Xem Nhiều 2/2023 #️ Bộ Công An: Một Số Giải Pháp Phòng Ngừa, Trấn Áp Tội Phạm Kinh Tế, Tội Phạm Hình Sự, Cho Vay Nặng Lãi # Top 3 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Bộ Công An: Một Số Giải Pháp Phòng Ngừa, Trấn Áp Tội Phạm Kinh Tế, Tội Phạm Hình Sự, Cho Vay Nặng Lãi # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bộ Công An: Một Số Giải Pháp Phòng Ngừa, Trấn Áp Tội Phạm Kinh Tế, Tội Phạm Hình Sự, Cho Vay Nặng Lãi mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cử tri tiếp tục có ý kiến về vấn đề tội phạm tham nhũng, tội phạm hình sự, xâm hại trẻ em, cho vay nặng lãi, tệ mua bán, sử dụng ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, biến tướng nhiều hình thức ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, người dân bất an. Mặc dù, ngành công an đã có nhiều nỗ lực trong công tác phòng ngừa, đấu tranh các loại tội phạm có kết quả khá tích cực nhưng chuyển biến đó chưa đạt được mong muốn của người dân, đề nghị xác định nguyên nhân, đưa ra các giải pháp cụ thể để phòng ngừa, trấn áp tội phạm có hiệu quả. Bộ Công an trả lời kiến nghị của cử tri về xây dựng các chế tài hành chính, kinh tế nghiêm khắc hơn đối với tội phạm ma túy, xâm hại trẻ em.

Ngày 07/02/2020, Bộ Công an có công văn số 348/BCA-V01 về việc trả lời kiến nghị của cử tri tại kỳ họp thứ 8 như sau:

Những năm qua, lực lượng công an nhân dân đã tham mưu với cấp ủy, chính quyền các cấp chỉ đạo, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, tham gia phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật, liên tục triển khai nhiều cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, các chương trình, kế hoạch, phương án phòng ngừa, đấu tranh, kiềm chế sự gia tăng tội phạm, góp phần giữ vững an ninh, trật tự, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Riêng năm 2019 phạm pháp hình sự giảm 7,39% về số vụ, đạt 81,93% tỷ lệ điều tra, làm rõ các vụ phạm pháp hình sự. Tuy nhiên, tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật còn diễn biến phức tạp, tính chất tội phạm nghiêm trọng, cường độ bạo lực gia tăng, có lúc, có nơi gây lo lắng, bức xúc dư luận như cử tri phản ánh. Nguyên nhân chủ yếu là: (1) Tình kinh tế xã hội còn khó khăn, nhiều người lao động chưa có việc làm, tạo áp lực lớn đối với các vấn đề xã hội; (2) Đạo đức của một bộ phận xã hội xuống cấp, lối sống thực dụng, hưởng thụ, chạy theo lợi ích vật chất; (3) tác động tiêu cực của văn hóa phẩm đồi trụy, bạo lực, trò chơi trực tuyến trên mạng internet (game online) đối với thanh, thiếu niên đang ở độ tuổi phá triển về nhận thức, tâm sinh lý; (4) phòng ngừa xã hội tội phạm ở một số nơi còn mang tính hình thức, phòng ngừa nghiệp vụ hiệu quả chưa cao; (5) số người nghiện ma túy và số đối tượng truy nã ngoài xã hội còn nhiều, tiềm ẩn yếu tố làm nảy sinh tội phạm, tệ nạn xã hội; (6) Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong đấu tranh, phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật ở một số nơi chưa được đề cao, lực lượng chức năng (trong đó có lực lượng công an) có lúc, có nơi chưa thường xuyên, liên tục, chưa quyết tâm đấu tranh, phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật; (7) một số quy định của pháp luật trong đấu tranh phòng, chống tội phạm chưa thống nhất, chưa được hướng dẫn, còn xung đột, khó áp dụng trong thực tiễn; (8) tác động, ảnh hưởng từ tình hình tội phạm trong khu vực và trên thế giới như tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm ma túy, buôn lậu, rửa tiền, khủng bố…; (9) sự phát triển của khoa học, công nghệ, làm phát sinh, phát triển một số loại tội phạm và hành vi phạm tội mới mang tính chất phi truyền thống.

Tiếp thu ý kiến cử tri, Bộ Công an sẽ tiếp tục chỉ đạo công an các đơn vị, địa phương thực hiện những giải pháp trọng tâm để phòng ngừa, trấn áp tội phạm, như sau:

– Chủ động tham mưu với cấp ủy, chính quyền các cấp huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tự giác, tích cực tham gia thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là phòng ngừa xã hội tội phạm; có chính sách bảo vệ, khen thưởng, động viên cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong cung cấp thông tin, tài liệu, tham gia hỗ trợ, giúp đỡ lực lượng Công an phá án. Bộ Công an đề nghị và mong muốn cử tri, nhân dân tích cực tham gia phòng ngừa, đấu tranh, tố giác tội phạm, vi phạm pháp luật.

– Phối hợp chặt chẽ với các ngành, đoàn thể tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức pháp luật trong nhân dân, kết hợp xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, gia đình, trường học, khu dân cư văn hóa, an ninh, an toàn, các mô hình tự phòng, tự quản về an ninh, trật tự; tăng cường các biện pháp quản lý, giáo dục hiệu quả các trường hợp có nguy cơ cao phạm tội tại cơ sở; chủ động phát hiện, giải quyết kịp thời mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, phòng ngừa, ngăn chặn phát sinh tội phạm, nhất là tội phạm, vi phạm pháp luật có nguyên nhân từ các yếu tố kinh tế – xã hội.

– Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự; quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự; quản lý cư trú. Triển khai thực hiện nghiêm Luật An ninh mạng, phối hợp với các ngành quản lý, giáo dục học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên, quản lý chặt chẽ các trang web, mạng xã hội, đồ chơi, sách truyện, game online bạo lực…, góp phần hạn chế, ngăn chặn tình trạng bạo lực trong xã hội và phòng ngừa tội phạm.

– Điều chỉnh, bố trí lực lượng Công an theo hướng tăng cường cho lực lượng trực tiếp chiến đấu, hướng mạnh về cơ sở, kịp thời thực hiện công tác nắm địa bàn, nắm hộ, nắm người, giải quyết tình hình an ninh, trật tự tại địa bàn cơ sở ngay từ khi mới phát sinh, hạn chế không để trở thành các vụ án, vụ việc nghiêm trọng, phức tạp.

– Rà soát, xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách trong công tác phòng, chống tội phạm, kịp thời đề xuất Quốc hội, Chính phủ sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản quy phạm pháp luật tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo hành lang pháp lý cần thiết cho công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật (hiện nay, Bộ Công an đang phối hợp với các Bộ, ngành tham mưu Chính phủ, đề xuất Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống ma túy; Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy, phòng chống bạo lực gia đình.

Ngăn Ngừa Và Trấn Áp Các Loại Tội Phạm Trong Tình Hình Hiện Nay

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ, lực lượng Công an nhân dân đã tập trung tham mưu, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân, liên tục triển khai các chương trình, kế hoạch, biện pháp tăng cường phòng ngừa, đấu tranh, kiềm chế sự gia tăng của các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, tình hình tội phạm về trật tự xã hội vẫn diễn biến phức tạp. Trong 6 tháng đầu năm 2013, đã phát hiện 28.482 vụ, tăng 6,05% so với cùng kỳ năm 2012 (các tội cố ý gây thương tích tăng 9,6%; cướp giật tài sản tăng 7,96%; cưỡng đoạt tài sản tăng 26,15%; cướp tài sản giảm 13,85%; giết người, giết người cướp tài sản giảm 3,85%;…); tội phạm giết người, nhất là giết người do nguyên nhân xã hội tiếp tục xảy ra nghiêm trọng, nhiều vụ rất dã man, tàn bạo, mất hết nhân tính như giết nhiều người để cướp tài sản, giết người sau đó chặt xác, đốt xác…

Trước diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm, Bộ Công an đã chỉ đạo tăng cường toàn diện các mặt công tác phòng, chống tội phạm; tập trung đấu tranh triệt phá các băng, nhóm tội phạm hình sự nguy hiểm, các đường dây tội phạm về ma túy, mua bán người… Trong 6 tháng đầu năm 2013, lực lượng công an đã điều tra, khám phá 21.313 vụ phạm pháp hình sự (đạt 74,8%); triệt phá 1.064 băng nhóm tội phạm các loại; trong đó có nhiều băng nhóm tội phạm nguy hiểm và đặc biệt nguy hiểm, hoạt động có tổ chức theo kiểu “xã hội đen”, như: băng nhóm Tý “điên” ở Thành phố Hồ Chí Minh; băng nhóm Tú “khỉ” ở Hưng Yên; tụ điểm cờ bạc Đức “vẩu” ở Bắc Ninh; băng nhóm Dũng “mặt sắt” ở Quảng Ninh…

Thời gian tới, Bộ Công an tập trung chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương thực hiện một số công tác trọng tâm sau:

– Tham mưu với cấp uỷ, chính quyền các cấp tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 37/2012/QH13, ngày 23/11/2012 của Quốc hội về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật, tội phạm và công tác thi hành án năm 2013; Chỉ thị số 48-CT/TW, ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị (khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”; Chỉ thị số 09-CT/TW, ngày 01/12/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới” và các chương trình quốc gia về phòng, chống tội phạm; phòng, chống ma túy; phòng, chống mua bán người nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác phòng, chống tội phạm.

– Nắm tình hình, dư luận, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, cùng với các ngành, đoàn thể hữu quan phối hợp đề xuất giải quyết mâu thuẫn ngay từ cơ sở để phòng ngừa, ngăn chặn các trọng án do nguyên nhân xã hội, nhất là các tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm, bạo lực, trộm cắp vặt, lô đề…

– Phối hợp chặt chẽ với các ngành, đoàn thể triển khai thực hiện các chương trình, nghị quyết, thông tư liên tịch nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm, giáo dục các đối tượng có nguy cơ cao về tội phạm, vi phạm pháp luật; đẩy mạnh các phong trào xây dựng khu dân c¬ư văn hoá; xây dựng phong trào toàn dân tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh Tổ quốc.

– Triển khai liên tục các cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, tập trung trấn áp các băng, nhóm tội phạm nguy hiểm, hoạt động đâm thuê, chém mướn, tội phạm sử dụng vũ khí gây án, giết người, cướp, cướp giật tài sản, cưỡng đoạt tài sản…, ngăn chặn không để hình thành tội phạm có tổ chức hoạt động theo kiểu “xã hội đen”; điều tra khám phá nhanh các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận xã hội

– Tiếp tục triển khai, nhân rộng mô hình tổ công tác phối hợp 03 lực lượng Cảnh sát giao thông, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát hình sự để chủ động phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời số đối tượng tàng trữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ trái pháp luật, số thanh, thiếu niên càn quấy vi phạm trật tự, an toàn giao thông… duy trì và xây dựng mô hình các đội săn bắt cướp (SBC) và các mô hình quần chúng tham gia đấu tranh với loại tội phạm cướp giật tài sản.

– Báo cáo Chính phủ phê duyệt và chỉ đạo triển khai Đề án tăng cường toàn diện cho Công an cấp huyện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, đảm bảo công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh, trật tự có hiệu quả ngay từ địa bàn cơ sở.

Khái Niệm Phòng Ngừa Tội Phạm Dưới Góc Độ Tội Phạm Học

Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm tội phạm, khái niệm tội phạm học trong khoa học, tác giả đã xây dựng khái niệm phòng ngừa tội phạm dưới góc độ tội phạm học. Ngoài ra, cũng để chứng minh rằng, phòng ngừa tội phạm là một bộ phận cấu thành cơ bản của lý luận tội phạm học.

Từ trước đến nay, đấu tranh chống tội phạm được tiến hành theo phương châm: nhanh chóng và kịp thời phát hiện tội phạm, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội, trừng trị và giáo dục, cải tạo người phạm tội, hình thành thói quen phản ứng tích cực và hưởng ứng của Nhà nước và xã hội đối với tội phạm. Do đó, phòng ngừa tội phạm chính là một trong những nội dung quan trọng và chiếm một vị trí đặc biệt của lý luận về tội phạm học. Nghiên cứu về phòng ngừa tội phạm chính là nghiên cứu cơ sở, nền tảng và điểm xuất phát để tiếp tục nghiên cứu những nội dung khác trong lý luận tội phạm học. Cho nên, phòng ngừa tội phạm vừa là bộ phận cấu thành quan trọng của tội phạm học, vừa là mục tiêu, chức năng cơ bản của tội phạm học. Hơn nữa, suy cho cùng thì mục đích của ngành khoa học về tội phạm học chính là để phòng ngừa tội phạm, để cho tội phạm không xảy ra, không gây ra các hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, trước khi đưa ra khái niệm phòng ngừa tội phạm dưới góc độ tội phạm học cần phải làm sáng tỏ hai nội dung “tội phạm” với tư cách là đối tượng phòng ngừa và “tội phạm học” với tư cách là hệ thống bao gồm các bộ phận khác nhau mà lý luận về phòng ngừa tội phạm chính là một bộ phận cấu thành trong đó.

2. Khái niệm tội phạm và khái niệm tội phạm học

Tội phạm – là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật, cũng như khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng. Cho nên, để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, Nhà nước đã quy định hành vi nào là tội phạm và áp dụng trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người nào thực hiện các hành vi đó. Do đó, tội phạm lại mang bản chất là một hiện tượng pháp lý.

Là hiện tượng tiêu cực mang thuộc tính xã hội – pháp lý, tội phạm luôn chứa đựng trong nó đặc tính chống đối lại Nhà nước, chống đối lại xã hội, đi ngược lại lợi ích chung của cộng đồng, trật tự xã hội, xâm phạm đến quyền, tự do và các lợi ích hợp pháp của công dân. Tội phạm cũng mang tính lịch sử, nó có nguồn gốc xã hội, tồn tại và phát triển cùng với lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Vì vậy, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, đồng thời tìm ra nguyên nhân và điều kiện của nó phải xuất phát từ xã hội, cũng như việc đưa ra các biện pháp phải phù hợp và dựa trên những quy luật kinh tế – xã hội khách quan và có tính tất yếu gắn liền với từng giai đoạn tương ứng của xã hội.

Nói chung, tội phạm ở các quốc gia trên thế giới khác nhau tùy theo bản chất giai cấp của mỗi nhà nước, cũng như phong tục, tập quán của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Do đó, nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa pháp lý của việc xác định rõ khái niệm tội phạm, Luật Hình sự Việt Nam cũng như Luật Hình sự các nước xã hội chủ nghĩa đều có định nghĩa thống nhất khái niệm tội phạm về phương diện nội dung và pháp lý, thể hiện rõ bản chất xã hội của tội phạm, qua đó phản ánh quan điểm, đường lối đúng đắn chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong từng giai đoạn của lịch sử và cách mạng, bảo vệ các lợi ích của toàn thể nhân dân. Đặc biệt, nó phản bác quan điểm phản khoa học đã từng tồn tại trong Luật Hình sự một số Nhà nước tư sản trước đây như Luật gia Mỹ Tanhen Isum cho rằng: “Tội phạm sẽ tồn tại vĩnh viễn cùng với xã hội, nó là một hiện tượng vĩnh viễn cũng giống như bệnh hoạn, sự điên dại và chết chóc. Tội phạm sẽ mãi mãi nở ra như mùa xuân và lặp lại một cách không thay đổi như mùa đông” [1]. Là một nội dung quan trọng và là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học, do vậy, việc làm rõ khái niệm tội phạm và khái niệm tội phạm học có ý nghĩa quan trọng, làm cơ sở để xây dựng khái niệm chính xác về phòng ngừa tội phạm.

2.1. Khái niệm tội phạm

Trong khoa học Luật Hình sự, trước đây và hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nội dung lẫn nội hàm khái niệm tội phạm [2-7]. Tuy nhiên, hiện nay, cùng với xu thế chung của tình hình thì việc mở rộng nội hàm và cách nhìn nhận khái niệm tội phạm dưới góc độ hiện đại hơn qua nhiều góc độ kinh tế, xã hội, pháp lý, văn hóa, địa lý, dư luận xã hội… Mặc dù vậy, điều cơ bản và quan trọng hơn cả, tội phạm chính là cơ sở pháp lý để phân biệt nó với các vi phạm pháp luật khác và với hành vi trái đạo đức, cũng như với các trường hợp không phải là tội phạm, qua đó bảo vệ pháp chế, củng cố và duy trì trật tự pháp luật, góp phần đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ một cách hữu hiệu lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Còn dưới góc độ khoa học Luật Hình sự Việt Nam, khái niệm tội phạm được nghiên cứu dưới phương diện “tĩnh” và có thể được hiểu ngắn gọn như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ Luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến một hoặc nhiều quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ. Từ khái niệm này chúng ta có thể chỉ ra các đặc điểm cơ bản của tội phạm như sau: Một là, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; hai là, tội phạm được quy định trong Bộ Luật hình sự; ba là, tội phạm do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện; bốn là, người thực hiện hành vi phạm tội một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý) và năm là, tội phạm xâm phạm đến một hoặc nhiều quan hệ xã hội được Luật Hình sự ghi nhận và bảo vệ.

Trong khi đó, dưới góc độ tội phạm học, khái niệm tội phạm lại được nghiên cứu trên phương diện “động” với tư cách là một hiện tượng tiêu cực nhất trong xã hội, có quy luật phát sinh, tồn tại và phát triển nhất định, có “nguyên nhân” và “điều kiện”, đòi hỏi có sự cần thiết phải phòng ngừa “tội phạm”, đồng thời khái niệm “tội phạm” lại được mô tả xem như là “hành vi phạm tội” trong mối liên hệ với các hiện tượng, nhân tố và quá trình tác động khác nhau(1).

2.2. Khái niệm tội phạm học

Bên cạnh ngành khoa học Luật Hình sự, trong lĩnh vực tư pháp hình sự còn một ngành khoa học khác có đối tượng nghiên cứu độc lập, chuyên sâu nghiên cứu về bản chất của hiện tượng xã hội tiêu cực là tội phạm, nghiên cứu về quy luật làm phát sinh, tồn tại và phát triển của hiện tượng này trong đời sống xã hội, cũng như tìm ra nguyên nhân và điều kiện của nó để kiến nghị đưa ra những giải pháp tổng thể, có hệ thống mang tính chủ động hơn, tích cực hơn và có hiệu quả hơn đó chính là ngành khoa học nghiên cứu về tội phạm – Tội phạm học. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ khái niệm tội phạm học, đặc biệt là mối quan hệ trong đó với phòng ngừa tội phạm để làm rõ nội dung “phòng ngừa tội phạm” là một bộ phận độc lập tương đối nhưng không tách dời trong hệ thống hữu cơ của lý luận tội phạm học.

Thuật ngữ “Tội phạm học” được bắt nguồn từ hai từ của tiếng La Tinh “Crimen” (tội phạm) và tiếng Hy Lạp “Logos” (học thuyết quan điểm, lý luận) và khi kết hợp hai từ đó lại có nghĩa là “Học thuyết về tội phạm”, “Khoa học nghiên cứu về tội phạm” hay ngắn gọn hơn – Tội phạm học. Học giả người Ý tên là Raffaele Garofalo là người mở đầu khi đưa ra khái niệm này vào năm 1885, sau đó được phát triển năm 1889 bởi tác giả Paul Tobinard… [8]. Hiện nay, trong khoa học về tội phạm học nước ngoài, cũng giống như khái niệm tội phạm, khái niệm tội phạm học cũng được các nhà khoa học đề cập với nhiều quan điểm khác nhau với cách nhìn hiện đại và mở rộng hơn. Tuy nhiên, trong đó lý luận phòng ngừa tội phạm ít được đề cập hoặc có đề cập thì với tư cách là một nội dung nghiên cứu của tội phạm học.

Xu hướng thứ nhất: mở rộng nội hàm khái niệm tội phạm học và không coi phòng ngừa tội phạm là một nội dung (hay đối tượng nghiên cứu) của tội phạm học. Có thể kể đến quan điểm của một số nhà khoa học sau:

– Các tác giả Edwin Sutherland và Donald Cressey lại cho rằng: “Tội phạm học là tổng hợp những tri thức nghiên cứu về tội phạm với tư cách là một hiện tượng xã hội. Phạm vi nghiên cứu của nó bao gồm các quá trình làm luật, sự vi phạm pháp luật, và phản ứng trước các vi phạm pháp luật… Mục tiêu của tội phạm học là phát triển một hệ thống chung các nguyên tắc đã được kiểm nghiệm và các tri thức khác về diễn biến của pháp luật, của tội phạm và, cả sự giải quyết (xử lý) tội phạm” [10].

– Các tác giả Freda Adler, Gerhard O.W. Mueller viết ngắn gọn hơn: “Tội phạm học là khoa học nghiên cứu về sự làm luật, sự vi phạm pháp luật, và phản ứng của xã hội đối với sự vi phạm pháp luật” [11];

Xu hướng thứ hai: thu hẹp nội hàm khái niệm tội phạm học và cũng không coi phòng ngừa tội phạm là một nội dung (hay đối tượng nghiên cứu) của tội phạm học. Theo đó:

– Tác giả Richard F. Wetzell viết: “Tội phạm học được hiểu là ngành khoa học nghiên cứu về các nguyên nhân của tội phạm” [16];

– Học giả Frank Schmalleger định nghĩa: “Tội phạm học là khoa học nghiên cứu tội phạm và hành vi tội phạm, nghiên cứu về các loại tội phạm, nguyên nhân, các khía cạnh pháp luật và công tác kiểm soát tội phạm” [18], v.v…

Xu hướng thứ ba: thu hẹp hoặc mở rộng nội hàm khái niệm tội phạm học nhưng lại coi phòng ngừa tội phạm là một nội dung (hay đối tượng nghiên cứu) của tội phạm học. Quan điểm này được thừa nhận trong khoa học về tội phạm học một số nước (đặc biệt là Liên bang Nga và Việt Nam)(2):

– Tác giả Can Ueda thì quan niệm: “Tội phạm học là khoa học nghiên cứu tội phạm và đề ra các biện pháp đấu tranh phòng chống” [19];

– Giáo sư A.I. Dolgovoi và đồng nghiệp viết: “Tội phạm học là khoa học nghiên cứu tội phạm, các dạng tội phạm, các nguyên nhân của tội phạm và các mối quan hệ với các hiện tượng và quá trình khác; nghiên cứu hiệu quả áp dụng các biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm” [20]. Tương tự, trong khoa học về tội phạm học nước ta, về cơ bản đều thống nhất trong việc chỉ ra nội dung và đối tượng nghiên cứu với xu hướng thứ ba này.

– GS.TSKH. Đào Trí Úc viết: “Tội phạm học là khoa học nghiên cứu về tình hình tội phạm, các loại tội phạm; về nguyên nhân của tội phạm và tất cả các mối liên hệ của tội phạm với những hiện tượng xã hội và với các quá trình diễn ra trong xã hội; về hiệu quả của các giải pháp đấu tranh chống tội phạm…” [21];

– chúng tôi Nguyễn Xuân Yêm cho rằng: “Tội phạm học là ngành khoa học nghiên cứu tội phạm, tình hình tội phạm, các nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm, nghiên cứu cá nhân kẻ phạm tội và những biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm nhằm ngăn chặn, tiến tới loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội” [23], v.v…

Tuy nhiên, các quan điểm đã nêu chủ yếu làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu song còn chưa khẳng định một cách dứt khoát – tội phạm học là ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội hay ứng dụng… Nói một cách khác, chưa làm rõ vị trí của tội phạm học trong hệ thống các ngành khoa học. Việc xác định vị trí của ngành khoa học này còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau đã được GS.TSKH. Đào Trí Úc tổng kết [21], cụ thể là:

– Có quan điểm cho rằng: “Tội phạm học là xã hội học về tội phạm và do đó các kiến thức cơ sở của nhà tội phạm học phải là xã hội học”.

– Có quan điểm coi: “Tội phạm học là môn khoa học vừa có tính luật học, vừa có tính chất tổng hợp một số ngành khoa học xã hội như xã hội học, tâm lý học, kinh tế học chính trị… nhưng luật học nổi trội hơn”.

– Có quan điểm quan niệm: “Tội phạm học mang tính chất hành vi học, tức là đặt sự quan tâm chủ yếu vào tội phạm như là hành vi xã hội có cơ chế phát sinh và biểu hiện. Quan điểm này lấy các khoa học về hành vi như tâm lý học, tâm thần học, khoa học về bệnh lý làm cơ sở chính”.

– Ngoài ra, còn có quan điểm lại cho rằng: “Tội phạm học là một lĩnh vực khoa học tổng hợp, liên ngành, nằm giữa và liên kết nhiều lĩnh vực khoa học để trên cơ sở đó đánh giá toàn diện về tội phạm [24], v.v…

– Một là, xuất phát từ nội dung, phạm vi, tính chất các vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của tội phạm học thì các quan điểm đã nêu trước không bao trùm được tất cả các vấn đề mà tội phạm học nghiên cứu (hoặc là quá rộng hoặc ngược lại, – quá hẹp trong nội dung).

– Hai là, theo quan điểm này thì nó bao trùm ở mức độ đầy đủ những vấn đề mà tội phạm học nghiên cứu. Điều này thể hiện ở chỗ: các hiện tượng tiêu cực mà tội phạm học nghiên cứu vừa mang tính xã hội và vừa mang tính pháp lý (hình sự). Ví dụ: “Tội phạm” vừa là hiện tượng tiêu cực tồn tại trong xã hội, vừa là hiện tượng mang thuộc tính pháp luật hình sự vì theo quan điểm của các nhà làm luật coi hành vi nguy hiểm cho xã hội nào là tội phạm thì nó là tội phạm, nếu không coi nó là tội phạm thì cũng không phải là tội phạm; hoặc “Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm” hay “Nhân thân người phạm tội” có liên hệ và gắn chặt chẽ với ý thức pháp luật, tâm lý học, thái độ đối với pháp luật, trật tự xã hội, giáo dục học, đạo đức học, nhân chủng học…

– Bốn là, ngoài ra, các biện pháp phòng ngừa tội phạm trong tội phạm học còn thể hiện ở chỗ: góp phần cải thiện các điều kiện xã hội, loại trừ các nguyên nhân và điều kiện phạm tội, tạo điều kiện và môi trường tích cực và tự do cho việc hình thành lối sống, nhân cách, thái độ, ứng xử con người mới. Do đó, chúng tôi cho rằng tội phạm học nghiên cứu những vấn đề trên không chỉ nằm trong giới hạn của khoa học pháp lý (mà cụ thể là khoa học pháp lý hình sự), đồng thời sự phân tích các quan hệ pháp luật lại chính được nhìn nhận trong lĩnh vực của xã hội học mới bảo đảm tính chính xác và có cơ sở khoa học – thực tiễn. Đặc biệt, vai trò của xã hội, nhất là dư luận xã hội lại rất có ý nghĩa trong việc quy định, xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung, pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói riêng, qua đó còn thể hiện nguyên tắc dân chủ trong hoạt động xây dựng pháp luật. Nhân bàn về nội dung này, chúng tôi xin dẫn ý kiến có lý của nhà luật học R. Savatier khi nói về mối quan hệ giữa xã hội học và luật học: “Những hồ sơ (tư liệu) của các nhà luật học là những nguồn đặc sắc nhất mà nhà xã hội học có thể tham khảo về sự lành mạnh cũng như về những bệnh tật của xã hội… Nếu xã hội học là một khoa học khảo sát về con người sống trong xã hội, thì luật là một khoa học quy phạm về con người trong xã hội. Bởi vì nó có tính chất quy phạm, nó có thêm một nghệ thuật, nghệ thuật thiết chế xã hội” [26].

Từ định nghĩa này có thể chỉ ra đối tượng nghiên cứu chính và chủ yếu của tội phạm học hiện nay như sau: a) Tội phạm, tình hình tội phạm và các loại tội phạm cụ thể; b) Các nguyên nhân và điều kiện phạm tội và của tình hình tội phạm; c) Nhân thân người phạm tội; d) Các vi phạm pháp luật trong xã hội có khuynh hướng trở thành tội phạm, các mối liên hệ của tội phạm với những hiện tượng xã hội và với các quá trình diễn ra trong xã hội; đ) Hệ thống các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật khác có khuynh hướng phát triển trở thành tội phạm. Do đó, phòng ngừa tội phạm phải và chính là một bộ phận cấu thành quan trọng của tội phạm học chứ không thể nằm ngoài tội phạm học.

3. Khái niệm phòng ngừa tội phạm

Đúng như GS.TSKH. Đào Trí Úc đã viết “… Tội phạm học có mục đích đưa ra những kiến nghị về các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm…” [21]. Do đó, mục đích cuối cùng và quan trọng nhất của ngành khoa học này là tìm ra được những biện pháp tác động vào quy luật phát sinh, tồn tại và phát triển của tội phạm, đồng thời khắc phục được nguyên nhân và điều kiện phạm tội.

Tư tưởng về phòng ngừa tội phạm và sự cần thiết của phòng ngừa tội phạm đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử loài người để bảo vệ, duy trì trật tự và công bằng xã hội, góp phần bảo vệ các lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội. Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp tục kế thừa và phát triển những tư tưởng văn minh và tiến bộ này. Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tội phạm phát sinh và tồn tại là do những nguyên nhân và điều kiện khác nhau, song “với bản chất tốt đẹp của mình, Nhà nước xã hội chủ nghĩa hoàn toàn có khả năng tiến hành cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm có kết quả. Trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa, cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm phải được coi là một bộ phận của cuộc đấu tranh giai cấp và trong cuộc đấu tranh đó, phải đặc biệt quan tâm đến công tác phòng ngừa tội phạm…” [27].

Còn ở nước ta, từ ngay sau khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến công tác phòng ngừa tội phạm. Cụ thể, riêng trong công tác tư pháp (xét xử), Người đã từng nói “Xét xử là tốt, nhưng nếu không phải xét xử thì càng tốt hơn” [28]. Câu nói này của Người đã thể hiện phương châm rất quan trọng trong đường lối xử lý của Nhà nước ta – lấy giáo dục, phòng ngừa là chính, phòng ngừa tốt cũng chính là chống tội phạm tốt. Yêu cầu là phải ngăn chặn và phòng ngừa tội phạm ngay từ đầu làm cho tội phạm ít xảy ra hơn và tiến tới không xảy ra tội phạm, và để việc chống tội phạm, xử lý tội phạm chỉ là hãn hữu, là việc làm bất đắc dĩ. Lấy việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật là quan trọng, hàng đầu.

Thực hiện tư tưởng phòng ngừa này, về sau trong nội dung chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, phòng ngừa tội phạm được coi là một bộ phận quan trọng của cuộc đấu tranh giai cấp, là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, cũng như của tất cả các cơ quan, tổ chức, trong đó cáccơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án là lực lượng trung tâm và nòng cốt. Cụ thể, ngay từ những ngày đầu mới giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tập trung đấu tranh phòng chống các tội phản cách mạng, các tội phạm hình sự nguy hiểm khác để giữ gìn an ninh trật tự và an toàn xã hội, cũng như bảo vệ các lợi ích của xã hội, của nhân dân…(4).

Đặc biệt, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP “Về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới” ngày 31/7/1998 đã nhận định rất xác đáng rằng: “… Tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay vẫn có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp. Cơ cấu thành phần tội phạm có những thay đổi, số thanh niên phạm tội chiếm tỷ lệ ngày càng cao. Đặc biệt là tình trạng phạm tội có tổ chức như tham nhũng, buôn lậu, mua bán phụ nữ, xâm hại trẻ em… phạm tội có sử dụng bạo lực, cướp của, giết người, chống người thi hành công vụ, đâm thuê, chém mướn, bảo kê nhà hàng và các hành vi phạm tội khác có tính chất côn đồ hung hãn; gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng gây lo lắng cho toàn xã hội… Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, việc thi hành pháp luật lại chưa nghiêm, sự phối hợp hoạt động của cơ quan bảo vệ pháp luật còn thiếu chặt chẽ, nhiều ngành, nhiều cấp chưa coi trọng đúng mức công tác tham gia phòng, chống tội phạm. Một bộ phận cán bộ, kể cả cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật bị tha hóa, ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng nhân dân; công tác phòng ngừa tội phạm trong gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư chưa được quan tâm đúng mức…”. Do đó, Nghị quyết đã xác định các chủ trương mang tính phòng ngừa xã hội cao như sau:

– Một là, xây dựng và thực hiện cơ chế phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị, đẩy mạnh phong trào cách mạng của toàn dân, nâng cao trách nhiệm vai trò chủ động của các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội và các tầng lớp nhân dân tham gia phòng ngừa, phát hiện đấu tranh ngăn chặn các loại tội phạm, tệ nạn xã hội. Tập trung phòng, chống các tội tham nhũng, buôn lậu, tội phạm hoạt động có tổ chức, lưu manh chuyên nghiệp, côn đồ hung hãn, bọn buôn bán lôi kéo thanh niên, học sinh vào con đường sử dụng và nghiện hút ma túy, các loại tội phạm xâm hại trẻ em, mua bán phụ nữ, trẻ em.

– Hai là, đổi mới và thực hiện nghiêm chỉnh cơ chế phối hợp giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật; nâng cao trách nhiệm, phát huy chức năng của các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các đơn vị vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội. Từng ngành xây dựng chương trình hành động, gắn việc thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội với phòng và đấu tranh chống các tội phạm, bảo vệ trật tự an toàn xã hội, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phát hiện, điều tra và xử lý nghiêm đối với các loại tội phạm. Xây dựng lực lượng công an nhân dân và các cơ quan bảo vệ pháp luật khác thật sự trong sạch, vững mạnh để thực hiện tốt vai trò nòng cốt, xung kích trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

– Ba là, xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức tuyên truyền giáo dục ý thức chấp hành pháp luật để phục vụ kịp thời, có hiệu quả cho công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trước mắt và lâu dài. Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác quản lý giáo dục, cải tạo người phạm tội bằng nhiều hình thức, giúp họ cải tạo tiến bộ, hoàn lương, tái hòa nhập gia đình và cộng đồng xã hội.

– Bốn là, tăng cường sự hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm theo nguyên tắc phù hợp với pháp luật hiện hành của nước ta và pháp luật quốc tế, phù hợp với các chương trình chống tội phạm của Liên hợp quốc và của Tổ chức cảnh sát hình sự quốc tế Interpol.

– Năm là, đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu và gian lận thương mại, tăng cường quản lý trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị, quản lý các hoạt động văn hóa, bài trừ các tệ nạn xã hội, triển khai thực hiện có hiệu quả các quy định của Đảng, Nhà nước về thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng nhằm tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về trật tự an toàn xã hội và phòng, chống tội phạm.

– Sáu là, đặt nhiệm vụ phòng, chống tội phạm thành Chương trình quốc gia có mục tiêu và nội dung các đề án cụ thể nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội vào công tác phòng, chống tội phạm, từng bước làm giảm tội phạm. Xây dựng môi trường sống lành mạnh trong xã hội, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật và hiệu lực quản lý của Nhà nước.

– Bảy là, tiếp tục phát động quần chúng xây dựng phong trào toàn dân tham gia phòng ngừa, phát hiện, tố giác và đấu tranh chống tội phạm và tệ nạn xã hội. Xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp ngăn ngừa tội phạm trong gia đình, nhà trường và xã hội. Củng cố các tổ dân phố, lực lượng bảo vệ chuyên trách, bán chuyên trách, các tổ chức đoàn thể quần chúng ở cơ sở phường, xã tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc.

– Tám là, sử dụng đồng bộ các biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn, trấn áp kịp thời và kiên quyết đối với các loại tội phạm nguy hiểm như: tội phạm có tổ chức, tội phạm tham nhũng, buôn lậu, tội phạm giết người, cướp tài sản, tội phạm xâm hại trẻ em (hiếp dâm trẻ em, bắt cóc và buôn bán trẻ em, lôi kéo trẻ em vào con đường sử dụng và nghiện hút ma túy). Tiếp tục chấn chỉnh công tác giam giữ; nâng cao hiệu quả công tác giáo dục cải tạo phạm nhân.

Tiếp đó, ngày 08/11/2004, Thủ tướng Chính phủ lại ban hành Chỉ thị số 37/2004/CT-TTg “Về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP và Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm của Chính phủ đến năm 2010”, với ý nghĩa đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong công tác đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị, trách nhiệm của các ngành, các cấp trong phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm trong tình hình mới…

Hiện nay, phòng ngừa tội phạm còn là để Nhà nước xây dựng kế hoạch phòng ngừa, nhận diện những diễn biến tội phạm và tình hình tội phạm trong tương lai, khả năng xuất hiện, thay đổi của tội phạm cũ và tội phạm mới, diễn biến và quy luật của quá trình tội phạm hóa – phi tội phạm hóa, hình sự hóa – phi hình sự hóa, cũng như những biến đổi của đời sống xã hội khác. Nói một cách khác, với tư cách là ngành khoa học thực hiện chính chức năng phòng ngừa, tội phạm học góp phần bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, và có pháp chế thì Nhà nước pháp quyền mới đi vào thực tế. Pháp chế chính là đòi hỏi quan trọng của pháp luật. “Pháp chế như là tính thiêng liêng của pháp luật, tính bền vững của các quy phạm pháp lý… Pháp chế có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật, với bình đẳng và với sự tuân thủ luật pháp, không một ai, không một người nào có bất kỳ một đặc quyền nào trước pháp luật…” [29]. Cho nên, không phải ngẫu nhiên, trong Bộ Luật hình sự nhà làm luật nước ta đã quy định rằng, pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao, đồng thời chỉ rõ tại Bộ Luật hình sự. Cụ thể, Bộ Luật hình sự thể hiện tinh thần chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm và thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục, cảm hóa, cải tạo người phạm tội trở thành người lương thiện; qua đó, bồi dưỡng cho mọi công dân tinh thần, ý thức làm chủ xã hội, ý thức tuân thủ pháp luật, chủ động tham gia phòng ngừa và chống tội phạm (Lời nói đầu của Bộ Luật hình sự).

Ngoài ra, về phương châm đấu tranh, các nhà làm luật nước ta đã xác định rõ trong Bộ Luật hình sự năm 1999 là “… đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm…” (khác với quy định tương ứng trong Bộ Luật hình sự năm 1985 là “… đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm…”). Đây là sự thay đổi lớn trong đường lối đấu tranh, nó có mục đích huy động sức mạnh của toàn xã hội tham gia tích cực vào công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, giáo dục, cảm hoá người phạm tội, giúp cho họ sớm hòa nhập cộng đồng. Quan điểm “lấy giáo dục, phòng ngừa là chính, kết hợp với răn đe, giữ nghiêm kỷ cương, đề cao tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa, bản chất ưu việt của chế độ ta và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phát huy vai trò quần chúng và các đoàn thể nhân dân chủ động tham gia phòng chống tội phạm…” [30].

Đặc biệt, các cơ quan Công an, Kiểm sát, Tòa án, Tư pháp, Thanh tra và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thi hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức, công dân đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng. Các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ pháp luật và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình. Và mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm (Điều 4). Như vậy, phòng ngừa tội phạm không chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan, tổ chức và cũng không phải của một ngành khoa học nào trong lĩnh vực tư pháp hình sự, mà nó chính là nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Điều này hoàn toàn phù hợp với các Nghị quyết của Đảng, văn bản pháp luật và lợi ích chung của Tổ quốc và nhân dân.

Tuy nhiên, ngành khoa học về tội phạm (tội phạm học) phải có nhiệm vụ thực hiện chức năng phòng ngừa tội phạm. Phòng ngừa không để tội phạm xảy ra chứ không phải để tội phạm xảy ra rồi mới tìm cách khắc phục. Trường hợp hãn hữu nếu tội phạm có xảy ra thì ở mức độ hạn chế gây hậu quả (thiệt hại) cho xã hội, kịp thời xử lý nhanh chóng tội phạm, khắc phục hậu quả. Trên cơ sở này, tội phạm học còn phải xây dựng được cơ sở và các nguyên tắc trong hoạt động phòng ngừa, xác định chủ thể phòng ngừa, lập và xây dựng kế hoạch phòng ngừa đầy đủ và khoa học và có hệ thống các biện pháp phòng ngừa. Do đó, nếu thực hiện tốt nhiệm vụ này mới có thể từng bước ngăn chặn tội phạm và tình hình tội phạm trong xã hội, không cho tội phạm phát triển, qua đó từng bước đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Hiện nay, nghiên cứu trong khoa học về tội phạm còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này.

– Theo quan điểm trong khoa học và sách báo pháp lý một số nước đều thống nhất cho rằng: “phòng ngừa tội phạm là không để cho tội phạm xảy ra, thủ tiêu các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm…” hay “không để cho tội phạm gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, thủ tiêu nguyên nhân và kiểm soát được tội phạm, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật, cũng như có các biện pháp cải tạo, giáo dục người phạm tội, đưa họ trở thành những công dân có ích cho xã hội và cho cộng đồng…” [2-5], v.v…

– Còn trong khoa học về tội phạm học của Liên Xô trước đây, quan niệm về phòng ngừa tội phạm trong hệ thống này được chúng tôi Nguyễn Xuân Yêm dẫn ra như sau: “Phòng ngừa tội phạm là tổng hợp các biện pháp có quan hệ tác động lẫn nhau, được tiến hành bởi cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm và hạn chế, loại trừ những nguyên nhân sinh ra tội phạm” (Giáo trình Tội phạm học năm 1966) hay còn được hiểu là “một phương tiện điều chỉnh sự phát triển các quan hệ xã hội nhằm mục đích hạn chế, loại trừ các nguyên nhân tội phạm, như là sự tác động lẫn nhau của các biện pháp kinh tế – xã hội, giáo dục – sư phạm, tổ chức và pháp luật, như là một tổ hợp các biện pháp khác nhau của phòng ngừa tội phạm” (Sách chuyên khảo: Những cơ sở lý luận phòng ngừa tội phạm năm 1977), v.v… [23]. Trong khi đó, trong khoa học về tội phạm học nước ta thì về cơ bản đều thống nhất khi phân chia nội dung của phòng ngừa tội phạm theo hai cấp bậc rộng và hẹp khác nhau, cụ thể:

– chúng tôi Đỗ Ngọc Quang chỉ ra phòng ngừa tội phạm theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, phòng ngừa tội phạm bao hàm, một mặt không để cho tội phạm xảy ra, thủ tiêu nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Mặt khác, bằng mọi cách để ngăn chặn tội phạm, kịp thời phát hiện tội phạm, xử lý nghiêm minh các trường hợp phạm tội và cuối cùng là cải tạo, giáo dục người phạm tội, đưa họ trở thành những công dân có ích cho xã hội; theo nghĩa hẹp, phòng ngừa tội phạm là không để cho tội phạm xảy ra, không để cho tội phạm gây hậu quả cho xã hội, không để cho thành viên của xã hội phải chịu hình phạt của pháp luật, tiết kiệm được những chi phí cần thiết cho Nhà nước trong công tác điều tra, truy tố, xét xử và cải tạo giáo dục người phạm tội” [22].

– chúng tôi Nguyễn Chí Dũng và tập thể tác giả định nghĩa: “Phòng ngừa tội phạm là sử dụng các phương pháp, chiến thuật, biện pháp, phương tiện nghiệp vụ cần thiết, với sự tham gia của các lực lượng nhằm khắc phục mọi nguyên nhân, điều kiện không để tội phạm phát sinh, phát triển”. Đồng thời, tập thể tác giả cũng chỉ ra trong phòng ngừa tội phạm có hai nhóm biện pháp là phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng. Theo đó: phòng ngừa chung là sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, pháp luật… nhằm loại bỏ các yếu tố có thể trở thành nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh, phát triển tội phạm, được toàn xã hội tham gia thực hiện; phòng ngừa riêng là các biện pháp pháp luật, nghiệp vụ do các cơ quan chuyên môn (Công an, Thanh tra, Kiểm sát, Tòa án, Kiểm lâm, Cảnh sát biển…) tiến hành nhằm vào những đối tượng cụ thể [31].

– TS. Lê Thế Tiệm và tập thể tác giả phân tích: “Phòng ngừa tội phạm tức là không để cho tội phạm xảy ra và gây nên những hậu quả nguy hiểm cho xã hội, không để cho các thành viên của xã hội phải gánh chịu các hình phạt khắc nghiệt của pháp luật. Và nếu tội phạm có xảy ra thì phải kịp thời phát hiện, xử lý để đảm bảo cho tội phạm không thể tránh khỏi hình phạt, giáo dục và cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội…” [32];

– Gần đây, chúng tôi Nguyễn Ngọc Hòa đã đưa ra khái niệm này dưới góc độ tội phạm học cũng tương đối hợp lý như sau: “Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của các cơ quan, tổ chức và công dân, thực hiện tổng thể các biện pháp tác động trực tiếp vào các nhóm nguyên nhân của tội phạm để kiểm soát, hạn chế tác dụng và loại trừ dần những nhóm nguyên nhân này…” [34].

Tuy nhiên, trong thực tiễn của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, phòng ngừa tội phạm lại được hiểu một cách trực tiếp và đơn giản chính là hoạt động chủ yếu của các cơ quan chuyên môn, chuyên trách trong công tác bảo vệ pháp luật và phòng chống tội phạm, mà cụ thể là: Công an, Tòa án, Viện kiểm sát, Thanh tra, cơ quan Thi hành án hình sự và một số cơ quan Nhà nước khác (Kiểm lâm, Hải quan, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển …) nhằm ba mục đích sau:

– Một là, loại trừ và thủ tiêu các nguyên nhân và điều kiện phạm tội, xóa bỏ các tác nhân là điều kiện tạo thuận lợi việc phát sinh ra tội phạm.

– Hai là, nghiên cứu môi trường sống (gia đình – nhà trường – xã hội) xung quanh các nguyên nhân và điều kiện phạm tội và người phạm tội, qua đó hạn chế, ngăn ngừa những hiện tượng có ảnh hưởng bất lợi và không đúng đến việc hình thành các phẩm chất cá nhân tiêu cực chống đối xã hội của bản thân người phạm tội.

– Ba là, trên cơ sở này, đưa ra các giải pháp tổng thể và có hệ thống phòng ngừa các hiện tượng tiêu cực và tội phạm, các tác nhân ảnh hưởng và những thiếu sót trong cơ chế quản lý về các mặt (như: kinh tế, xã hội, công tác tổ chức cán bộ…), cũng như kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và các ngành luật khác.

Mặc dù vậy, để đưa ra được khái niệm phòng ngừa tội phạm chính xác về mặt khoa học và phù hợp với thực tiễn, phục vụ công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm cần phân tích và làm sáng tỏ những đặc điểm của khái niệm này. Về cơ bản, qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy về cơ bản các nhà khoa học – luật gia đều thông qua các nội dung của các đặc điểm cơ bản về khái niệm phòng ngừa tội phạm và tổng hợp lại, chúng tôi có thể chỉ ra như sau:

– Thứ nhất, phòng ngừa tội phạm không chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan, tổ chức và cũng không phải của một ngành khoa học nào trong lĩnh vực tư pháp hình sự, mà nó chính là nhiệm vụ chung của toàn xã hội, mà trong đó ngành khoa học về tội phạm học phải có nhiệm vụ thực hiện chức năng phòng ngừa tội phạm. Dựa trên cơ sở chức năng này, đến lượt mình tội phạm học phải xây dựng được cơ sở và các nguyên tắc trong hoạt động phòng ngừa, xác định chủ thể phòng ngừa, lập và xây dựng kế hoạch phòng ngừa đầy đủ và khoa học và có hệ thống các biện pháp phòng ngừa. Do đó, nếu thực hiện tốt chức năng này mới có thể từng bước ngăn chặn tội phạm và tình hình tội phạm trong xã hội, không cho tội phạm phát triển, qua đó từng bước đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.

– Thứ hai, phòng ngừa tội phạm chính là mục tiêu cuối cùng và là chức năng quan trọng nhất [35], vì chỉ khi làm tốt các chức năng mô tả, giải thích và dự báo thì mới có thể tìm ra được những biện pháp tác động vào quy luật phát sinh, tồn tại và phát triển của tội phạm, đồng thời khắc phục được các nguyên nhân và điều kiện phạm tội cũng như những tồn tại trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.

– Thứ ba, cũng trên cơ sở những chức năng đã nêu mới có thông tin đầy đủ để xây dựng kế hoạch phòng ngừa, nhận diện những diễn biến tội phạm và tình hình tội phạm trong tương lai, khả năng xuất hiện, thay đổi của tội phạm cũ và tội phạm mới, diễn biến và quy luật của quá trình tội phạm hóa – phi tội phạm hóa, hình sự hóa – phi hình sự hóa, cũng như những biến đổi của đời sống xã hội khác.

– Thứ tư, phòng ngừa tội phạm bao gồm tổng thể các biện pháp phòng ngừa: chính trị – tư tưởng, kinh tế – xã hội, văn hóa, giáo dục, pháp luật, quản lý Nhà nước…

– Thứ năm, phòng ngừa tội phạm, suy cho cùng, chính là đưa ra những giải pháp mang tính chủ động hơn, tích cực hơn và có hiệu quả hơn trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, hỗ trợ cho các ngành luật khác trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Hơn nữa, chính những giải pháp của ngành khoa học này là tiền đề rất quan trọng để thực hiện tốt đường lối xử lý về hình sự, cũng như trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm của Nhà nước, đồng thời đây cũng chính là phương diện xã hội rộng lớn và bao quát hơn của cuộc đấu tranh đối diện và trực diện với tội phạm.

– Thứ sáu, Nhà nước, các tổ chức, cơ quan và mỗi công dân trong xã hội không phải chịu những hậu quả (thiệt hại) mà tội phạm gây ra, cũng như Nhà nước và xã hội không phải mất đi những chi phí không cần thiết để giải quyết và khắc phục các hậu quả này.

– Thứ bảy, trong xã hội không có bất kỳ thành viên nào phải bị điều tra, truy tố và xét xử. Nói một cách khác, không để bất kỳ công dân nào trong xã hội phải bị xử lý, bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phải chịu hình phạt.

– Thứ tám, tiết kiệm một khoản rất lớn về chi phí, tiền của và sức lực cho Nhà nước, của xã hội trong việc điều tra, truy tố, xét xử, trong việc khắc phục hậu quả của tội phạm gây ra cho xã hội, trong công tác cải tạo, giáo dục và thi hành án đối với người phạm tội.

– Thứ chín, trong trường hợp nếu vẫn có tội phạm xảy ra trong xã hội thì bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội, giải quyết nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật đối với trách nhiệm hình sự và hình phạt của người phạm tội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và của công dân.

Tóm lại, trên cơ sở tổng hợp các quan điểm khoa học đã nêu, kết hợp với thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm ở nước ta trong thời gian vừa qua, dưới góc độ tội phạm học, theo chúng tôi khái niệm này có thể được định nghĩa như sau: Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của tất cả các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội và của mọi công dân trong xã hội áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp khác nhau hướng vào thủ tiêu những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như loại bỏ các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến quá trình hình thành phẩm chất cá nhân tiêu cực, đồng thời từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Nói một cách ngắn gọn khác, phòng ngừa tội phạm là một bộ phận cấu thành của lý luận tội phạm học, đồng thời là hoạt động của toàn xã hội trong việc tìm ra các nguyên nhân phát sinh ra tội phạm khắc phục, cũng như để ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội./

TS. Trịnh Tiến Việt – Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội

Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế – Luật 24 (2008).

[1] Nguyễn Niên (chủ biên), Những vấn đề lý luận cơ bản về tội phạm trong Luật Hình sự Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1986.

[2] David Brown, David Farrier, Neal, David Weisbrot, Criminal Laws, Published in Sydney by the Federation Ress, 1996.

[3] Rob White, Fiona Haines, Crime and Criminology: An introduction (Second Edition), Oxford University Press, 2000.

[4] Sue Titus Reid, Crime and Criminology, Holt, Rinehart and Winton, Inc, 1988.

[5] L.J. Siegel, Criminology: Theory, pattern and typologies, Printed in the United States of America, 2001.

[6] Lê Văn Cảm, Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật Hình sự (phần chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2005.

[7] Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn, Từ điển pháp luật hình sự, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2006.

[8] Http://www.en.wikipedia.org/wiki/criminology, ngày 2/5/2007.

[9] Rob White, Fiona Haines, Crime and Criminology: An introduction (Second Edition), Oxford University Press, 2000.

[10] Edwin Sutherland, Donald Cressey, Principles of Criminology, 6th ed (Philadelphia: J.B. Lippincott, 1960.

[11] Freda Adler, Gerhard O.W.Mueller, Criminology: The Shorter Version, Inc. Printed in the United States of America, 1995.

[12] Nandankanan.tripod.com/scienecterm.htm.

[13]Wordnet.princeton.edu/perl/webwn.

[14] Em.wikipedia.org/wiki/Criminology.

[15] Http://www.nationmaster.com/encyclopedia/Cr iminology.

[16] Richard F. Wetzell, Inventing the Criminal: A History of German Crimino-logy, 1880-1945. Http://www.history chúng tôi journals/lhr/21.3/br_12.html, p.3.

[17] Larry J. Siegel, Criminology: Theory, pattern and typologies, Printed in the United States of America, 2001.

[18] Frank Schmalleger, Criminology Today, New Jersey, 1994.

[19] Can Ueda, Tội phạm và tội phạm học ở Nhật Bản hiện đại (sách do Nguyễn Xuân Yêm và Hồ Trọng Ngũ biên dịch), NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 1994.

[20] A.I. Dolgovoi và đồng nghiệp, Tội phạm học, Matxcơva, 1997.

[21] Đào Trí Úc, Tình hình nghiên cứu tội phạm học ở Việt Nam hiện nay, Trong sách: Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tập thể tác giả do chúng tôi Luật sư Phạm Hồng Hải chủ biên, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 2000.

[22] Đỗ Ngọc Quang, Giáo trình Tội phạm học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1999.

[23] Nguyễn Xuân Yêm, Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 2001.

[24] H.N. Barte, G. Ostaptzeff, Nhập môn Tội phạm học lâm sàng (Dịch từ nguyên bản tiếng Pháp, người dịch Nguyễn Văn Sự), NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 2004.

[25] Võ Khánh Vinh, Giáo trình Tội phạm học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999.

[26] Thanh Lê, Xã hội học pháp luật và xã hội học tội phạm, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004.

[27] Nguyễn Hồng Vinh, Hoạt động phòng ngừa tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2007.

[28] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.

[29] XX. A-lếch-xây-ép, Pháp luật trong cuộc sống của chúng ta (người dịch: Đồng Ánh Quang, người hiệu đính: Nguyễn Đình Lộc), NXB Pháp lý, Hà Nội, 1986.

[30] Ban Chỉ đạo thi hành Bộ Luật hình sự năm 1999, Tài liệu Hội nghị tập huấn chuyên sâu Bộ Luật hình sự năm 1999 (Tài liệu dùng cho Báo cáo viên), Nhà in Bộ Công an, Hà Nội, 2000.

[31] Nguyễn Chí Dũng (chủ biên), Một số vấn đề về tội phạm và cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004.

[32] Lê Thế Tiệm, Phạm Tự Phả và tập thể tác giả, Tội phạm ở Việt Nam – Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Đề tài KX 04-14, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 1994.

[33] Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội, Hà Nội, 1999.

[34] Nguyễn Ngọc Hòa, Phòng ngừa tội phạm trong tội phạm học, Tạp chí Luật học, số 6 (2007) 31.

[35] Trịnh Tiến Việt, Khái niệm, đối tượng nghiên cứu và chức năng của tội phạm học, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 17 (2007) 5.

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Phòng Ngừa Tội Phạm Giết Người.

Trong những năm qua, tình hình tội phạm giết người xảy ra trên địa bàn tỉnh Bắc Giang vẫn diễn biến phức tạp. Đáng chú ý là tình trạng giết người thân trong gia đình, giết người do mâu thuẫn xã hội, do sử dụng rượu bia, do ảo giác vì sử dụng ma túy, do mắc bệnh tâm thần, giết người để thực hiện tội phạm khác, giết người do các đối tượng là học sinh thực hiện vẫn xảy ra nhiều.

Theo thống kê liên ngành trong thời điểm từ năm 2011 đến năm 2016, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã xét xử 129 vụ với 192 bị cáo về tội giết người. Trong đó, Tòa án tuyên phạt tử hình 05 bị cáo, tù chung thân 09 bị cáo, còn lại là phạt tù có thời hạn. Qua so sánh thấy tội phạm này xảy ra nhiều tại địa bàn huyện Lục Nam, Lục Ngạn, Việt Yên, Hiệp Hòa và thành phố Bắc Giang.

Từ thực tiễn giải quyết các vụ án giết người trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong những năm qua cho thấy tội phạm giết người xảy ra do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do những nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ nhất: Do ảnh hưởng của mặt trái nền kinh tế thị trường làm phát sinh những tiêu cực trong xã hội. Ngày càng xuất hiện nhiều hành vi lừa đảo, trộm cắp tài sản, tệ nạn cờ bạc, mại dâm, game, phim ảnh có hình ảnh bạo lựclàm cho nhân cách của bộ phận thanh niên bị ảnh hưởng và có xu hướng giải quyết tranh chấp bằng bạo lực.

Thứ hai: Do đạo đức xã hội của một bộ phận nhân dân nhất là tầng lớp thanh thiếu niên xuống cấp; tình trạng uống rượu bia do không kiểm soát đượclàm phát sinh mâu thuẫn dẫn đến hành vi giết người xảy ra ngày càng có chiều hướng gia tăng. Tình trạng này thường xảy ra vào dịp Tết nguyên đán, lễ hội của địa phương hoặc trong các đám cưới, đám giỗ, trại hè…

Thứ ba: Công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho quần chúng nhân dân của các cơ quan, ban ngành chưa coi trọng đúng mức, chưa phát huy hết hiệu quả, chưa thực sự đi sâu vào từng người dân. Công tác tuyên truyền bằng hình thức đưa xét xử lưu động của các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bắc Giang đối với các vụ án giết người chưa được nhiều; việc xây dựng, khai thác tủ sách pháp luật ở các địa phương còn chưa hiệu quả; công tác giáo dục ý thức pháp luật của các trường THPT cho học sinh vẫn còn hạn chế…dẫn đến việc nhân dân chưa hiểu hoặc chưa ý thức hết được nguyên nhân, điều kiện và hậu quả của tội phạm giết người để có biện pháp chủ động phòng ngừa hoặc có những hành vi thái quá dẫn đến tội phạm giết người xảy ra.

Thứ tư: Công tác quản lý nhà nước về an ninh trật tự, quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợvẫn chưa đạt được nhiều hiệu quả; hiện nay tình trạng tàng trữ, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và các loại vũ khí thô sơ khác nhất là súng tự chế, dao, kiếm, các loại hung khí do Trung Quốc sản xuất còn xuất hiện nhiều trong nhân dân đặc biệt là trong đối tượng thanh thiếu niên. Đây là những yếu tố có thể dễ làm phát sinh tội phạm giết người xảy ra.

Thứ năm: Sự phối kết hợp giữa các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội trong phòng ngừa tội phạm còn hạn chế, chưa thống nhất, công tác phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc, phòng chống tội phạm chưa được phát triển sâu rộng, hiệu quả chưa cao, chưa phát huy được sức mạnh của toàn dân trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Thứ sáu: Chính quyền và các tổ chức đoàn thể ở địa phương chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung; công tác phòng ngừa ngay từ cơ sở còn có hạn chế, chưa kịp thời phát hiện và giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân ngay từ khi mới phát sinh làm cho mâu thuẫn bức xúc, kéo dài là một trong những nguyên nhân dẫn đến tội phạm giết người xảy ra.Nhiều trường hợp nếu kịp thời phát hiện và làm tốt công tác hòa giải ngay từ cơ sở có thể ngăn chặn các vụ án giết người xảy ra.

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm giết người trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

các cơ quan, ban, ngành có biện pháp thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị (khóa X) về ” Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”; Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 01/12/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa XI) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới “; Kế hoạch số 167/KH-UBND ngày 23/8/2016 của UBND tỉnh Bắc Giang về thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác thi hành án năm 2016 và những năm tiếp theo.

Hai là, tăng cường phối hợp để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho quần chúng nhân dân:

Các ban, ngành, đoàn thể, cơquan thông tin đạichúng trên địa bàn tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền vềgiá trịđạo đức truyền thống gia đình, xómlàng, truyền thống dân tộc…định hướng người dân nhất là đối với tầng lớp thanh niên ứng xửphù hợp đạo đức truyền thống của người Việt Nam, lên án những hành vi ứng xửthiếu văn hóa, vi phạm phápluật;tuyên truyền sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân về chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong công tác phòng ngừa, đấu tranh tội phạm nói chung trong đó có tội phạm giết người trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.

Mở rộng hình thức tuyên truyền pháp luật như: Luật đất đai, luật dân sự,luật khiếu nại tốcáo, phòng chống bạo lực trong học đường, gia đình… Từđó, giúp quần chúng nhân dân nâng cao nhận thức và phòng ngừa tội phạm.

Củng cố, nâng caochất lượng hoạt động của Tổhòa giải, Trung tâm trợgiúp pháp lý để phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp với từng đối tượng.

Tăng cường giáo dụcđạo đức và ý thức chấp hành pháp luậtcho học sinh, sinh viên; phối hợp với cơ quan chức năng tổ chức các buổi tuyên truyền trực tiếp đến học sinh, sinh viên nhất là học sinh Trung học phổ thông;tổ chức cho học sinh ký cam kết không vi phạm pháp luật, chấp hành nghiêm pháp luật

Tăng cường hơn nữa công tác phối hợp để xét xử lưu động các vụ án giết người nhằm tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong quần chúng nhân dân.

Ba là, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các tranhchấp, khiếu kiện và hòa giải cơ sở:

Chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể cần chú trọng tăng cường công tác hòa giải tại cơ sở, kịp thời phát hiện giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ quần chúng nhân dân nhất là mâu thuẫn về tranh chấp đất đai, vay mượn tài sản… không để xảy ra các mâu thuẫn bức xúc, kéo dài dẫn đến giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực; củng cố và phát huy tinh thần đoàn kết, văn hóa, trách nhiệm trong cộng đồng dân cư gắn với phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, tích cực vận động nhân dân tham gia tố giác tội phạm.

Năm là, đề cao vai trò, trách nhiệm của báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng trên địa bàn tỉnh; tăng cường tuyên truyền nêu những gương người tốt, việc tốt; hạn chế đến mức thấp nhất tuyên truyền gây ra tác hại tiêu cực nhất là bạo lực.

Sáu là, Công an các cấp cần tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước về an ninh trật tự, công tác quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; chỉ đạo các đơn vị thường xuyên, chủ động phối hợp với chính quyền cùng cấp nắm tình hình, phát hiện các mâu thuẫn là nguyên nhân có thể dẫn đến tội phạm giết người để có biện pháp xử lý, giáo dục, phòng ngừa.

Bảy là, các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bắc Giang cần tăng cường phối hợp trong công tác khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án giết người; xử lý nghiêm minh, kịp thời các đối tượng phạm tội có hành vi côn đồ, tội phạm có tổ chức, các băng nhóm hoạt động theo kiểu “xã hội đen”. Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm giết người nói riêng trong thời gian tới./.

Nguyễn Ngọc Cường-Phòng 2

Bạn đang xem bài viết Bộ Công An: Một Số Giải Pháp Phòng Ngừa, Trấn Áp Tội Phạm Kinh Tế, Tội Phạm Hình Sự, Cho Vay Nặng Lãi trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!