Xem Nhiều 1/2023 #️ Bình Đẳng Giới Trong Các Lĩnh Vực Của Đời Sống Xã Hội Và Gia Đình # Top 9 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Bình Đẳng Giới Trong Các Lĩnh Vực Của Đời Sống Xã Hội Và Gia Đình # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bình Đẳng Giới Trong Các Lĩnh Vực Của Đời Sống Xã Hội Và Gia Đình mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trang chủTìm hiểu pháp luật Lao động và Công đoàn

Bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình 

Luật Bình đẳng giới 2006 quy định cụ thể bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo; khoa học công nghệ; văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; y tế và bình đẳng giới trong gia đình. 

Theo đó tại Điều 11 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị cụ thể:

1. Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội.

2. Nam, nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức.

3. Nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp.

4. Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức.

5. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm:

a) Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;

b) Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

Tại Điều 12 luật Bình đẳng giưới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế cụ thể:

1. Nam, nữ bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường và nguồn lao động.

2. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm:

a) Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật;

b) Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật.

Tại Điều 13 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động cụ thể:

1. Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác.

2. Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh.

3. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm:

a) Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động;

b) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ;

c) Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.

Tại Điều 14 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo:

1. Nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng.

2. Nam, nữ bình đẳng trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo.

3. Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.

4. Nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ.

5. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm:

a) Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo;

b) Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật.

Tại Điều 15 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ:

1. Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận, ứng dụng khoa học và công nghệ.

2. Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận các khoá đào tạo về khoa học và công nghệ, phổ biến kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và phát minh, sáng chế.

Tại Điều 16 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao:

1. Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao.

2. Nam, nữ bình đẳng trong hưởng thụ văn hoá, tiếp cận và sử dụng các nguồn thông tin.

Tại Điều 17 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế:

1. Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khoẻ sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế.

2. Nam, nữ bình đẳng trong lựa chọn, quyết định sử dụng biện pháp tránh thai, biện pháp an toàn tình dục, phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

3. Phụ nữ nghèo cư trú ở vùng sâu, vùng xa, là đồng bào dân tộc thiểu số, trừ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, khi sinh con đúng chính sách dân số được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ.

Tại Điều 18 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong gia đình:

2. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình.

3. Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật.

4. Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển.

5. Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình.

 Thu Hà (tổng hợp)

 

[Trở về]

Các tin đã đăng

5 chính sách mới có hiệu lực trong tháng 12-2020 công chức, viên chức cần biết 

Chấm dứt hợp đồng đúng luật có khó? 

Chế độ người lao động được nhận khi doanh nghiệp phá sản năm 2021 

Cách tra cứu mã số BHXH đơn giản 

Những lưu ý về chế độ trợ cấp thất nghiệp người lao động cần biết 

Mức hưởng BHYT sẽ tăng 100% khi đi khám, chữa bệnh trái tuyến 

Những trường hợp không bắt buộc tham gia BHXH 2021 

Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Lao Động

Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động được pháp luật quy định như thế nào và đảm bảo thực hiện trên thực tế như thế nào?

1. Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác.

2. Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh”.

– Về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng: Về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng người lao động theo “Bộ luật lao động 2019” quy định việc tuyển dụng nam, nữ trong các nghề là bình đẳng. Tuy nhiên, trong hầu hết các nghề mà pháp luật không cấm, trên thực tế vẫn thấy rằng nữ lao động vẫn không được tuyển dụng nhiều hơn nam. Nhiều doanh nghiệp tuyển dụng lao động nữ lại đưa thêm các quy định về điều kiện tuyển dụng ngoài pháp luật lao động như: lao động nữ được tuyển dụng sau một thời gian nhất định mới được kết hôn hoặc mới được phép sinh con.

– Về tiền lương và thu nhập: do tiền lương và tiền công phụ thuộc vào kết quả lao động và hiệu quả kinh tế nên vấn đề này đã bảo đảm được tính công bằng không có sự phân biệt đối xử về giới. Tuy nhiên, trung bình tiền lương chính của lao động nữ vẫn thấp hơn so với lao động nam do nữ giới có trìn độ trung bình thấp hơn so với nam giới nên phải làm những công việc có lương thấp hơn so với nam. Vì vậy, để đạt được bình đẳng giới cần phải có chính sách giáo dục đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho lao động nữ, phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nghề cho lao động nữ.

– Về chính sách bảo hiểm xã hội và các điều kiện lao động khác: pháp luật không có sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ, nhưng vẫn còn sự bất bình đẳng trên thực tế. thực tế bình quân giữa nam và nữ đều thấp hơn tuổi quy định và có sự chênh lệch khá xa giữa nam và nữ. Tuổi nghỉ hưu bình quân của nam là 54,8 tuổi (so với 60 tuổi) và nữ là 49,2 tuổi (so với 55 tuổi), do vậy, lao động nữ sẽ ra khỏi cuộc đời lao động sớm hơn nam .

Theo quy định của pháp luật hiện hành, mọi tổ chức, cá nhân sử dụng lao động đều phải thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam, nữ trong tuyển dụng và sử dụng lao động. Nhà nước bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới.

Những hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm các hành vi được quy định tại khoản 3Điều 40 Luật Bình đẳng giới năm 2006:

– Áp dụng các điều kiện khác nhau trong tuyển dụng lao động nam và lao động nữ đối với cùng một công việc mà nam, nữ đều có trình độ và khả năng thực hiện như nhau, trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới.

– Từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế lao động, sa thải hoặc cho thôi việc người lao động vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ.

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được. Khoản 3 điều 13 Luật bình đẳng giới quy định các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm:

+ Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động;

+ Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc.

– Pháp luật quy định thế nào là bình đẳng giới?

– Quy định của pháp luật về biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

– Những hành vi vi phạm Luật Bình đẳng giới trong lĩnh vực đời sống xã hội

Mọi thắc mắc pháp lý cần tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ, quý khách hàng vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6568 hoặc gửi thư về địa chỉ email: lienhe@luatduonggia.vn.

THAM KHẢO CÁC DỊCH VỤ CÓ LIÊN QUAN CỦA LUẬT DƯƠNG GIA:

– Tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại

– Tư vấn luật miễn phí qua điện thoại

– Tư vấn luật lao động miễn phí qua điện thoại

Chuyên Đề: Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình

Bình đẳng giới là nam và nữ đều được tiếp cận với giáo dục, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập, tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị,… Bình đẳng giới có nghĩa rằng không còn sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính, phụ nữ và nam giới cùng có địa vị bình đẳng trong xã hội. Bình đẳng không có nghĩa là nam giới và phụ nữ hoàn toàn như nhau mà là các điểm tương đồng và khác biệt giữa họ được thừa nhận và tôn trọng.

Tại sao phải thực hiện bình đẳng giới? Thực hiện bình đẳng giới là đảm bảo quyền con người. Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Thực hiện bình đẳng giới đem lại lợi ích cho phụ nữ và xã hội.

– Nam giới ít khi làm việc nhà vì họ nghĩ rằng: Nam giới là trụ cột gia đình nên chỉ làm việc lớn; nam giới làm việc vặt sẽ mất thể diện với mọi người trong gia đình, bạn bè, hàng xóm; trong khi phụ nữ làm việc nhà khéo hơn nam giới; Trách nhiệm của phụ nữ là sinh đẻ, nuôi dạy con gắn với nội trợ trong gia đình; Mẹ nói năng nhẹ nhàng, tình cảm nên để mẹ dạy con tốt hơn còn bố nóng tính, hay quát mắng con làm con dễ sợ và bố chỉ dạy con việc lớn. Do vậy, nam giới không thường xuyên làm việc nhà, họ chỉ làm khi không có người phụ nữ nào giúp; nhưng trong thực tế nam giới cũng có thể làm tốt các công việc như đi chợ, nấu ăn, chăm sóc người già, trẻ con, người ốm, dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ quần áo, chăm sóc, dạy dỗ con.

– Cùng nhau chia sẻ việc nhà sẽ mang lại nhiều lợi ích:

Nếu không được người chồng chia sẻ việc nhà thì người vợ phải làm quá nhiều việc nhà, bản thân người vợ phải chịu nhiều thiệt thòi, sức khỏe giảm sút, gầy yếu, nhanh già hơn chồng; có ít thời gian nghỉ ngơi, giải trí; thiếu thời gian học tập nên thiếu kiến thức về mọi mặt; không có thời gian tham gia các hoạt động chung của cộng đồng, nên thiếu mạnh dạn, tự ti, vị trí xã hội thấp dần; thiếu hiểu biết để cùng chồng bàn bạc các công việc gia đình và xã hội; quan hệ vợ chồng thiếu đồng cảm.

Nếu được người chồng cùng gánh vác công việc gia đình, người vợ sẽ giảm gánh nặng công việc, có thời gian học tập, tham gia hoạt động xã hội để nâng cao kiến thức, mạnh dạn, tự tin trong cuộc sống, địa vị người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội được nâng cao; chị em có thời gian tham gia hoạt động thể dục thể thao rèn luyện sức khoẻ; có thời gian nghỉ ngơi, giải trí làm phong phú đời sống tinh thần, vui vẻ, trẻ lâu và không khí gia đình hòa thuận, hạnh phúc.

Khi người bố không chia sẻ công việc gia đình thì quan hệ tình cảm giữa bố và con ít gần gũi, thiếu sự cảm thông; trẻ phát triển không toàn diện vì thiếu sự chăm sóc, dạy dỗ của người bố; trẻ em trai chịu ảnh hưởng của tính gia trưởng và thiếu trách nhiệm; trẻ em gái trở lên tự ti, mặc cảm, an phận.

Khi người bố tham gia nhiều hơn vào việc nhà sẽ mang lại nhiều lợi ích cho con cái; trẻ phát triển cân đối, khỏe mạnh, thông minh, ngoan ngoãn; con cái tự hào về bố, mẹ và gia đình; con học tập gương bố để tự giác làm việc nhà; quan hệ tình cảm bố con gắn bó hơn; trẻ sớm có hiểu biết về bình đẳng giới.

Người chồng cũng tự hào có gia đình hạnh phúc, vợ đẹp, con khôn; thông cảm hơn với sự vất vả, khó khăn của người vợ; thạo việc gia đình và dạy con làm tốt hơn; là tấm gương tốt cho con noi theo; có uy tín hơn đối với các con.

– Vẫn còn các bậc cha mẹ quan niệm con gái chỉ cần học vừa đủ. Khi gia đình gặp khó khăn về kinh tế hoặc thiếu lao động thì các bậc cha mẹ thường nghĩ đến việc cho con gái nghỉ học, không xem xét khả năng các con. Một số bậc cha mẹ thường nghĩ rằng con gái là con người ta nên ở nhà giúp đỡ bố mẹ một thời gian rồi đi lấy chồng.

Nhiều ông bố không quan tâm tới việc việc học hành của con mà giao phó hoàn toàn cho nhà trường và người mẹ. Nhiều ông bố cho rằng: bố nóng tính hay quát mắng con nên dạy con thường làm con sợ, khó tiếp thu bài.

– Song thực tế nam giới hoàn toàn có khả năng làm tốt và làm chu đáo tất cả các công việc giáo dục con, giúp con phát triển toàn diện bằng cách hướng dẫn, khuyến khích, quan tâm tới việc học tập của con như: Mua sách vở, đồ dùng học tập cho con; họp phụ huynh; đưa con đi học; hàng ngày kiểm tra sách vở, nhắc nhở con học bài; giải đáp thắc mắc của con; dạy con biết cách cư xử với mọi người trong gia đình và ngoài xã hội; tâm tình, trò chuyện với con; động viên, khen ngợi khi con làm được những việc tốt.

– Cả bố và mẹ phải hiểu rằng việc học hành là cần thiết đối với cả trẻ em gái và trẻ em trai, việc phân biệt đối xử giữa trẻ em trai và trẻ em gái trong giáo dục là vi phạm quyền trẻ em.

– Vợ, chồng có kiến thức về chăm sóc sức khoẻ sinh sản sẽ tự tin, chủ động lựa chọn và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản có lợi nhất.

– Phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong thực hiện kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khoẻ sinh sản sẽ có sức khoẻ, trẻ trung, nhan sắc tốt hơn; bên cạnh đó người chồng được hưởng hạnh phúc nhiều hơn do được vợ quan tâm chăm sóc nhiều hơn. Gia đình có điều kiện và cơ hội phát triển kinh tế, nuôi dạy con tốt hơn. Vợ, chồng có điều kiện tham gia hoạt động xã hội, được tận hưởng hạnh phúc nhiều hơn.

– Đời sống vợ chồng sẽ bền vững và hạnh phúc hơn khi cả nam và nữ đều chủ động tự nguyện kiểm tra sức khỏe trước khi đăng kí kết hôn, để biết về nhau xem có ai bị mắc các bệnh di truyền, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV… để sức khoẻ gia đình được tốt hơn.

4. Trong phòng, chống bạo lực gia đình

– Khi vợ mang thai người chồng cần: giúp vợ làm việc nhà; đưa vợ đi khám thai; đảm bảo dinh dưỡng, chế độ nghỉ ngơi, động viên tinh thần cho vợ; không để vợ tiếp xúc với chất độc hại như phun thuốc trừ sâu…Sau khi sinh: vợ, chồng lựa chọn một biện pháp tránh thai phù hợp; cùng chăm sóc, nuôi dạy con với tất cả tình yêu thương và khả năng tốt nhất; cha và mẹ tạo điều kiện để các con được tiếp cận các thông tin về chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

– Nam giới, người chồng hãy tránh xa các tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện rượu, nghiện ma tuý, mại dâm,…

– Phụ nữ, người vợ chủ động tìm hiểu các quyền mà phụ nữ được hưởng theo quy định của pháp luật, từ đó có hành vi đúng đắn trong quan hệ ứng xử với chồng và mọi người trong gia đình.

– Người bị bạo hành cần báo ngay với với các tổ chức, cơ quan có chức năng để được tư vấn và hỗ trợ giải quyết.

– Mỗi người dân khi phát hiện các trường hợp bị bạo hành phải báo ngay cho lực lượng an ninh địa phương biết để xử lý kịp thời.

1. Trách nhiệm của gia đình 2. Trách nhiệm của c án bộ, hội viên, phụ nữ:

5. Vợ, chồng cùng tham gia bàn bạc, quyết định các vấn đề của gia đình như :Phát triển kinh tế gia đình, mua sắm tài sản gia đình; định hướng nghề nghiệp cho con…

– Tích cực học tập nâng cao hiểu biết, nhận thức về giới và bình đẳng giới; đồng thời là thành viên tích cực tuyên truyền về bình đẳng giới nhằm góp phần nâng cao nhận thức xã hội về bình đẳng giới.

– Gương mẫu thực hiện và hướng dẫn người khác thực hiện các hành vi đúng mực về bình đẳng giới;

– Chia sẻ công việc gia đình cùng chồng con, các thành viên trong gia đình để có thêm thời gian nghỉ ngơi, giải trí, chăm sóc sức khoẻ, tham gia học tập nâng cao trình độ về mọi mặt và trình độ chuyên môn nghề nghiệp;

3. Trách nhiệm của các cấp Hội phụ nữ

– Giám sát việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới của cộng đồng, của cơ quan, tổ chức và công dân.

– Giáo dục, truyền thông và vận động xã hội thay đổi nhận thức về vai trò giới, bình đẳng giới trong gia đình

– Tuyên truyền, phổ biến, vận động gia đình hội viên, phụ nữ thực hiệnLuật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình tới cán bộ, hội viên; tổ chức các hình thức truyền thông về bình đẳng giới trong gia đình nhân ngày gia đình Việt Nam 28/6; tháng hành động bình đẳng giới;…

– Xây dựng các mô hình sinh hoạt tổ nhóm hoặc câu lạc bộ phụ nữ; tổ chức các diễn đàn trao đổi về bình đẳng giới; tổ chức thi tìm hiểu luật;…nhằm thu hút, nâng cao nhận thức cho hội viên, phụ nữ và nam giới về bình đẳng giới; tập trung vào các nội dung như chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ quyền lợi giữa vợ và chồng, vai trò của nam giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, giáo dục con, phòng chống bạo lực gia đình;

– Tập huấn cho đội ngũ tuyên truyền viên cơ sở và đội ngũ công tác viên, huy động cả nam giới, trang bị kiến thức và kỹ năng lồng ghép giới cho thành viên Ban vì sự tiến bộ phụ nữ cùng cấp.

– Tổ chức các hình thức biểu dương, nêu gương các gia đình, cá nhân thực hiện tốt bình đẳng giới xây dựng gia đình hạnh phúc.

– Tổ chức các hoạt động hỗ trợ các gia đình phấn đấu đạt bình đẳng giới trong gia đình như: hỗ trợ vốn, kiến thức để chị em có điều kiện khởi nghiệp tăng thu nhập khẳng định địa vị kinh tế; hỗ trợ đào tạo về kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, khởi nghiệp; nuôi dạy con; tư vấn và dạy nghề….

Theo nghiên cứu của trường đại học tại Anh Quốc thì “Đàn ông sắp mất vai trò trụ cột của gia đình”. Nghiên cứu này cho biết như sau:

Phụ nữ trẻ trong độ tuổi từ 22 – 29 tuổi đang được trả lương trung bình nhiều hơn nam giới. Trung bình một giờ tiền lương theo giờ của phụ nữ là hơn 10 bảng Anh một giờ và với nam giới chỉ dưới 10 bảng một giờ. Một cuộc điều tra từ Viện Quản lý Chartered nhận thấy, phụ nữ trong độ tuổi 20 bây giờ đã được trả nhiều hơn nam giới khi cùng làm công việc. Nghiên cứu chỉ ra rằng, lương của phụ nữ trong năm tăng lên 2,4% so với 2,1% đối với nam giới.

Mary Curnock Cook, Giám đốc điều hành của các trường Đại học và Cao đẳng Admission Service cho biết, tại cùng một nơi làm việc, cùng công việc thì hiệu quả công việc của phụ nữ cao hơn nam giới.

Điều này có nghĩa là có sự đảo ngược vai trò, với nhiều phụ nữ đi ra ngoài để làm việc trong khi các đối tác của họ ở nhà để tận dụng tìm kiếm thu nhập cao hơn, Cook tin tưởng. “Đối với tôi đây là một điểm đặc biệt thú vị bởi vì nếu ở giữa tuổi hai mươi phụ nữ kiếm được nhiều hơn nam giới, điều này chứng minh khả năng của phụ nữ, họ có thu nhập cao trong gia đình, họ phải làm việc cả ngày, còn cánh đàn ông phải dành một phần thời gian chăm sóc con cái”. (Daily Mail dẫn lời Mary Curnock Cook).

Câu chuyện tôi sắp kể ra đây, sẽ không có gì là phân biệt giới tính, đối xử bất bình đẳng giới trong gia đình của một cặp vợ chồng trí thức, chồng là chủ một doanh nghiệp, vợ là cán bộ ngân hàng, thừa khả năng để chăm sóc chu toàn cho hai đứa con, một trai một gái, cách nhau 2 tuổi… nếu như vào một ngày kia…

4. Chuyện đôi đũa

Trong giờ Tập làm văn, cô giáo ra đề bài “Em hãy cho biết ước mơ của bản thân và em có suy nghĩ gì về ước mơ đó?”. Cô giáo rất ngạc nhiên khi đọc được bài làm của một học sinh nữ. Nội dung bài viết “Kể từ ngày cha mẹ có thêm em Bo thì em đã có ước mơ trở thành một đứa con trai giống như em Bo. Vì nếu được là con trai, em sẽ không cô đơn và bị ghẻ lạnh như thế, em sẽ có nhiều đồ chơi mà mình mơ ước, em sẽ được ba mẹ chở đi chơi mỗi buổi chiều cuối tuần hoặc sẽ được đi du lịch vào mỗi dịp hè. Và vui hơn hết là được ba mẹ quan tâm đến công việc học hành, mỗi ngày được ba mẹ dùng xe hơi đưa đón đến trường…”. Cô giáo cũng đã qua thời gian tìm hiểu và biết được những điều cô học trò ghi trong bài tập là đúng sự thật. Ba mẹ cô bé kể từ ngày sinh thêm em Bo, em trai của cô bé thì như là không còn thấy hình dáng cô bé trong nhà nữa. Tất cả mọi yêu thương, chăm sóc dồn về cho cậu con trai quý tử kia. Hoàn toàn không đếm xỉa, đả động đến cô bé…

Câu chuyện của tôi bắt đầu từ đôi đũa. Trước đây tôi rất lười, và tôi cho rằng việc nấu cơm, rửa bát tôi không thạo nên để vợ làm hết. Có một hôm vợ tôi sắp cơm và sắp thiếu một đôi đũa nên đã nhờ tôi xuống bếp lấy. Tôi thấy việc này cứ lặp đi lặp lại vài hôm, tôi nghi ngờ tại sao dọn cơm lại cứ thiếu 1 đôi đũa. Dần dần, đến bữa cơm, vợ tôi lại bảo con trai hôm lấy cái này thiếu, cái kia thiếu. Vậy là một bữa cơm cả 3 người đều cùng dọn.

5. Chuyện anh trưởng ấp giặt đồ cho gia đình

Đến mùa đông, có sự thay đổi mà đầu tiên tôi không nhận ra. Đó là do trời lạnh quá, vợ tôi nhờ tôi chở đi làm. Nhưng bình thường vợ tôi hay đưa con đi học, nên tôi sẽ kiêm luôn cả chở con đến trường luôn. Không ngờ mùa đông kéo dài quá lâu khiến việc chở con đi học và đưa vợ đi làm đã thành thói quen của tôi. Đến khi thời tiết ấm lên thì thói quen này của tôi đã rất khó bỏ rồi.

Tôi có dịp được xem đoạn phim tại ấp Bắc huyện Thanh Bình thuộc tỉnh Đồng Tháp, anh Sơn được xem là người đầu tiên trong ấp đem đồ ra bờ sông để giặt mà không chỉ giặt đồ cho anh mà cho cả gia đình anh nữa.

Theo câu chuyện trên đoạn video đó, lần đầu tiên anh rất ngại, mỗi lần đi giặt đồ như thế anh thường làm lén lén có thể đi vào sáng sớm tinh mơ hoặc vào lúc trưa mọi người không ai để ý vì rất ngại và rất mắc cỡ vì sợ mọi người nhìn thấy.

Sau khi sinh bé Anh 3 tháng, Hạnh đề nghị chồng sử dụng bao cao su để tránh thai nhưng anh không nghe và cho rằng việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình là của phụ nữ. Thấy chồng nói vậy, Hạnh cũng không có ý kiến gì. Bản thân Hạnh cũng không thực hiện biện pháp tránh thai nào. Khi bé Anh tròn 01 tuổi thì Hạnh lại có thai. Hạnh nghĩ có thai thì đẻ, nhưng chồng chị muốn Hạnh đi phá thai, vì anh cho là con còn nhỏ, kinh tế gia đình khó khăn. Thấy chồng có lý vả lại sức khỏe Hạnh không tốt nên đẻ dày sẽ ảnh hưởng, Hạnh cứ phân vân mãi không biết nên như thế nào. Dùng dằng mãi, khi Hạnh đến Trạm y tế gặp bác sĩ thì thai đã lớn. Vừa khóc, Hạnh vừa kể lại câu chuyện chồng muốn phá thai. Các bác sĩ động viên Hạnh cứ yên tâm và khuyên Hạnh ngày mai cùng chồng đến gặp họ. Rất may chồng Hạnh đồng ý đi. Sau khi nghe Bác sĩ phân tích tác hại của việc phá thai to, anh đã thay đổi ý định và đồng ý không để vợ phá thai. Các bác sĩ giới thiệu cho cả 2 vợ chồng các biện pháp tránh thai. Chồng Hạnh đã hiểu ra việc kế hoạch hóa gia đình là trách nhiệm của cả 2 vợ chồng và thống nhất sau khi sinh cháu thứ 2 sẽ dùng bao cao su để không có thai ngoài ý muốn. Anh cũng đã giới thiệu với mọi người về tác hại của việc phá thai đã lớn và các biện pháp tránh thai ngoài ý muốn.

Bất Bình Đẳng Giới Và Hướng Khắc Phục Trong Gia Đình

Trong đời sống hàng ngày, nam giới ít chia sẻ công việc nội trợ và chăm sóc con cái; người phụ nữ phải chịu nhiều công việc hơn, họ không có thời gian để tham gia các hoạt động chính trị – xã hội, họ thiếu thời gian nghỉ ngơi và giải trí so với nam giới…

T rong đời sống hàng ngày, nam giới ít chia sẻ công việc nội trợ và chăm sóc con cái; người phụ nữ phải chịu nhiều công việc hơn, họ không có thời gian để tham gia các hoạt động chính trị – xã hội, họ thiếu thời gian nghỉ ngơi và giải trí so với nam giới. Đặc biệt trong những năm gần đây hành vi bạo lực gia đình có xu hướng tăng lên ( trong đó 95% nạn nhân là phụ nữ). Có gia đình, người chồng hành hạ vợ con, thậm chí chỉ vì nấu ăn không vừa ý đã hất cả mâm cơm vào mặt vợ. Có trường hợp vợ ốm, chồng để mặc không chăm sóc trông nom. Còn nhiều phụ nữ phải “nặng gánh hai vai”, vừa phải làm tốt công tác xã hội, vừa phải đảm nhiệm vai trò làm vợ, làm mẹ trong khi quỹ thời gian của họ cũng như mọi người, sức khỏe lại hạn chế. Trong đời sống xã hội, phụ nữ và chị em thường là đối tượng chịu thiệt thòi, bị phân biệt đối xử, bị tụt hậu so với nam giới ở nhiều lĩnh vực.

Mặt khác, trong gia đình, nhiều chị em còn mang nặng tư tưởng tự ti, cam chịu, không dám đấu tranh để bảo vệ mình và không tự khẳng định mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Những thực tế nêu trên đã và đang là những rào cản đối với việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, cản trở mục tiêu xây dựng gia đình văn hóa mới và con người mới ở xã hội chủ nghĩa.

Để khắc phục thực trạng bất bình đẳng giới trong gia đình như đã nêu trên, thiết nghĩ, các cấp, các ngành cần thực hiện tốt các nội dung sau:

chúng ta cần thay đổi nhận thức và đề cao vai trò to lớn của phụ nữ, ngoài thiên chức làm mẹ, họ có khả năng làm việc, kể cả công việc gia đình và công việc xã hội không thua kém đàn ông. Lịch sử dân tộc ta cũng đã chứng minh, phụ nữ Việt Nam có thể làm được và làm tốt mọi công việc to lớn mà lịch sử đòi hỏi, đất nước trao cho.

tăng cường giáo dục các chuẩn mực gia đình, giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh, có trách nhiệm với gia đình và xã hội. Kiên quyết đấu tranh xóa bỏ tàn dư, những tập tục thói quen coi thường phụ nữ khó thay đổi ( tư tưởng nho giáo phong kiến), xem nhẹ khả năng làm việc xã hội của phụ nữ. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; phòng, chống có hiệu quả tệ nạn mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em, bạo lực gia đình; ngăn ngừa tình trạng lấy chồng nước ngoài bất hợp pháp, vì vụ lợi…

phải có sự kết hợp giữa cấp ủy đảng với chính quyền, mặt trận và đoàn thể trong tuyên truyền Luật Bình đẳng giới, Nâng cao nhận thức về giới để thực hiện sự thay đổi không ngừng nhằm loại trừ và hạn chế các định kiến giới cho cả phụ nữ và nam giới. Gắn với xây dựng đời sống văn hóa trong khu dân cư, xây dựng gia đình văn hóa mới, các hình thức bạo lực gia đình đặc biệt ở nông thôn. Tăng cường sự chia sẻ của nam giới, giảm bớt gánh nặng công việc gia đình, giải phóng phụ nữ ra khỏi công việc bếp núc…

phụ nữ Việt Nam phải phấn đấu về mọi mặt, không tự ti cam chịu, phải mạnh dạn đấu tranh chống tư tưởng phong kiến, hẹp hòi, lạc hậu đối với phụ nữ. Đồng thời chống chủ nghĩa cá nhân ” cố níu áo nhau” trong nội bộ giới mình.

Thay đổi nhận thức trong mỗi con người và trong cộng đồng gia đình, xã hội là một quá trình từng bước, không phải một sớm một chiều là xong. Tuy nhiên, chỉ có thực hiện đầy đủ các nội dung trên mới thực sự góp phần chống bất bình đẳng giới trong gia đình truyền thống, góp phần xây dựng ” gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” như Đảng ta đã xác định.

Trần Đình Phú

10,947

Bạn đang xem bài viết Bình Đẳng Giới Trong Các Lĩnh Vực Của Đời Sống Xã Hội Và Gia Đình trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!