống dây dẫn điện, tránh sau hoàn thiện phải đục đẽo.

Hệ thống đường dẫn điện được độc lập về cơ, điện đối với hệ thống khác và đảm bảo dễ dàng thay thế, sửa chữa khi cần thiết.

Các mạch điện dự phòng cũng như các mạch điện chiếu sáng làm việc và chiếu sáng sự cố không được đặt chung trong cùng một ống, một hộp hay một tháng.

Đặt ống luồn dây dẫn hoặc cáp điện đảm bảo ống có đủ độ dốc để nước chảy về phía thấp nhất và thoát ra bên ngoài, không để nước thấm vào hoặc đọng lại trong ống.

Tất cả các mối nối và rẽ nhánh dây dẫn, cáp điện được thực hiện trong hộp nối dây và hộp rẽ nhánh.

Khi đặt ống luồn dây dẫn, cáp điện trong các kết cấu xây dựng đúc sẵn hoặc các kết cấu bêtông liền khối, nối ống bằng cách ren răng hoặc hàn thật chắc chắn.

Cấm đặt dây dẫn, cáp điện không có vỏ bảo vệ ngầm trực tiếp trong hoặc dưới lớp trát tường, trần nhà ở những chỗ có thể bị đóng đinh hoặc đục lỗ.

Cấm đặt ngầm trực tiếp trong hoặc dưới lớp vữa trát, các loại dây dẫn cáp điện mà vỏ cách điện cũng như lớp bảo vệ vỏ bị tác hại do lớp vữa dày.

Khi thi công lắp đặt hệ thống điện cũng phải tiến hành công tác thử tải và thí nghiệm theo đúng tiêu chuẩn và quy phạm hiện hành. Nhà thầu sẽ lập quy trình kiểm tra và thử tải hệ thống điện để trình Chủ đầu tư trước khi bắt đầu thi công.

Quy trình kiểm tra và thử tải phải tuân thủ các yêu cầu sau:

– Sau khi lắp đặt xong từng phòng hay từng tầng phải kiểm tra ngay sự làm việc của hệ thống dây.

– Sau khi lắp đặt xong cả công trình sẽ lắp đặt các thiết bị bảo vệ để kiểm tra riêng rẽ và tiến hành kiểm tra chung sự làm việc của toàn bộ hệ thống.

– Tiến hành lắp đặt các thiết bị nếu công tác kiểm tra cho thấy hệ thống đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật. Kiểm tra lại sự làm việc đồng bộ của hệ thống.

Khi thi công lắp đặt hệ thống điện phải chú ý các vấn đề an toàn sau:

– Công nhân lắp đặt hệ thống điện phải là công nhân chuyên ngành có đủ khả năng thực hiện công việc.

– Khi thi công có đủ các trang bị an toàn cá nhân cần thiết.

– Có đủ các thiết bị kiểm tra, các thiết bị đóng ngắt…

1.1.4 Gia công và lắp đặt hệ thống chống sét.

Hệ thống thu lôi chống sét của công trình được thiết kế hàn thành mạch kín, gồm:

Các cọc tiếp đất bằng sắt L 63 x 63 x 4 dài 2 m, chôn sâu dưới mặt đất tự nhiên.

Dây tiếp địa bằng sắt dẹt hoặc sắt tròn.

Kim thu sét dùng kim nhọn đầu có tráng bạc.

– Thi công hệ thống chống sét tuân thủ tiêu chuẩn TCVN – 027 – 91

– Các chi tiết của hệ thống chống sét được gia công tại xưởng và vận chuyển lắp đặt tại công trường.

– Thi công lắp đặt hệ thống chống sét được làm đồng thời và ngay sau khi hoàn thiện công tác lớp mái. Kim thu sét sẽ được hàn chặt vào kết cấu chịu lực của mái. Sau khi hàn, các mối hàn sẽ được vệ sinh sạch sẽ và sơn bảo vệ.

– Đào rãnh sâu 0,7m rộng 0,5 m để rải dây dẫn. Đóng cọc sắt mạ đồng sau đó hàn các dây dẫn vào các cọc tiếp đất. Các dây nối được hàn cố định vào cọc.

– Quá trình thi công phải đảm bảo các yêu cầu:

+ Cụm dây tiếp địa và cọc tiếp địa phải đủ độ sâu thiết kế, khoảng cách các cọc với nhau, khoảng cách dây tiếp đất với móng nhà phải đảm bảo theo thiết kế.

+ Dây dẫn sét dùng cáp chuyên dùng.

+ Các chỗ tiếp đất phải đo điện trở trước khi hoàn thành mạng.

+ Công trình làm xong phải do cơ quan chuyên môn kiểm tra nghiệm thu xác nhận và cấp chứng chỉ cho phép vận hành.

1.2 ĐÁP ỨNG CÁC YÊU CẦU VỀ BẢO HÀNH

Đối với công trình theo quy định nhà thầu sẽ bảo hành 12 tháng kể từ ngày nghiệm thu bàn giao công trình đưa vào sử dụng. Nhà thầu cử cán bộ tiến hành theo dõi, kiểm tra, kết hợp với Chủ đầu tư, đơn vị chủ quản, nếu thấy có hiện tượng hư hỏng do thiên tai, do lỗi của nhà thầu hay do con người vô ý tạo ra, nhà thầu báo cáo cho chủ đầu tư biết và kết hợp đề ra biện pháp xử lý triệt để các vết hư hỏng. Lập biên bản đã xử lý hư hỏng trên tuyến, chi phí nhà thầu trừ vào tiền giữ lại bảo hành theo quy định hợp đồng.

An Toàn Lao Động Khi Thi Công Phần Hoàn Thiện Công Trình / 2023

 Hoàn thiện công trình là khâu cuối cùng của công tác xây lắp, nó có vai trò quan trọng giúp công trình chống được tác hại của thời tiết, tăng tuổi thọ, bảo đảm mức độ tiện nghi của công trình thích hợp với yêu cầu sử dụng và tạo mỹ quan cho công trình. Hoàn thiện công trình bao gồm những công việc như: trát tường, ốp tường, lát, lãng nền, quét vôi, sơn, lắp đặt các thiết bị của công trình như hệ thống điện nước, điều hòa không khí…Các công việc hoàn thiện được thực hiện bằng thủ công và cơ giới hỗ trợ. Các nguy cơ gây tai nạn lao động và các biện pháp đề phòng trong công tác hoàn thiện công trình sẽ được đề cập trong bài viết này.

1. An toàn lao động trong công tác trát Công tác trát bao gồm trát tường trong, tường ngoài, trần, phào và trát tạo các chi tiết kiến trúc cho công trình. Công tác trát chủ yếu được thực hiện bằng thủ công. Ngoài ra, một số công trường sử dụng máy phun vữa để tát. Khi làm việc, tại nhiều vị trí, người công nhân phải làm việc ở trên cao so với mặt đất hoặc mặt sàn nhà tầng nhà theo chiều cao công trình. Với sự trợ giúp của hệ thống dàn giáo. 1.1 Các nguy cơ gây tai nạn lao động trong công tác trát – Các nguy cơ gây tai nạn lao động khi làm việc trên cao. – Các nguy cơ gây tai nạn lao động khi làm việc với máy và thiết bị xây dựng, nếu sử dụng biện pháp trát bằng máy. – Các mảng vữa trát trần rơi xuống mặt người công nhân do nền trát quá ẩm khiến vữa trát bị chảy. – Vòi phun vữa có thể bị hở hay thủng khiến vữa phun vào người công nhân. 1.2 Các biện pháp đề phòng tai nạn lao động trong công tác trát Ngoài các biện pháp đề phòng tai nạn khi thi công trên cao, đề phòng tai nạn khi làm việc với máy và thiết bị xây dựng nói chung, còn có các biện pháp đề phòng tai nạn cụ thể sau: a. Đề phòng tai nạn lao động (TNLĐ) khi trát trong, trát ngoài công trình – Chỉ được tiến hành công tác trát trong sau khi đã lắp đặt xong khung cửa, vách ngăn, hộp thông gió và các công việc xây lắp chuyên môn khác. – Trát bên trong và bên ngoài nhà cũng như các bộ phận chi tiết kết cấu khác của công trình dùng đà giáo hoặc giá đỡtheo “Quy định về an toàn sử dụng lắp dựng và tháo dỡ đà giáo, giá đỡ”. Chỉ được tiến hành trên các loại giàm giáo hoặc giáo ghế với lan can an toàn chắc cả 4 phía. – Chỉ được phép dùng thang treo ở những nơi riêng biệt, có khối lượng ít. – Khi đưa vữa lên mặt sàn công tác cao không quá 5m, phải dùng thiết bị cơ giới nhỏ hoặc công cụ cải tiến. Khi đưa vữa lên mặt sàn công tác cao hơn 5m phải dùng máy nâng hoặc phương tiện cẩu chuyển khác. Không với tay đưa các thùng xô đựng vữa lên mặt sàn công tác cao quá 2m. – Trát các cuộn vòm, gò cửa sổ ở trên cao, phải dùng các kiểu loại đà giáo hoặc giá đỡ theo “Quy định về an toàn sử dụng, lắp dựng và tháo dỡ đà giao, giá đỡ”. Cấm đứng trên bệ cửa sổ để làm các việc đã nêu trên. – Thùng, xô đựng vữa cũng như các dụng cụ đồ nghề khác phải để ở vị trí chắc chắn để tránh rơi, trượt đổ. Khi ngừng việc phải thu dọn vật liệu đồ nghề vào một chỗ. Sau mỗi ca phải rửa sạch vữa bám dính vào các dụng cụ đồ nghề. Cấm vứt vật liệu, đồ nghề từ trên cao xuống. Khi tiến hành trát ở hai hay nhiều tầng cùng một lúc cần bố trí sàn bảo vệ trung gian giữa những người làm việc tại các tầng. Công nhân phải đứng trát ở các vị trí so le nhau giữa các tầng. – Điện dùng cho công tác trát trong bể và hầm kín phải có điện áp không lớn hơn 36 vôn. – Sấy khô vữa trát ở trong nhà máy sấy dùng hơi đốt hoặc dầu phải do công nhân chuyên môn điều khiển. Máy sấy phải cố định chắc chắn. Công nhân điều khiển máy sấy ở trong phòng không được làm việc liên tục quá 3 giờ. – Cấm dùng các chất màu độc hại như: minium, chì, bột crôm… để làm vữa trát màu. – Nơi trộn vữa có pha chlore phải bó trí ở nơi thoáng gió và xa khu vực có người một khỏang ít nhất là 5m. Cấm trát vữa có pha chlore trong các phòng, hầm hào kín khi chưa được thông gió tốt. Côong nhân làm các công việc có tiếp xúc với vữa pha chlore phải được trang bị đầy đủ các phương tiện cá nhân và được bồi dưỡng độc hại theo chế độ hiện hành. b. Đề phòng tai nạn lao động khi sử dụng máy phun vữa – Chỉ sử dụng công nhân đã được đào tạo về sử dụng máy phun vữa đào tạo về sử dụng máy phun vữa vì công việc này đòi hỏi thực hiện rất nghiêm túc quy trình kỹ thuật và kỹ thuật an toàn. – Công nhân vận hành máy cần được trang bị các phương tiện bảo hộ lao động như mặt nạ, kính hoặc gang tay… – Những người không có trách nhiệm phải đứng cách xa máy ít nhất 10m. – Trước khi làm việc, phải kiểm tra tất cả các bộ phận của máy như: vòi phun, đường ống cao su, đồng hồ báo áp lực, van an toàn hoặc hệ thống tín hiệu… – Trong khi làm việc, luôn theo dõi, không để cho ống dẫn vữa bị gấp khúc hay xoắn thành vòng. Nếu thấy hiện tượng bất thường như vòi hở hoặc nứt thì phải ngừng công việc lại ngay và tiến hành thay ống khác. – Cấm việc ngừng cung cấp vữa vào các vòi phun bằng cách bẻ gập ống dẫn vữa. – Sau khi xong công việc, phải thổi rửa lại hệ thống ống (sau khi những người có trách nhiệm đã ra khỏi khu vực nguy hiểm xung quanh máy). Phải ngắt điện cho máy khi thổi rửa hoặc sửa chữa máy. 2. An toàn lao động trong công tác ốp tường và lát nền Công tác ốp tường và lát nền nói chung đều phải sử dụng các máy sử dụng điện để cắt hoặc mài các viên gạch ceramic để được bề mặt hoàn thiện đúng với kích thước thiết kế. Do đó, các biện pháp an toàn lao động trong các công tác này chủ yếu là để phòng tai nạn khi làm việc với máy và thiết bị xây dựng. 3. An toàn lao động trong công tác lắp đặt thiết bị công trình Các công trình xây dựng đều có phần việc về lắp đặt các thiết bị bên trong công trình như các hệ thống điện, nước hoặc điều hòa không khí… Trong công tác này, người công nhân cần phải sử dụng các máy điện cầm tay khoan vào tường để đặt các ốc hoặc vít. Tại nhiều vị trí họ phải làm việc trên cao, như khi lắp đặt hệ thống điều hòa không khí… Do đó, các biện pháp an toàn lao động trong công tác này chủ yếu lầ đề phòng tai nạn xảy ra khi làm việc với máy và thiết bị xây dựng, đề phòng tai nạn khi thi công trên cao. 4. An toàn lao động trong công tác sơn và quét vôi công trình  Công tác sơn và quét vôi công trình thường được thực hiện sau cùng, khi các công việc kỹ thuật chuyên môn khác đã được thực hiện. Đặc điểm của công việc sơn là người công nhân làm việc trong môi trường độc hại và dễ cháy nổ. Đặc điểm là công tác quét vôi là người công nhân phải làm việc trên cao. Có thể sơn, quét vôi bằng biện pháp thủ công hoặc bằng máy (phun sơn) ở các vị trí dưới thấp hoặc trên cao, tùy từng vị trí công trình. 4.1 Các nguy cơ gây TNLĐ trong công tác sơn và quét vôi công trình  – Các nguy cơ gây TNLĐ khi làm việc với máy và thiết bị xây dựng – Các nguy cơ gây TNLĐ khi làm việc trên cao – Các nguy cơ gây cháy nổ – Công nhân bị ngạt thở hoặc nhiễm độc do nhiễm phải hơi sơn trong lúc làm việc hoặc do đi vào trong các phòng kín mới sơn. 4.2 Các biện pháp đề phòng TNLĐ trong công tác sơn và quét vôi công trình  Ngoài các biện pháp đề phòng tai nạn khi thi công trên cao, đề phòng tai nạn khi làm việc với máy và thiết bị xây dựng, đề phòng tai nạn do cháy nổ nói chung, còn có các biện pháp đề phòng tai nạn cụ thể như sau: – Khi làm việc phải sử dụng đúng và đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân gồm: quần áo vải dầy, nón cứng, hoặc nón vải, kính chống bụi, khẩu trang, giầy vải ngắn cổ. Trường hợp phòng sơn quá kín mà chưa thông gió được thì công nhân phải được trang bị bình thở ô xy. – Chỉ được phép dùng thang tựa để tiến hành công việc ở độ cao thấp hơn 5m so với mặt nền. độ nghiêng của của thang so với mặt nằm ngang nhà không nhỏ và cũng không lớn hơn 70o, đầu thang phải cố định với các bộ phận kết cấu ổn định của công trình hoặc phải có người giữ chân thang. Dựng thang ở lối cửa ra vào phải có người canh không để người khác bất thình lình xô cửa làm đổ thang. Cấm đứng lên bậc thang trên cùng làm việc. Chỉ được phép dùng thang đã được kiểm tra độ bền và bậc cao nhất cũng như bậc dưới cùng phải được giằng néo bằng dây thép để tăng độ bền. Kết thúc công việc phải hạ ngay thang xuống. – Ở các vị trí không thể không thể sử dụng thang tựa thì có thể sử dụng thang xếp nhưng phải cố định vững chắc nó. – Tại vị trí pha chế sơn không cho phép làm bất cứ việc gì có thể gây phát sinh tia lửa, phải loại trừ khả năng nẹt lửa từ hệ thống điện và phải có biển báo “Cấm lửa- cấm hút thuốc”. Khi pha chế sơn ngoài trời phải tiến hành công việc đó ở vị trí nằm cuối hướng gió. Khi pha chế sơn trong không gian kín phải tổ chức thông gió để hút thải hơi độc. Cấm dùng bột màu trắng mịn sản xuất từ chì đẻ pha sơn. Tại vị trí tôi vôi phải có rào chắn để ngăn không cho người rơi xuống hố vôi. – Trong mọi trường hợp phải dùng hệ thống thông gió cục bộ như quạt để thông gió khu vực sơn. Phải đảm bảo thay đổi không khí ít nhất 2 lần trong 1 giờ. – Trước khi làm việc với máy phun sơn, cần kiểm tra ống dẫn cao su và thử với áp suất gấp 1,5 lần so với áp suất làm việc. – Khi phun sơn bằng vòi phun vào phải hướng vòi phun vào bộ phận cần sơn, cấm hướng vòi phun vào người khác và cần đứng về phía trên hướng gió. Không cho phép sơn các bộ phận đang có điện áp nếu không có mệnh lệnh đặc biệt của người phụ trách. Vòi phun sơn sử dụng khí nén từ máy nén (hay trạm) phải tuân theo các quy định an toàn dành cho dụng cụ khí nén cầm tay. – Sơn, vôi rơi vãi đều phải được lau chùi sạch sẽ. Giẻ dính sơn phải cho vào thùng rác bằng sắt có nắp đậy để chờ đem đi thiêu hủy. – Cấm người lưu lại trong phòng mới sơn quá 4 tiếng. – Kết thúc công việc phải làm vệ sinh cá nhân cẩn thận trước khi về.

Nguồn: Bộ Xây Dựng

Biện Pháp Thi Công Từ Móng Đến Hoàn Thiện Nhà Dân Dụng : Architecture + Decor / 2023

Biện pháp thi công từ móng đến hoàn thiện nhà dân dụng

Huy động thiết bị phục vụ thi công: +Công tác thi công đất: Thi công cơ giới kết hợp thủ công. Dự kiến huy động xe máy các loại sau: Xe đào bành hơi hiệu SAMSUNG, SOLAR (KOREA). Xe xúc đất hiệu KOMATSU. Máy bơm nước. Máy đầm bàn, đầm dùi. +Công tác bê tông: Dùng bê tông tươi, được chở từ nhà máy sản xuất bê tông đến khi gọi điện đặt hàng, loại xe bê tông có dung tích 6m3. Máy đầm dùi, bàn, máy cắt uốn sắt, khoan. Máy làm mặt bê tông. + Công tác coffa – cốt thép: Sử dụng các thiết bị sau: Hệ thống coffa gỗ kết hợp coffa thép định hình. Dùng puli cẩu lắp . Máy cắt, uốn cốt thép. Máy hàn điện. Máy cưa khoan (BOSCH). Thiết bị cầm tay (bắt vít, bắn đinh) bằng hơi và bằng điện. Ván khuôn và giằng chống phải đảm bảo: ổn định không biến hình, cứng và bền. Chịu được trọng lực và áp lực ở mặt bên của bê tông mới đổ cũng như các lực xuất hiện trong quá trình thi công. Đảm bảo kích thước và hình dáng chính xác, đảm bảo đúng vị trí so với các bộ phận của công trình đang thực hiện. + Công tác hoàn thiện: Máy trộn vữa. Máy Nivo. Máy cưa, mài hiệu BOSCH. Máy phun sơn. Máy cắt gạch đá (khô, nước) hiệu HITACHI. Máy đánh bóng nền. +Công tác mộc, ván khuôn gỗ: Máy liên hợp. Máy bào tay. Máy cưa tay. + Công tác điện nước: Khoan điện cầm tay, máy đo điện trở đất. +Thiết bị trắc đạc, kiểm tra chất lượng công trình: Thiết bị thí nghiệm tại hiện trường. Bộ dụng cụ kiểm tra độ sụt bê tông. Dụng cụ đo độ ẩm của cát. Thùng hay vật liệu khác để cất giữ các mẫu cốt liệu, cement. Ống đo 100ml, nhiệt kế. 1 máy kinh vĩ Leica TC600 (Thụy Sỹ), 1 máy kinh vĩ NIKON (Nhật), 1 máy thủy bình LeiCa 820 (Thụy Sỹ), máy thủy chuẩn, súng bắn bê tông. Khuôn lấy mẫu bê tông theo tiêu chuẩn. Thiết bị kiểm tra cường độ thép, bê tông, mác vữa tại phòng thí nghiệm. 1. Công tác chuẩn bị thi công: Để đi đến gia đoạn thi công của công trình thì việc chuẩn bị các số liệu về kĩ thuật, xã hội là một công tác rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ, chất lượng và đời sống của cán bộ, công nhân thi công công trường sau này. + Các công việc cần chuẩn bị: Mặt cắt địa chất công trình, tình chất cơ lý của các lớp đất, đá của nền và địa chất thủy văn. Khả năng vận chuyển thiết bị máy móc cơ giới đến công trường sao cho an toàn và kinh tế nhất. Các nguồn vật tư cung cấp cho công trình. Nguồn điện nước phục vụ cho thi công và phục vụ cho sinh hoạt của cán bộ, công nhân thi công công trình. Những qui định chung nơi công trình xây dựng. Chuẩn bị hồ sơ pháp lý: Sau khi có thông báo trúng thầu sẽ tiến hành ngay các thủ tục pháp lý: + Thương thảo đi đến ký kết hợp đồng kinh tế giao nhận thầu xây lắp. + Nhận bàn giao mặt bằng, cột mốc, cao độ chuẩn. + Liên hệ với chính quyền địa phương làm thủ tục cần thiết đưa công nhân, thiết bị thi công, vật tư đến công trường. Mặt khác, kết hợp với địa phương trong công tác bảo vệ, phòng chống cháy nổ và vệ sinh môi trường. + Ký kết các hợp đồng kinh tế, hợp đồng mua bán cung cấp vật tư và nhanh chóng tập kết tại công trường. Nghiên cứu kỹ hồ sơ: Nghiên cứu lại toàn bộ bản vẽ thiết kế kỹ thuật. So sánh các biện pháp tổ chức thi công sao cho tiết kiệm thời gian và đạt hiệu quả, đảm bảo chất lượng công trình hợp lý nhất và tiến hành làm bảng tiến độ thi công chi tiết từng hạng mục công trình cụ thể, bố trí cán bộ, công nhân phù hợp để thi công liên tục. Cũng trong thời gian này chúng ta sẽ chuẩn bị ký kết các hợp đồng cung cấp vật tư thiết bị cần thiết. 2. Mặt bằng tổ chức thi công: – Mặt bằng công trình nằm trên đường Đình Phong Phú, do đó vật liệu, máy móc thiết bị được vận chuyển chủ yếu trên tuyến đường này. – Hiện tại xung quanh khu vực mật độ xây dựng chưa cao, xung quanh c ông trình tương đối trống và có đường giao thông nội bộ đi ngang công trình. – Các công tác gia công lắp dựng như thép, ván khuôn được thực hiện ngay cạnh công trường. Tận dụng phần đất trống của công trình. – Các bãi chứa vật liệu sắt thép nằm ở góc công trình, coffa gỗ, coffa nhựa được phân theo chủng loại riêng chứa từng bãi riêng biệt. – Nguồn điện phục vụ thi công cho công trình được sử dụng từ trạm được lắp đặt trên công trình. – Nguồn nước phục vụ thi công công trình sử dụng nguồn nước hiện có ở địa phương. 3. Sơ đồ tổ chức thi công: – Sơ đồ tổ chức thi công được bố trí phù hợp với đặc điểm công trình trình độ của cán bộ nhằm đảm bảo cho công trình thi công đùng tiến độ, đạt chất lượng. – Sơ đồ tổ chức hiện trường thi công gồm 3 bộ phận: + Bộ phận chỉ huy chung tại trụ sở. Bộ phận chỉ huy tại công trình. Bộ phận thi công trực tiếp. Mối quan hệ giữa trụ sở chính và việc quản lý tại công trường: Bộ phận chỉ huy tại trụ sở và sở chỉ huy tại hiện trường thường xuyên chỉ đạo, bàn bạc, trao đổi tổ chức thi công tại công trường bằng các buổi họp giao ban hàng tuần tại hiện trường. Các phòng ban tại trụ sở chính thường xuyên kiểm tra và giúp ban chỉ huy công trường giải quyết mọi vướng mắc về khối lượng, vật tư, máy móc, thiết bị. Vai trò của ban chỉ huy công trường: + Tổ chức tại công trường bao gồm : 01 chỉ huy trưởng công trình và 01 chỉ huy phó tại công trình, chỉ huy trưởng là người trực tiếp điều hành thi công chung tại hiện trường và chỉ huy phó là người thay thế khi chỉ huy trưởng vắng mặt. + Ban chỉ huy công trường toàn quyền giải quyết mọi vấn đề trên công trường và chịu trách nhiệm trước Công ty về mọi quyết định của mình. Các trưởng bộ phận phải chịu trách nhiệm trước ban chỉ huy công trường về mọi vấn đề của bộp hận mình phụ trách và nhận lệnh trực tiếp từ ban chỉ huy công trường +Ban chỉ huy công trường lập ra các biện pháp bảo đảm vệ sinh môi trường nơi thi công và khu vực lân cận, như biện pháp che chắn, chống bụi, chống khói, chống ồn, gây ô nhiểm, sử dụng máy móc, thiết bị phù hợp, tuân theo các qui định của Nhà nước về chỉ số tiếng ồn, khói…… +Ban chỉ huy công trường sẽ tổ chức cho một nhóm lao động phục vụ cho công tác vệ sinh môi trường. Bộ phận này sẽ trực tiếp thực hiện các công việc như quét dọn vệ sinh công trường và khu vực lân cận, tưới nước chống bụi, thu gom rác trong thi công…… +Ban chỉ huy công trường có nhiệm vụ giáo dục ý thức chấp hành các qui định về vệ sinh, bảo vệ môi trường cho lực lượng cán bộ, nhân viên, công nhân tham gia tại công trường thông qua các hoạt động sinh hoạt, lao động hàng ngày, các cuộc họp giao ban giữa ban chỉ huy với đội trưởng thi công. Vai trò giám sát kỹ thuật tại công trường: + Bộ phận giám sát kỹ thuật có chuyên môn và trình độ nghiệp vụ của công ty đã được thành lập và hoạt động rất có hiệu quả trong việc quản lý, kiểm tra chất lượng sản phẩm xây dựng. Bộ phận giám sát kỹ thuật này được bố trí ngay tại hiện trường từ khi công trình bắt đầu thi công. + Bộ phận này có quyền và trách nhiệm kiểm tra chất lượng vật liệu, chất lượng bán thành phẩm, chất lượng thi công công trình theo đúng quy trình thí nghiệm kiểm tra. Mọi công tác đều được bộ phận này kiểm tra, nghiệm thu trước khi mời giám sàt kỹ thuật nghiệm thu. Bộ phận này có quyền từ chối mọi vật liệu không đạt yêu cầu về chất lượng chủng loại. Các bộ phận xây dựng công trình: + Các bộ phận phục vụ: kỹ thuật của các đơn vị thi công, vật tư, hành chính, an toàn lao động, trắc đạt, kho được điều hành trực tiếp bởi chỉ huy trưởng và chỉ huy phó công trình. + Các đội thi công gồm: đội cốt thép, đội coffa, đội bê tông, đội hoàn thiện, đội điện, đội nước, đội phục vụ thi công trực tiếp tại công trường được lãnh đạo bởi những kỹ sư giàu kinh nghiệm chịu trách nhiệm tổ chức thi công theo chức năng được giao của đội dưới sự chỉ huy trực tiếp của chỉ huy trưởng công trình.

4. Công tác trắc đạc: + Định vị công trình xây dựng trong phạm vi khu đất: *Căn cứ theo các mốc bàn giao của đơn vị thiết kế. Dựa vào các lưới trục chuẩn trên mặt bằng neo vào các vật cố định. Các mốc này được bảo quản gồm tất cả các công việc xác định, cao độ cho từng hạng mục, các chi tiết thi công, từ việc lắp đặt coffa cho đến các công tác hoàn thiện thực hiện ở giai đoạn cuối công trình. + Lập lưới trục toạ độ trắc đạc: * Luới trắc đạc được lập dựa vào các trục của công trình theo thiết kế. Đây là công tác quan trọng, đảm bảo công trình được bố trí, kích thước và thẳng đứng. Các lưới trục của tầng trên được lập trên cơ sở lưới xuất phát từ tầng trệt, các điểm này được chuyển lên các tầng trên theo phương pháp chuyển thẳng đứng. + Chuyển độ cao lên tầng bằng thước thép đo trực tiếp theo mép tường, mép cột với độ sai lệch là ± 3mm, sử dụng máy thủy bình tự động trong thi công để thống nhất và thuận lợi cho việc thi công các cấu kiện, chi tiết trên từng cao độ được dịch +1000 so với cao độ hoàn thiện được định lại bằng sơn tại tường, vách, cột. + Lập lưới quan sát: + Các bước của công tác trắc đạc và các yêu cầu kỹ thuật sẽ được công ty tuân thủ theo qui định tiêu chuẩn Việt Nam 3972-85 cụ thể như sau: khi nhận được tim mốc của chủ đầu tư, sẽ xác định tim mốc trên mặt bằng. Vị trí các tim mốc được bảo vệ bằng cách đổ bê tông có rào chắn đảm bảo không bị mờ, bị mất trong quá trình thi công. + Lưới khống chế thi công được bố trí thuận tiện theo các trục trên bản vẽ đảm bảo cho việc thi công được bảo vệ lâu dài đảm bảo độ chính xác cao. + Các mốc đo lún được bố trí ở khoảng cách đảm bảo ổn định và bảo vệ trong suốt quá trình thi công. Khoảng cách các mốc quan trắc lún sẽ được thực hiện một tuần trên một lần có chú ý đến điểm gia tải như đổ thêm sàn, xong phần xây… các báo cáo kết quả quan trắc sẽ được thực hiện ở dạng biểu đồ và hoàn thành ngay trong ngày đó. Báo cáo được lập thành 02 bộ gồm các thông tin sau: + Thời gian quan trắc. + Tên người thực hiện quan trắc và ghi số liệu. + Lý lịch thiết bị đo. + Mặt bằng vị trí các quan trắc. + Các số liệu sau khi quan trắc tại các mốc. + Các ghi chú (nếu có) của nhân viên đo đạc. + Chử ký của người thực hiện quan trắc, đại diện đơn vị thi công, BQLDA. Toàn bộ kết quả sẽ được trình cho Tư vấn giám sát và lưu giữ trong hồ sơ nghiệm thu các giai đoạn thi công, hoàn thành công trình. + Công ty sẽ tiến hành trắc đạc một cách hệ thống, kết hợp chặt chẽ đồng bộ với tiến độ thi công. Công tác đo đạc được tiến hành thường xuyên trên công trường, bao gồm tất cả các công việc xác định vị trí, cao độ cho các hạng mục, các chi tiết thi công, từ việc lắp đặt coffa cho đến các công việc hoàn thiện thực hiện ở giai đoạn cuối công trình. + Dụng cụ quan trắc gồm các máy thuộc tài sản công ty. Tất cả đều ở trong tình trạng hoạt động tốt cụ thể gồm: + Máy kinh vĩ theo 10B của Đức. + Máy thủy bình của Đức. PHẦN MÓNG + Qua tính toán, nghiên cứu số liệu công trình đã đưa ra giải pháp móng bê tông cốt thép cho công trình là một phương án hợp lý. + Móng bê tông cốt thép được gia công thép, đổ ngay tại công trường. + Móng được chế tạo gồm hai loại móng băng và móng đơn. Ván khuôn đổ bê tông móng dùng ván khuôn gỗ đã gia công và lắp dựng. + Vị trí các móng được xác định và trình bày trên bản vẽ được đánh dấu trên mặt bằng công trình. + Để trành lưu lượng nước ngầm, trời mưa làm cản trở quá trình thi công nên bố trí những mương nhỏ,hố thu nước, máy bơm quanh chu vi hố móng để thoát nước làm sạch hố móng. + Đào móng từng khu vực của từng khối thành một hố móng chung. Sau khi đào đất xong sẽ tiến hành đầm nén đáy móng và đổ bê tông lót móng. + Cấu tạo móng gồm hai phần đài móng và đà móng. Theo cấu tạo trên phân khối móng thành 02 đợt thi công: Đợt 1: thi công bê tông móng: + Đổ bê tông lót móng đá 4×6, mác 100, dày 100, rộng hơn đế móng theo mổi phương là 100. + Đổ bằng thủ công, dùng đầm bàn kỹ, xác định tim móng. + Thép dùng làm vĩ móng là thép Þ12a150 được buộc thành lưới để sẵn ở ngoài, khi đổ bê tông móng thì đem vào lắp đặt. + Mối nối giữa thép cổ móng và thép vĩ móng phải đảm bảo đủ 30d. Buộc các viên kê vào cốt thép theo yêu cầu lớp bảo vệ. + Cân chỉnh cốt thép theo tim móng và cố định. + Làm thép đài móng, đà móng. + Lắp và hiệu chỉnh cốt thép đài móng, đà móng. + Lắp ván thành móng, đài móng, đà móng. + Đổ bê tông đài móng đà móng. + Đổ bê tông móng mác # 250. + Làm vệ sinh lớp cốt thép, coffa và phần bê tông lót móng. + Bê tông được trộn bằng máy trộn quả lê. + Tiến hành đổ bê tông bằng thủ công đến đáy đà kiềng. + Dùng đầm dùi đầm kỹ bê tông. – Bảo dưỡng bê tông móng sau khi đổ. + Tiến hành bảo dưỡng sau khi đổ 1 buổi. + Cho người tưới nước ngày 4 lần trong một tuần. + Phủ kín mặt móng bằng bao tải để đảm bảo độ ẩm cho móng. + Tháo dỡ ván khuôn móng. + Sau khi đổ bê tông 01 ngày, tiến hành tháo ván khuôn móng và cổ móng. Tháo ván khuôn theo đúng yêu cầu kỹ thuật tránh làm sứt mẽ cấu kiện. Đợt 2: Công tác dầm giằng móng: Dầm giằng móng BTCT mác 200, có các tiết diện sau: DK1(200 x 500); DK1a(200 x 300); DK2(200 x 300); DK3(100 x 300). + Gia công lắp dựng cốt thép + Cốt dọc và cốt đai được gia công ở xưởng theo kích thước thiết kế. + Thép được buộc thành khung và lắp vào vị trí. + Buộc các viên kê dày 30mm vào cốt thép để đảm bảo chiều dày lớp bê tông bảo vệ cốt thép. + Gia công lắp dựng ván khuôn gỗ. + Ván khuôn được gia công và đóng thành hộp tập kết lại. + Đặt ván khuôn vào vị trí và điều chỉnh cho đúng vị trí thiết kế. + Sau khi điều chỉnh xong cố định ván khuôn bằng cây gỗ 3×5. + Đổ bê tông mác 200. + Làm vệ sinh ván khuôn, cốt thép. + Tiến hành nghiệm thu ván khuôn và cốt thép dầm giằng móng. + Tiến hành trộn và đổbê tông. + Đầm kỹ bằng đầm dùi. + Tháo dỡ ván khuôn + Sau khi đổ bê tông được 01 ngày tiến hành tháo ván khuôn dầm giằng móng. + Tháo ván khuôn theo đúng yêu cầu kỹ thuật tránh làm sứt mẽ cấu kiện.

THI CÔNG ĐẮP ĐẤT TÔN NỀN Đất được vận chuyển từ điểm đổ đến vị trí gần mặt bằng móng. Làm sàn công tác đi qua hệ giằng móng. Dùng xe rùa vận chuyển lấp hố móng từ ngoài vào trong. Tưới nước đầm kỹ. PHẦN KHUNG I. CÔNG TÁC COFFA + Công tác coffa là một trong những khâu quan trọng quyết định đến chất lượng bê tông, hình dạng và kích thước của kết cấu. Coffa sử dụng cho các công tác ở phần thân là coffa thép và coffa gỗ, coffa được phân loại và tập kết riêng tại các bãi trên công trường. Trước khi đưa vào sử dụng coffa được vệ sinh sạch sẽ và phủ lên một lớp chống dính. Đối với coffa gỗ cần hết sức cẩn thận trong cưa xẻ tránh lãng phí vô ích. + Coffa được gia công, lắp dựng ngay tại công trường. + Trước khi tháo coffa, bên B mời giám sát kỹ thuật bên A đến nghiệm thu bề mặt của cấu kiện. COFFA CỘT. + Coffa được dùng là coffa gỗ. + Sử dụng cây chống gỗ tròn. Đường kính cây chống từ 8 – 10cm. + Sử dụng những thanh gỗ 5 x 10cm làm giằng ngang và dọc. b. COFFA DẦM, SÀN + Coffa dầm, sàn bằng gỗ. + Cây chống gỗ tròn. + Công tác coffa được thực hiện như sau: + Chuẩn bị: – Bật mực để xác định vị trí coffa. – Bố trí nhân lực phú hợp, thực hiện theo đúng nhu cầu công việc. – Vệ sinh mặt bằng nơi sẽ lắp dựng coffa. + Công tác coffa được thực hiện như sau: Cán bộ kỹ thuật trực tiếp chỉ đạo cho các tổ trưởng, chợ chuyên môn thực hiện công tác coffa, đảm bảo thật chính xác theo yêu cầu kỹ thuật. Tránh tình trạng đã lắp dựng xong coffa phải tháo dỡ dựng lại do không đùng yêu cầu kỹ thuật. Tiến hành lắp dựng coffa theo bản vẽ chi tiết và chỉ dẫn của cán bộ kỹ thuật. Coffa được lắp dựng phải vững chắc, neo chặt vào những điểm cố định, không để cho coffa bị xê dịch biến dạng trong quá trình đổ bê tông. Vệ sinh coffa sạch sau khi lắp dựng xong. Cán bộ kỹ thuật phải nghiệm thu công tác coffa trước khi tiến hành công tác tiếp theo. Coffa phải được tưới nước vệ sinh trước khi đổ bê tông.

LẮP DỰNG COFFA

+ Bảo dưỡng, bảo vệ công tác coffa. Coffa sau khi được lắp dựng xong nếu chưa được đổ bê tông thì sẽ được bảo kỹ để tránh bị xê dịch.

II. CÔNG TÁC CỐT THÉP: + Cốt thép được gia công, lắp dựng ngay tại công trường, được tiến hành theo từng công việc, từng khu vực như bẽ đai, uốn thép, cắt thép, kéo thẳng thép… thép được gia công bằng cả thủ công và bằng máy. Máy móc phục vụ cho công tác cốt thép trên công trường và có nhiều loại như máy uốn, máy cắt, máy kéo thép… + Thép đưa về công trình phải đúng yêu cầu thiết kế mới được phép sử dụng. Cốt thép được dùng có hai loại là thép gân và thép trơn. Tiết diện có nhiều loại với đường kính khác nhau như 6, 8 ,10, 12 ,14, 16 ,18…… việc sử dụng thép đúng loại là tuỳ thuộc vào bản vẽ thiết kế kết cấu công trình. Khi gia công thép trơn phải bẽ móc còn thép gân thì không bẻ móc. + Cốt thép được gia công là thép đai, thép mũ, lưới thép… + Cốt thép trước khi sử dụng phải được sửa thẳng, đánh sạch gỉ thép, có thể dùng búa đập thẳng hoặc dùng máy uốn nắn thẳng. Với thép có đường kính dưới 20mm thì ta có thể cắt uốn bằng tay và nếu đường kính lớn hơn 20mm thì ta phải dùng máy. + Thép khi cắt ra uốn phải xác định thêm độ dãn dài của nó, yêu cầu: cốt thép bị uốn giãn ra thêm 0,5d khi uốn góc 450, 1d khi uốn góc 900, 1,5d khi uốn góc 1800. Đoạn neo cốt thép công trường qui định là 30d cốt thép. Nối cốt thép có hai dạng là nối hàn và nối bằng kẽm buộc. + Chuẩn bị lắp thép: Bộ phận gia công thép sẽ thực hiện đúng bản vẽ dưới sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật. Thép sau khi gia công sẽ được đánh số theo đúng chủng loại và phân bổ tới nơi cần lắp dựng. Tiến hành vạch mực vị trí lắp thép. Vệ dinh thép, dọn dẹp mặt bằng vị trí lắp thép. Chuẩn bị các phụ kiện, tập hợp sẵn ở vị trí lắp thép như cục kê, kẽm buộc…… đồng thời bố trí nhân lực phù hợp với yêu cầu công việc. + Thực hiện công tác cốt thép: Tiến hành lắp thép theo bản vẽ kết cấu dưới sự hướng dẩn của cán bộ kỹ thuật. Cốt thép sau khi lắp dựng phải đảm bảo đúng kích thước, đúng số hiệu thiết kế, đúng vị trí khoảng cách của những thanh thép và điểm nối chiều dài các mối nối. Lưu ý những vị trí tiếp giáp của cột với tường, cột với lam…… phải đặt thép chờ liên kết. Nếu phát hiện ra những sai lệch so với bản vẽ thiết kế cần phải chỉnh sửa lại ngay như lệch sắt, quên hay thiếu thép chờ. Sử dụng có kích thước theo yêu cầu để đảm bảo độ dày của lớp bê tông bảo vệ theo thiết kế nhằm bảo vệ cho thép chống lại sự tác động của môi trường xung quanh. Coffa phải được lắp dựng vững chắc, không để xảy ra tình trạng thép bị xô lệch, chuyển vị trí biến dạng trong quá trình đầm đổ bê tông. Sau khi lắp dựng cốt thép xong phải dọn vệ sing sạch sẽ, tránh không tác động mạnh váo cấu trúc thép đã lắp dựng để đề phòng thép bị xô lệch. Cán bộ kỹ thuật nghiệm thu cốt thép sua khi lắp dựng xong khi đó mới tiến hành công tác tiếp theo. Ngoài ra ở công trường còn dùng thép làm hàng rào bảo vệ an toàn cho công nhân làm việc và được hàn vào các cây chống sắt theo các phương làm hệ giằng vững chắc. Cốt thép sau khi lắp dựng xong, nếu chưa đổ bê tông phải được bảo vệ kĩ tránh để vật nặng đè lên gây xô lệch không đúng theo hình dạng, kích thước, vị trí thiết kế. Tránh để các chất bẩn như dầu mỡ, bụi bám dính vào thép. Cốt thép sau khi lắp dựng xong phải tiến hành đổ bê tông càng nhanh càng tốt tránh để các điều kiện bên ngoài thâm nhập làm cho thép bị gỉ sét. Sản phẩm bê tông sau khi tháo coffa nhất thiết không được lói thép. * Một số lưu ý trong công tác cốt thép: + Cốt thép cột: Do kích thước, tiết diện của công trình lớn nên cốt thép cột không được gia công sẵn thành khung thép mà được nối từng thanh vào thép chờ cột, sau đó mới lắp dựng thép đai và lắp tạo thành khung ngay tại vị trí cột cần đặt thép. Dưới chân cột dùng hai thanh thép hàn chéo góc nhau với các thanh thép góc của khung thép để cố định vị trí cột, đoạn trên một tí thì dùng thép C móc từ hai cạnh của thép đai ở cả bốn mặt nhờ vậy mà cột được định vị chính xác. + Cốt thép dầm: Được ghép thành từng thanh theo yêu cầu kết cấu theo nguyên tắc cốt thép phía trên của dầm phụ nằm trên cốt thép dầm chính và cốt thép phía trên của dầm chính nằm trên cốt thép sàn. Lắp dựng cốt thép dầm ở mép trên ván khuôn dầm và khi lắp xong rồi mới hạ xuống. + Cốt thép sàn: Chú ý đặt thép biện pháp (hàn vào sắt sàn) để sau này buộc dây cáp kéo cột và chống trượt cho cây chống trên sàn. Đặt cục kê bảo đảm lớp bảo vệ sàn.

III. CÔNG TÁC BÊ TÔNG: Cũng như công tác ván khuôn, cốt thép thì công tác đổ bê tông cũng giữ vai trò quan trọng trong thi công. Bê tông sử dụng phải tuạn thủ theo TCVN. Bê tông được sử dụng là bê tông thương phẩm được đưa đến công trình bằng xe trộn, được đưa lên sàn bằng cẩu tháp và một xe bơm ngang công suất 80m3/giớ dự phòng. Chất lượng các loại cốt liệu như cát, đá, xi măng, nước……thường xuyên được kiểm nghiệm theo TCVN. Các thí nghiệm sẽ được lưu giữ nộp trình ban quản lý xét duyệt. Bản sao về xi măng sử dụng để trộn xi măng sẽ nộp trình, trong đó nêu rõ loại bê tông đã được kiểm tra phân tích chất lượng tại phòng thí nghiệm có chức năng được ban quản lý chấp thuận, bảo đảm phù hợp với yêu cầu sử dụng của công trình. Cấp phối bê tông sử dụng cho công trình sẽ được lập và nộp trình ban quản lý thiết kế phê duyệt. Quy trình đổ bê tông cho từng loại cấu kiện phải được giám sát chặt chẽ đảm bảo đạt chất lượng đổ bê tông cao nhất. Các dụng cụ để che nắng, để tránh mất nước nhanh, che mưa, đầm bê tông phải luôn dự phòng sẵn. Bê tông phải đảm bảo không bị rỗ, không bị phân tầng khi đầm bê tông. + Thực hiện công tác đổ bê tông: – Tập hợp các số liệu, hồ sơ, lý lịch của cốt liệu sử dụng cho bê tông (cát, đá, xi măng, thép) khi các số liệu đó được tập hợp đầy đủ, đúng yêu cầu thiết kế thí mới được sử dụng, thiết kế cấp phối bê tông theo yêu cầu của kết cấu công trình. Sau khi có thiết kế cấp phối sẽ lấy mẫu thí nghiệm hình lập phương 15 x 15 x 15 bảo dưỡng mẫu theo quy trình kỹ thuật sau đó tiến hành ép mẫu để kiểm tra cường độ bê tông. – Cốt thép, coffa phải được nghiệm thu trước khi đổ bê tông, xét đến tất cả các lực tác dụng (do máy móc phục vụ cho việc đổ bê tông gây ra như đầm dùi, ống bơm…) khi đổ bê tông vào thép và coffa phải đảm bảo không làm sai lệch vị trí thép hay gây nở cho coffa làm cho cấu kiện bị biến dạng, sai lệch so với thiết kế đề ra. Trước khi đổ phải kiểm tra kỹ lưỡng, kịp thời bịt kín các khe hở giữa coffa với nhau tránh tình trạng bê tông chảy nước bằng giấy bao thấm nước, băng keo…kiểm tra các cục kê đảm bảo lớp bảo vệ bê tông. Vệ sinh sạch sẽ phần bên trong và bên ngoài cấu kiện đổ bê tông không để sót vật nào trong ngoài cấu kiện vì khi đổ rồi sẽ không lấy ra được. – Vạch cốt cao độ, cốt nền của khối đổ theo yêu cầu thiết kế. Chuẩn bị mặt bằng tạo khoảng không thao tác, đường vận chuyển từ nơi trộn đến nơi đổ sao cho thuận lợi nhất, bê tông được vận chuyển tới là đổ liên tục không được gián đoạn nếu không sẽ ảnh hưởng đến cường độ cũng như độ liên kết của bê tông với kết cấu thép. – Chuẩn bị các dụng cụ, thiết bị đổ bê tông như đầm bê tông, xẻng để xúc, xô để đựng……nếu cao phải chuẩn bị giàn dáo như khi đổ cột…… trường hợp đổ vào ban đêm phải chuẩn bị hệ thống chiếu sáng phục vụ cho công tác đổ bê tông. – Bố trí lực lượng nhân công, giám sát kỹ thuật đủ theo yêu cầu công việc. + Tổ chức các nhóm thực hiện bao gồm: – Bộ phận hướng dẫn chỉ đạo: gồm cán bộ kỹ thuật, đội trưởng đội thi công. Bộ phận chỉ huy này phải có mặt túc trực khi đổ bê tông, kịp thời phát hiện và xử lý mọi tình huống xảy ra trên công trường. – Nhóm kiểm tra: Kiểm tra lại coffa, cốt thép, kẽm buộc…… trước và trong khi đổ. – Nhóm vận chuyển, đổ bê tông: bê tông được chuyển tới vị trí đổ bằng bơm bê tông hoặc bằng xe cút kít vận chuyển đến. – Nhóm hoàn thiện bề mặt bê tông: đảm bảo sau khi đổ bề mặt bê tông đúng cao độ thiết kế nhẵn phẳng hoặc tạo độ dốc cho bê tông. Trong quá trình đổ bê tông chú ý phải đầm dùi thật kỹ để cho bê tông phân bố đều trong kết cấu ( sử dụng đầm dùi máy). – Việc đổ bê tông, hoàn thiện bề mặt bê tông sẽ phải thực hiện theo đúng yêu cầu kỹ thuật đưới sự chỉ đạo của bộ phận hướng dẫn. + Một số lưu ý trong công tác bê tông: – Bê tông cột: bê tông đổ cột dùng bê tông thương phẩm được trộn sẵn mang đến công trường bằng xe trộn. Từ đây bê tông được công nhân xúc và đổ thủ công từng xô bê tông vào cột. Bố trí nhân lực gồm người xúc, người vận chuyển, người chuyền, người đầm dùi và người đổ bê tông. Đổ bê tông trên cột cao thì phải bắt giàn dáo. Đảm bảo phối hợp nhịp nhàng mỗi thành viên thực hiện công việc để cho bê tông đổ vào cột được liên tục. Độ cao đổ bê tông cột phải nhỏ hơn 1,5m do đó, ta phải chừa lỗ đổ trên ván khuôn cột đảm bảo độ rơi của bê tông khi đổ cột. Chú ý đầm dùi kỹ để cho bê tông phân bố đều trong cột và tránh rỗ mặt bê tông. Các tầng trên cao dùng cần trục tháp phân bố bê tông để đổ cột. – Bê tông dầm, sàn: do đặt điểm ở Thành phố xe bê tông chỉ có thể vào ban đêm vì vậy công tác đổ bê tông dầm, sàn được tiến hành vào ban đêm cho đến sáng. Dầm, sàn được đổ toàn khối sua khi đã nghiệm thu cốt thép, đường điện âm trong sàn, các vị trí đặt ống nước……xe bê tông được đặt ngoài công trình, được bơm lên sàn bằng vòi bơm. Bố trí đổ bê tông trên sàn gồm hai người điều chỉnh vòi bơm, một nhóm dàn bê tông ra cho đều và đầm dùi. Đổ bê tông tới đâu thì đầm dùi tới đó, đổ bê tông từ trên cao xuống chổ sâu trước sau đó mới đổ chổ cạn. Do sàn rộng nên khi đổ bê tông phải tạo rãnh phân chia một khối bề mặt lớn thành các diện tích nhỏ hơn để đổ. Chú ý đổ bê tông từ giữa ra hai bên. Ngoài ra còn đổ bê tông thành bể nước, thành thang máy, cầu thang…… Khi thi công bê tông cốt thép phải đổ làm nhiều đợt, mạch ngừng giữa các đợt phải xác định trước. Vị trí đặt mạch ngừng sao cho nội lực ở vị trí đó tương đối nhỏ và phải vuông góc với phương truyền lực nén của kết cấu: Đối với cột thì mạch ngừng đặt tại vị trí tiếp giáp giữa đầu cột với mặt dưới của dầm, đối với sàn nấm thì đặt tại chân mũ cột, đối với dầm xiên mạch ngừng đặt tại chân dầm xiên, đối với cầu trục mạch ngừng đặt tại vai cầu trục hay phía trên cầu trục, đối với dầm, sàn mạch ngừng đặt ngay dưới chân bản sàn, sàn không sườn thì mạch ngừng đặt ở bất kỳ vị trí nào miễn sao song song với phương cạnh ngắn, sàn có sườn thì mạch ngừng đặt ở ¼ nhịp sàn nằm về phía bên phải. Chú ý xử lý mạch ngừng phải tạo nhám bề mặt của mạch ngừng. + Bảo dưỡng tháo dỡ coffa: – Bảo dưỡng bê tông giai đoạn đầu sẽ bắt đầu ngay sau khi bề mặt bê tông đã đủ cứng, không bị vỡ và việc bảo dưỡng phải tiến hành liên tục trong 12 giờ. – Bề mặt bê tông phải luôn giữ ẩm bằng cách tưới nước lên hoặc dùng vật liệu giữ nước phủ lên bề mặt để giữ cho bê tông luôn được ẩm. – Chỉ được tháo dỡ coffa khi cường độ bê tông đạt yêu cầu theo quy phạm thi công và nghiệm thu. Khi tháo coffa không được làm chấn động và rung ảnh hưởng kết cấu bê tông. Ngay sau khi tháo coffa phải kiểm tra sửa chữa tất cả các khuyết tật như vỡ, nứt, nẻ.

PHẦN HOÀN THIỆN

– CÔNG TÁC XÂY: + Do tính chất công trình là dang khung bê tông cốt thép chịu lực nên hệ tường chỉ mang tính chất bao che chủ yếu, ít tham gia chịu lực, vật liệu được dùng khi xây tường là gạch. Tuy nhiên, cũng cần phải tuân thủ ba nguyên tắc chính khi xây gạch là: + Gạch xây từng hàng phải phẳng mặt, vuông góc với phương của lực tác dụng vào khối xây hoặc góc nghiêng của lực tác dụng vào khối xây và phương vuông góc với khối xây phải <= 170 vì khối xây chịu nén là chính. Xây không được trùng mạch do đó các mạch vữa đứng của lớp xây tiếp giáp không được trùng mà phải lệch nhau ít nhất ¼ chiều dài viên gạch cả về phương ngang cũng như phương dọc. Các mạch vữa xây theo phương ngang và phương dọc trong một lớp xây phải vuông góc với nhau, không được phép xây các viên gạch vỡ hình thang, hình tam giác ở góc khối xây. + Vì vậy, đội ngũ công nhân thực hiện việc xây phải lành nghề, được chia thành tổ và phân công lao động phù hợp với các đoạn công tác trên mặt bằng. Đồng thời giữa các thợ chính, thợ chính với thợ phụ phải có sự phối hợp nhịp nhàng dây chuyền với nhau đảm bảo công việc được thực hiện một cách liên tục, nhịp nhàng không bị ngắt quãng. + Công việc xây được tiến hành sau khi hệ khung bê tông cốt thép đã được chình thành được một phần hay toàn bộ và coffa sàn, dầm, cột, hệ giằng chống đã được tháo dỡ, dọn dẹp ở hệ khung tầng dưới thì khi ấy ta có thể bắt đầu công việc xây ở tầng dưới và cứ như thế lên các tầng trên. 1. Chuẩn bị trước khi xây: ( Chuẩn bị vật liệu: ( Để đảm bảo kết dính tốt cho khối xây vữa xi măng được sử dụng là hợp phần của xi măng, cát, nước được trộn với nhau theo một tỷ lệ thích hợp tạo ra hỗn hợp có cường độ cao chịu được nước và nơi ẩm ướt. ( Do công trình là nhà ở chung cư nên gạch được sử dụng là gạch chất lượng cao có độ cứng cao, vuông góc thẳng cạnh, không bị nứt nẻ được sản xuất từ đất sét tạo khuôn và đem nung, có giấy chứng nhận của các cơ quan chuyên môn kiểm nghiệm do đó khả năng chống lại ảnh hưởng của thơi tiết cao. Gồm gạch ống 4 lỗ 80 x 80 x 190 và gạch thẻ 40 x 80 x 190. ( Sử dụng xi măng polăng holcim mác 200 cón trong thời hạn sử dụng và bảo quản trong kho bãi đùng tiêu chuẩn. ( Cát dùng là cát sạch, mịn không lẫn tạp chất, kích thước đồng đều, đúng yêu cầu trong cấp phối vữa xây. Nếu cát không sạch ta phải tiến hành sàn loại bỏ tạp chất trong cát. ( Nước sạch phải được lấy từ nguồn nước của khu vực. ( Cấp phối vữa phải được pha trộn thích hợp, tránh những trường hợp vữa non làm giảm độ liên kết hay vữa già gây lãng phí. Chất lượng của vữa xây tô được kiểm tra thí nghiệm trong phòng và trên hiện trường xây dựng. ( Chuẩn bị xây: Coffa dầm, sàn, cột và hệ giằng chống đã được tháo ra và dọn dẹp gọn gàng đảm bảo không vướng trong quá trình xây, đồng thời tạo ra một mặt bằng thuận lợi cho việc vận chuyển vật liệu xây đến đúng chổ và bố trí vật liệu khi xây như gạch, máng hồ……, khi xây lên cao cần phải bố trí giàn dáo. Thợ chính và thợ phụ đầu đủ. Dụng cụ xây gồm bay, thước, dây nhợ, bàn chà, nivô. Xác định tường xây là loại nào 100, 200 hay lớn hơn để xây hợp lý đúng kỉ thuật. Xác định tim mốc, vị trí xây. Thợ phụ vận chuyển vật liệu gạch, máng hồ, giàn dáo lại vị trí thợ chính, sắp chúng thích hợp trên mặt bằng xây. Nếu xây trên tầng cao thì vật liệu được chuyển lên bằng puli. 2. Trình tự và các yêu cầu kỹ thuật khi xây: – Xây từ dưới lên trên, tường chính xây trước, tường phụ xây sau, xung quanh xây trước, trong xây sau. – Nếu gạch khô phải tưới nước để đảm bảo gạch không hút nước của vữa tạo liên kết tốt khi xây. – Bề mặt tiếp giáp khối xây phải được trát một lớp hồ dầu để tạo độ liên kết giữa gạch và bề mặt tiếp giáp đó như dầm, cột. – Để đảm bảo cho tường thẳng và phẳng thì trong quá trình xây phải giăng dây nhợ và thường xuyên thả quả dọi. – Mạch vữa dao động từ 8 – 12mm, mạch vữa phải nằm ngang phải dày hơn mạch vữa dọc, bảo đảm mạch no vữa. Điều chỉnh tăng vữa ở phía vữa thấp nếu tường không ngang phẳng. – Có hai cách xây là 3 dọc 1 ngang hay 5 dọc 1 ngang. – Chú ý ở vị trí tiếp giáp giữa tường và dầm thì phải xây xiên, xây bằng gạch đinh đồng thời các lỗ trống phải miết hồ kĩ nhằm tránh trường hợp nứt ở mép tiếp giáp của tường với dạ đà. – Ở vị trí tiếp giáp của tường với mặt trên của đà cũng được xử lý một lớp hồ dầu khoảng 1cm và xây khoảng 03 hàng gạch đinh để chống nứt. – Khi xây chú ý chừa những lỗ trống trên tường để lắp dựng cửa, lam gió, đường điện, ống nước……sau này. – Sau khi khối xây vừa xong thì hạn chế các lực va chạm để khối xây đạt cường độ từ từ. – Nếu xây tiếp lên tường cũ thì cần phải vệ sinh tưới nước tường cũ trước khi xây tiếp. 3. Tổ chức làm việc: – Để đảm bảo chất lượng vật liệu như xi măng, cát, đá, gạch khi đưa đến công trình được kiểm tra nghiệm thu ngay xem có yêu cầu đã đề ra hay chưa (xi măng, gạch, đúng loại đúng mác…), nếu chưa thìp hải thay đổi ngay. Và sau khi khối xây đã hoàn chỉnh cũng phải kiểm tra nghiệm thu lần nữa cho đến khi công trình hoàn tất. Công việc này do chỉ huy trưởng phối hợp với những kỹ sư khác trên công trường đảm trách. Hỗn hợp vữa phải được pha trộn đúng tiêu chuẩn được kiểm tra chất bằng cách lấy mẩu thí nghiệm ngay tại công trường sau khi đã pha trộn xong về độ dẻo, độ sụt, độ đồng đều của vữa xây. – Các tổ đội thực hiện công tác xây có thể là của công ty hoặc ở ngoài có tính chuyên nghiệp được tổ chức làm việc xây chuyền. Mổi tổ xây đứng đầu là một trưởng nhóm, điều hành các thành viên khác trong tổ xây, chịu trách nhiệm về khu vực mình xây. Tổ trưởng xây phải xác định sơ bộ số lượng công nhân mình có sẵn để tìm ra biện pháp phân đợt phân đoạn hợp lý, khối lượng trong các phân đợt phân đoạn phải xấp xỉ bằng nhau để tránh gây biến động về nhân lực và đảm bảo cho xây không bị gián đoạn nửa chừng. – Người thợ tuyệt đối phải chấp hành các biện pháp an toàn lao động khi xây, nhất là khi đứng trên giàn dáo, làm việc trên cao phải có hành lang bảo vệ, đối với các tường ngoài thì phải có lưới bao che đề phòng vật rơi xuống dưới. – Tổ chức mặt bằng thi công phải tiện lợi phù hợp gồm 03 khu: khu vực thao tác xây, khu vực chứa vật liệu và khu vực chuyển tiếp vật liệu. Ba khu vực này không tách rời với nhau được. Đặc biệt là khi làm việc trên giàn dáo thì giàn dáo phải vững, sàn công tác phải chắc chắn để chứa vật liệu và thao tác xây. – Thông thường để cho công việc xây được liên tục thì cứ 01 thợ chính thì có 01thợ phụ, nếu kết cấu phức tạp, khối lượng nhiều thì số người phải lớn hơn. Gạch vữa được chuyển lên tầng bằng puli; vữa được trộn bằng máy hoặc thủ công có thể trộn ở dưới đất rồi chuyển lên hoặc chuyển xi măng lên tầng đang xây rồi trộn trên đó. Cần tiến hành trộn khô trước rồi sau đó trộn ướt sau. Thợ phụ phải cung cấp vật liệu ch othợ chính xây một cách đầy đủ nhằm tránh gián đoạn trong thi công gây lãng phí, hiệu suất kém.

II.CÔNG TÁC TÔ TRÁT: ( Để bảo vệ, tạo vẽ thẩm mỹ cho kết cấu tường, dầm……thì ta cần phải tiến hành tô trát. ( Có các loại trát như trát tường, trát lớp lót, trát lớp vữa nền, trát lớp vữa mặt, trát góc, trát cạnh góc lồi, trát lớp mặt, trát cạnh góc lõm, trát dầm trần…… 1. Chuẩn bị trát: – Dụng cụ: bay, bàn xoa, thước, nivô, dây nhợ…… Vật liệu là vữa xi măng mác 75 với cấp phối thích hợp. – Công việc trát được thực hiện sau khi các kết cấu cần tô đã được hình thành. – Chất lượng lớp trát phụ thuộc rất nhiều vào bề mặt cần trát, bề mặt cần trát cần phải đạt một độ cứng ổn định, chắc chắn rồi mới tiến hành trát; đối với tường thì cần phải chờ cho tường khô mới trát. – vệ sinh sạch sẽ bụi bẩn trên bề mặt trát, nếu bề mặt gồ ghề, lồi lõm thì cần phải đục đẽo hay đắp thêm tạo cho bề mặt tương đối bằng phẳng rồi mới tiến hành trát. – Tạo nhám cho bề mặt cần trát để vữa trát dính vào. – Nếu bề mặt trát khô quá thì tưới nước vào. – Trải bao ở phía dưới chân chổ trát nhằm tận dụng lại vữa rơi khi trát, tránh gây lãng phí. – Ngoài ra để tạo độ bám dính bề mặt tốt ta nên trát trước bề mặt kết cấu bằng một lớp hồ dầu. – Nếu trát bề mặt ngoài của tường thì phải đảm bảo giàn dáo và sàn công tác an toàn trước khi trát. – Thực hiện xong các công việc nêu trên ta gém hồ hay dùng đinh, gạch vỡ làm dấu lên mốc, phái trên đầu và cuối bức tường trước, sau đó mới tiến hành các mốc phía trong. Làm các mốc phía trên rồi thả quả dọi để làm mốc ở dưới và giữa tường. Khoảng cách các mốc về các phía phải nhỏ hơn thước tầm để dễ kiểm tra độ phẳng lớp trát. Mặt sàn thao tác trên giàn dáo và mặt sàn dưới chân giàn dáo phải quét dọn sạch sẽ trước khi tiến hành công việc. 2. Trình tự và các yêu cầu kỹ thuật khi trát: – Nhìn chung kỹ thuật trát các kết cấu là giống nhau chỉ có một số điểm riêng ta cần phải lưu ý do tính chất của nó trên bề mặt nhằm tạo ra một lớp trát có chất lượng, đạt yêu cầu. – Tiến hành trát trần, dầm trước rồi tới tường, cột sau. – Trát theo bề dày của mốc đánh dấu. Nên trát thử vài chổ để kiểm tra độ dính kết cấu. – Chiều dày lớp trát từ 10 – 20mm, khi trát phải chia thành nhiều lớp mỏng từ 5-8mm. Nếu trát quá dày sẽ bị phồng, dột, nứt thông thường chiều dày của một lớp trát nên không mỏng hơn 5mm và không dày hơn 8mm. Khi ngừng trát phải tạo mạch ngừng hình gãy không để thẳng, cắt lớp vữa trát thẳng góc. – Thực hiện tuần tự 03 lớp trát lót, lớp đệm và lớp ngoài. – Dùng vữa xi măng mác 75. – Lớp vữa trát phải bám chắc vào bề mặt các kết cấu công trình; loại vữa và chiều dày lớp vữa trát phải đúng yêu cầu thiết kế; bề mặt lớp vữa phải nhẵn phẳng; các đường gờ cạnh chỉ phải ngang bằng hay thẳng đứng. – Các lớp vữa trang trí thường có yêu cầu mỹ thuật cao. – Phải kiểm tra độ bám dính của vữa bằng cách gõ nhẹ trên mặt lớp vữa trát, tất cả những chổ bộp đều phải trát lại bằng cách phá rộng chổ đó ra, miết chặt mép vữa xung quanh, để cho se mặt mới trát sửa lại. Mặt tường, bể sau khi trát không có khe nứt, gồ ghề, nẽ chân chim hoặc vữa chảy. Phải chú ý chổ trát dưới bệ cửa sổ, gờ cửa, chân tường, chân lò, bếp, các chổ dễ bị bỏ sót khác. Các cạnh cột, gờ cửa, tường phải thẳng, sắc cạnh, các góc vuông phải được kiểm tra bằng thước. Các gờ bệ cửa sổ phải thẳng hàng với nhau. Mặt trên bệ cửa sổ phải có độ dốc theo thiết kế và lớp vữa trát ăn sau vào dưới khung cửa sổ ít nhất 10mm. – Tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc an toàn lao động khi làm việc trên giàn dáo hay trên cao. – Những chổ tiếp giáp giữa gạch với gỗ cần phải làm nhám bề mặt gỗ rồi mới trát. – Khi trát xong thì cần phải che đậy cẩn thận tránh tác động của thời tiết, và va chạm do vô tình tác động vào. Chú ý bảo dưỡng bề mặt trát, luôn giữ ẩm cho bề mặt trát trong 7 đến 10 ngày. – Trong quá trình tô trát nếu phát hiện trong vữa có thành phần hạt lớn như đá, sỏi… cần phải loại bỏ ngay. – Tận dụng lại vữa rơi bên dưới đã có vật lót để trát tiếp. Thông thường các tổ đội xây cũng đảm nhận luôn cả phần trát. Nguyên tắc tổ chức nhìn chung không khác xây là mấy. III. CÔNG TÁC LÁNG: + Lớp láng được thực hiện trên nền bê tông gạch vỡ, bê tông cốt thép. Cấu tạo chung gồm lớp vữa đệm và lớp láng mặt. + Lớp vữa láng có chiều dày từ 2-3cm, dùng vữa láng xi măng cát vàng mác 75 – 100. + Dụng cụ để láng cũng như trát gồm: bay, bàn xoa, thước, nivô, dây dọi…… vật liệu dùng để láng cũng như trát là hỗn hợp vữa xi măng và cát vàng phải đảm bảo. + Trước khi láng kết cấu phải ổn định và phẳng, vệ sinh thật sạch kết cấu cần láng, thông thường nền nhà rộng ta phải chia ô đánh mốc từng khu vực để láng, cao độ mặt nền sàn phải được kiểm tra rồi căn cứ vào tường, các góc xung quanh thiết lập lên mạng lưới các mốc phù hợp với chiều dài thước khi láng. + khi láng xong phải chú ý bảo quản bề mặt láng (che đậy cẩn thận) tránh 9id lại tuỳ tiện muốn đi phải lót ván vào lớp mới láng xong. + Chú ý công tác dưỡng hộ cho lớp láng nhằm giúp làm tăng chất lượng bề mặt láng vì vậy từ 7 -10 ngày đầu sau khi láng cong phải tưới nước dưỡng hộ. IV. CÔNG TÁC ỐP, LÁT: + Vai trò của công tác ốp lát là nhằm tăng tính thẩm mỹ của công trình, có tác dụng bảo vệ công trình chống lại tác động của thời tiết bên ngoài. Oáp được tiến hành trước lát. 1. Chuẩn bị ốp lát: + Chuẩn bị vật liệu dùng đế ốp lát là những vật liệu được chế tạo sẵn có máy sắc như gạch men Ceramic, gạch men,đá Granite…… gạch phải đúng chất lượng, đúng qui cách, không nứt nẻ giữ được đường nét hoa văn. + Vữa lót dùng là xi măng nguyên chất trộn với nước, ta cũng có thể pha trộn 5% hồ vôi so với thể tích của xi măng để tăng độ dẽo của vữa ốp. + Dụng cụ gồm: bay, nivô, thước, dao cắt gạch, giẻ sạch, dây…… + Dạt bõ những chổ lồi lõm trên bề mặt cần ốp, cho thêm vữa vào những chổ lõm đảm bảo cho bề mặt ốp bằng phẳng. + Kiểm tra lại cao độ nền nhà, độ phẳng của tường cần ốp lát, sửa lại bằng vữa xi măng. 2. Trình tự và các yêu cầu kỹ thuật khi ốp lát: + Ốp: Dùng thước kẻ một đường nằm ngang ờ chân tường cách nền bằng chiều rộng của một viên gạch cần ốp. Xác định viên mốc ở hai bên, trát vữa váo hai viên mốc dính vào tường. Căn cứ vào hai viên mốc xác định đường thẳng đứng, căng dây theo hàng thẳng đứng trát vữa xi măng ốp gạch hàng thẳng đứng. Căng dây theo 2 hàng thẳng đứng hai bên ốp các hàng phía trong, và cứ thế ốp cho đến hết độ cao cần ốp. Cuối cùng là dùng hồ xi măng trắng chà lên các khe hở của gạch (chà joint). + Lát: Trong khu vực cần lát cần kiểm tra lại các góc vuông xung quanh xem có chính xác chưa. Xếp ướm hàng gạch xung quanh để xác định viên gạch góc. Rải vữa lót cố định gạch góc bằng cao độ gạch cần lót, lát hàng gạch ở phía cạnh tường. Căng dây theo hai hàng gạch cạnh tường lót các hàng bên trong. Cuối cùng dùng hồ xi măng trắng chà lên các khe hở của gạch (chà joint). + Kiểm tra độ phẳng bằng thước dài khoảng 2m đặt áp và mặt ốp qui định là không quá 1mm trên 1m chiều dài về độ phẳng của bề mặt ốp lát, khe hở của thước và mặt ốp không quá 2mm. + Chiều dày mạch ốp giữa hai viên gạch theo phương đứng và phương ngang là 3mm đối với tấm ốp có kích thước lớn hơn 200 x 200mm, 2mm với tấm ốp có kích thước nhỏ hơn 200 x 200; với gạch men sứ, gạch gốm, đá nhân tạo mạch vữa lấy theo tính chất của phòng và kích thước tấm ốp. Các mạch vữa ngang dọc phải sắc nét, đều đặn, no vữa. + Phải chống rỉ ch ocác chi tiết kết cấu thép tiếp xúc với mặt ốp và các chi tiết thép giữ mặt ốp. Các chi tiết neo giữ (đinh, chốt, móc) phải mạ kẽm hoặc thép không rỉ. + Chú ý cẩn thận khi ốp lát không làm bẩn tấm ốp, vệ sinh bằng giẻ lau. Tránh các lực va chạm mạnh vào tấm ốp gây vỡ. Hoa văn khi ốp lát phải khớp với nhau. Chà joint phải đúng màu sắc thiết kế. + Trước khi ốp phải đặt xong hệ thống ống và đường dây điện ngầm, kết cấu ốp phải chắc, trước khi ốp phải tẩy sạch các vết dính dầu, mỡ trên bề mặt. + Mặt tường trát và mặt bê tông trước khi ốp phải đánh xờm, mặt vữa cement trát chổ ốp không xoa nhẵn mà phải khía thành lưới quả trám. Khoảng cách giữa các vạch khía không được lớn hơn 5cm và không được lớn hơn chiều rộng của viên gạch ốp. + Vữa đệm giữa kết cấu và gạch ốp phải dính kết tốt, không bị bong dộp, khi vỗ trên bề mặt ốp không có tiếp bộp. Tiến hành ốp lại những viên gạch bị bộp.

V. CÔNG TÁC QUÉT VÔI VÀ SƠN: + Công tác quét vôi và sơn được thực hiện sau khi trát xong nhằm làm tăng tính thẩm mỹ cho công trình chống lại tác hại của thời tiết. + Đối với công tác quét vôi: Vôi sử dụng là vôi tôi chín sàng lọc kỹ và hoà nước. Yêu cầu khi pha nước vôi là không quá đặc rất khó quét hoặc quá loãng thì khi quét vọi sẽ bị chảy. Trước khi quét bề mặt quét vôi phải vệ sinh kỹ và quan trọng là phải bằng phẳng không được lồi lõm vì vậy công tác trát ta phải thực hiện tốt, tạo ra bề mặt đúng yêu cầu kỹ thuật thì công tác quét vôi sẽ dể dáng hơn. Ta tiến hành quét hai lớp: lớp lót (quét một đến hai nước) và lớp mặt. Lớp trước khô mới tiến hành quét lớp sau. Dung cụ quét là chổi, tiến hành quét ngang và quét từ trên xuống (quét tường), quét trần thì thì đưa chổi song song với cửa. Trình tự quét từ trên cao xuống thấp, quét trần trước, tường quét sau, quét các đường biên, đường góc làm cơ sở để quét các mảng trần tiếp theo. Phải đảm bảo mặt quét không bị loang lổ, không lộ ra vết chổi hay giọt vôi đọng lại trên bề mặt làm giảm tính thẩm mỹ công trình, tránh để người đi va chạm vào bề mặt mới quét làm giảm độ đồng đều của màu sắc lớp bên ngoài. Chú ý quét vôi ở mặt ngoài tường phải tuân thủ các biên pháp an toàn lao động khi làm việc ở trên cao. Khi quét nên che đậy các bộ phận khác phía dưới tránh bẩn. Công nhân quét vôi phải có tay nghề cao. + Đối với công tác sơn nước: Bề mặt công trình được phủ lên một lớp sơn nước sẽ tạo ra một vẽ đẹp hoàn mĩ, sang trọng. Trước khi sơn nước người ta thường đánh lên tường một lớp bả mastic nhằm tạo độ nhẵn mịn cho tường nhờ vậy lớp sơn nước cuối cùng sẽ đạt được yêu cầu kỹ thuật. Một số yêu cầu kỹ thuật của lớp sơn bả mastic: phẳng, nhẵn, bóng, không rỗ, không bong rộp bề dày lớp bả không quá 3mm, bề mặt mastic không sơn phũ phải đều màu. + Các lổi kỹ thuật thường xảy ra với lớp mastic nguyên nhân và cách khắc phục: + Lớp mastic bị bụi phấn: + Nguyên nhân: Do bề mặt áp dụng bị quá khô, nước trong hỗn hợp nhão đã bị hút hết vào bề mặt, do đó quá trình ninh kết (chín) của hỗn hợp không xảy ra nên lớp mastic biến thành bụi phấn. Có thể khi pha trộn đã dùng lượng nước quá thấp cộng với việc trộn không đều cũng gây ra hiện tượng trên. Cũng có thể khi pha trộn xong đã thi công ngay, không chờ cho hoá chất phát huy tác dụng. + Khắc phục: Buộc phải cạo bỏ hết lớp mastic này, làm sạch bụi bám bằng nước và chổi cỏ, Chuẩn bị bề mặt thật kỹ, nếu bề mặt khô quá thì nên làm ẩm. Lượng nước pha trộn cần theo đúng tỉ lệ là nước 1, bột 3 (trong khoảng 16 -18 lít nước sạch cho một bao 40kg). Trộn cho thật kỹ và chờ ít nhất là từ 7 đến 10 phút cho hoá chất phát huy tác dụng sau đó quậy lại một lần nữa rồi mới bắt đầu thi công. + Lớp mastic bị nứt chân chim: + Nguyên nhân: Do lớp mastic này đã được trát quá dày, vượt độ dày cho phép là 3mm. + Khắc phục: Cạo bỏ hết những chổ nứt chân chim. Nếu bề mặt vùng đó màl õm sâu quá, thì nên dùng hồ xi măng tô thêm cho tương đối phẳng, rồi trát lớp mastic mới. + Ngoài sơn nước cho công trình, sơn còn dùng để sơn cửa đi, cửa sổ, những cấu kiện cần trang trí màu……Trước khi quét phải làm vệ sinh sạch sẽ bề mặt cần sơn không để bụi bám vào lớp sơn còn ướt. Chọn sơn đúng loại công trình đề ra. Không nên quét sơn vào những ngày nóng quá (lớp sơn ngoài sẽ khô trước lớp sơn trong không đảm bảo chất lượng) hoặc lạnh quá (sơn lâu khô). + Sơn được quét làm nhiều lớp. Trước quét lớp lót sau đó quét lớp mặt. Lưu ý là lớp trước khô mới quét lớp sau. Phải bảo quản tốt khi sơn còn chưa khô. + Chọn hướng quét sao cho lớp cuối cùng phải theo đường thẳng đứng đối với tường, hướng ánh sáng từ cửa vào đối với trần, theo chiều thớ gỗ đối với mặt gỗ. + Các lổi kỹ thuật thường xảy ra với sơn nước: + Màn sơn bị rổ: Trên bề mặt màng sơn có những hạt hoặc rổ. + Trường hợp có hạt: Do có những vẩy hoặc những mẩu sơn khô. Vì các nguyên nhân sau: Sơn bị khô trên thành vật chứa sơn khi thi công hay do bụi bẩn bám vào. Sau khi thi công lần trước không rửa sạch dụng cụ thi công để các váy sơn sót lại. Vệ sinh bề mặt không kỹ, để lại trên bề mặt nhiều bụi (sau khi xả nhám lớp mastic). + Trường hợp có lổ: do pha sơn quá loãng đã tạo ra nhiều bọt khí. Khi thi công thì bọt khí hiện diện trên màng sơn. Khi khô vỡ ra thành lỗ. Nếu là sơn dung môi – sơn dầu – thì do xử lý bề mặt cần sơn không được kỹ. + Màng sơn bị nhăn: Sau khi khô màng sơn bị nhăn nheo, sần sùi, không mượt, phẳng. + Con lăn (roller) không thích hợp: Con lăn có lông quá dài sẽ tạo nên bề mặt có vân lớn sần sùi. Sơn quá dày hoặc sơn không đều, chổ dày, chổ mỏng làm cho sơn không khô cùng lúc. Bề mặt bên ngoài khô trước, lớp bên trong vẫn chưa kịp khô nên bề mặt ngoài bị nhăn. Sơn dưới trời nắng gắt, lớp ngoài bị khô quá nhanh, lớp bên trong chưa kịp khô nên bề mặt ngoài bị nhăn. Sơn xong gặp trời lạnh, nhiệt độ giảm đột ngột cũng làm cho lớp trong khô chậm và lớp ngoài khô nhanh. + Màu sơn không đồng nhất: khi chỉ dùng một loại sơn màu nhưng không đều màu. + Do không khuấy đếu thùng sơn trước khi lăn. Thợ thi công không đều tay. Dụng cụ thi công khác nhau. Dặm vá không khéo léo. Mỗi lần thi công sơn được pha loãng với một tỉ lệ khác nhau. + Sự phấn hoá: Bề mặt màng sơn có bột trắng. + Dùng loại sơn rẽ tiền, tỉ lệ chất độn/ chất tạo màng cao. Tia tử ngoại và thời tiết ảnh hưởng xấu đến màng sơn. Do pha sơn quá loãng làm giảm độ kết dính của sơn. + Màng sơn bị phồng rộp: Sau khi khô, hình thành túi (bóng) khí trong màng sơn. + Do bề mặt sơn thường xuyên bị ẩm ướt. Do thi công trên bề mặt quá ẩm. Điều kiện thi công không đảm bảo: nhiệt độ thấp, thời tiết quá ẩm ướt. Thời gian sơn cách lớp quá ngắn. Đối với sơn dung môi: Do nhiệt độ quá cao dung môi bay hơi nhanh trên màng sơn chưa liên kết. + Màng sơn bị bong tróc: Sau khi khô, màng sơn bị bong tróc, có hai hiện tượng: tróc toàn bộ lớp màng, tróc 1 hoặc hơn 1 lớp màng. + Xử lý bề mặt không tốt, còn bụi bám hay các chất làm giảm độ bám dính như dầu, mỡ, sáp……Thi công không đúng hệ thống, không sử dụng sơn lót……Do màng sơn đã bị phồng rộp hoặc phấn hoá. Dùng lớp sơn hệ dung môi mạnh hơn hệ dung môi của lớp sơn trước. Thi công dưới điều kiện sự tạo màng bị cản trở như nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp hoặc có nhiều gió làm cho màng sơn bay hơi quá nhanh. + Màng sơn bị nứt nẻ: Sau khi khô, màng sơn xuất hiện những vết rạn, vết nứt. + Sử dụng loại sơn rẽ tiền, chất lượng quá thấp. Pha quá loãng hoặc lăn sơn quá mỏng. Dùng hai lớp sơn có độ co dãn khác nhau. Sử dụng lớp mastic không đạt chất lượng, dể bị răn, nứt. Kết cấu vật cần sơn yếu. Ví dụ như móng bị lún, tường bị xé. + Màng sơn bị rêu mốc: Sau khi khô, trên màng sơn những đốm, vệt mốc đen. + Do bề mặt cần sơn bị ẩm. Sơn lớp sơn lên bề mặt đã bị mốc sẵn mà không qua xử lý. Sơn lớp sơn quá mỏng hoặc chỉ sơn một lớp, không đủ chất lượng chống mốc cần thiết. Dùng sơn nội thất đem sơn ngoại thất. + Màng sơn bị mất màu: Sau khi khô một thời gian, màng sơn bị nhạt màu hoặc mất hẳn màu. + Màng sơn bị phân hủy dưới tác dụng của tia tử ngoại và nhiệt độ cao. Dùng sơn nội thất đem sơn ngoại thất. Bị cháy do kiềm hoá: do không dùng lớp sơn lót chống kiềm. Nhà sản xuất dùng màu không phù hợp mục đích sử dụng. + Màng sơn bị cháy kiềm ( kiềm hoá): Màng sơn bị mất màu, có những đốm loang. + Do độ kiềm của hồ, vữa quá cao tấn công vào lớp màng sơn, làm suy yếu chất kết dính, dẫn đến mất màu và xuống cấp toàn bộ màng sơn. Do lớp vữa hồ quá tươi hoặc lớp mastic có độ kiềm cao. Không dùng lớp sơn lót chống kiềm. + Màng sơn bị muối hoá: bề mặt màng sơn có một lớp chất trắng như muối, thường gặp nhất là sơn màu đậm. + Do thi công trên bề mặt tường mới và ẩm. Sự hình thành muối canxi CaCO3 do ẩm và mưa đọng lại trên bề mặt màng sơn. + Màng sơn bị xà phòng hoá: Bề mặt màng sơn bị nhớt và biến màu, thường xảy ra ở sơn dung môi. + Do hồ vữa mới có độ kiềm cao phản ứng với sơn. Do xà phòng hoặc kiềm đọng lại trên màng sơn một thời gian dài. + Màng sơn bị lệch màu: khi dặm vá bị lệch màu. + Do sử dụng sơn khác màu để dặm vá. Lớp lót không đều hoặc không lót, nên khi dặm vá giống như sơn lớp thứ hai lê lớp thứ nhất. Sử dụng dụng cụ thi công khác nhau để dặm vá. Nhiệt độ khi dặm vá khác với khi sơn các lớp sơn trước. Người thi công có tay nghề kém. Nhà sản xuất kiểm soát màu không kĩ. + Màng sơn có độ phủ kém: Bề mặt màng sơn không che phủ hết lớp nền. + Pha sơn quá loãng. Sử dụng loại sơn rẽ tiền. Gia công không đúng qui trình. Tay nghề thi công thấp, lăn không đều. + Màng sơn bị chảy: Bề mặt màng sơn không bằng phẳng. Do vệ sinh bề mặt cần sơn không kỹ, còn sót lại nhiều bụi của lớp mastic. Pha sơn quá loãng, tay nghề thi công kém.

VI. CÔNG TÁC GIA CÔNG, LẮP ĐẶT CỬA: Đây là công việc có nhiều đặc thù riêng và yêu cầu về chất lượng, mỹ thuật cao, nên từ việc chế tạo, lắp dựng, bảo quản đều phải cẩn thận tỉ mỉ và chính xác để đảm bảo bền vững và an toàn. Độ bề của cửa phải thoả các yêu cầu sau: + Độ bền cơ học. + Độ bền chịu áp lực gió. + Độ bền chịu thấm nước. + Độ lọt không khí. + Biện pháp chống côn trùng, nấm mốc. + Vật liệu cửa: Vật liệu gỗ, sắt, nhôm theo yêu cầu thiết kế. Riêng vật liệu gỗ độ ẩm của gỗ gia công cửa từ 13% đến 17% nhờ qua lò sấy. + Chất kết dính: yêu cầu đảm bảo gắn chặt các mối liên kết của khung cánh, bền, chống ẩm, chỉ sử dụng chất kết dính khi gia công các chi tiết gỗ có độ ẩm <= 15%. Cửa được gia công đúng thiết kế về kiểu dáng, kích thước, mặt cắt và phụ tùng cửa. + Liên kết các thanh cửa, khuôn cửa, khung cánh bằng mộng, chốt và chất kết dính tạo thành khung cứng, hạn chế vít, ke chìa ra ngoài làm mất thẩm mỹ. + Liên kết khung cửa với tường bằng các đầu mút đố chính ở đỉnh, bật sắt hoặc vít nở. + Nẹp cửa có độ dày không đổi suốt dọc thanh, màu sắc hoà hợp màu cửa, liên kết với cửa bằng đinh vít. Phụ tùng cửa: Số lượng, chủng loại, kích thước, phương pháp cố định từng loại phụ tùng theo đúng yêu cầu thiết kế, đúng mẩu mã đã được thống nhất trước. Khi lắp đặt cửa đặt đúng độ cao và kích thước thiết kế, thẳng đứng, vuông góc, không cong vênh. + Lắp đặt khuôn cửa khi thi công khối tường, bản lề, bật sắt liên kết với khối xây bằng vữa xi măng cát vàng. + Bộ cửa sau khi lắp được cố định tạm cho khi lớp vữa gắn kết với tường đạt cường độ chịu lực. Đảm bảo bao bọc kín cửa đã lắp để chất bẩn không bám vào. VII. CÔNG TÁC CHỐNG THẤM, CHỐNG NÓNG MÁI, SÊNÔ: Đặt ống thoát nước mưa cho mái nhà theo thiết kế Quanh chân ống thoát phần tiếp giáp với nền sàn phải được chèn kỹ bằng cao su tổng hợp chuyên dụng. + Miệng thu nước của ống thoát đặt tại cuối chiều dốc nước của sênô. + Miệng thu nước của ống thoát đặt cùng một lúc khi đổ bê tông sênô. + Đặt lưới chắn rác trên miệng thu của ống thoát. + Chân ống thoát nước cần được xử lý để dể dàng lấy rác ra khỏi ống khi cần thiết. + Cần kiểm tra định kỳ tình trạng vệ sinh trên mái. + Ngâm nước xi măng 8kg/m3, 7 ngày đêm, 2 giờ khuấy 1 lần cho sàn bê tông cần chống thấm. + làng vữa theo đúng độ dày, độ dốc và mác vữa, đúng quy trình chống thấm thiết kế yêu cầu: Láng bằng cách căng gióng dây để gắn tickê hai đầu và một số điểm, trải lớp vữa đúng độ dày yêu cầu. Dùng bàn xoa gỗ vỗ đều và xoa phẳng. Bảo dưỡng ẩm trong thời gian 7 ngày. + Để đảm bảo yêu cầu chống thấm tốt, lớp bê tông chống thấm được thi công trình tự như sau: Thành phần bê tông chống thấm theo cấp phối thiết kế. Đầm bê tông bằng máy. Bảo dưỡng tốt. VII. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỔ CHỨC THI CÔNG TRONG CÔNG TÁC HOÀN THIỆN: So với các công tác khác trong xây dựng công tác hoàn thiện không đặt nặng về vấn đề chịu lực cho công trình nhưng lại đòi hỏi khắc khe về thẩm mỹ vì vậy đội ngũ công nhân làm công tác hoàn thiện phải có tay nghề cao, có con mắt thẩm mỹ sâu. Người ta vẫn nói ngành xây dựng là một trong 10 ngành mỹ thuật của thế giới và sự rực rỡ của nó về hình thức sẽ làm cho bộ mặt của thành phố, của đất nước được nâng lên. Nói như thế ta mới biết được tầm quan trọng của công tác hoàn thiện và những người tạo nên nó. Do tính chất mỹ quan đó mà công tác hoàn thiện được làm sau cùng. Thông thường công nhân làm công tác hoàn thiện tính công theo m2, các tổ đội này là chuyên nghiệp thường là của công ty hoặc cũng là tổ đội ngoài. Tổ chức tổ đội thường là một người tổ trưởng và các thành viên khác, bố trí mỗi người làm việc ở một khu vực cụ thể khác nhau. Người tổ trưởng phải thường xuyên kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ để kịp thời phát hiện những sai sót, nhắc nhỡ những sai sót từ đó tìm ra hướng giải quyết hợp lý. Có thể có nhiều tổ đội cùng làm công tác hoàn thiện song song với nhau nếu công trình lớn, đòi hỏi thời gian. Khi hoàn thiện thì tiến hành theo trình tự từ trên xuống và từ trong ra ngoài với các khâu hoàn hoaøn thiện như làng, trát……Dụng cụ và máy móc phục vụ thi công cho công tác hoàn thiện được chuyên môn hoá cao như máy khoan lổ gạch, máy mài tường độ phẳng cao…… Công nhân làm công tác hoàn thiện phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc an toàn lao động đặc biệt là trong sơn nước công trình khi phải làm việc với giàn dáo ở trên cao. Hệ giàn phải vững chắc, nếu là thang dây thì phải vững vàng. ***** CÁC SAI SỐ CHO PHÉP THEO QUY PHẠM: Sai số cho phép: Theo TCVN 4453-87 nhưng có thêm yêu cầu ngoại trừ khi có ghi chú đặc biệt trong bản vẽ hay phần khác của yêu cầu kỹ thuật, sai số cho phép của ván khuôn thi công sẽ không được vượt quá giới hạn như sau: 1. Sai số so với thiết kế chiều dài: a. Đường thẳng và mặt phẳng của cột, tường: – Dài <3m sai số 6mm. – Dài <6m hay trong cùng 01 tầng lầu sai số 9mm. – Dài <12m hay trong cùng 01 tầng lầu sai số 18mm. b. Cột, khe nối những đường nét trang trí: – Dài tối đa 6m sai số 6mm. – Dài tối đa 6m sai số 9mm. 2. Sai số về vị trí của tường, cột so với vị trí thiết kế của trục: a. Sai số về độ cao – sàn công tác, sàn nhà văn phòng, trần nhà các tầng. – <3m sai số 6mm. – <9m sai số 9mm. – <12m sai số 12mm. b. Sai số về mặt bằng so với thiết kế – Trong 01 nhịp cột <6m sai số 12mm. Khi thi công chỉ thực hiện trong ranh giới đất. Sai số về vị trí các lổ hổng trên sàn, tường (kể cả lối đi, cửa sổ) : 24mm. c. Sai số cốt thép: Cốt thép của cấu kiện có độ dày bệ tông phủ mặt nhỏ hơn 20mm ± 8m. Khoảng cách giữa giữa các thanh thép ± 12mm. Các công tác như gia công cốt thép, sơn chống rỉ, sơn phủ mặt ngoài, chiều dài đường hàn, cường độ các mối hàn, chiều dày đường hàn sẽ được thực hiện theo đúng TCVN. d. Xử lý bề mặt: Tất cả các cấu kiện thép sẽ được làm sạch bề mặt, cạo hết rỉ sét (nếu có) trước khi sơn chống rỉ. Độ dày lớp sơn tối thiểu 50 µm và được chở tới công trường sau khi sơn chống sét tối thiểu 48 giờ để sơn cho thật khô.

AN TOÀN LAO ĐỘNG

Trong các ngành kỹ thuật đặc biệt là trong ngành xây dựng vấn đề an toàn lao động trong lúc thi công, sản xuất luôn là vấn đề quan trọng được đặt lên hàng đầu. Chỉ có một hoạch định an toàn lao động cụ thể, có hiệu quả cao mới giúp cho người lao động có một tâm lý vững vàng hoàn thành nhiệm vụ được giao, tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt. Thông thường trong xây dựng ngoài đội ngũ giám sát về mặt kỹ thuật còn bố trí thêm một đội ngũ giám sát về an toàn lao động trên công trường. Đội ngũ này làm ột nhóm kỹ sư có chuyên môn về an toàn lao động được đào tạo ở các trường, được giao nhiệm vụ thiết lập các biện pháp làm việc an toàn, nhắc nhở chỉ dẫn người công nhân trong những trường hợp làm việc mà họ không lường trước nguy hiểm nhằm đảm bảo tính mạng cho họ góp phần không nhỏ vào việc hoàn thành công trình đúng tiến độ vì khi xảy ra tai nạn lao động công trình có khi phải dừng xây dựng tiếp. Tổ chức bộ máy làm công tác an toàn lao động trên công trường gồm một trưởng nhóm và khoảng 03 thành viên khác. Mỗi người chịu trách nhiệm về một khu vực cụ thể trên công trường đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho công nhân làm việc được an toàn. Nhiệm vụ của nhóm giám sát an toàn lao động: – Chịu trách nhiệm chính về an toàn lao động trong khu vực được phân công giám sát. – Có quyền đình chỉ công việc khi có sự mất an toàn trong khu vực giám sát. – Tuyên truyền, phổ biến các quy tắc an toàn lao động cho công nhân thực hiện. – Kiểm tra đôn đốc hướng dẫn an toàn khi thi công các bộ phận sản xuất theo khu vực được phân công. – Đề ra các biện pháp an toàn cụ thể trên công trường. – Phát hiện kịp thời những trường hợp vi phạm về an toàn của công nhân, báo lên chỉ huy trưởng công trình để có hình thức kỉ luật cụ thể. – Nhắc nhở công nhân trang bị bảo hộ lao động khi làm việc. – Nhiệm vụ của chỉ huy trưởng công trình: Thành lập tổ an toàn lao động, phân giao trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên trong tổ. Thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật cũng như các quy phạm mà Nhà nước ban hành. Thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản chỉ thị của công ty. Tổ chức cho người lao động trên công trường được ký hợp đồng lao động, huấn luyện an toàn lao động, kiểm tra sức khoẻ, tổ chức bộ phận y tế cấp cứu, bộ phận phòng cháy chửa cháy ở công trường. Lập sổ theo dõi, ghi chép nhật ký công trình. Hướng dẫn kiểm tra nhắc nhở thực hiện công tác an toàn lao động trên công trường qua các cuộc họp giao ban. Khen thưởng những cá nhân tập thể làm tốt công tác an toàn lao động, đồng thời xử lý kỷ luật những trường hợp vi phạm. Tiếp thu ý kiến cấp dưới và tìm hướng giải quyết thích hợp. Nhiệm vụ và trách nhiệm của người lao động: Nhận thức đúng đắn công tác bảo hộ lao động để bảo vệ lợi ích cho gia đình, cá nhân và xã hội. Cẩn thận lường trước những nguy hiểm trong công việc mình đang làm. Tuân theo sự phân công của người có trách nhiệm trên công trường. Làm tốt công việc của mình, không làm bừa, làm ẩu, không làm những công việc mà mình không có chuyên môn. Loại bỏ tư tưởng trả thù cá nhân d6ẽ gây ra tại nạn đáng tiếc, đoàn kết cùng mọi người làm tốt công việc. Có quyền từ chối khi điều kiện làm việc không đảm bảo an toàn. Phải có tinh thần trách nhiệm cao, kịp thời phát hiện góp ý ngăn cản những trường hợp vi phạm quy tắc an toàn lao động. QUY TẮC AN TOÀN ĐỀ PHÒNG TAI NẠN VẬT RƠI, ĐỔ TRÊN CÔNG TRƯỜNG XÂY DỰNG: Công trường xây dựng phải có các phương án thi công, các biện pháp an toàn lao động đề phòng tai nạn vật rơi đổ. Khi làm việc trên cao phải có túi đựng dụng cụ thi công, không được bỏ trong túi quần áo. Sử dụng dụng cụ đồ nghề, máy móc thiết bị, phương tiện bảo vệ cá nhân (như nón bảo hộ lao động),……đúng chủng loại có chất lượng tốt đảm bảo an toàn phù hợp với công việc và điều kiện làm việc. Không đùa nghịch, tung ném dụng cụ, vật liệu hay bất cứ vật gì trong khu vực thi công. Khi giàn dáo cao hơn 6m, phải có ít nhất hai tầng sàn. Sàn thao tác bên trên, sàn bảo vệ bên dưới. Khi làm việc đồng thời làm việc trên hai sàn thì giữa hai sàn có sàn hay lưới bảo vệ. Sàn công tác bên trong nhà để xây, thì bên ngoài nhà phải đặt rào hoặc biển cấm, cách chân tường 1,5m nếu xây ở độ cao không hơn 7m hoặc cách chân tường 2m nếu xây ở độ cao lớn hơn 7m. không được thi công cùng một lúc ở hai tầng hoặc nhiều tầng trên một phương thẳng đứng nếu không có thiết bị bảo vệ an toàn cho người làm việc ở dưới. Khi tháo dỡ coffa phải tháo dỡ theo trình tự hợp lý, phải có biện pháp đề phòng coffa rơi hoặc kết cấu công trình bị sập đổ bất ngờ, phải có rào chắn và biển báo các lỗ hổng của công trình. Coffa sau khi tháo dỡ phải được nhổ đinh và xếp vào nơi qui định, không để coffa lên sàn công tác, chiếu nghỉ của cầu thang, ban công, các mặt dốc, các lối đi sát cạnh lỗ hổng hoặc các mép ngoài của công trình hoặc ném coffa từ trên cao xuống. Các hố cầu thang, mép sàn tầng, lổ tường……phải có lan can, rào chắn, biển báo, luới bảo vệ che đậy. Các lối đi qua lại phìa dưới giàn dáo và giá đỡ phải có che chắn bảo vệ phía trên, Trong phạm vi có người thường làm việc gần các khối nhà cao tầng phải có sàn, lưới bảo vệ bên trên để tránh vật liệu, dụng cụ từ trên cao rơi vào người. Khi chuyển vật liệu thừa, vật liệu thải từ trên cao trên 3m xuống phải có máng trượt hoặc các thiết bị nâng khác. Miệng dưới máng trượt đặt cách mặt đất không quá 1m. không được đổ vật liệu thừa, thải từ trên cao xuống khi bên dưới chưa có rào chắn, chưa đặt biển báo và chưa có người cảnh giới. Các vật liệu, dụng cụ trên mái phải có biện pháp chống lăn, trượt theo mái dốc, kể cả trường hợp do tác động của gió. Không xếp tải lên giàn dáo, giá đỡ, thang, sàn công tác……không đúng nơi qui định. Không đi vào vùng nguy hiểm, nơi đã ngăn rào, giăng dây hoặc biển báo……trường hợp làm việc trong vùng nguy hiểm phải thực hiện các biện pháp an toàn thích ứng. Trong quá trình cẩu lắp, không được để người đứng, bám trên kết cấu, cấu kiện đi qua phía trên đầu người. Sau khi buộc móc, phải nâng tải lên đến độ cao 20cm rồi dừng lại kiểm tra mức độ cân bằng và ổn định của tải. QUY TẮC AN TOÀN SỬ DỤNG THIẾT BỊ NÂNG: Thiết bị nâng chỉ được đưa vào sử dụng sau khi đã được kiểm định kĩ thuật an toàn đạt yêu cầu và đăng ký sử dụng theo đúng quy định. Công nhân điều khiển thiết bị nâng phải được đào tạo (có bằng hoặc giấy chứng nhận điều khiển thiết bị nâng đúng với chủng loại thiết bị), huấn luyện kĩ thuật an toàn, được cấp thẻ an toàn và có quyết định bố trí điều khiển thiết bị nâng bằng văn bản. Đặt cần trục phải hạ đủ các chân chống, kê lót chống lún bảo đảm ổn định của cần trục. Phải đảm bảo khoảng cách nhỏ nhất từ thiết bị nâng hoặc tải đến đường dây điện như sau: 1,5m đối với đường dây có điện áp đến 1KV 2,0m đối với đường dây có điện áp đến 1-22KV 4,0m đối với đường dây có điện áp đến 35-110KV 6,0m đối với đường dây có điện áp đến 220KV 9,0m đối với đường dây có điện áp đến 500KV Phải đảm bảo khoảng cách từ phần quay của cần trục đến chướng ngại vật ít nhất là 1m. Phải có người đánh tín hiệu cho thiết bị nâng. Nếu lái cần cẩu thì nhìn thấy tải thì tín hiệu do công nhân móc cáp thực hiện. Phải thường xuyên kiểm tra tình trạng dây cáp thép của thiết bị nâng, xích buộc tải. Nếu có dấu hiệu hư hỏng bị dập, bị mòn, nổ, rỉ sét…quá tiêu chuẩn cho phép thì loại bỏ. Kết quả kiểm tra phải ghi vào sổ theo dõi vận hành thiết bị. Phải có phương pháp buộc móc tải an toàn bảo đảm tải không tuột rơi trong quá trình cẩu chuyển. Công nhân móc tải phải được đào tạo kĩ thuật móc tải và phải có thẻ an toàn. Khi thi công cẩu bằng phương án sử dụng hai cẩu thì phải có phương án thi công, phải có giải pháp an toàn được tính toán và phê duyệt đúng qui định. Tải phân bố lên mỗi thiết bị nâng không được lớn hơn trọng tải. Phải giao trách nhiệm cho người có kinh nghiệm về công tác nâng chuyển chỉ huy trong quá trình nâng chuyển. Khi thiết bị nâng hoạt động: Cấm người đứng giữa tải và chướng ngại vật. Cấm đứng dưới độ vươn tay cần của cần trục, kể cả trong bán kính tay cần rơi xuống khi bị đứt dây chừng và không gian phía trước, sau mâm xe của thiết bị nâng. Cấm cẩu quá tải trọng cho phép của thiết bị nâng. Cấm nâng hạ tải lên thùng xe ôtô khi có người đứng trên thùng xe. Cấm cẩu tải ở trạng thái dây cáp xiên, cấm kéo lê tải trên mặt đất. Cấm cẩu tải bị vùi dưới đất, bị vật khác đè lên hoặc bị liên kết với nền móng và vật khác.

QUY TẮC AN TOÀN LÀM VIỆC TRÊN CAO TRONG XÂY DỰNG: Công nhân làm việc trên cao phải đảm bảo tiêu chuẩn về sức khoẻ, có giấy chứng nhận của cơ quan y tế cấp, phải sử dụng đầy đủ các trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân khi làm việc trên cao như dây an toàn, nón nhựa cứng, ván lót, than……không được bố trí phụ nữ có thai, đang cho con bú, trẻ em dưới 18 tuổi làm việc trên cao. Những giếng hầm hố trên măt bằng và lổ trống trên các sàn tầng công trình phải được đậy kín và rào ngăn chắc chắn. Tại vị trí sàn công tác hoặc lối đi lại trên cao nguy hiểm phải có lan can bảo vệ, lan can bảo vệ phải cao 1m và có ít nhất hai thanh ngang có khả năng giữ người khỏi bị ngã. Thang di động phải đảm bảo chắc chắn: chiều rộng chân thang ít nhất là 0,5m thang không bị mọt, oằn cong khi đưa vào sử dụng, chiều dài của thang phải thích hợp với độ cao cần làm việc. Thang phải đặt trên mặt nền bằng phẳng, ổn định và chèn giữ chắc chắn. Không tực thang nghiêng với mặt phẳng nằm ngang lớn hơn 600 hoặc nhỏ hơn 450. khi nối dài thang phải dùng dây buộc chắc chắn và đầu thang phải neo buộc vào công trình, phải kiểm tra tình trạng an toàn chung của thang trước khi sử dụng. Phải lót ván hoặc thang trên mái nhà lợp tole Fibrô ximăng hoặc tole nhựa để cho công nhân di chuyển làm việc. Nghiêm cấm đi trực tiếp lên các tấm tole Fibrô ximăng, tole nhựa. Khi làm việc trên mái có độ dốc lớn hơn 250 công nhân phải đeo dây an toàn, phải sử dụng thang gấp đặt qua bờ nóc để đi lại an toàn. Không sử dụng giàn dáo, giá đỡ, nôi, thang khi không đáp ứng được những yêu cầu kỹ thuật và điều kiện an toàn lao động như không đầy đủ các móc neo, dây chằng hoặc được neo vào các bộ phận kết cấu kém ổn định như lan can, mái đua, ban công…cũng như vào các vị trí chưa tính toán để chịu lực được lực neo giữ. Khi sử dụng phải theo đúng chức năng của chúng. Cấm xếp tải lên giàn dáo, giá đỡ, nơi ngoài những vị trí đã qui định. Khi làm việc từ độ cao 2m trở lên hoặc chưa đến độ cao đó, nhưng dưới chổ làm việc có các vật chướng ngại nguy hiểm thì phải trang bị dây an toàn cho công nhân hoặc lưới bảo vệ nếu không làm được sàn thao tác, sàn làm việc bên trên, sàn bảo vệ bên dưới. Cấm đứng trên các kết cấu, cấu kiện lắp ráp chưa được ổn định chắc chắn, lối đi lại trên các bộ phận lắp ráp phải theo chỉ dẫn trong thiết kế. Không uống rượu bia, sử dụng các chất kích thích mạnh như thuốc lào…trước và trong quá trình làm việc trên cao. GIẢI PHÁP ĐỀ PHÒNG ĐIỆN CHẠM MÁT (trong lưới điện hạ thế có trung tính nối đất trực tiếp) Bảo đảm điện trở cách điện của thiết bị không nhỏ hơn 0,5 M(. Mỗi thiết bị điện phải có lý lịch máy và được định kì kiểm tra đo điện trở cách điện (6 tháng hoặc 1 năm/lần). Vỏ kim loại của máy điện, tủ lạnh điện, bộ phận truyền động của thiết bị điện……phải được nối “không”. Dây “không” bảo vệ (ký hiệu P.E) là dây dẫn từ điểm trung tính của máy phát điện hoặc máy biến áp (đối với mạng điện xoay chiều 3 pha) hoặc từ đầu ra được nối đất (đối với nguồn 1 pha). Dây P.E phải có tiết diện không nhỏ hơn 0.5 tiết diện dây pha. Dây “không” bảo vệ (dây P.E) phải được nối đất lập lại ở đầu vào từ đường dây đến thiết bị cần nối “không” cà cuối đường dây cũng như cuối các nhánh rẽ có chiều dài lớn hơn 200m. Trường hợp không thực hiện được nối “không”, cần lắp đặt thiết bị cắt điện bảo vệ dòng điện rò (ELCB hoặc cầu dao chống giật) để ngắt mạch điện khi có sự cố rò điện. Khi sử dụng thiết bị cắt điện bảo vệ dòng điện rò, hệ thống điện và phụ tải điện phải bảo đảm kĩ thuật để hạn chế dòng điện rò để thiết bị làm việc chính xác, tin cậy. Khi lắp đặt ELCB cần chú ý chỉ có các dây pha và dây trung tính được lắp vào các cực vào và ra của ELCB (loại ELCB 3 pha 4 cực hoặc ELCB 1 pha 2 cực). Dây “không” bảo vệ P.E không được phép đi qua ELCB. V. QUY TẮC AN TOÀN ĐỐI VỚI ĐIỆN CAO THẾ: – Tuân thủ đầy đủ các quy trình kỹ thuật an toàn khi tiến hành công việc thi công xây lắp, sửa chữa, cải tạo đường dây tải điện: khảo sát hiện trường, đăng ký cắt điện bàn giao đường dây tại hiện trường, thực hiện các biện pháp thử điện nối đất, cô lập 2 đầu đoạn dây công tác. – Khi tiến hành thi công các công trình xây dựng trong vùng nguy hiểm của đường dây tải điện cao thế trên không đang hoạt động phải có giấy chứng nhận của cơ quan quản lý đường dây và các điều kiện đảm bảo an toàn cho việc thi công. Vùng nguy hiểm của đường dây tải điện được qui định như sau:

Điện áp (KV) Khoảng cách (mét) Dưới 1 2,0 Từ 1 – 20 10 35 15 110 20 Từ 150 – 220 25

Tuyệt đối không vi phạm khoảng cách an toàn bảo vệ đường dây tải điện cao thế. Khoảng cách an toàn bảo vệ tương ứng với các cấp điện áp được quy định như sau: Điện áp đường dây tải điện Khoảng cách nhỏ nhất đối Trên không( KV) Với từng dây pha (mét)

15 KV (dây có vỏ bọc) 1,0 15 KV (dây không có vỏ bọc) 2,0 110 KV 4,0 220 KV 6,0 QUY TẮC AN TOÀN HÀN ĐIỆN: – Đối với công nhân hàn: -Phải được huấn luyện về kĩ thuật an toàn công việc hàn điện và cấp thẻ an toàn, được kiểm tra sức khoẻ đạt yêu cầu. -Được trang bị đầy đủ quần áo lao động, kính hàn, tạp đề, giấy, găng tay các loại phương tiện bảo vệ khác. Khi hàn trong hầm, thùng, khoang, bể kín, nơi ẩm ướt…công nhân hàn còn phải được trang bị găng tay, giày cách điện. Tại vị trí hàn phải có thảm hoặc bục cách điện. – Đối với thiết bị hàn và nơi làm việc: -Máy hàn phải đảm bảo tình trạng tốt: có vỏ bao che tốt và đảm bảo cách điện, vỏ máy phải được nối đất hoặc nối không đúng. Quy phạm nối đất, nối không các thiết bị điện, các cực điện vào và ra phải được kẹp bằng bulông và bọc cách điện. -Kìm hàn phải đảm bảo kĩ thuật có tay cầm bằng vật liệu cách điện và chịu nhiệt. Dây điện hàn phải đảm bảo không bị tróc vỏ bọc, dây mát cũng phải là loại vỏ bọc, các mối nối phải được bao kín bằng băng keo cách điện. Không sử dụng kím hàn tự chế, kìm hàn bị hỏng, móc lớp bảo vệ cách điện. -Đặt máy hàn ởvị trí không có người qua lại, máy hàn ngoài trời phải có mái che bằng vật liệu không cháy. Khu vực hàn phải cách ly với khu vực làm việc khác, nếu không thì giữa các vị trí phải đặt tấm chắn bằng vật liệu không cháy. Khi hàn điện ở nơi có nguy cơ nổ, cháy phải tuân theo các quy định về an toàn phòng chống cháy nổ. Khi hàn trên cao phải làm sàn thao tác bằng vật liệu không cháy. Nếu không có sàn thì thợ hàn phải đeo dây an toàn, đồng thời phải có túi đựng dụng cụ và mẩu que hàn thừa. Khi hàn trên những độ cao khác nhau, phải có biện pháp che chắn bảo vệ, không để các giọt kim loại nóng đỏ, mẩu que hàn thừa, các vật kiệu khác rơi xuống người ở dưới, rơi xuống các vật liệu dễ cháy bên dưới. Khi đấu điện cho máy hàn phải do thợ điện thực hiện, phải qua cầu dao, áp tô mát. Mỗi máy hàn phải được cấp điện từ một cầu dao riêng. Cấm rải dây điện trên mặt đất, để dây điện va chạm vào sắt thép, kết cấu kim loại của công trình. Khi tiến hành hàn: Công nhân hàn phải có trách nhiệm theo dõi tình trạng hoạt động của máy hàn trong quá trình làm việc. Khi có sự cố hỏng hóc phải báo ngay cho thợ điện sửa chữa. Cấm sửa chữa máy hàn khi đang có điện. Khi hàn bên trong các hầm, thùng, khoang, bể kín (hoặc hàn trên cao không có sàn thao tác), phải có người nắm vững kĩ thuật an toàn đứng giám sát. Người vào hàn phải đeo dây an toàn nối với dây dẩn tới chổ người giám sát (để cắt điện kịp thời và cấp cứu khi có sự cố). Cấm hàm ở các hầm, thùng khoang, bể kín đang có áp suất hoặc đang chứa chất dễ xảy ra cháy nổ. Cấm sử dụng hoặc bảo quản các nhiên liệu, vật liệu dễ cháy nổ ở nơi tiến hành công việc hàn điện. Khi hàn có toả bụi và khí cũng như khi hàn bên trong các thùng, buồng, khoang, bể kín phải thực hiện thông gió cấp, hút và phải thực hiện thông gió hút cục bộ ở chổ tiến hành hàn. Không khí hút phải thải ra ngoài khu vực lấy không khí cấp. Chiếu sáng khi tiến hành hàn trong các thùng, khoang, bể kín phải dủng đèn di động điện áp 12V hoặc dùng đèn định hướng chiếu từ ngoài vào.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỀ PHÒNG CHÁY ĐIỆN: Đề phòng quá tải: Khi thiết kế phải chọn tiết diện dây dẫn phù hợp với dòng điện sư ûdụng. Không được tự ý câu mắc thêm qua nhiều dụng cụ tiêu thụ điện trên mạng. Thường xuyên kiểm tra nhiệt độ các máy móc, thiết bị, dây dẫn không để nóng quá mức qui định. Khi sử dụng các máy móc thiết bị điện phải có thiết bị bảo vệ như cầu chì, áptômát. Đề phòng chập mạch: Không sử dụng dây điện trần không có vỏ cách điện. Cấm dùng đinh, dây thép để buộc giữa dây điện. Các mối nối dây cần chắc và gọn, các mối nối phải đặt so le nhau và được bọc cách điện tốt, nên có hộp đấu dây an toàn. Đề phòng điện trở tiếp xúc lớn: Các điểm đấu dây phải đúng kĩ thuật. Không treo các vật nặng trên dây. Các điểm tiếp xúc điện, cầu dao……không được để bị rỉ hoặc khuyết tật vì tại đó sẽ phát nhiệt lớn. Đề phòng cháy do tĩnh điện: Truyền điện tích tĩnh điện đi bằng cách tiếp đất hoặc các thiết bị máy móc, các bể chứa, các ống dẫn bằng kim loại. Tăng độ ẩm tương đối của không khí ở trong các phân xưởng có nguy hiểm về tĩnh điện lên khoảng 70% (khi độ ẩm từ 30 – 40% thường gây ra cháy do tĩnh điện đối với những phân xưởng nguy hiểm về tĩnh điện). Các đai truyền chuyển động cần tiếp đất phàn kim loại. Đề phòng cháy do hồ quang điện và sự truyền nhiệt của vật liệu tiêu thụ điện: Dùng những bộ phận đặc biệt để tránh hồ quang điện như cầu dao dầu, máy biến thế, đui đèn chống nổ. Cấm dùng bàn ủi, bếp điện mà không có người trông nom. Cấm dùng vật liệu dể cháy làm chao đèn, không dùng bóng đèn điện để sấy quần áo, những vật liệu tiêu thụ điện như bàn ủi, đèn chiếu sáng, bếp điện phải xa các vật đễ cháy ít nhất 0,5m. Đề phòng động cơ điện bị cháy: Khi đóng nguồn điện vào động cơ mà không thấy động cơ hoạt động, cần ngắt điện và sửa chữa kịp thời. Đề phòng sét đánh: Cần lắp đặt hệ thống chống sét đánh thẳng cho các công trình nhà cửa cao, nơi thường xuyên có giông. Lắp đặt thiệt bị cắt sét hoặc lọc sét cho các thiết bị điện tử hoặc điện thoại.

AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG CÔNG TÁC LẮP DỰNG GIÀN DÁO, COFFA, CỐT THÉP: – Công nhân phải có đủsức khoẻ đảm bảo cho việc lên cao lắp dựng và tháo dỡ giàn dáo. – Lắp dựng và tháo dỡ giàn dáo phải tuân theo các thứ tự qui định. – Trong lúc làm việc không được nô đùa, không sử dụng chất kích thích, phải sử dụng các phương tiện dụng cụ bảo hộ. – Các đợt lắp dựng trước phải vững chắc mới được sử dụng đi lại để sử dụng các đợt tiếp theo. – Không được neo tì giáo vào những bộ phận của công trình không vững chắc. – Khi lắp dựng và tháo dỡ phải có biển báo cấm người không có nhiệm vụ đi qua lại. – Tháo dỡ xong phải thu dọn để dùng cho lần sau. – Khi tháo dỡ dùng giây, ròng rọc để thả các bộ phận, tuyệt đối không được đẩy đổ cả giàn dáo hoặc tháo rồi đứng ở trên cao ném xuống đất gây hư hỏng mất an toàn. – Chân giáo phải đứng vững trên nền vững chắc, khi gặp nước không bị lún. Khớp nối, chốt, khoá phải đảm bảo liên kết tốt. Không dùng những ống thép quá hư hỏng. – Coffa, các vật liệu rơi vụn đưa xuống bãi vật liệu dưới đất tránh trường hợp các vật đó rơi xuống gây tai nạn cho người đi lại. – Khi lắp coffa, thép phảiđảm bảo chịu lực tốt, phân bố đều, lắp dựng phải chắc chắn. Phải cẩn thận tuyệt đối khi hạ thép dầm trên sàn: không để bất cứ bộ phận nào của cơ thể ở vị trí dầm. – Coffa phải được thu dọn gọn gàng không trồng lên nhau hay trồng lên cốt thép. AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG CÔNG TÁC ĐỔ BÊ TÔNG: Khi nghiệm thu khối đổ bê tông lưu ý đến khối đổ, cây chống, cầu thang lên xuống sàn thao tác, số lượng dầm bê tông, đèn chiếu sáng, bảo hộ lao động ( nón cứng, ủng cao su, găng tay…) cho công nhân các điều kiện phục vụ cho việc đổ bê tông khi đó mới tiến hành đổ. Khi sử dụng đầm điện để đầm bê tông phải kiểm tra vỏ đầm và các dây điện trước khi đem ra sử dụng. AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG SỬ DỤNG CÁC MÁY NHỎ TRONG XÂY DỰNG (máy cắt, máy bào, máy phát điện, máy cưa…) Tất cả các loại máy khi sử dụng có nhiều điểm chung và áp dụng biện pháp an toàn giống nhau. Công nhân vận hành máy phải biết cách sử dụng máy, có thể cóchứng chỉ sử dụng máy. Kiểm tra, bảo dưỡng máy thường xuyên để đảm bảo cho máy hoạt động tốt nhất. Sửa chữa các hư hỏng xảy ra cho máy. Quá trình hoạt động đúng công suất, tính năng của máy do nhà chế tạo qui định. Với máy chạy điện ngoài việc chạy máy, đấu điện đúng kĩ thuật an toàn còn thường xuyên kiểm tra cách điện của vỏ máy. AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG CÔNG TÁC XÂY TÔ, HOÀN THIỆN BỀ MẶT CÔNG TRÌNH: Trước khi xây tường phải kiểm tra lại tình trạng ổn định của móng hoặc phần tường đã xây trước hoặc độ ổn định của giá đỡ, giàn dáo. Ở độ cao 2,5m trở lên, vật liệu phải được đựng vào thùng chứa rác chắc chắn (không vận chuyển bằng tung, buộc dây hoặc xếp có ngọn trên bàn nâng mà không có thành che chắn). Cấm xây tường lên cao quá hai tầng khi các tầng sàn chưa gác dầm sàn hoặc cưa làm sàn tạm ở các tầng đó. Chiều cao của mỗi nấc tường không thấp hơn sàn công tác hai hàng gạch. Khi xây phải đứng trên mặt sàn công tác thấp hơn chiều cao của mặt tường đang xây ít nhất 15cm. Cấm đứng trên tường để xây. Không để vật liệu, dụng cụ trên mặt tường khi đã ngừng xây. Khi đứng ở phía trong của tường nhà thì ở phía ngoài của tường nhà phải đặt rào che chắn cách chân tường 1,5m nếu tường xây cao chưa quá 7m và rào cách chân tường 2m nếu tường xây đã quá 7m. Các tường cao từ 1,5m trở lên phải bắt giàn dáo để xây, công nhân không được ngồi nghỉ trên tường mới xây xong. Vận chuyển gạch lên cao phải dùng ro, tránh quăng ném. Với công tác khác trên cao người công nhân phải nhắc nhở cẩn trọng đặc biệt khi làm việc nơi cheo leo cán bộ kĩ thuật phải kiểm tra dây an toàn neo buộc chắc chắn mới cho thực hiện công tác. Phải ngưng việc xây tô nếu mưa to và che chắn cho khối xây giàn dáo luôn kiểm tra độ chắc, tính ổn định của khối xây. Sàn công tác tốt, chân giáo vững chắc, phải chèn cẩn thận không cập kênh. Mỗi lần di chuyển giáo, ghế không để dụng cụ như con lăn, chổi quét, bay, bàn xoa, vôi sơn trên sàn công tác (mặt ghế), vì di chuyển rất hay bị đổ rơi xuống gây nguy hiểm. Chân thang phải chèn chống trượt. Đầu thang phải bịt giẻ và có dây buộc để ghì vào một vị trí cố định ở trong nhà. Khi quét vôi hay sơn phải mặc quần áo bảo hộ lao động và các thứ phòng hộ khác như găng tay, khẩu trang. Làm việc trên cao ở những chổ cheo leo nguy hiểm, nhất thiết phải mang dây an toàn. Quét vôi, sơn ……nơi có điện phải ngắt. Sử dụng các dụng cụ như bả mastic phải cẩn thận, nếu không dể bị đứt tay, chảy máu vì khi thi công cạnh bàn bả, lưởi dao món và sắc.

NHỮNG BIỆN PHÁP ÁP DỤNG KHI XỬ LÝ NHỮNG VỤ VIỆC LIÊN QUAN ĐẾN TAI NẠN LAO ĐỘNG: Trong ngành xây dựng điều kiện làm việc phức tạp lại đòi hỏi phải đáp ứng tiến độ, không để xảy ra tai nạn là khó khăn vì thế phải hạn chế không để xảy ra tai nạn là vấn đề khó khăn chính vì thế phải hạn chế không để xảy ra tai nạn đáng tiếc xảy ra. Những vụ tai nạn nhỏ có thể xảy ra do đó vấn đề xử trí các vụ tai nạn lao động là quan trọng. Khi có tai nạn điện phải kịp thời ngắt điện tách nạn nhân ra khỏi nguồn điện sau đó tiến hành hô hấp nhân tạo cho nạn nhân nếu bị bất tỉnh. Với các tai nạn chảy máu, gãy xương ta xử trí bình tỉnh băng bó và đưa vào bệnh viện gần nhất. Nếu bị thương cột sống khi di chuyển nạn nhân phải nhẹ nhàng. Kịp thời lập biên bản hiện trường, nội dung biên bản trung thực. Họp kiểm điểm rút kinh nghiệm, hoặc kĩ luật nhằm ngăn chặn tai nạn không để tiếp tục xảy ra. CÁC BIỆN PHÁP KHÁC LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG TRÊN CÔNG TRƯỜNG: Bố trí mặt bằng hợp lý thuận tiện cho thi công và giao thông đi lại. Làm việc phải đầy đủ độ sáng, trang bị hệ thống chiếu sáng thích hợp, đầy đủ. Có đầy đủ nhà vệ sinh, tủ thuốc y tế. Có đầy đủ biển báo công trình, nội quy an toàn công trên công trường. Đảm bảo an toàn giao thông trên công trường: lái xe, cẩu phải tuân theo sự chỉ dẫn của chỉ huy công trường. Bố trí bảo vệ đảm bảo an ninh trên công trường. Những người không có trách nhiệm không được đi lung tung trên công trường, không có chuyên môn nhiệm vụ không được điều khiển phương tiện. Không bố trí người làm việc, đi lại trong phạm vi vòng quay của máy đào máy xúc. Không chở người trên thùng xe ô tô. Công tác cẩu lắp đặt cống phải kiểm tra kỹ các thiết bị nâng hạ, thao tác trong quá trình sử dụng. Đảm bảo lưu thông tốt trong giờ cao điểm. Đối với những hố móng đào sâu, nơi thường xuyên có người qua lại phải làm rào chắn cẩn thận, ban đêm phải có tín hiệu thông báo cho người qua lại biết. Tránh để nhựa nóng dính vào người khi đang làm việc. Người làm việc trên công trường phải trang bị đầy đủ nón bảo hộ lao động, tuỳ theo từng công việc mà trang bị bảo hộ lao động thích hợp. CÔNG TÁC PHÒNG CHÁY CHỬA CHÁY: Khi tiến hành thi công sẽ liên hệ với công an phòng cháy chửa cháy địa phương lập phương án phòng cháy chửa cháy trên công trường. Trang bị đầy đủ các phương tiện phòng cháy chửa cháy như bình chửa cháy, cát, nước…… Bố trí hệ thống chống sét, nối đất cho nhà và các thiết bị khác. Công tác đun nấu nhựa phải theo dõi thường xuyên để nhựa khỏi tràn và cháy. VỆ SINH MÔI TRƯỜNG

Khi thi công xong thì tiến hành thu dọn vệ sinh sạch sẽ, gọn gàng đúng nơi qui định để khi thi công các công tác sau không gặp trở ngại và đảm bảo vệ sinh khu vực thi công. Các vật liệu thừa và chất thải sau khi thi công nếu không còn sử dụng nữa thì xử lý hủy bỏ đảm bảo vệ sinh cho công trường. Các xe vận chuyển vật liệu phải phủ bạt cẩn thận, tránh rơi vải khi vận chuyển dễ gây ra nguy hiểm cho người lưu thông, ảnh hưởng đến mỹ quan đường phố. Trạm trộn bê tông phải đặt cách xa khu dân cư sinh sống, có hệ thống chống bụi, chống ồn tốt không gây ảnh hưởng tới môi trường xung quanh. Nhà vệ sinh trên công trường phải quét dọn thường xuyên, đảm bảo có nước và dụng cụ vệ sinh. Hệ thống nước phục vụ thi công, phục vụ công tác phòng cháy chửa cháy được cung cấp đầy đủ bằng nguồn cấp nước khu vực và hồ. Hệ thống mương mở để thoát nước mưa phải có độ dốc để thoát nước ra hệ thống thoát nước của khu vực vì vậy trên mặt bằng thi công cần tạo ra một độ dốc thích hợp để cho nước thoát không ứ đọng.

HỒ SƠ HOÀN CÔNG

HỒ SƠ PHÁP LÝ – Quyết định phê duyệt của các cấp có thẩm quyền. – Giấy chứng nhận quyền sử dụng data. – Văn bản chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền. Quy hoạch, kiến trúc. – Thiết kế, kỹ thuật, tổng dự toán. – Thiết kế và thiết bị phòng cháy chửa cháy. Bảo vệ công trường. – Đầu nối với công trình hạ tầng kỹ thuật ( cấp điện, cấp nước, thoát nước, giao thông……) – An toàn đê điều (nếu có), an toàn giao thông. – Giấy phép kinh doanh của các đơn vị tư vấn thiết kế – xây dựng trong nước và chứng chỉ hành nghề của các cá nhân phù hợp với công việc thực hiện. – Tư vấn xây dựng (khảo sát, thiết kế kiến trúc, kết cấu……) Giám sát thi công xây lắp. – Kiểm định chất lượng. – Giấy phép kinh doanh của các nhà thầu xây lắp trong nước (nhà thầu chính, nhà thầu phụ) – Giấy phép đầu tư xây tại Việt Nam của các nhà thầu nước ngoài (thầu tư vấn xây dựng, thầu xây lắp) Hợp đồng thi công công trình giữa chủ đầu tư và nhà thầu xây lắp. – Hồ sơ thiết kế kỹ thuật đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt. – Báo cáo khảo sát địa chất công trình. – Biên bản kiểm tra (nghiệm thu hoàn thành) của cấp có thẩm quyền. – Thực hiện giấy phép xây dựng (đối với trường hợp phải có giấy phép xây dựng). – Chỉ giới đất xây dựng. – Phòng cháy chửa cháy, chống sét. – Bảo vệ môi trường. – An toàn lao động an toàn vận hành. TÀI LIỆU QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG Các chứng chỉ kỹ thuật và các phiếu kiểm tra xác nhận chất lượng vật liệu, cấu kiện sản phẩm xây dựng và máy móc thiết bị sử dụng của công trình. Chứng chỉ kỹ thuật xác nhận của nơi sản xuất đối với: bê tông, cốt thép, kết cấu thép, cấu kiện sản phẩm xây dựng khác, thiết bị…… Phiếu kiểm tra chất lượng thông qua mẩu lấy tại hiện trường do một tổ chức pháp nhân có tư cách pháp nhân và năng lực thực hiện đối với bê tông, cốt thép, kết cấu thép, cấu kiện sản phẩm xây dựng khác. Phiếu kiểm tra chất lượng thiết bị…… Các tài liệu đo đạc. Báo cáo kết quả các thí nghiệm hiện trường (gia cố nền, sức chịu tải của cọc, móng, điện trở nối đất) Biện pháp thí nghiệm hiệu chỉnh vận hành thiết bị chạy thử không tải và có tải. Biên bản thử các thiết bị thông tin liên lạc các thiết bị bảo vệ. Biên bản thử các thiết bị phòng cháy chửa cháy. Biên bản kiểm định môi trường môi sinh (đối với các công trình phải lập dự án báo cáo đánh giá tác động môi trường). Nhật ký theo dõi xây dựng công trình của các chủ đầu tư, nhà thầu xây lắp và tư vấn thiết kế. Biên bản nghiệm thu công trình xây lắp, nghiệm thu giai đoạn xây lắp, nghiệm thu thiết bị chạy thử không tải, nghiệm thu thiết bị chạy thử tổng hợp, nghiệm thu hạng mục công trình, nghiệm thu hoàn thành để đưa vào sử dụng. Tài liệu hướng dẫn hoặc qui định hiện hành, bảo trì thiết bị và công trình. Báo cáo các chủ đầu tư về về quá trình thi công xây dựng và chất lượng công trình. Báo cáo của nhà thầu xây lắp, tư vấn thiết kế, đơn vị giám sát của chủ đầu tư về kết quả công việc kiểm nghiệm.

(Nghiem Gia Architecture + Design – Sưu tầm)

Biện Pháp Thi Công Phần Thô / 2023

1.1 BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THI CÔNG

1.1.1 BỐ TRÍ MẶT BẰNG TỔ CHỨC THI CÔNG

Mặt bằng tổ chức thi công là yếu tố quyết định đến tiến độ và chất lượng công trình, áp dụng các công nghệ tiên tiến vào sản xuất nhằm giảm giá thành sản phẩm có hiệu quả kinh tế đẩy nhanh tiến độ thi công đáp ứng yêu cầu của Chủ đầu tư.

Căn cứ vào tài liệu khảo sát và thiết kế đã được phê duyệt, nhà thầu tổ chức khảo sát mặt bằng, nhận bàn giao mốc tuyến, tọa độ, mốc chuẩn nhằm phục vụ công tác thi công và kiểm tra nghiệm thu sau khi công việc hoàn thành.

Trong quá trình thi công nhà thầu sử dụng lực lượng công nhân kỹ thuật chuyên nghiệp, trình độ tay nghề cao, kỹ sư có kinh nghiệm từ 5 năm trở lên trong công tác thi công các công việc tương tự.

Bố trí hệ thống thoát nước mặt và nước ngầm, đảm bảo mặt bằng thi công luôn khô ráo, giao thông nội bộ thuận tiện.

Mặt bằng thi công tổng thể

a) Nguyên tắc bố trí mặt bằng thi công tổng thể của Nhà thầu:

– Trên cơ sở hồ sơ mời thầu, nghiên cứu thực địa, các công trình phụ, tạm đều được Nhà thầu xem xét cân nhắc bố trí sao cho không làm cản trở đến việc thi công và ảnh hưởng tới việc sử dụng công trình chính, đảm bảo sự gắn kết với nhau về quá trình công nghệ cũng như về quản lý, khai thác và đồng thời để thuận tiện cho việc chỉ huy, điều độ và quản lý, giảm bớt sự phân chia không cần thiết và giảm sự chiếm đất.

– Đảm bảo được an toàn lao động, an toàn giao thông, vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ và trật tự an ninh trong qúa trình thi công và sau khi hoàn thành công trình.

Trên cơ sở của vị trí địa lý, điều kiện địa hình và những nguyên tắc nêu trên Nhà thầu tổ chức cơ sở sản xuất, nhà làm việc tạm thời, kho bãi, chuẩn bị điện nước cho công trường, lắp đăt đường dây điện thoại.

Xây dựng các diện tích nhà ở, nhà điều hành, nhà kho, lán trại tạm cho công nhân. Đảm bảo nước sạch phục vụ cán bộ, công nhân tại công trình. Bố trí máy phát điện phục vụ cho công trường khi điện lưới gặp sự cố.

– Điện thi công được lấy từ mạng lưới điện của địa phương có sẵn. Dây tải diện dùng loại cáp bọc cao su. Tại đầu nguồn cấp có cầu dao tổng và một công tơ tổng. Dây tải điện đi men theo hàng rào công trường.

Nước thi công và cứu hoả được lấy từ nguồn nước do địa phương cung cấp, để phòng bị mất nước kéo dài Nhà thầu có thể tiến hành khoan giếng.

1.2 CÔNG TÁC TRẮC ĐẠC VÀ ĐỊNH VỊ CÔNG TRÌNH

Công tác trắc đạc đóng vai trò hết sức quan trọng, nó giúp cho việc thi công xây dựng được chính xác hình dáng, kích thước về hình học của công trình, đảm bảo độ thẳng đứng, độ nghiêng kết cấu, xác định đúng vị trí tim trục, cao độ các hạnh mục của công trình, của các cấu kiện và hệ thống kỹ thuật, đường ống, loại trừ tối thiểu những sai sót cho công tác thi công. Công tác trắc đạc phải tuân thủ theo TCVN 3972-85.

Định vị công trình: Sau khi nhận bàn giao của Bên A về mặt bằng, mốc và cốt của khu vực. Dựa vào bản vẽ mặt bằng định vị, tiến hành đo đạc bằng máy.

Định vị vị trí và cốt cao ± 0,000 của các hạng mục công trình dựa vào tổng mặt bằng khu vực, sau đó làm văn bản xác nhận với Ban quản lý dự án trên cơ sở tác giả thiết kế chịu trách nhiệm về giải pháp kỹ thuật vị trí, cốt cao ± 0,000. Định vị công trình trong phạm vi đất theo thiết kế.

Thành lập lưới khống chế thi công làm phương tiện cho toàn bộ công tác trắc đạc.Tiến hành đặt mốc quan trắc cho công trình. Các quan trắc này nhằm theo dõi ảnh hưởng của quá trình thi công đến biến dạng của bản thân công trình.

Các mốc quan trắc, thiết bị quan trắc phải được bảo vệ quản lý chặt chẽ, sử dụng trên công trình phải có sự chấp thuận của chủ đầu tư. Thiết bị đo phải được kiểm định hiệu chỉnh, phải trong thời hạn sử dụng cho phép.

Công trình được đóng ít nhất là 2 cọc mốc chính, các cọc mốc cách xa mép công trình ít nhất là 3 mét. Khi thi công dựa vào cọc mốc triển khai đo chi tiết các trục định vị của biển.

Lập hồ sơ các mốc quan trắc và báo cáo quan trắc thường xuyên theo từng giai đoạn thi công công trình để theo dõi biến dạng và những sai lệch vị trí, kịp thời có giải pháp giải quyết

Công tác trắc địa được thực hiện một cách có hệ thống, chặt chẽ, đồng bộ với tiến độ thi công; Máy móc sử dụng là loại tốt, được kiểm tra định kỳ và hoàn chỉnh trước khi sử dụng. Vì vậy, công tác định vị, xác định kích thước, phương hướng của đối tượng xây lắp luôn được Nhà thầu chúng tôi đảm bảo với mức độ cao nhất.

1.3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH

1.3.1 Công tác ép cọc

+Khu vực xếp cọc phải nằm ngoài khu vực ép cọc,đường đi từ chỗ xếp cọc đến chỗ ép cọc phải bằng phẳng không ghồ ghề lồi,lõm.

+ Cọc phải vạch sẵn đường tâm để khi ép tiện lợi cho việc cân ,chỉnh .

+Loại bỏ những cọc không đảm bảo yêu cầu về kĩ thuật.

+ Định vị và giác móng công trình

b.thiết bị thi công

Thiết bị ép cọc:

Thiết bị ép cọc phải có các chứng chỉ , có lý lịch máy do nơi sản xuất cấp và cơ quan thẩm quyền kiểm tra xác nhận đặc tính kỹ thuật của thiết bị.

Đối với thiết bị ép cọc bằng hệ kích thuỷ lực cần ghi các đặc tính kỹ thuật cơ bản sau:

+ Lưu lượng bơm dầu

+ Áp lực bơm dầu lớn nhất

+ Diện tích đáy pittông

+ Hành trình hữu hiệu của pittông

+ Phiếu kiểm định chất lượng đồng hồ đo áp lực đầu và van chịu áp do cơ quan có thẩm quyền cấp.

Thiết bị ép cọc được lựa chọn để sử dụng vào công trình phải thoả mãn các yêu cầu sau:

+ Lực ép lớn nhất của thiết bị không nhỏ hơn 1.4 lần lực ép lớn nhất (Pep)max tác động lên cọc do thiết kế quy định

+ Lực ép của thiết bị phải đảm bảo tác dụng đúng dọc trục cọc khi ép đỉnh hoặc tác dụng đều trên các mặt bên cọc khi ép ôm.

+ Quá trình ép không gây ra lực ngang tác động vào cọc

+ Chuyển động của pittông kích hoặc tời cá phải đều và khống chế được tốc độ ép cọc.

+ Đồng hồ đo áp lực phải phù hợp với khoảng lực đo.

+ Thiết bị ép cọc phải có van giữ được áp lực khi tắt máy.

+ Thiết bị ép cọc phải đảm bảo điều kiện vận hành theo đúng các quy định về an toàn lao độngkhi thi công.

Giá trị áp lực đo lớn nhất của đồng hồ không vượt quá hai lần áp lực đo khi ép cọc. Chỉ nên huy động khoảng 0,7 – 0,8 khả năng tối đa của thiết bị .

* Chọn máy ép cọc:

– Cọc có tiết diện là: D=30 (cm) chiều dài mỗi đoạn Dài từ 7(m).

– Sức chịu tải của cọc: P = 52 (KN) = 52 (T)

– Ta chọn máy ép thuỷ lực có lực nén lớn nhất là: Pép = 180 (T).

– Trọng lượng đối trọng của mỗi bên dàn ép:

Dùng các khối bêtông có kích thước 1.0 x 1.0 x 2.0 (m) có trọng lượng 5 (T) làm đối trọng, mỗi bên dàn ép đặt 10 khối bêtông có tổng trọng lượng là 50 (T)

2.Trình tự thi công.

Quá trình ép cọc trong hố móng gồm các bước sau:

a.Chuẩn bị:

– Xác định chính xác vị trí các cọc cần ép qua công tác định vị và giác móng.

-Nếu đất lún thì phải dùng gỗ chèn lót xuống trước để đảm bảo chân đế ổn định và phẳng ngang trong suốt quá trình ép cọc.

-Cẩu lắp khung đế vào đúng vị trí thiết kế.

-Chất đối trọng lên khung đế.

-Cẩu lắp giá ép vào khung đế,dịnh vị chính xác và điều chỉnh cho giá ép đứng thẳng.

Bước 1: Ép đoạn cọc đầu tiên C1, cẩu dựng cọc vào giá ép,điều chỉnh mũi cọc vào đúng vị trí thiết kế và điều chỉnh trục cọc thẳng đứng.

Độ thẳng đứng của đoạn cọc đầu tiên ảnh hưởng lớn đến độ thẳng đứng của toàn bộ cọc do đó đoạn cọc đầu tiên C1 phải được dựng lắp cẩn thận, phải căn chỉnh để trục của C1 trùng ví đường trục của kích đi qua điểm định vị cọc. Độ sai lệch tâm không quá 1 cm.

Đầu trên của C1 phải được gắn chặt vào thanh định hướng của khung máy.. Nếu máy không có thanh định hướng thì đáy kích ( hoặc đầu pittong ) phải có thanh định hướng. Khi đó đầu cọc phải tiếp xúc chặt với chúng.

Khi 2 mặt ma sát tiếp xúc chặt với mặt bên cọc C1 thì điều khiển van tăng dần áp lực. Những giây đầu tiên áp lực đầu tăng chậm đều, để đoạn C1 cắm sâu dần vào đất một cách nhẹ nhàng với vận tốc xuyên không quá 1 cm/ s.

Khi phát hiện thấy nghiêng phải dừng lại, căn chỉnh ngay.

Bước2:Tiến hành ép đến độ sâu thiết kế (ép đoạn cọc trung gian C2):

Khi đã ép đoạn cọc đầu tiên C1 xuống độ sâu theo thiết kế thì tiến hành lắp nối và ép các đoạn cọc trung gian C2 .

Kiểm tra bề mặt hai đầu của đoạn C2 , sửa chữa cho thật phẳng.

Kiểm tra các chi tiết mối nối đoạn cọc và chuẩn bị máy hàn.

Lắp đặt đoạn C2 vào vị trí ép. Căn chỉnh để đường trục của C2 trùng với trục kích và đường trục C1. Độ nghiêng của C2 không quá 1 %.Trước và sau khi hàn phải kiểm tra độ thẳng đứng của cọc bằng ni vô .Gia lên cọc một lực tạo tiếp xúc sao cho áp lực ở mặt tiếp xúc khoảng 3 – 4 KG/cm2 rồi mới tiến hành hàn nối cọc theo quy định của thiết kế.

Tiến hành ép đoạn cọc C2. Tăng dần áp lực nén để máy ép có đủ thời gian cần thiết tạo đủ lực ép thắng lực ma sát và lực kháng của đất ở mũi cọc để cọc chuyển động.

Thời điểm đầu C2 đi sâu vào lòng đất với vận tốc xuyên không quá 1 cm/s.

Khi đoạn C2 chuyển động đều thì mới cho cọc chuyển động với vận tốc xuyên không quá 2 cm/s.

Khi lực nén tăng đột ngột tức là mũi cọc đã gặp lớp đất cứng hơn ( hoặc gặp dị vật cục bộ ) cần phải giảm tốc độ nén để cọc có đủ khả năng vào đất cứng hơn ( hoặc phải kiểm tra dị vật để xử lý ) và giữ để lực ép không vượt quá giá trị tối đa cho phép.

Trong quá trình ép cọc, phải chất thêm đối trọng lên khung sườn đồng thời với quá trình gia tăng lực ép.Theo yêu cầu,trọng lượng đối trọng lên khung sườn đồng thời với quá trính gia tăng lực ép.Theo yêu cầu,trọng lượng đối trọng phải tăng 1,5 lần lực ép .Do cọc gồm nhiều đoạn nên khi ép xong mỗi đoạn cọc phải tiến hành nối cọc bằng cách nâng khung di động của giá ép lên,cẩu dựng đoạn kế tiếp vào giá ép.

Yêu cầu đối với việc hàn nối cọc :

Trục của đoạn cọc được nối trùng với phương nén.

Bề mặt bê tông ở 2 đầu đọc cọc phải tiếp xúc khít với nhau, trường hợp tiếp xúc không khít phải có biện pháp làm khít.

Kích thước đường hàn phải đảm bảo so với thiết kế.

Đường hàn nối các đoạn cọc phải có đều trên cả 4 mặt của cọc theo thiết kế.

Bề mặt các chỗ tiếp xúc phải phẳng, sai lệch không quá 1% và không có ba via.

Bước 3: ép âm Khi ép đoạn cọc cuối cùng (đoạn thứ 3) đến mặt đất,cẩu dựng đoạn cọc lõi bằng thép (Đoạn cọc dẫn) chụp vào đầu cọc rồi tiếp tục ép lõi cọc để đầu cọc cắm đến độ sâu thiết kế.đoạn lõi này sẽ được kéo lên để tiếp tục cho cọc khác.

Bước 4:Sau khi ép xong một cọc,trượt hệ giá ép trên khung đế đến vị trí tiếp theo để tiếp tục ép.Trong quá trình ép cọc trên móng thứ nhất ,dùng cần trục cẩu dàn đế thứ 2 vào vị trí hố móng thứ hai.

Sau khi ép xong một móng , di chuyển cả hệ khung ép đến dàn đế thứ 2 đã được đặt trước ở hố móng thứ chúng tôi đó cẩu đối trọng từ dàn đế 1 đến dàn đế 2.

Kết thúc việc ép xong một cọc:

Cọc được công nhận là ép xong khi thoả mãn hai điều kiện sau:

+ Chiều dài cọc được ép sâu trong lòng đất không nhỏ hơn chiều dài ngắn nhất do thiết kế quy định.

+ Lực ép tại thời điểm cuối cùng phải đạt trị số thiết kế quy định trên suốt chiều sâu xuyên lớn hơn ba lần đường kính hoặc cạnh cọc. Trong khoảng đó vận tốc xuyên không quá 1 cm/s.

Trường hợp không đạt hai điều kiện trên , phải báo cho chủ công trình và cơ quan thiết kế để xử lý. Khi cần thiết làm khảo sát đất bổ sung, làm thí nghiệm kiểm tra để có cơ sở kết luận xử lý.

Cọc nghiêng qúa quy định ( lớn hơn 1% ) , cọc ép dở dang do gặp dị vật ổ cát, vỉa sét cứng bất thường, cọc bị vỡ… đều phải xử lý bằng cách nhổ lên ép lại hoặc ép bổ sung cọc mới (do thiết kếchỉ định ).

Dùng phương pháp khoan thích hợp để phá dị vật, xuyên qua ổ cát , vỉa sét cứng…

Khi lực ép vừa đạt trị số thiết kế mà cọc không xuống được nữa, trong khi đó lực ép tác động lên cọc tiếp tục tăng vượt quá lực ép lớn nhất (Pep)max thì trước khi dừng ép phải dùng van giữ lực duy trì (Pep)max trong thời gian 5 phút.

Trường hợp máy ép không có van giữ thì phải ép nháy từ ba đến năm lần với lực ép (Pep)max .

Tại vị trí cao đáy đài đầu cọc không được sai số quá 75mm so với vị trí thiết kế , độ nghiêng của cọc không quá 1% .

d.Thời điểm khoá đầu cọc

Thời điểm khoá đầu cọc từng phần hoặc đồng loạt do thiết kế quy định.

Mục đích khoá đầu cọc để

Huy động cọc vào làm việc ở thời điểm thích hợp trong quá trình tăng tải của công trình. Đảm bảo cho công trình không chịu những độ lún lớn hoặc lún không đều.

– Việc khoá đầu cọc phải thực hiện đầy đủ :

+ Sửa đầu cọc cho đúng cao độ thiết kế .

+ Trường hợp lỗ ép cọc không đảm bảo độ côn theo quy định cần phải sửa chữa độ côn, đánh nhám các mặt bên của lỗ cọc.

+ Đổ bù xung quanh cọc bằng cát hạt trung, đầm chặt cho tới cao độ của lớp bê tông lót.

+ Đặt lưới thép cho đầu cọc.

– Bê tông khoá đầu cọc phải có mác không nhỏ hơn mác bê tông của đài móng và phải có phụ gia trương nở, đảm bảo độ trương nở 0,02

– Cho cọc ngàm vào đài 10 cm.

Lý lịch ép cọc phải được ghi chép ngay trong quá trình thi công gồm các nội dung sau :

Ngày đúc cọc .

Số hiệu cọc , vị trí và kích thước cọc .

Chiều sâu ép cọc , số đốt cọc và mối nối cọc .

Thiết bị ép coc, khả năng kích ép, hành trình kích,diện tích pítông, lưu lượng dầu, áp lực bơm dầu lớn nhất.

Áp lực hoặc tải trọng ép cọc trong từng đoạn 1m hoặc trong một đốt cọc -lưu ý khi cọc tiếp xúc với lớp đất lót (áp lực kích hoặc tải trọng nén tăng dần ) thì giảm tốc độ ép cọc , đồng thời đọc áp lực hoặc lực nén cọc trong từng đoạn 20 cm.

Áp lực dừng ép cọc.

Loại đệm đầu cọc.

Trình tự ép cọc trong nhóm.

Những vấn đề kỹ thuật cản trở công tác ép cọc theo thiết kế , các sai số về vị trí và độ nghiêng.

Tên cán bộ giám sát tổ trưởng thi công.

1.3.2 Thi công phần móng

Sau khi thi công ép cọc xong tiến hành đào đất, thi công đài móng

– Sau khi nhận bàn giao mặt bằng công trình, tiến hành định vị công trình và xác định đường biên của các móng, tiến hành đào hố móng theo bản vẽ thi công.

– Do thiết kế toàn bộ móng của các hạng mục công trình là móng cọc ép, cốt nền đặt móng -1,25m, khối lượng đào đất lớn, nên nhà thầu chọn giải pháp đào đất bằng máy kết hợp với sửa thủ công. Đất đào 1 phần được vận chuyển ra khỏi công trường đổ về bãi thải, một phần để lại xung quanh hố móng và các khu đất chưa khởi công để sau này lấp đất hố móng, tôn nền.

– Máy đào sẽ đào đến cách cao độ thiết kế của hố móng (các đầu cọc) khoảng 20 cm thì dừng lại và cho thủ công sửa đến cao độ thiết kế .

– Móng được đào theo độ vát thiết kế để tránh sạt lở

Trong quá trình thi công luôn có bộ phận trắc đạc theo dõi để kiểm tra cao độ hố móng.

– Tại những khu vực móng đã đào nhà thầu tiến hành đặt biển cảnh báo và dây cảnh báo bao quanh hố móng để đảm bảo an toàn.

Đáy hố đào phải bằng phẳng, sạch bùn. Xác định cao độ, kích thước đáy móng bằng máy toàn đạc và máy thủy bình, cao độ đáy móng cho phù hợp với cao độ thiết kế, dùng xe lu từ 700kg đến 5 tấn để lu nền hoặc đầm cóc đầm chặt phần đất đáy móng cho đạt độ chặt quy định. ( Có bản vẽ biện pháp kèm theo)

– Sau khi hoàn thành công tác đào đất cho từng khu vực, lập báo cáo nộp cho cán bộ giám sát A và chỉ được sự đồng ý của giám sát A mới tiến hành làm công tác tiếp theo.

Công tác lấp đất hố móng được thực hiện sau khi bê tông đài móng đã được nghiệm thu và cho phép chuyển bước thi công. Thi công lấp đất hố móng bằng máy kết hợp với thủ công. Đất được lấp theo từng đợt và đầm chặt bằng xe lu hoặc đầm cóc đầm nén đất những khu vực cạnh đài và những khu vực xe lu không vào được để đầm chặt đến cao độ thiết kế và đảm bảo độ chặt theo thiết kế. Xử lý nền theo yêu cầu kỹ thuật của thiết kế.

– Phần đất dư được vận chuyển ra khỏi công trình để đảm bảo mặt bằng thi công sạch sẽ và vệ sinh môi trường.

– Trong quá trình thi công móng và nền có thể gặp mạch nước ngầm hoặc nước mưa nên xung quanh hố đào và quanh công trình nhà thầu sẽ đắp bờ bao bằng đất và bao cát để tránh nước mưa tràn vào hố đào, mở rộng hố đào bố trí rãnh và hố thu nước, tại một số hố thu nước đặt máy bơm để hút nước ra ngoài để đảm bảo cho hố móng sạch, khô ráo không ảnh hưởng tới thi công.

– Tiến hành bảo quản tốt các vật liệu như xi măng, thép và các vật liệu khác tránh mưa lụt.

– Các hạng mục công trình nằm trong mặt bằng đã được tính toán không ảnh hưởng bởi các điều kiện mưa thông thường. Khi mưa đã có hệ thống rãnh thoát nước ra phía ngoài mặt bằng xây dựng.

– Khi thi công đào đất tầng hầm trong điều kiện trời mưa phải bố trí hút nước hố móng 24/24h. Đảm bảo hố móng khi mưa xong có thể thi công được ngay.

– Mái taluy của phân đoạn 1 cần phải được đầm nén, gia cố sao cho chặt tránh sạt lở khi trời mưa.

– Khi đổ bê tông trời mưa phải chú ý đặc biệt đến công tác an toàn điện. Phải có bạt che đậy bề mặt bê tông đang đổ. Nếu mưa to phải tạm dừng đổ bê tông, chờ mưa tạnh lại đổ tiếp.

– Chú ý đến các vấn đề an toàn trong khu vực thi công khi trời mưa.

– Phải bố trí mạng lưới thoát nước và thu nước trời mưa.

– Bố trí cấp áo mưa cho công nhân khi thi công dưới trời mưa nhỏ. Mưa lớn và có sấm sét tuyệt đối không được cho công nhân tiếp tục làm việc.

– Sau khi móng đã được đào và xử lý cao độ theo thiết kế và được nghiệm thu bởi giám sát A, tiến hành ghép cốp pha đổ lớp bê tông lót móng đến cao độ thiết kế

– Tiến hành kiểm tra lại tim, cốt của móng và giằng móng trước khi tiến hành lắp đặt cốp pha và cốt thép cho móng. Tim móng được đánh dấu cẩn thận và là điểm chuẩn để lắp dựng cốt thép, cốp pha sau này.

– Trước khi lắp đặt cốp pha, cốt thép móng, kiểm tra lại toàn bộ tim, cốt của công trình và lưu giữ ở những vị trí cố định có thể ở ngoài công trình để tiện cho việc thi công và kiểm tra các phần thi công tiếp theo.

Trước khi lắp dựng cốt thép nhà thầu tiến hành vệ sinh sạch sẽ lớp bê tông lót, vạch tim trục và đường bao của móng lên bề mặt của bê tông lót . Thép được gia công sẵn tại bãi gia công theo thiết kế của cán bộ giám sát sau đó vận chuyển đến vị trí để lắp đặt. Thép được lắp dựng đúng chủng loại theo yêu cầu thiết kế quy định.

Tiến hành lắp dựng thép đáy móng trước sau đó đến thép hông rồi đến thép mặt móng. Khi đặt cốt thép cho móng phải đảm bảo các yêu cầu sau:

+ Đảm bảo đúng đường kính của thanh thép.

+ Đảm bảo khoảng cách giữa các thanh thép.

+ Đảm bảo sự ổn định của lưới thép khi đổ bê tông.

+ Đảm bảo độ dày lớp bê tông bảo vệ cốt thép.

Để định vị các thanh thép ở lưới móng cần dùng thép f = 1mm để buộc hoặc phải hàn, đối với các dầm móng phải buộc tất cả các nút để tạo sự ổn định của khung thép.

Gia công lắp dựng thép xong mới tiến hành lắp dựng cốp pha. Trước khi lắp dựng ván khuôn vạch tim trục và đường bao của móng lên bề mặt của bê tông lót. Hệ cốp pha dùng cho thi công công trình là cốp pha thép định hình, các tấm cốp pha thành, móng, được ghép thành từng mảng theo kích thước của móng. Những mảng này khi gia công bao giờ cũng cao hơn so với mức bê tông đổ từ 10-20cm để đảm bảo an toàn và là nơi đánh dấu giới hạn đổ bê tông. Dùng các thanh gỗ tròn và cây chống thép để chống định vị cố định cốp pha. Các thanh văng chống phải chắc chắn. Đối với những vị trí móng mà cốp pha định hình không lắp đặt được do kích thước nhỏ thì nhà thầu lắp đặt bằng cốp pha gỗ kết hợp với tole để lắp đặt.

Khi ghép cốp pha phải đảm bảo yêu cầu kín, khít để không làm mất nước xi măng khi đổ và đầm bê tông. Các mặt trong của cốp pha được quét một lớp dầu chống dính bám bê tông với tỷ lệ 1lít/25m2 trước khi đổ bê tông.

Khi lắp dựng cốp pha xong kiểm tra lại lần cuối cốp pha, thép móng, giằng về kích thước hình học, tim, cốt, các thanh văng chống rồi mới đổ bê tông.

– Công tác đổ bê tông được thực hiện sau khi công tác cốp pha và cốt thép đã được Giám sát của Chủ đầu tư nghiệm thu đồng ý mới được phép đổ bê tông.

– Vật liệu sử dụng để trộn bê tông phải đảm bảo chủng loại và chất lượng như chỉ định của thiết kế và tương ứng với mẫu thử. Trường hợp sử dụng vật liệu khác có chất lượng tương đương thì phải được sự đồng ý của chủ đầu tư.

Bê tông đư­ợc lấy từ trạm trộn vận chuyển đến công trình và đ­ược đổ bằng máy bơm bê tông.

– Bê tông đ­ược đổ thành từng dải mỗi dải có chiều dày thích hợp đổ đến đâu đầm kỹ đến đó. Đầm bê tông bằng đầm dùi F50 kết hợp đầm bàn. Hoàn thiện bề mặt bằng thước nhôm gạt hoặc máy đánh bóng.

– Phải làm sàn công tác để ngư­ời đi lại, đổ đầm bê tông. Trong quá trình đổ không làm ảnh h­ưởng tới cốt thép.

– Trước khi đổ bê tông phải vệ sinh sạch sẽ ván khuôn cốt thép và tưới nước lên thành cốp pha để giữ độ ẩm cần thiết, kiểm tra lại cao độ đổ bê tông đã được trắc đạc đánh dấu lên thành ván khuôn. Kiểm tra lại máy đầm, hệ thống chiếu sáng nếu thi công ban đêm, kiểm tra an toàn về điện cùng các thiết bị phục vụ thi công khác.

Khi đổ bê tông cần chú ý:

+ Chỉ đổ bê tông khi có sự đồng ý của Chủ đầu tư.

+ Thường xuyên kiểm tra độ sụt của bê tông tại hiện trường bằng phương pháp đo độ sụt của vữa bê tông.

+ Cấp phối của bê tông phải dựa vào cấp phối mẫu thử với vật liệu cụ thể tại trạm trộn và có sự chấp thuận của chủ đầu tư.

+ Với khối đổ bê tông lớn cứ 30m 3 bê tông sẽ lấy một nhóm mẫu thử kiểm tra cường độ bê tông 28 ngày tuổi. Việc lấy mẫu, ghi chép, dưỡng hô mẫu và thí nghiệm được thực hiện theo đúng TCVN 3105-93, kích thước mẫu (15x15x15)cm. Còn với khối lượng đổ bê tông nhỏ hơn 30m3 thi cứ đổ ngày nào lấy mẫu ngày đó.

Mẫu được kiểm tra tại phòng thí nghiệm chuyên ngành có đủ tư cách pháp nhân hành nghề để giúp kiểm tra sản phẩm được chính xác.

* Công tác bảo dưỡng bê tông:

Sau khi thi công bê tông xong 24 giờ thì tiến hành bảo dưỡng bê tông:

– Tùy theo nhiệt độ môi trường bảo dưỡng bêtông từ 3 ngày đến 10 ngày

– Trong những ngày đầu, khi bảo dưỡng bê tông hạn chế không để va chạm đến cốp pha làm ảnh hưởng đến khả năng chịu lực của kết cấu.

1.3.3 Biện pháp thi công phần kết cấu

Giải pháp cốp pha, dàn giáo cho dự án là cốp pha, dàn giáo thép định hình. Ngoài ra còn kết hợp với cốp pha và cây chống gỗ để lắp dựng cho các kết cấu nhỏ, lẻ.

Yêu cầu kỹ thuật của cốp pha:

Cốp pha và đà giáo được thiết kế và thi công phải đảm bảo độ cứng, ổn định, dễ tháo lắp, không gây khó khăn cho việc đặt cốt thép, đổ và đầm bê tông.

Cốp pha phải được ghép kín, khít để không làm mất nước ximăng khi đổ và đầm bê tông, đồng thời bảo vệ được bê tông mới đổ dưới tác động của thời tiết.

Cốp pha dầm, sàn được ghép trước lắp đặt cốt thép, cốp pha cột được ghép sau khi lắp đặt cốt thép.

Ván khuôn cột..

– Trước tiên phải tiến hành đổ mầm cột cao 50mm để tạo dưỡng dựng ván khuôn. Lưu ý đặt sẵn các thép chờ trên sàn để tạo chỗ neo cho cốp pha cột.

– Gia công thành từng mảng có kích thước bằng kích thước của 1 mặt cột.

– Ghép các mảng theo kích thước cụ thể của từng cột.

– Dùng gông (bằng thép hoặc gỗ cố định ), khoảng cách các gông khoảng 50 cm .

– Chú ý : phải để cửa sổ để đổ bê tông, chân cột có trừa lỗ để vệ sinh trước khi đổ bê tông.

* Cách lắp ghép :

-Vạch mặt cắt cột lên chân sàn, nền .

– Ghim khung cố định chân cột bằng các đệm gỗ đặt sẵn trong lòng khối móng để làm cữ .

– Dựng lần lượt các mảng phía trong rồi đến các mảng phía ngoài rồi đóng đinh liên kết 4 mảng với nhau , lắp gông và nêm chặt.

– Dùng dọi kiểm tra lại độ thẳng đứng của cột.

– Cố định ván khuôn cột bằng các neo hoặc cây chống.

Ván khuôn dầm.

Gồm 2 ván khuôn thành và 1 ván khuôn đáy. Cách lắp dựng như sau :

– Xác định tim dầm .

– Rải ván lót để đặt chân cột .

– Đặt cây chống chữ T , đặt 2 cây chống sát cột, cố định 2 cột chống, đặt thêm một số cột dọc theo tim dầm .

– Rải ván đáy dầm trên xà đỡ cột chống T , cố định 2 đầu bằng

các giằng .

– Đặt các tấm ván khuôn thành dầm, đóng đinh liên kết với đáy dầm, cố định mép trên bằng các gông , cây chống xiên , bu lông .

– Kiểm tra tim dầm , chỉnh cao độ đáy dầm cho đúng thiết kế .

Ván khuôn sàn .

– Dùng ván khuôn thép đặt trên hệ dàn giáo chữ A chịu lực bằng thép và hệ xà gồ bằng gỗ, dùng tối đa diện tích ván khuôn thép định hình, với các diện tích còn lại thì dùng kết hợp ván khuôn gỗ.

– Theo chu vi sàn có ván diềm ván diềm được liên kết đinh con đỉa vào thành ván khuôn dầm và dầm đỡ ván khuôn dầm.

Chú ý: Sau khi tiến hành xong công tác ván khuôn thì phải kiểm tra , nghiệm thu ván khuôn theo nội dung sau:

– Kiểm tra hình dáng kích thước theo Bảng 2-TCVN 4453 : 1995

– Kiểm tra độ cứng vững của hệ đỡ, hệ chống.

– Độ phẳng của mặt phải ván khuôn (bề mặt tiếp xúc với mặt bê tông).

– Kiểm tra kẽ hở giữa các tấm ghép với nhau.

– Kiểm tra chi tiết chôn ngầm.

– Kiểm tra tim cốt , kích thước kết cấu.

– Khoảng cách ván khuôn với cốt thép.

– Kiểm tra lớp chống dính, kiểm tra vệ sinh cốp pha.

Công tác tháo dỡ ván khuôn:

Cốp pha đà giáo chỉ được tháo dỡ khi bê tông đạt được cường độ cần thiết để kết cấu chịu được trọng lượng bản thân và các tải trọng tác động khác trong giai đoạn thi công sau. Khi tháo dỡ cốp pha, đà giáo tránh gây ứng suất đột ngột hoặc va chạm mạnh đến kết cấu bê tông.

Các bộ phận cốp pha, đà giáo không còn chịu lực sau khi bê tông đã đóng rắn (cốp pha thành dầm, tường, cột) có thể được tháo dỡ khi bê tông đạt cường độ trên 50%daN/cm2.

Kết cấu ô văng, công xôn, sê nô chỉ được tháo cột chống và cốp pha đáy khi cường độ bê tông đủ mác thiết kế.

Khi tháo dỡ cốp pha đà giáo ở các tấm sàn đổ bê tông toàn khối của nhà nhiều tầng nên thực hiện như sau:

-Giữ lại toàn bộ đà giáo và cột chống ở tấm sàn nằm kề dưới tấm sàn sắp đổ bê tông

-Tháo dỡ từng bộ phận cột chống cốp pha của tấm sàn dưới nữa và giữ lại cột chống “an toàn” cách nhau 3m dưới các dầm có nhịp lớn hơn 4m.

Đối với cốp pha đà giáo chịu lực của kết cấu ( đáy dầm, sàn, cột chống) nếu không có các chỉ dẫn đặc biệt của thiết kế thì được tháo dỡ khi bê tông đạt cường độ là 50% (7 ngày) với bản dầm, vòm có khẩu độ nhỏ hơn 2m, đạt cường độ 70% (10 ngày) với bản, dầm, vòm có khẩu độ từ 2-8m, đạt cường độ 90% với bản dầm, vòm có khẩu độ lớn hơn 8m.

a . Các yêu cầu của kỹ thuật.

Cốt thép đưa vào thi công là thép đạt được các yêu cầu của thiết kế, có chứng chỉ kỹ thuật kèm theo và cần lấy mẫu thí nghiệm kiểm tra theo TCVN 197: 1985

Cốt thép trước khi gia công và trước khi đổ bê tông cần đảm bảo:

-Bề mặt sạch, không dính bùn đất, dầu mỡ, không có vẩy sắt và các lớp gỉ

-Các thanh thép không bị bẹp, bị giảm tiết diện do làm sạch hoặc các nguyên nhân khác không vượt quá giới hạn cho phép là 2% đường kính. Nếu vượt quá giơi hạn này thì loại thép đó được sử dụng theo diện tích tiết diện thực tế còn lại.

-Cốt thép cần được kéo, uốn và nắn thẳng

-Cốt thép sau khi gia công lắp dựng vẫn phải đảm bảo đúng hình dạng kích thước, đảm bảo chiều dầy lớp bảo vệ.

– Cạo gỉ tất cả các thanh bị gỉ.

c . Bảo quản cốt thép sau khi gia công .

– Sau khi gia công, cốt thép được bó thành bó có đánh số và xếp thành từng đống theo từng loại riêng biệt để tiện sử dụng .

– Các đống được để ở cao 30 cm so với mặt nền kho để tránh bị gỉ. Chiều cao mỗi đống <1,2m, rộng < 2m.

d . Lắp dựng cốt thép .

Quy định chung :

-Thép đến hiện trường không bị cong vênh.

-Trước khi lắp dựng thanh nào bị gỉ, bám bẩn phải được cạo, vệ sinh sạch sẽ.

– Lắp đặt cốt thép đúng vị trí, đúng số lượng, quy cách theo thiết kế cụ thể cho từng kết cấu.

– Lắp đặt phải đảm bảo chiều dày lớp bảo vệ ( dùng các con kê bằng BT ).

– Đảm bảo khoảng cách giữa các lớp cốt thép ( dùng trụ đỡ bằng bê tông hoặc cốt thép đuôi cá).

– Với các thanh vượt ra ngoài khối đổ phải được cố định chắc chắn tránh rung động làm sai lệch vị trí.

e.1 . Móng độc lập :

Lắp thép đế móng,đế đài cọc ,đế dầm móng :

– Xác định trục, tâm móng, cao độ đặt lưới thép ở đế móng.

– Lắp lưới thép đế móng có thể gia công sẵn hoặc lắp buộc tại hố móng. Lưới thép được đặt trên các con kê để đảm bảo chiều dày lớp bảo vệ.

Lắp thép cổ móng .

– Xếp các thanh thép lên khung gỗ.

– Lồng cốt đai vào các thép đứng, các mối nối cốt đai phải so le không nằm trên cùng 1 thanh thép chịu lực.

– Buộc thép đai vào thép đứng.

– Cố định thép, có thể dùng gỗ đặt ngang qua hố móng.

e.2 . Dựng buộc cốt thép cột:

– Kiểm tra vị trí cột, vách .

– Cốt thép có thể được gia công thành khung sẵn rồi đưa vào ván khuôn đã ghép trước 3 mặt.

– Trường hợp dựng buộc tại chỗ thì bắt đầu từ thép móng, đặt cốt thép đúng vị trí rồi nối bằng buộc hoặc hàn, lồng cốt đai từ trên xuống và buộc với thép đứng theo thiết kế. Chú ý phải đảm bảo chiều dày lớp bảo vệ.

e.3. Lắp dựng cốt thép vách lõi thang

– Lắp đặt thép vách theo thứ tự: đặt các thanh đứng trước, các thanh đứng này được định vị bởi một số thanh ngang. Sau khi các thanh đứng đã buộc đủ số lượng, đúng khoảng cách mới tiến hành lắp buộc các thanh nằm ngang.

– Thép vách khi lắp buộc đảm bảo ngang bằng thẳng đứng, khoảng cách thanh đứng và thanh ngang, thép đai C phải theo đúng thiết kế trong bản vẽ.

e.4 . Cốt thép dầm .

– Chọn một số mẩu gỗ kê ngang ván khuôn để đỡ thép .

– Với các thanh nối thì phải chọn chỗ có mô men uốn nhỏ nhất .

– Dùng thước gỗ đánh dấu vị trí cốt đai vào, nâng hai thanh thép chịu lực lên chạm khít cốt đai rồi buộc, buộc hai đầu vào giữa, xong lại đổi 2 thanh thép dưới lên buộc tiếp.

– Sau khi buộc xong cốt đai thì hạ khung thép vào ván khuôn, hạ từ từ bằng cách rút dần các thanh gỗ kê ra.

g . Kiểm tra nghiệm thu cốt thép.

-Sau khi lắp dựng xong cốt thép vào công trình (cụ thể cho từng cấu kiện ) thì tiến hành kiểm tra và nghiệm thu cốt thép theo các phần sau :

– Hình dáng kích thước, quy cách.

– Vị trí cốt thép trong từng kết cấu do thiết kế quy định.

– Sự ổn định và bền chắc của cốt thép.

– Số lượng, chất lượng các bản kê làm đệm giữa cốt thép với ván khuôn.

– Phần lớn bê tông sử dụng của công trình là bê tông thương phẩm, cột và vách được đổ trước còn dầm và sàn đổ đồng thời. Sử dụng bơm bê tông để đổ bê tông tất cả các hạng mục công trình. Vách và cột được đổ làm 1 lần. Dầm, sàn là một khốỉ, nếu trong trường hợp đổ không kịp thì sẽ để mạch ngừng thi công theo đúng quy định.

– Sử dụng bơm bê tông phục vụ cho công tác đổ bê tông toàn bộ các cấu kiện thi công.

– Công tác chuẩn bị đổ bê tông:

*Vật tư thiết bị:

– Máy đầm bê tông D50mm

– Máy bơm bê tông và các phụ kiện kèm theo

– Máy đánh mặt bê tông.

– Xe chở bê tông thương phẩm.

– Công tác đổ bê tông được thực hiện sau khi công tác nghiệm thu cốt thép và cốp pha hoàn thành.

– Bê tông dầm được đổ liên tục, đổ từ sâu đến nông, đổ từ thấp lên cao, đổ từ xa về gần.

– Bê tông dầm trước được đổ bằng xe bơm, vòi bơm di chuyển theo dọc dầm, mỗi lớp có chiều dầy từ 30 ¸ 40 cm phải đầm ngay. Vòi đầm dựng vuông góc với đáy dầm, khoảng cách và vị trí đầm có bán kính £ 30 cm. khi đổ bêtông đầy dầm mới đổ bê tông sang sàn.

– Trong quá trình đổ bê tông nếu phải dừng đổ vì nguyên nhân bất khả kháng như: trời mưa bão, máy bơm hỏng hoặc trạm trộn hỏng… thì tiến hành làm mạch ngừng thi công.Vết ngừng của bêtông của dầm đặt tại 1/3 chiều dài khẩu độ dầm. Vết ngừng được chắn bằng lưới thép D1mm – a5mm, đặt vuông góc với đáy dầm. Khi đổ bê tông tiếp theo phải đục nhám, làm sạch mặt, tưới nước xi măng nguyên chất mới đổ phủ bêtông lớp sau.

– Khi đầm bê tông không để vòi đầm rung chạm vào thép dầm, không dùng vòi đầm để đẩy bêtông đi. Rút đầm lên phải rút từ từ, không rút nhanh quá để lại lỗ rỗng trong bêtông. Đối với những dầm có lượng thép nhiều phải dùng đầm có đường kính dùi D38mm để đầm.

– Dùng xẻng xúc san gạt bê tông từ chỗ cao xuống chỗ thấp. Dùng thước tầm cán phẳng sơ bộ mặt bê tông, sau đó kéo đầm bàn đầm một lượt, san lấp các vị trí đổ bù, sau đó đầm phẳng bề mặt bê tông.

– Đầm bàn được kéo từ từ, vết đầm sau đè lên 1,3 vết đầm trước, kéo đầm hết một lượt dọc chuyển sang kéo một lượt ngang vuông góc với lượt dọc đã đầm.

– Khi đầm bê tông thấy bề mặt của bê tông đã lăn tăn nổi nước xi măng là ngừng.

– Bêtông sàn đổ đúng chiều dầy thiết kế, mặt bêtông phải phẳng, các vị trí đặt lỗ chờ, chi tiết chôn sẵn được làm cùng với quá trình đổ bêtông.

– Trong quá trình đổ bê tông bố trí 3 thợ mộc và ba thợ thép thường trực để xử lý những sai lệch có thể xảy ra trong quá trình đổ bêtông.

– Bêtông sàn được đổ liên tục, không ngừng nghỉ, nếu phải ngừng nghỉ do những nguyên nhân bất khả kháng thì mạch ngừng thi công sẽ được chắn bằng ván gỗ đặt vuông góc với mặt phẳng sàn thì mạch ngừng đặt đúng các yêu cầu kỹ thuật.

– Khi đổ bê tông nếu gặp trời mưa, trời nắng gắt phải được che phủ mặt sàn bêtông đã thi công xong.

– Bảo dưỡng bê tông sau khi đổ dúng quy trình và theo yêu cầu của tư vấn giám sát.

– Nghiệm thu cốp pha, cốp thép cột và vách.

– Đổ bê tông bằng bơm tĩnh. Đường ống bơm được lắp đặt đến vị trí của cột vách, vòi bơm dịch chuyển theo đỉnh ván khuôn, hai bên miệng có các mảng chắn hình phễu để khi đổ bêtông không bị rơi ra ngoài.

– Bơm bê tông theo từng lớp cao 40 ¸ 50cm, dùng đầm dùi có đường kính D=50mm để đầm, phương pháp đầm được thực hiện đầm từng lớp và theo cả chiều dài vách. Đối với những khu vực có hàm lượng cốt thép lớn phải dùng đầm có đường kính đầu dùi D=38mm để đầm.

– Trong trường hợp đổ bêtông cho những kết cấu nhỏ như lanh tô, tấm đan bêtông, bê tông tạo dốc nền tầng hầm … Sử dụng máy trộn 350 lít để trộn bê tông.

– Vữa bê tông phải được trộn đều.

– Phải đạt mác thiết kế.

– Bê tông phải đảm bảo độ sụt theo yêu cầu cụ thể.

– Thiết kế thành phần hỗn hợp bê tông phải đảm bảo sao cho bê tông qua được những vị trí thu nhỏ nhất của đường ống và qua được các đường cong khi bơm.

– Hỗn hợp bê tông có kích thước tối đa của cốt liệu lớn là 1/3 đường kính trong nhỏ nhất của ống dẫn.

– Thời gian trộn, vận chuyển, đổ đầm phải đảm bảo, tránh làm ninh kết bê tông.

– Máy bơm phải bơm liên tục. Khi cần ngừng không được quá 10 phút lại phải bơm tiếp để tránh bê tông làm tắc ống.

– Nếu máy bơm phải ngừng trên 1 giờ thì phải hồi vữa bê tông về và trộn thêm phụ gia theo một tỷ lệ nhất định. Khi bơm xong phải dùng nước bơm rửa sạch đường ống.

Việc đổ bê tông phải đảm bảo:

– Không làm sai lệch vị trí cốt thép, vị trí cốp pha và chiều dày lớp bê tông bảo vệ cốt thép.

– Không dùng đầm dùi để dịch chuyển ngang bê tông trong cốp pha.

– Bê tông phải được đổ liên tục cho đến khi hoàn thành một kết cấu nào đó theo qui định của thiết kế.

– Để tránh sự phân tầng, chiều cao rơi tự do của hỗn hợp bê tông khi đổ không được vượt quá 2,5m.

Khi đổ bê tông cần chú ý:

– Giám sát chặt chẽ hiện trạng cốp pha đỡ giáo và cốt thép trong quá trình thi công.

– Khi đổ bê tông ta lưu ý đến độ cứng chịu áp lực ngang của cốp pha do hỗn hợp bê tông mới đổ gây ra.

– Khi trời mưa phải có biện pháp che chắn không cho nước mưa rơi vào bê tông.

– Khi đổ bê tông móng máy cần lưu ý : Bơm bê tông cho đều theo từng lớp trên toàn bộ diện tích của móng máy để hệ ván khuôn làm việc đều không xảy ra tình trạng cô ván khuôn thành, tránh bơm dồn cục tại 1 vị trí.

Khi đổ bê tông tới đâu phải tiến hành đầm tới đó. Đối với bê tông cột, vách sử dụng đầm dùi kết hợp với việc cho công nhân gõ vào mặt ngoài của ván khuôn. Đối với bê tông dầm dùng đầm dùi, sàn dùng đầm bàn, đầm dùi để đảm bảo bê tông được đầm kỹ sao cho nước xi măng nổi lên bề mặt và không có bọt khí. Khi đầm tuyệt đối không để đầm chạm vào cốt thép gây xô lệch cốt thép và chấn động đến những vùng bê tông đã ninh kết hoặc đang ninh kết.

– Sau khi đầm đảm bảo bê tông được đầm chặt và không bị rỗ.

– Khi sử dụng đầm dùi bước di chuyển của đầm không vượt quá 1,5 bán kính tiết diện của đầm và phải cắm sâu vào lớp bê tông đã đổ trước ít nhất 10cm.

+ Thời gian đầm tại 1 vị trí từ (10-20)s.

+ Khi đầm xong 1 vị trí phải rút đầm lên từ từ không được tắt động cơ để tránh các lỗ rỗng trong bê tông.

+ Không được đầm quá lâu tại 1 chỗ (tránh hiện tượng phân tầng).

+ Dấu hiệu bê tông được đầm kỹ là nước xi măng nổi lên và bọt khí không còn nữa.

– Khi cần đầm lại bê tông thì thời điểm đầm thích hợp là 1,5 ¸ 2 giờ sau khi đầm lần thứ nhất (thích hợp với bê tông có diện tích rộng và dày như bê tông sàn).

+ Đầm bàn được kéo từ từ.

+ Vết sau phải đè lên vết trước (5-10)cm.

+ Sau khi đầm xong căn cứ vào các mốc đánh dấu ở cốp pha thành dầm dùng thước gạt phẳng.

– Bê tông các cấu kiện đổ xong sau 4 tiếng tiến hành bảo dưỡng, thời gian bảo dưỡng liên tục trong 7 ngày, các kết cấu có bề mặt nhỏ (tường vách, dầm, lanh tô v.v…) thường xuyên tưới nước lên bề mặt sao cho độ ẩm luôn luôn có, cứ 1 ¸ 2 giờ tưới nước một lần, với sàn bê tông nếu thời tiết mát chỉ cần tưới nước đảm bảo bề mặt luôn ướt, nếu thời tiết nắng nóng bề mặt được phủ lên một lớp bao tải ướt để luôn giữ độ ẩm.

– Bêtông sàn khu vệ sinh, bê tông mái đổ xong sau 2 ngày được ngâm nước xi măng. Mặt bê tông mái xây gạch đặc dày 11cm cao 22cm chia thành các ô có diện tích 15 ¸ 20m2. Bơm nước rửa sạch mặt bêtông các ô mái, sau đó chứa nước, rắc xi măng bột 5kg/m2, khuấy đều, cứ 02 giờ khuấy 01 lần để nước xi măng thẩm thấu bịt kín các lỗ rỗng của bê tông.

Bạn đang xem bài viết Biện Pháp Thi Công Phần Hoàn Thiện / 2023 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!