Xem Nhiều 8/2022 # Biện Pháp Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu Nghèo # Top Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 8/2022 # Biện Pháp Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu Nghèo # Top Trend

Xem 7,326

Cập nhật thông tin chi tiết về Biện Pháp Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu Nghèo mới nhất ngày 10/08/2022 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 7,326 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu Nghèo Mục Tiêu Của Việt Nam Trong Chặng Đường Phát Triển Mới
  • Từng Bước Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu Nghèo
  • Bỏ Túi Quy Trình Thu Hồi Công Nợ Hiệu Quả Nhất Từ Trước Đến Nay!
  • Các Giải Pháp Đảm Bảo An Toàn Nợ Công
  • Cơ Cấu Lại Ngân Sách Nhà Nước Để Đảm Bảo An Toàn Nợ Công
  • Phóng to

    Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát

    TTO – Bắt đầu phiên làm việc sáng nay (25-11), Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát tiếp tục trả lời các chất vấn đã được nêu ra từ chiếu qua: giải pháp thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, có hay không giải pháp giảm bớt đóng góp của nông dân, chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, các phương pháp hỗ trợ nông dân khi chính thức gia nhập WTO…

    Ngổn ngang vấn đề với Bộ trưởng GTVTĐất, nước, thủ tục hành chính với Bộ trưởng Bộ TN-MT

    Về công tác phòng chống dịch bệnh trong nông nghiệp với các bệnh cúm gia cầm, lở mồm long móng, sán lá, vàng lùn… Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết một số kết quả: với chỉ đạo, một số dịch bệnh đã được khống chế, bệnh cúm gia cầm, từ 11-2005 đến nay không có trường hợp tái phát trên người cũng như trên gia cầm, dịch lở mồm long móng chỉ còn một số ổ dịch nhỏ lẻ ở 8 tỉnh thay vì mấy chục tỉnh như đầu năm. Tuy nhiên, bệnh vàng lùn, lùn xán lá lại lây lan mạnh ở một số tỉnh đang gây ra một nguy cơ lớn với vụ lúa đông xuân… Nguyên nhân sâu xa là hệ thống sản xuất nông nghiệp lạc hậu, hệ thống thú y bảo vệ thực vật còn nhiều yếu kém, công tác phòng chống dịch bệnh từ Bộ đến địa phương còn chưa xâu sát.

    Giải pháp cho tình hình, để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, thay đổi hệ thống sản xuất cụ thể là điều chỉnh cơ cấu cây trồng, phương thức trồng trọt, chăn nuôi. Đồng thời rà soát sắp xếp lại các nông lâm trường, đẩy mạnh giao đất, giao rừng.

    Về bảo vệ rừng, đổi mới hệ thống kiểm lâm và việc giao đất, giao rừng: biện pháp chính là đẩy mạnh giao đất, giao rừng, tích cực hỗ trợ nhân dân sống ở gần rừng xóa đói giảm nghèo không phá rừng làm rẫy mà ngược lại có nguồn thu từ việc trồng rừng, cải thiện hệ thống kiểm lâm…

    Hiện nay Bộ đang tiến hành rà soát, sắp xếp lại rừng và đẩy mạnh giao đất, giao rừng. Cụ thể đã giao 8,5 triệu ha (khoảng 50%) đất đai quy hoạch cho lâm nghiệp, trong đó 6,6 triệu ha đất có rừng (55%). tuy nhiên các hộ gia đình chỉ được giao có 2 triệu ha, chỉ khoảng 18%, còn lại 82% là do các tổ chức của Nhà nước quản lý. Đây chính là một điểm yếu trong hệ thống quản lý của chúng ta. Theo theo dõi, con số tròn là 70% các vụ phá rừng ở các khu vực do nhà nước quản lý và một tỷ lệ tương tự những vụ cháy rừng… Vì thế phải điều chỉnh để giao đất giao rừng cụ thể cho nhân dân, cho bà con cụ thể để đem lại thu nhập cho bà con. Bộ trưởng Phát cũng cho biết trong 2 năm tới sẽ giao 4 triệu ha rừng và cho thuê 2 triệu ha rừng.

    Kiểm lâm: ban hành nghị định 119, đưa các tổ chức gắn với kiểm lâm…

    Mở đầu phiên chất vấn Bộ trưởng Cao Đức Phát, ĐB Vũ Minh Mão (Thái Bình): Bộ trưởng có nói rằng nếu bỏ thủy lợi phí thì có thể dẫn đến sự không công bằng giữa nơi được đầu tư và không được đầu tư, nhưng các tỉnh vẫn được xây dựng các công trình thủy lợi. Không phải là bỏ thủy lợi phí là mất công bằng. Bộ trưởng nên nghiên cứu bỏ hẳn thủy lợi phí cho nông dân vì đời sống nông dân còn nhiều khó khăn.

    Bộ trưởng Cao Đức Phát: về vấn đề miễn giảm thủy lợi phí, chúng tôi đề nghị khi xem xét thì phải xem xét đến vến đề công bằng xã hội vì nước 9,1 triệu ha đất nông nghiệp thì chỉ có 3,4 triệu ha (30%) có hệ thống thủy lợi tốt. Chúng ta cần khoảng 60.000 tỷ đồng để đầu tư cho thủy lợi, Bộ được thông báo con số là 30.000 tỷ đồng, đây là một cố gắng rất lớn của ngân sách Nhà nước.

    Thủy lợi phí được thu theo pháp lệnh về bảo vệ và quản lý các công trình thủy lợi, và nghị định 143. Nếu thu theo khung thì phải thu 950 tỷ đồng và thu bao nhiêu là chính quyền quyết định căn cứ theo khung. Trên thực tế chỉ mới có 43 tỉnh thực hiện nghị định này và năm nay mới thu được 780 tỷ đồng, khoảng 80% khung chính phủ nêu. Số tiền chi cho 4 khoản chính: lương cho 22.300 cán bộ của 110 công ty thủy lợi, tiền tạo nguồn nước, trả tiền điện (khoảng 30-50%) và sửa chữa nhỏ.

    Nếu miễn lệ phí cho những nơi có hệ thống thủy lợi tốt đã được đầu tư mấy chục năm nay thì liệu chúng ta có nguồn để bù vào không? Hay tốt hơn là những nơi có hệ thống thủy lợi tốt đóng góp để dàn trải cho những khu vực chưa có hệ thống thủy lợi.

    Chúng tôi kiến nghị phải xem xét thêm về tạo động cơ, tốt nhất Nhà nước chỉ nên quản lý những hệ thống thuỷ lợi lớn, còn lại thì phân cấp cho các HTX, các tổ chức của nông dân vận hành. Và nên phân cấp thêm một phần thủy lợi phí để bà con tự sửa chữa, chi tiêu.

    ĐB Nguyễn Văn Thuyết (Yên Bái): Bộ trưởng có đề nghị điều chỉnh trồng mới 5ha rừng, theo nghị quyết Quốc hội thì cần trồng mới hơn 3 triệu ha, Chính phủ thì đề nghị xuống 1,4 triệu ha. Theo Bộ trưởng nếu thay đổi như vậy thì có còn là dự án trồng 5 triệu ha rừng nữa không?

    Đồng thời với việc nâng định mức khoán bảo vệ rừng từ 50.000 lên 100.000 đồng, Bộ trưởng lại giảm định mức xuống còn 1,5 triệu ha. Có hợp lý không?

    Trách nhiệm của Bộ trưởng đến đâu khi nhiều ý kiến không được xem xét nghiêm túc?

    Bộ trưởng Cao Đức Phát: Chúng tôi có đề nghị giảm chỉ tiêu trồng rừng trong 5 năm tới là 1 triệu ha. Cộng với 1,4 triệu ha đã được trồng trong giai đoạn trước cộng với khoảng 1 triệu ha được khoanh nuôi thì kết thúc giai đoạn 2010 thì chúng ta có khoảng 3,4 triệu ha. Căn cứ vào khả năng thực tế, vốn của Nhà nước, nhân dân và doanh nghiệp trồng rừng thì ngoài phần đầu tư của Nhà nước tăng hơn 20.000 ha. Rừng trồng là do nhân dân đầu tư trồng theo tín hiệu của thị trường, đây là làm kinh tế chứ không phải làm theo số lượng.

    Về định mức khoán, một số nơi kiến nghị nâng lên mức 200.000 đồng thì nên đi theo hướng giảm định mức xuống còn 1,5 triệu ha, tăng mức khoán bảo vệ hơn là chi tiền cho bà con bảo vệ rừng.

    Vấn đề tiếp thu các ý kiến thì còn một số giới hạn nên Chính phủ chưa điều chỉnh ngay được.

    ĐB Lê Thị Kim Thanh (Hà Tĩnh): Diện tích trồng thông nước ta rất lớn, trong những thập kỷ vừa qua, rừng thông có tác dụng phòng hộ rất lớn, tạo thu nhập. Nhưng nạn sâu róm và cháy rừng ảnh huởng lớn đến rừng thông, xin Bộ trưởng cho biết cách xử lý cháy rừng, có thể thay thế loại cây này bằng các loại cây khác không?

    Hiện tại Hà Tĩnh và nhiều địa phương của cả nước đang tập trung trồng cây dó trầm. Nhưng chưa có nghiên cứu nào kết luận về kết quả chưng cất dầu trầm, bao nhiêu phần trăm là cây có trầm… Có nên để dân trồng cây dó trầm với hy vọng lớn mà không biết kết quả ra sao?

    Bộ trưởng Cao Đức Phát cho rằng cháy và bệnh sâu róm là mối đe dọa đối với rừng thông nhưng thông phù hợp với điều kiện lập địa của một số vùng đất, nếu giữ được thì mang lại lợi ích. Trước tình hình hiện nay, Bộ đã giao cho Cục tìm hướng giải quyết diệt trừ sâu róm. Cải tạo rừng thông này như thế nào thì xin phép cơ quan chức năng để xem xét cụ thể và làm việc cụ thể.

    Đối với cây dó trầm thì đến nay tôi chưa nhận được báo cáo khoa học nào khẳng định hiệu quả của cây trầm. Tôi đã yêu cầu giới thiệu những nông dân thành công để nhìn thấy tận mắt, giới thiệu với nhân dân nhưng chưa được giới thiệu nào.

    Một số chất vấn khác cũng được đưa ra để Bộ trưởng Cao Đức Phát trả lời trong phiên chất vấn vào sáng mai (24-11).

    ĐB Nguyễn Mạnh Đức (Yên Bái): Hiện nay khoảng cách giàu nghèo giữa đô thị và nông thôn ngày càng lớn. Chủ trương chiến lược của Bộ trưởng để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, nâng cao đời sống của nông dân? Nội dung chủ yếu, lộ trình thế nào?

    Tiền công trông giữ một xe máy từ 50.000-60.000/xe/tháng trong mức khoán bảo vệ rừng 100.000 đồng/1ha rừng, dựa vào đâu để tính định mức này? Như vậy liệu người dân có giữ rừng cho Nhà nước hay không?

    ĐB Nguyễn Thị Thu Hồng (Thừa Thiên – Huế): Một trong những giải pháp giảm bớt những khó khăn cho nông dân là giảm bớt đóng góp của nông dân. Báo cáo của Bộ trưởng không nêu về giải pháp này, mong Bộ trưởng giải thích thêm.

    ĐB Đinh Thị Thảo (Hòa Bình): Lý do chính điều chỉnh dự án trồng mới 5 triệu ha rừng thành trồng mới 4 triệu ha rừng? Ý kiến của riêng Bộ trưởng trong việc chuyển đổi dự án? Trách nhiệm của Bộ NN&PTNN đến đâu? Trách nhiệm của Bộ trưởng là như thế nào?

    ĐB Trần Luân Kim (Phú Yên): Những biện pháp thay đổi bộ mặt đời sống nông thôn sau khi gia nhập WTO?

    Bão lụt ở nuớc ta xảy ra thường xuyên và xảy ra định kỳ hằng năm, gây bất an cho dân. Năm vừa qua chúng ta đã có nhiều giải pháp hay nhưng vẫn còn bị động. Bộ trưởng cho biết chúng ta cần làm gì để giúp cho người dân? Chúng ta vẫn trong tình thế bị động, xử lý mang tính thời vụ. Chúng ta phải làm gì để giúp người dân giảm tối đa thiệt hại, có thể sống chung với biển.

    Công trình thủy điện sông Hinh đã hoàn thành 8 năm nhưng chỉ mới phát điện, chưa ứng dụng thủy lợi. Bộ trưởng cho biết bao giờ mới tiếp tục đầu tư cho công trình này?

    ĐB Trần Thị Quốc Khánh (Hà Nội): Nhiều tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa khan hiếm nước sinh hoạt, nói chi là nước sạch. xin Bộ trưởng căn cứ vào đâu mà Bộ trưởng cho rằng khả năng hết năm 2006, 6,6% người dân nông thôn đủ nước sạch để dùng. Từ khi nhậm chức đến nay Bộ trưởng đã đo khảo sát chưa?

    Chương trình nuôi bò sữa đã phá sản, trách nhiệm cụ thể của Bộ trong trường hợp này?

    Sạt lở bờ sông ở nhiều nước gây tổn hại cho Nhà nước và Nhân dân, nguyên nhân là do con người. Nhưng Bộ trưởng cho rằng là do trời, nguyên nhân khách quan. Bộ trưởng cho biết vì sao lại kết luận như vậy và ai sẽ chịu trách nhiệm?

    Trả lời cho các câu hỏi này, sáng 25-11, Bộ trưởng Cao Đức Phát trình bày:

    Sự chênh lệch thu nhập giữa vùng cao nhất Đông Nam bộ và thấp nhất Tây Bắc là 3,1 lần, mức chênh lệch trung bình giữa thành thị và nông thôn là 2,6 lần, và khoảng cách này có khả năng còn tiếp tục giãn ra.

    Bộ trưởng đề nghị Chính phủ và QH quan tâm nhiều hơn nữa, duy trì tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ít nhất là 4%/năm. Một thực tế là diện tích đất đai trồng trọt sẽ giảm đi, mỗi năm giảm 1% nên phải cố gắng duy trì và tăng thêm 3,5% để không có những biến động về sản lượng.

    Song song đó cần đổi mới chính sách khuyến khích đầu tư vào phát triển nông nghiệp. Hiện nay chỉ có 15% doanh nghiệp mới thành lập, dưới 5% vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào nông thôn. Muốn vậy, phải xây dựng cơ sở hạ tầng tốt hơn, ví dụ như nâng cấp hệ thống đường sá ở nông thôn.

    Thứ ba, chúng tôi cho rằng một trong những yếu tố rất quan trọng là việc phát triển nguồn nhân lực, trong đó là vấn đề giáo dục. Chính yếu tố này sẽ làm cho thanh niên nông thôn phát triển cao hơn, đáp ứng hơn cho nhu cầu lao động mới. Tây Bắc cần được ưu tiên phát triển hơn.

    Tăng mức khoán rừng từ 50.000đ/ha/năm lên 100.000đ/năm, chúng ta đã từng đề xuất, mỗi năm, một người dân nhận 30ha, giá lúa trung bình là 2.500đkg thì đủ sống, nhưng vào thời điểm này thì đã cao hơn.

    Về việc khoanh nuôi 1 triệu ha/5 triệu ha rừng: tạo mới rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, mục tiêu chính là sự bảo tồn đa dạng sinh học. Do vậy các nhà khoa học khuyến cáo rằng để làm tốt điều đó, chúng ta cần để cho sự phát triển tự nhiên diễn ra hơn là sự can thiệp con người. Về rừng phòng hộ, chúng ta cứ phát triển những loại cây hiện tại tốt hơn là việc trồng cây mới, và tốt hơn là trồng trên rừng cao. Một vấn đề nữa là khoanh nuôi thì tốn 1 triệu đồng/ha, còn trồng mới thì năm nay phải tốn 5 triệu đồng/ha (trong khi thực tế thì cần đến 8 triệu đồng/ha).

    Còn việc có nên chuyển thành mục tiêu quốc gia thì tôi cho rằng là chưa nên, để có thu hút nhiều hơn sự đầu tư – trong đó có quốc tế. Quan điểm của các nhà đầu tư quốc tế, thì muốn có rừng thì cần phải đầu tư cho đời sống tốt hơn, và ngoài 500 tỷ đồng thì số vốn đầu tư còn lại dánh cho đời sống của nhân dân”…

    Về việc quy hoạch lại chăn nuôi, trồng trọt, Bộ Trưởng cho biết Bộ đã có hướng dẫn các địa phương, đã làm đề án cho 7 vùng kinh tế, trong đó có chỉ tiêu hướng dẫn cho từng tỉnh, trên cơ sở đó, Bộ tham gia với từng tỉnh một.

    Về công trình thủy điện sông Hinh, Bộ trưởng cho biết Chính phủ đã đưa vào hạng mục công trình trái phiếu, chúng tôi đã hoàn thiện hồ sơ và sẽ bắt đầu vào năm 2007.

    Trả lời cho căn cứ xác định chỉ tiêu nguồn nước cho người dân tại nông thôn là 66% người dân nông thôn có nước sinh hoạt hợp vệ sinh, Bộ trưởng cho biết đây là căn cứ của các báo cáo và những lần kiểm tra thực tế. “Thế nào là nước hợp vệ sinh, chúng tôi căn cứ theo 7 chỉ tiêu như độ màu, độ cặn… Đó là những nguồn nước từ nước mưa, nước giếng và khi uống thì phải được khử trùng đúng quy cách. Song, nếu căn cứ theo chỉ tiêu của Bộ Y tế thì con số chỉ là 30% chứ không phải 66% như tôi báo cáo. ĐB cũng đã hỏi tôi có đến các tỉnh làm việc về nguồn nước chưa, về cá nhân tôi cũng đã đến làm việc tại tất cả các tỉnh trên cả nước, cả những vùng sâu, vùng xa như báo chí phản ảnh, nhưng thời gian không nhiều nên thường là giải quyết các công việc chung”.

    ĐB Nguyễn Mạnh Đức tiếp tục chất vấn: Bộ NN&PTNT có những cơ chế chính sách gì để thúc đẩy phát triển Tây Bắc. Việc tăng rừng sản xuất, cho dân trồng rừng có bảo đảm được đầu ra và việc thu mua có thể tăng thu nhập cho người dân không?

    Bộ trưởng Cao Đức Phát: Bộ đã tham gia với các bộ, tham mưu và Chính phủ đã có quyết định, nhiều chương trình cho Tây Bắc, 20 ngàn tỷ đồng cho chương trình di dân, khai hoang 10 ngàn ha…

    Dành 70 tỷ làm thủy lợi nhỏ cho các vùng Tây Bắc. Khai thác thế mạnh rừng, trồng cây nông nghiệp. Đẩy mạnh việc giao đất, giao rừng cho dân. Hỗ trợ 2 triệu mua cây giống, trợ cấp lương thực cho bà con…

    Trồng rừng kinh tế thì phải theo quy luật thị trường. Bản thân Bộ không cử doanh nghiệp đến mua được, chỉ có thể nghiên cứu, hướng dẫn bà con trồng rừng, chọn cây sao cho hiệu quả nhất…

    ĐB Trần Luân Kim: Bão lụt vào nước ta hằng năm. Làm sao để không phải huy động lực lượng ầm ỉ, tốn kém mà vẫn tổn thất rất lớn?

    Bộ trưởng Cao Đức Phát: Chúng tôi đang xây dựng chiến lược giảm thiên tai, trong đó, từng vùng ở có nước sẽ có những biện pháp phòng chống khác nhau.

    ĐB Nguyễn Đình Xuân (Tây Ninh): Chúng tôi đang lo lắng việc cắt giảm rừng phòng hộ thành rừng sản xuất, theo tiêu chí mới của bộ thì rừng đặc dụng có thể giảm nhiều. Nhưng tôi muốn hỏi tiêu chí nào để xác định việc giảm rừng đặc dụng? Làm sao đảm bảo rằng chính sách mới của kiểm lâm có thể làm giảm việc mất rừng ồ ạt như trước kia?

    ĐB Lê Quốc Dung (Thái Bình): Nhiều năm qua chúng ta đã đề nghị việc giảm thủy lợi phí cho nông dân nhưng năm qua thì lại tăng thêm, làm cho nhiều địa phương phải bỏ ngân sách ra đảm bảo cho người dân yên tâm sản xuất! Hệ thống tiêu úng có phải được trích ra từ thủy lợi phí? Bộ trưởng nên xem lại vấn đề này. Chúng ta đã vào WTO, chúng ta sẽ được hỗ trợ thêm về vấn đề phát triển sản xuất nông nghiệp.

    ĐB Nguyễn Thị Ánh Tuyết (Quảng Ngãi): việc trồng mía của nông dân rất khó khăn, Bộ có chính sách nào hỗ trợ nào? Còn về dự án trồng mới rừng, chúng tôi chưa thấy có dự án bảo tồn các loại gỗ quý hiếm? Chính sách tăng tính cạnh tranh cho các sản phẩm nông nghiệp trong bối cảnh mới?

    Phiên chất vấn được kéo dài thêm 15 phút. Bộ trưởng trả lời n thêm: Nước ta nên có 2 triệu ha rừng đặc dụng và 6 triệu ha rừng phòng hộ, song, con số thực tế thì đã vượt hơn con số cần thiết; do vậy chúng ta cần cân đối hài hòa việc bảo tồn giữa mục tiêu trồng rừng kinh tế và phòng hộ.

    Bên cạnh đó, kiểm lâm là cơ quan tham mưu cho chính quyền để bảo vệ rừng, một mình tổ chức kiểm lâm không thể làm được nên con đường tốt nhất là chúng ta cần phát huy sức mạnh tổng hợp.

    Về thủy lợi phí, thì số tiền dường như có vẻ cao hơn, song, khi quy thành tiền thấp hơn so với việc quy thành thóc như trước đây. Hệ thống tiêu úng, thì thực tế CP chi chứ không phải lấy từ thủy lợi phí. Về chính sách hỗ trợ, thì chúng tôi đang làm việc thêm về vấn đề này.

    Về nâng cao năng sức cạnh tranh của nông nghiệp VN, khi gia nhập WTO, chúng ta có hai vấn đề: giảm hàng rào thuế quan thì đòi hỏi chất lượng cao hơn; thị trường trong nước cũng sẽ có nhiều biến động. Chúng tôi cũng đã đề nghị các biện pháp để nâng cao các chính sách phát triển khoa học kỹ thuật để tăng cường tính cạnh tranh.

    Song, ĐB Nguyễn Thị Ánh Tuyết vẫn tranh luận: Bộ có giải pháp nào giúp dân tăng năng xuất mía? Việc bảo tồn cây gỗ quý sẽ được thực hiện ra sao?

    Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng: Vấn đề nông thôn rộng lớn, chất vấn phong phú là dễ hiểu, song xin dừng lại ở đây. Đề nghị Bộ trưởng và các cán bộ của Bộ NN&PTNT tiếp tục nghiên cứu về hai vấn đề cử tri cả nước quan tâm: Chính sách phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và đời sống nông dân ở vùng sâu, vùng xa, các vần đề việc làm, nước sạch, vệ sinh môi trường… Quốc hội tiếp tục chuyển sang phần trình bày và trả lời chất vấn của Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh.

    Bộ trưởng Cao Đức Phát: Giống mía, chúng tôi có dự án về giống mía, nhân giống mía tốt cung cấp cho các địa phương, đồng thời bộ khuyến khích các doanh nghiệp tìm thêm giống tốt du nhập về VN. Về phần bảo tồn và phát triển cây gỗ quý chúng tôi giao Viện khoa học lâm nghiệp nâng cao chất lượng cây bản địa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Xoá Đói Giảm Nghèo Ở Tỉnh Hà Tĩnh Đến Năm 2010
  • Luận Văn Giải Pháp Xoá Đói Giảm Nghèo Ở Tỉnh Hà Tĩnh Đến Năm 2010
  • Giải Pháp Nhàm Hạn Chế Sự Gia Tăng Của Nạn Lạm Phát Ở Việt Nam
  • Những Biện Pháp Và Hạn Chế Lạm Phát Ở Việt Nam
  • Nỗ Lực Khắc Phục Khó Khăn, Khôi Phục Nền Kinh Tế Của Venezuela
  • Bạn đang xem bài viết Biện Pháp Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu Nghèo trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100