Xem Nhiều 2/2023 #️ Các Biện Pháp Bình Ổn Giá Xăng Dầu Của Việt Nam # Top 3 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Các Biện Pháp Bình Ổn Giá Xăng Dầu Của Việt Nam # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Các Biện Pháp Bình Ổn Giá Xăng Dầu Của Việt Nam mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cho đến nay, 3 công cụ để thực hiện được các cơ quan chức năng sử dụng để bình ổn giá xăng dầu là: điều chỉnh mức thuế suất nhập khẩu, sử dụng Quỹ bình ổn và cắt giảm lợi nhuận định mức của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu.

1- Thuế nhập khẩu xăng dầu: Xét về mặt lý thuyết và theo báo cáo của Bộ Tài chính thì việc sử dụng thuế nhập khẩu như một công cụ để bình ổn giá đã có những tác dụng nhất định trong từng thời điểm. Tuy vậy, trên thực tế việc quá lạm dụng công cụ này để thực hiện chính sách an sinh xã hội đã tạo ra không ít bất cập cho việc quản lý xã hội như nạn buôn lậu xăng dầu qua biên giới phía Bắc và phía Tây nam đất nước, hoặc vấn nạn đầu cơ tích trữ xăng dầu tại các thời điểm tăng hoặc giảm giá như các thông tin đại chúng đã đưa tin cũng như làm giảm đáng kể nguồn thu cho ngân sách,… .Chính vì những lý do đó, đại bộ phận các nhà kinh tế Việt Nam cho rằng công cụ này chỉ nên sử dụng trong trường hợp sự biến động của giá xăng dầu quốc tế và khu vực khiến giá cơ sở vượt “biên độ khung” chứ không nên lạm dụng quá công cụ này như trong thời gian qua. Làm được việc đó sẽ khiến thị trường xăng dầu Việt Nam nhanh chóng tiếp cận với thị trường quốc tế và khu vực như đã ghi nhận trong Nghị định 84-CP.

Căn cứ vào ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và sau khi có ý kiến tham gia của Bộ Công Thương, tại Công văn số 837/BTC-CST ngày 19 tháng 01 năm 2010, Bộ Tài chính đã công bố các mức thuế suất thuế nhập khẩu áp dụng đối với các mặt hàng xăng, dầu thuộc nhóm 2710 (xin xem Biểu 1)

Mức thuế suất thuế nhập khẩu xăng dầu

Normal0falsefalsefalseEN-USX-NONEX-NONE

Normal0falsefalsefalseEN-USX-NONEX-NONE

Trong đó, giá Platt’s dầu thô WTI được sử dụng làm căn cứ xác định và ban hành mức thuế suất thuế nhập khẩu là giá trên thị trường Singapore của bình quân 30 ngày trước ngày điều chỉnh thuế suất của các mặt hàng xăng dầu.

Biểu theo dõi mức thuế suất nhập khẩu xăng dầu qua các năm

(có so sánh với mức Barem quy định tại công văn số 837/BTC-CST ngày 10/1/2010)

Tại Biểu 2, Bộ Tài chính đã thông báo việc sử dụng mức thuế suất nhập khẩu xăng dầu để điều chỉnh giá trong từng thời điểm.

Căn cứ vào số liệu nói trên, chúng tôi xin có những ý kiến sau đây:

Căn cứ vào số liệu tại Biểu 1 cho thấy, Bộ Tài chính đã 4 lần trong năm 2010, 4 lần trong năm 2011 và có 9 lần trong năm 2012 sử dụng việc tăng giảm mức thuế suất nhập khẩu xăng dầu để điều chỉnh giá bán lẻ. Nhưng điều đáng nói ở đây là việc điều chỉnh này dựa trên tiêu thức nào thì không ai có thể hiểu được, cụ thể là khi giá dầu thô là 77,07 đôla/thùng thì mức thuế suất nhập khẩu là 20% (bằng với mức barem tại Biểu 1), khi giá dầu thô 82,90 đôla/thùng (tăng 10,9% so với mức giá 77,07 đôla/thùng) thì mức thuế suất là 17% (giảm 3% so với barem) nhưng đến khi giá dầu thô là 86,09 đôla/thùng (tăng 11,2% so với mức giá 77,07 đôla/thùng hay chỉ tăng 5,8% so với mức giá 82,90 đôla/thùng) nhưng mức thuế suất lại giảm xuống chỉ còn 6% (thấp hơn 14% so với barem). Tiếp tục như vậy, khi giá xăng tăng tới 89,57 đôla/thùng thì mức thuế suất bằng 0 (thấp hơn so với barem 20%) … .

Trên cơ sở phân tích các số liệu như đã nói ở trên cho thấy việc sử dụng thuế nhập khẩu như một công cụ điều tiết giá bán lẻ xăng dầu không theo một chuẩn mực nào, hay nói một cách khác, việc điều chỉnh mức thuế suất trong những năm qua mang đầy tính “linh hoạt” và “ngẫu hứng” của các cơ quan chức năng. Và để minh giải cho các quyết định này họ luôn có rất nhiều cách giải thích khác nhau như “đảm bảo an sinh xã hội” (khi giảm mức thuế suất) hay “tăng nguồn thu cho ngân sách” (khi tăng mức thuế suất) v..v… Với cách giải thích định tính như vậy thì họ luôn đúng và không ai có thể phủ nhận được cách lý giải này nhưng có phải chăng, chính cách điều chỉnh mức thuế suất đó một mặt khiến giá bán lẻ xăng dầu trong thời gian qua bị bóp méo, không phản ảnh trung thực bức tranh thị trường xăng dầu thế giới và khu vực, mặt khác lại tạo ra nhiều bức xúc lớn trong xã hội như các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa tin. Chúng tôi cho rằng, nếu coi xăng dầu thực sự là mặt hàng chiến lược có ảnh hưởng lớn đến chỉ số CPI, thì việc tăng hay giảm mức thuế suất phải được tiến hành theo một chính sách nhất quán nếu không đây sẽ là mảnh đất màu mỡ cho các vấn nạn xã hội như đã nói ở trên.

Để khắc phục nhữngbất cập nói trên, nhiều nhà kinh tế cho rằng nếu ổn định thuếnhập khẩu trong một năm bằng giá trị tuyệt đối và làm được điều đó thì:

Thứ nhất, trên cơ sở có nguồn thu ổn định, Nhà nước có điều kiện bình ổn giá bán lẻ xăng dầu khi giá thế giới có những biến động lớn;

Thứ hai, tránh thất thu và ổn định nguồn thu cho ngân sách Nhà nước;

Thứ ba, tạo sự minh bạch trong việc tăng giảm giá bán lẻ xăng dầu và khiến thị trường xăng dầu Việt nam sớm hòa nhậpvới thị trường thế giới và khu vực;

Thứ tư, góp phần xóa bỏ những vấn nạn xã hội như đã nói ở trên;

Thứ năm, hạn chế những tiêu cực có thể xảy ra trong hoạt động tạm nhập tái xuất xăng dầu qua biên giới.

Do tính đặc thù của hoạt động kinh doanh xăng dầu, ngày 09 tháng 01 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 04/2009/QĐ-TTg về việc trích Quỹ bình ổn giá xăng dầu.

Điều 1 của Quyết định này: “Cho phép trích một khoản trước thuế thu nhập doanh nghiệp từ giá bán xăng dầu để hình thành Quỹ bình ổn giá xăng dầu”.

Điều 2 của Quyết định giao cho Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Công Thương:

Quy định mức trích cụ thể của từng thời điểm cho phù hợp với diễn biến giá cả thế giới và trong nước.

Hướng dẫn cơ chế hoạt động, quản lý, sử dụng Quỹ.

Tại Điều 4 của Thông tư này, Bộ Tài chính quy định Quỹ bình ổn giá xăng dầu được trích lập từ khoản mục chi phí trong giá thành.

Quy định này hoàn toàn trái với nguyên tắc trích lập Quỹ đã được quy định tại Quyết định 04/2009/QĐ-TTg là từ thu nhập trước thuế của doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu. Ở đây có hai vấn đề cần làm rõ:

Thứ nhất, căn cứ Luật ban hành văn bản pháp quy pháp luật đã được Quốc hội thông qua ngày 03 tháng 06 năm 2008, thông tư hướng dẫn là việc cụ thể hóa các điều khoản đã được quy định trong một văn bản có tính pháp lý cao hơn như Nghị định, Quyết định, Pháp lệnh chứ không được phép quy định những nội dung sai lệch với văn bản pháp quy mà nó phải hướng dẫn thực hiện.

Một số ý kiến cho rằng, hiện nay các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đều lỗ thì lấy đâu lợi nhuận trước thuế để thành lập Quỹ bình ổn. Ở đây phải phân định rõ, nguyên nhân lỗ của các doanh nghiệp này là do đâu: do kinh doanh kém hiệu quả hay do cơ chế khiến họ không thể có lãi. Thực tế cho thấy, phương thức điều hành hoạt động kinh doanh xăng dầu trong thời gian qua bằng các biện pháp hành chính quan liêu, mang nặng tính bao cấp và duy ý chí của các cơ quan chức năng đã khiến các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu không thể có lãi và thậm chí còn bị lỗ do cơ chế. Điều đó có nghĩa là phải sửa lỗi cơ chế chứ không phải khắc phục bằng cách lấy tiền của người sử dụng để “chữa cháy” cho sự điều hành kém hiệu quả của mình.

2- Quản lý Quỹ bình ổn giá xăng dầu: Việc quản lý Quỹ bình ổn cũng gây nhiều bức xúc cho dư luận. Người sử dụng có quyền đặt câu hỏi với Bộ Tài chính và các cơ quan chức năng liệu việc quản lý quỹ đã thật sự minh bạch chưa một khi Quỹ này hiện do các thương nhân đầu mối nắm giữ?. Ở đây chỉ có hai tình huống xảy ra:

1- Với quy mô của Quỹ lên tới hàng trăm ngàn tỷ đồng nhàn rỗi khi chưa được huy động vào mục đích bình ổn giá xăng dầu nếu không được huy động để tạo ra của cải vật chất thì đây là một thiệt hại rất lớn cho toàn xã hội mặt khác nếu một lượng lớn tiền mặt không được lưu thông sẽ tạo ra những ảnh hưởng không nhỏ cho nền kinh tế.

2- Số tiền này đã được các thương nhân đầu mối”chiếm dụng” để làm vốn lưu động thì người chịu sự thiệt thòi vẫn là người sử dụng vì đó là tiền của họ chứ không phải của Nhà nước và lại càng không phải của doanh nghiệp. Mặc dù không có số liệu để chứng minh nhưng chúng tôi tin rằng các nhà kinh doanh xăng dầu không thể không biết tận dụng sự “quan liêu” của các nhà lập pháp Việt Nam để biến Quỹ bình ổn thành nguồn vốn lưu động “không phải trả lãi” trong hoạt động kinh doanh của mình.

Về vấn đề này, chúng tôi cho rằng, Quỹ bình ổn đặt tại doanh nghiệp là đúng và hợp lý nhưng một khi doanh nghiệp sử dụng số tiền nhàn rỗi trong Quỹ để phục vụ mục tiêu kinh doanh của mình thì doanh nghiệp phải trả lãi cho số tiền đó theo mức lãi suất huy động của ngân hàng.

3- Sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu: Việc sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu hiện nay cũng nằm trong tình trạng như việc tăng giảm mức thuế suất nhập khẩu xăng dầu phục vụ mục tiêu ổn định giá bán lẻ. Có nghĩa là, các cơ quan chức năng cũng rất “ngẫu hứng”và đưa ra các quyết định hành chính trong việc sử dụng nguồn Quỹ giới hạn này để thực hiện mục tiêu tối thượng là an sinh xã hội. Thậm chí, khi số tiền trong Quỹ đã sử dụng hết nhưng các cơ quan chức năng vẫn dùng các biện pháp hành chính để bắt thương nhân đầu mối sử dụng vốn lưu động của mình (mà các doanh nghiệp này phải vay ngân hàng) cho việc bình ổn giá bán lẻ xăng dầu. Đây là một bất hợp lý cần sửa đổi. Trong trường hợp này, Nhà nước có trách nhiệm phải hoàn trả doanh nghiệp đầu mối phần lãi ngân hàng cho số tiền lạm chi này. Đây cũng là một trong lý do khiến các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu rất bức xúc với phương thức điều hành và quản lý của các cơ quan chức năng trong thời gian qua.

Những phân tích trên cho thấy, Quỹ bình ổn giá xăng dầu của Việt Nam hiện nay còn quá nhiều bất cập và vô lý từ khâu hình thành, quản lý và sử dụng Quỹ và điều đó tạo ra nhiều bức xúc trong xã hội và gây bất ổn cho thị trường xăng dầu. Để khắc phục những bất cập nói trên, Chính phủ nên có một Quyết định riêng về việc hình thành, quản lý và sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu phù hợp với các quy luật phát triển kinh tế và hoàn cảnh kinh tế – xã hội cụ thể của Việt Nam.

Với công suất 100.000 lít/ tháng, chi phí thực tế để vận hành một cây xăng là 470,093 đồng/lít (mức chi phí này còn chưa tính đến tiền thuê địa điểm và mức hao hụt xăng dầu).

Số liệu Biểu 3 cho thấy, chi phí thực thực tế của một cây xăng có sản lượng 100.000 lít/tháng là 470,093 đồng/lít xăng. Hay nói một cách khác, hoa hồng mà tổng đại lý hoặc doanh nghiệp đầu mối trả cho đại lý phải cao hơn mức chi phí này thì cây xăng mới có thể tiếp tục duy trì hoạt động. Với mức khoán 1160 đồng/lít xăng (860 đồng/lít xăng chi phí định mức và 300 đồng/lít xăng lãi định mức), cho cả 3 khâu nhập khẩu, bán buôn (tổng đại lý) và bán lẻ (đại lý) là quá thấp nay lại cắt giảm lãi định mức để bình ổn giá xăng dầu thì quả là quá bất công đối với các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu.

Các Phương Pháp Bình Ổn Giá Xăng Dầu ?

Tôi không phải là bộ trưởng tài chính hay bộ trưởng công thương, nhưng cũng từng thi toán quốc tế 😀 [Đây là nói bắt chước ông An vụ phó]

Trong khi đợi sự thật đó được lôi ra dưới ánh sáng, chúng ta có thể đặt vấn đề: đâu là các biện pháp hiệu quả để bình ổn giá xăng dầu, còn đâu là các biện pháp lăng băm ?

Theo thiển ý của tôi, có những biện pháp hiệu quả sau (ngoài chuyện cần minh bạch hóa):

1) Sử dụng hợp đồng kỳ hạn cho xuất nhập khẩu xăng dầu

2) Tăng kho dự trữ xăng dầu

3) Tính giá xăng bán lẻ dựa trên giá trung bình của các giá quá khứ (qua nguồn xăng dự trữ và các hợp đồng kỳ hạn) và giá hiện tại. Việc lấy giá trung bình này có tác dụng làm trơn hóa giá, giúp ngăn chặn việc xảy ra các đột biến hỗn loạn hay là các giao động quá lớn về giá.

4) Sử dụng “swap” giữa dầu thô và xăng, qua đó nếu giá dầu thô tăng cao hơn dự kiến khiến cho nhà nước thu được nhiều tiền hơn dự kiến thì lấy phần được hơn dự kiến đó bù vào giá xăng, còn ngược lại nếu giá dầu thô giảm thấp hơn dự kiến, thì lấy giá xăng bù vào chỗ thâm hụt ngân sách do giá dầu thô giảm.

5) Giảm xuất khẩu dầu thô, tăng lọc xăng dầu trong nước, qua đó giảm sự phụ thuộc vào thị trường quốc tế.

– Có thể bình ổn giá xăng bằng cách giảm thuế khi giá dầu thô tăng, và tăng thuế khi giá dầu thô giảm.

– Việc thu thuế cao sẽ khuyến khích tiết kiệm xăng dầu, sử dụng các phương tiện máy móc tốn ít xăng.

– Thuế xăng phục vụ cho cải thiện môi trường bị ô nhiễm do khói xe, sửa chữa nâng cấp đường xá, và các phúc lợi xã hội khác như bệnh viện, trường học, v.v.

– Thuế xăng là cách phân phối lại tài sản để san sẻ của cải từ người giầu sang người nghèo (người giầu, đi xe phân khối to, đi xe nhiều thì phải đóng thuế nhiều; người nghèo thì được hưởng phúc lợi xã hội từ thuế đó)

Trong các biện pháp trên, biện pháp thuế là khó thực hiện nhất, vì nó “unpopular”, và vì việc sử dụng tiền của dân mờ ám không minh bạch nên nhân dân không tin tưởng vào việc tiền thuế của họ thực sự đem lại phúc lợi xã hội chứ không bị ăn chặn đi phần lớn. Do đó cần minh bạch hóa toàn bộ hệ thống tài chính.

Còn đây là lang băm:

– Nhà nước bù lỗ

– Điều khiển giá theo kiểu giật cục, duy ý chí.

Tiểu Luận Thực Trạng Xăng Dầu Tăng Giá Và Các Giải Pháp Bình Ổn Thị Trường Xăng Dầu Trong Nước

ng năm qua tôi chọn đề tài ” Thực trạng xăng dầu tăng giá. Các giải pháp bình ổn thị trường xăng dầu trong nước.” Chương I: TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG XĂNG DẦU THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM I. Thị trường xăng dầu thế giới trong những năm gần đây. 1. Thị trường xăng dầu thế giới năm 2008. Sau khi tăng liên tục từ giữa năm 2007, giá dầu đã gây sốc khi mở đầu năm 2008 bằng việc lần đầu tiên trong lịch sử chạm mốc 100 USD/thùng (03/01/2008) – mốc giá chưa từng có kể từ khi mặt hàng này được đưa vào giao dịch kỳ hạn tại thị trường New York vào năm 1983. Kể từ đó trở đi, giá dầu thế giới liên tiếp lập kỷ lục để rồi sau đó lại phá vỡ và đặt kỉ lục mới là 110 USD/ thùng (03/03/2008). Thị trường dầu mỏ nóng hơn bao giờ hết khi cứ tiếp tục “leo thang không biết mệt”. Tính chung từ đầu năm, giá vàng đen đã tăng hơn 50%. Biểu đồ giá dầu thế giới tính từ ngày 3/12/2007 đến ngày 15/12/2008 dựa trên giá dầu kỳ hạn đóng cửa tại thị trường New York. Có thể nói năm 2008 là năm mà thế giới phải chứng kiến mức trồi sụt giá dầu lớn đến vậy chỉ trong một thời gian ngắn. Đây là một năm lịch sử của thị trường dầu thô từ trước tới nay, khi mà giá “vàng đen” đạt đỉnh cao mọi thời đại 147, 27 USD vào tháng 7, rồi sau đó rớt một mạch hơn 100 USD/thùng, tương đương mức giảm hơn 70%, trong vòng có 4 tháng, về ngưỡng 40USD/thùng. Trong bối cảnh kinh tế thế giới đầy biến động và nhu cầu về năng lượng, như dầu mỏ, than đá, khí đốt… ngày càng tăng nhất là ở những quốc gia đang phát triển thì giá đầu tăng là điều không khỏi ngạc nhiên, thế nhưng tại sao giá dầu lại “nóng” đến đỉnh điểm như vậy? Có thể giải thích nguyên nhân giá dầu tăng mạnh trong thời gian này là do 5 yếu tố sau: Thứ nhất là do hoạt động của giới đầu cơ dầu lửa. Đây là lý do có ảnh hưởng mạnh nhất tới sự leo thang mạnh mẽ của giá dầu. Sự phát triển năng động của các nền kinh tế đang nổi lên như Trung Quốc, Ấn Độ…, sự vững vàng của kinh tế châu Âu, và cuộc khủng hoảng tài chính chưa tác động quá nghiêm trọng tới kinh tế Mỹ… khiến các nhà đầu cơ cho rằng, giá dầu sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới. Bởi vậy, lượng dầu được họ “găm giữ” là rất lớn. Thứ hai giá dầu tăng do sự mất giá của đồng USD. Sự lệch pha trong chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), cộng với sự tương phản giữa hai bức tranh kinh tế Mỹ và châu Âu, đã dẫn tới sự mất giá mạnh của USD trong thời gian nửa đầu năm 2008, và như thế, gián tiếp ảnh hưởng tới giá dầu. Lo ngại sự lan rộng của khủng hoảng nợ dưới chuẩn, FED liên tục hạ lãi suất USD. Trong khi đó, với việc chống lạm phát là mục tiêu số một thì ECB lại chủ trương duy trì lãi suất đồng Euro ở mức cao. Bên cạnh đó, dưới tác động của khủng hoảng, kinh tế Mỹ liên tục phát đi những dữ liệu đáng lo ngại, còn ở châu Âu, do khủng hoảng còn ở xa, các chỉ số kinh tế vẫn hết sức khả quan.Sự trái chiều này đẩy USD xuống mức thấp kỷ lục so với Euro là 1 Euro đổi được 1, 6038 USD (15/7/2008). Do dầu được định giá bằng USD nên tỷ giá USD càng thấp thì giá dầu càng cao và ngược lại. Thứ ba, xung đột vũ trang và bất ổn chính trị tại một số khu vực trên thế giới như ở Trung Đông- khu vực tập trung các nước xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới… cũng là một nguyên nhân khiến cho giá dầu leo thang chóng mặt như vậy. Mỗi khi tình hình chính trị tại các khu vực này có những diễn biến xấu đi là thị trường dầu thế giới lại chứng kiến một phiên tăng giá mạnh. Cụ thể, kỷ lục 147, 27 USD/thùng của giá dầu đã được thiết lập đúng vào ngày 11/7 ngày mà giới đầu tư lo ngại Israel có thể tấn công Iran, làm gián đoạn hoạt động vận chuyển dầu qua Vịnh Ba Tư. Thứ tư, các dự báo giá dầu cũng có ảnh hưởng đáng kể tới diễn biến giá trên thị trường giao dịch dầu thô. Giữa lúc giá dầu đang tăng mạnh, nhiều tổ chức như ngân hàng Goldman Sachs của Mỹ đưa ra dự đoán rằng giá dầu sắp sửa đạt tới mức 200 USD/thùng, hoặc thậm chí là hơn do nhu cầu dầu của thế giới nhất là các nền kinh tế đang nổi lên sẽ tăng mạnh.Trong giai đoạn đang “sốt” giá dầu như thế này thì những dự báo như vậy chẳng khác gì “thêm dầu vào lửa” làm cho giá dầu càng “nóng” hơn. Thứ năm, sự sụt giảm mạnh của thị trường chứng khoán thế giới, nhất là thị trường chứng khoán Mỹ, dưới tác động của khủng hoảng tín dụng bắt đầu năm 2007, đã thúc đẩy giới đầu tư chuyển một lượng vốn lớn sang thị trường hàng hóa để tìm kiếm mức lợi nhuận cao hơn. Trên thị trường này, cùng với vàng thì dầu thô cũng là một trong hai kênh đầu tư được lựa chọn nhiều hơn cả. Chính điều này cũng đã góp phần đẩy giá dầu lên cao như vậy. Tuy nhiên, ngay sau chạm mức 147, 27 USD/ thùng thì giá dầu lập tức bước vào “thời kỳ suy thoái”, giá dầu đã giảm xuống còn khoảng 90 USD/ thùng ngày 03/9 giảm gần 60 USD/ thùng.Giá dầu liên tục diễn biến theo chiều đi xuống, đóng cửa ở mức 40 USD/thùng trong phiên giao dịch ngày 02/12 tại thị trường New York. So với mức đỉnh 147, 27 USD/thùng ngày 11/7 chỉ trong vòng khoảng 4 tháng, giá dầu đã sụt tới hơn 100 USD/thùng, tương đương hơn 70%, đánh dấu năm sụt giảm mạnh chưa từng có của nhiên liệu này. Nguyên nhân đẩy giá dầu “lao dốc” ở giai đoạn này nhìn chung là những yếu tố trái ngược với những gì đã hỗ trợ giá dầu ở giai đoạn trước đó. Có thể thấy, giá dầu giảm thời kỳ này vì 4 nguyên nhân sau: Thứ nhất, do hoạt động bán tháo ồ ạt của giới đầu cơ đầu mỏ và thời kì đầu cơ hàng hoá đã đi vào hồi kết. Vụ phá sản của công ty bán khống dầu Semgroup khiến cho Semgroup phải bán lại hợp đồng cho bộ phận ngân hàng đầu tư của Barclays. Ngay sau khi Semgroup phải bán lại hợp đồng giá dầu bắt đầu “rơi tự do” do các nhà giao dịch dầu lửa ở khắp nơi, bao gồm các quỹ đầu cơ, các ngân hàng và các quỹ lương hưu, bán tháo các hợp đồng kỳ hạn. Với sự “ra đi” của SemGroup và những vụ bán khống quy mô lớn tương tự cũng không còn được thực hiện ở các công ty khác, thị trường dầu mất hẳn một nguồn lực đẩy tăng giá. Hơn nữa cuộc khủng hoảng tài chính leo thang và lan rộng ra phạm vi toàn thế giới đã trở thành nỗi lo chính của mọi quốc gia. Tới quý 4/2008, ba nền kinh tế hàng đầu của thế giới là Mỹ, Nhật Bản và châu Âu đã lần đầu tiên rơi vào suy thoái kể từ Đại chiến Thế giới thứ hai. Sự giảm tốc kinh tế khiến các loại hàng hóa mất dần địa vị là một kênh đầu tư hấp dẫn và giới đầu tư vì thế đã bán đổ bán tháo các loại nguyên liệu thô mà họ nắm giữ. Tính đến ngày 5/12, chỉ số giá của 19 loại nguyên vật liệu thô, trong đó có vàng và dầu thô, đã giảm 35% . Trong đó, sụt giảm mạnh nhất vẫn là giá dầu. Thứ hai là sự phục hồi của đồng USD. Sự chao đảo của thị trường toàn cầu đã thúc đẩy giới đầu tư tổ chức ở Mỹ rút vốn về nước. Bên cạnh đó, khủng hoảng cũng thúc đẩy các nhà đầu tư quốc tế đổ vốn mạnh vào trái phiếu Chính phủ Mỹ – kênh đầu tư siêu an toàn. Mặt khác, tương quan kinh tế xấu đi của châu Âu tạo cơ sở cho sự thoái lui của đồng Euro. Thêm nữa, tình trạng thắt chặt tín dụng khiến USD trở nên khan hiếm. Những yếu tố này đã giúp USD lên giá mạnh so với Euro trong một thời gian. Thứ ba, do thua lỗ trầm trọng trên thị trường chứng khoán và kẹt tiền mặt nghiêm trọng, giới đầu tư quốc tế phải bán ra các loại hàng hóa để có tiền bù lỗ. Thời gian này, sự đi xuống của chứng khoán thường tạo áp lực mất giá cho hàng hóa, trong đó có dầu, thay vì là một yếu tố hỗ trợ như trước đây. Thứ tư, các dự báo giá dầu lúc này đã được điều chỉnh giảm mạnh. Việc các nền kinh tế hàng đầu suy thoái và các nền kinh tế đang nổi lên, đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ, và Nga, cũng phát đi những tín hiệu đáng lo ngại như sản xuất công nghiệp và xuất khẩu giảm tốc mạnh, niềm tin giới doanh nghiệp sa sút… đã khiến giới quan sát không thể duy trì dự báo tăng trưởng nhu cầu dầu và giá dầu cao như trước đây. 2. Thị trường xăng dầu thế giới năm 2009. Sau khi lập kỷ lục cao trong lịch sử là 147,27 USD/thùng vào năm 2008, giá dầu đã giảm xuống mức thấp nhất chỉ 32,70 USD/thùng vào ngày 20/1/2009 và đạt trung bình 62 USD/thùng trong cả năm qua.Việc nhu cầu giảm mạnh do suy thoái kinh tế là nguyên nhân chính khiến giá dầu giảm vào nửa đầu năm 2009. Tuy nhiên, kinh tế hồi phục đã kéo dầu tăng giá trở lại. Mức cao kỷ lục của năm 2009 là 82 USD/thùng đạt được vào ngày 21/10/2009.Giá dầu thô ngọt nhẹ tại New York trung bình trong quý IV/2009 là 74,90 USD/thùng. Giá dầu thô ngọt nhẹ đã tăng lên 82 USD/thùng vào tháng 10/2009, sau đó giảm trở lại 70 USD/thùng vào tháng 11 do đồng USD tăng giá và nguồn cung dư thừa trên toàn cầu. Tính trung bình năm 2009, giá dầu thô đạt 63, 10 USD/thùng, cũng cao hơn mức 60, 80 USD/thùng mà các nhà phân tích dự báo trước đó. Giá các sản phẩm dầu thế giới sáng ngày 02/11/2009 Loại dầu Thị trường Giá Chênh lệch % thay đổi Dầu thô brent ( USD/ thùng) Luân Đôn 75,250 0,050 0,07 Nhiên liệu điêzen(ICE)(USD/tấn) Luân Đôn 632,520 – 18,750 – 2,88 Xăng RBOB (UScent/gallon) New York 196,400 0,450 0,23 Dầu đốt(UScent/gallon) New York 200,910 0,390 0,19 Khí đốt tự nhên(USD/MMB tu) New York 5,080 0,035 0,69 Dầu thô WTI(USD/ thùng) New York 76,870 – 0,130 – 0,17 3. Thị trường xăng dầu thế giới năm 2010. Thị trường dầu mỏ thế giới tuần đầu tiên của năm 2010 đã tăng giá khá mạnh lên trên 80 USD/thùng.Trong tháng 3 giá dầu thô diễn biến theo hướng tăng lên vào cuối tháng. Giá dầu thô WTI thấp nhất trong tháng là 78, 83$/thùng vào ngày 01.3.2010 và cao nhất là 83, 76 USD/thùng vào ngày 31.3.2010. Trong những tháng tiếp theo giá dầu liên tiếp tăng. Tuy nhiên giá dầu tăng không đồng đều thậm chí là ” trái chiều” ở các thị trường .Kết thúc phiên 18/10, giá dầu ngọt nhẹ giao tháng 11/2010 tại New York tăng 1,83 USD lên 83,08 USD/thùng và giá dầu Brent Biển Bắc giao tháng 12/2010 tại London tăng 1,92 USD lên 84,37 USD/thùng.Tuy nhiên, giá dầu thô lại giảm nhẹ tại thị trường châu Á trong phiên ngày 19/10, do những lo ngại về đà hồi phục kinh tế Mỹ đè nặng lên tâm lý của giới đầu tư. Chiều cùng ngày tại sàn giao dịch điện tử Singapore, giá dầu ngọt nhẹ giao tháng 11/2010 giảm 34 xuống 82, 74 USD/thùng. Giá bình quân sản phẩm dầu nửa đầu tháng 11.2010 so với cùng kỳ tháng 10.2010 Hiện tại thì giá dầu thô cũng như các sản phẩm từ xăng dầu vẫn biến động không ngừng. Giá dầu thô tại thị trường New York (Mỹ) đã tăng lên gần 86 USD/ thùng trong phiên giao dịch ngày 30/11. Dự đoán cho đến cuối năm 2010 giá dầu sẽ vẫn tiếp tục tăng do nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng khi thời tiết ở các nước ở Bắc Mỹ ngày càng lạnh hơn II. Thực trạng thị trường xăng dầu Việt Nam trong những năm gần đây 1.Thực trạng Thị trường xăng dầu Việt Nam ” bất ổn” trong những năm gần đây.Bắt đầu từ năm 2008 giá xăng dầu đã được Nhà Nước cho “thả nổi” theo giá thị trường nên thị trường xăng dầu Việt Nam luôn biến động theo sự biến động thị trường xăng dầu thế giới.Thời điểm năm 2008 khi giá dầu trên thị trường thế giới chạm mức 147,27 USD/thùng giá xăng trong nước lên tới 19.000đ/ 1lít. Từ đó đến nay đến nay giá xăng đã được điều chỉnh nhiều lần để theo kịp sự biến động của giá xăng dầu trên thế giới. Tuy nhiên giá xăng dầu nhiều lúc lại không đi theo giá trên thị trường thế giới, có những lúc giá xăng dầu thế giới xuống thấp nhưng giá xăng trong nước vẫn tăng nhiều khi giá xăng trong nước còn cao hơn cả giá xăng trên thế giới. Diễn biến giá xăng A92 từ đầu năm 2008 đến nay Thời điểm Giá xăng A92 (đồng/lít) Thời điểm Giá xăngA92 (đồng/lít) 25/02/2008 14.500 07/05/2009 12.500 21/07/2008 19.000 10/06/2009 13.500 14/08/2008 18.000 01/07/2009 14.200 27/08/2008 17.000 08/08/2009 14.700 07/10/2008 16.500 30/08/2009 15.700 17/10/2008 16.000 01/10/2009 15.200 18/10/2008 15.500 24/10/2009 20/11/2009 16.300 31/10/2008 15.000 15/12/2009 15.950 08/11/2008 14.000 14/01/2010 16.400 15/11/2008 13.000 21/02/2010 16.990 01/12/2008 12.000 27/05/2010 16.490 10/12/2008 11.000 08/06/2010 15.990 02/04/2009 11.500 09/08/2010 16.440 11/04/2009 12.000 27/11/2010 16.400 Nhìn vào bảng trên có thể thấy giá xăng tăng liên tiếp nhưng giảm rất ít ví dụ năm 2009 giá xăng tăng 9 lần nhưng chỉ giảm 2 lần mặc dầu diễn biến giá dầu thô trên thị trường thế giới biến động không nhiều chỉ tăng nhẹ rồi sau đó giảm thế nhưng giá xăng trong nước chỉ có tăng mà không giảm. Thời điểm 11/4/2009 đánh dấu mức tăng liên tiếp đến 1/10/2009 mới giảm nhẹ rồi lại tiếp tục tăng. Thực tế hệ thống phân phối bán lẻ xăng dầu của nước ta vẫn là hệ thống cửa hàng một giá, các doanh nghiệp không có sự cạnh tranh về giá trên thị trường xăng dầu. Thực tế thời gian qua cho thấy, khi giá xăng dầu thế giới tăng, để đảm bảo lợi ích của mình, các doanh nghiệp đầu mối sẽ làm thủ tục để xin tăng giá bán lẻ xăng dầu trong nước. Ngược lại khi giá thế giới giảm, nhưng các doanh nghiệp xăng dầu thường chần chừ giảm giá bán. 2. Nguyên nhân. Mặc dầu thị trường xăng dầu đã chuyển sang cơ chế thị trường thế nhưng vẫn chưa thật sự theo bản chất” thị trường” của nó mà dường như thị trường xăng dầu Việt Nam đang tồn tại ” độc quyền nhóm”. Nhà nước hãy còn nhúng tay quá sâu, còn doanh nghiệp vẫn chưa có được cạnh tranh thật sự. Các doanh nghiệp nước ngoài vẫn chưa thể thâm nhập vào thị trường nội địa. Hiện tại cả nước có 11 doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu trong đó Petrolimex chiếm 55% thị phần,10 doanh nghiệp còn lại đều là các doanh nghiệp nhỏ sức cạnh tranh không thể bằng Petrolimex.Các doanh nghiệp được phép tự do định giá bán lẻ xăng dầu nhưng từ trước đến nay, tất cả doanh nghiệp khi tăng hay giảm giá đều áp chung một mức giá, không có doanh nghiệp nào đề cập đến giá khác. Đây có thể là một hiện tượng câu kết của các doanh nghiệp trên để thao túng thị trường. Công tác phân tích và dự báo thị trường của các doanh nghiệp chưa tốt. Khi giá cao hay thấp thì các doanh nghiệp vẫn mua vào. Việc làm này quá cứng nhắc và không linh hoạt dẫn đến việc ở thời điểm giá dầu thế giới xuống thấp nhưng các doanh nghiệp không lợi dụng mua vào để đến lúc người ta dự báo giá lên cao lại mua vào với số lượng lớn nhưng sau đó giá dầu thế giới không tăng mà giảm liên tục. Điều này cũng lý giải tại sao mặc dù theo cơ chế thị trường nhưng khi giá dầu thế giới giảm nhưng giá xăng trong nước lại không giảm thậm chí còn tăng thêm. Hiện nay, hầu hêt các giao dịch mua bán xăng dầu đều dựa trên giá thả nổi. Giá thả nổi là giá được xác định dựa trên chỉ số giá của thời kì giao hàng. Vào thời điểm kí hợp đồng cả bên mua và bên bán đều chưa xác nhận được giá trị của lô hàng, chỉ đến ngày giao hàng giá này mới được xác định bằng chỉ số Platts của ngày hôm đó. Vì vậy để giá hợp đồng thả nổi theo giá thị trường, các công ty không thể kiểm soát được lợi nhuận của mình. Vì không được bảo hiểm giá nên các nhà nhập khẩu Việt Nam hoàn toàn có thể bị bắt nạt. Thời gian giao hàng có thể rơi vào lúc chí số giá lên cao hoặc cố thình bị đẩy lên cao. Vì vậy, có thể doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu xăng dầu với giá trung bình cao hơn thị trường thế giới. Chương II. ẢNH HƯỞNG CỦA XĂNG DẦU TĂNG GIÁ TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM Việt Nam là nước phải nhập khẩu gần như100% sản phẩm xăng dầu mặc dầu nhà máy lọc dầu Dung Quất đã bắt đầu đi vào hoạt động nhưng sản lượng dầu vẫn chưa đáp ứng được nhiều nhu cầu trong nước; trong những năm gần đây giá cả xăng dầu, dầu mỏ thế giới tăng liên tục đến mức chóng mặt, dĩ nhiên sự gia tăng giá xăng dầu trên thị trường thế giới cũng kéo theo sự gia tăng liên tục của giá xăng dầu tại thị trường Việt Nam trong năm 2010 đến thời điểm ngày22/11 thì giá xăng dầu đã tăng 5 lần. Tuy nhiên, nhờ nhiều biện pháp can thiệp kịp thời của Chính phủ nên biến động giá xăng dầu ở nước ta chưa đến mức cao như mức bình quân trên thị trường thế giới, nhưng giá xăng dầu cũng đã khá cao này nếu duy trì trong một thời gian dài cũng đặt ra nhiều vấn đề kinh tế đáng để các nhà hoạch định chính sách xem xét. Trong nhưng năm gần đây nhất là từ năm 2008 đến nay từ khi Chính Phủ quyết định bãi bỏ chính sách bù lỗ xăng dầu thì mặt hàng xăng dầu đã điều chỉnh tăng giá nhiều lần theo diễn biến của thị trường dầu mỏ thế giới. Giá xăng dầu tăng vừa có ảnh hưởng tích cực vừa có ảnh tiêu cực lên nền kinh tế nhưng chủ yếu là tác động tiêu như ảnh hưởng tới giá cả thị trường các mặt hàng và sức ép tăng giá như tăng giá điện,cước vận tải, gây sốc trên thị trường chứng khoán,gây bất lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp… Có thế tóm tắt ảnh hưởng của tăng giá xăng dầu bằng mô hình sau: Xăng dầu Tiêu dùng cuối cùng (nhiên liệu cho đi lại, đun nấu…) Tiêu dùng trung gian (nhiên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất, chế biến..) Tái cấu trúc nền kinh tế, dịch chuyển lợi thế cạnh tranh ảnh hưởng đến các nghành, ảnh hưởng đến đời sống dân cư… Tăng giá các mặt hàng khác(ảnh hưởng gián tiếp, dây chuyền) Tăng mức giá chung Sức ép tăng lương Giảm sức ép lên ngân sách do cắt giảm trợ giá Giảm sức ép thâm hụt ngân sách, giảm mức vay nợ hoặc thu thuế trong tương lai Giảm méo mó trong nền kinh tế,giúp ổn định vĩ mô trong dài hạn Nhập khẩu Biểu đồ lược tả ảnh hưởng của việc tăng giá xăng dầu 1. Ảnh hưởng tới các doanh nghiệp. Xăng dầu là yếu tố quan trọng trong đầu vào của phần lớn các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, vận tải và khai thác thuỷ hải sản. Khi xăng dầu tăng giá ảnh hưởng tới hàng loạt các mặt hàng cung ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng tăng giá theo ví dụ như tăng giá điện, hay chi phí vận tải…. dẫn đến việc tăng giá sản phẩm, dịch vụ. Một số hoạt động kinh tế và hàng hoá có tỷ trọng đầu vào là xăng dầu cao ( trên 10%) và mức độ tăng giá sản phẩm sau đợt tăng giá vào tháng 7/ 2008 Tên hàng hoá Tỷ trọng xăng dầu(%) Tăng giá (%) Đánh bắt thuỷ hải sản 23,57 7,31 Sản xuất các phương tiện giao thông 16, 87 5,23 Xăng dầu 42,22 – Điện và gas đốt 12,15 3,77 Giao thông đường bộ 19,85 6,15 Giao thông đường sắt 11,24 3,48 Giao thông đường thuỷ 30,09 10,57 Giao thông đường không 21,30 6,60 ( theo SAM 2000- Tổng Cục Thống Kê Việt Nam ,CIEM) Giá xăng dầu tăng ảnh hưởng lớn nhất đến các doanh nghiệp vận tải đầu tiên và trực tiếp là việc giá cước vận tải tăng. Biểu hiện là các hãng taxi đồng loạt tăng giá cước. Các doanh nghiệp vận tải cũng trong cảnh lao đao do giá xăng dầu cao. Ví dụ công ty vận tải Hoàng Long trong đợt tăng giá đầu năm 2008 đã phải chịu lỗ 13 tỷ đồng vào quý 2/ 2008. Giá các loại vé xe, tàu dịch vụ vận tải liên tục tăng để đảm bảo doanh nghiệp kinh doanh không bị lỗ. Ảnh hưởng tiếp theo của việc xăng dầu tăng giá là ảnh lưởng lớn đến các việc đánh bắt thuỷ hải sản. Do giá xăng dầu cao nên chi phí đánh bắt tăng gây không ít khó khăn cho nghề đi biển bởi vì ngư dân không thể tự điều chỉnh giá khai thác được. Hiện có nhiều tàu phải” nằm bờ”vì không theo kịp giá nhiên liệu, nhiều ngư dân lâm vào tình trạng ” tiến thoái lưỡng nan”. Ngoài ra khi xăng dầu tăng giá thì giá các loại vật liệu xây dựng, xi măng, sắt thép cũng liên tục tăng gây ảnh hưởng lớn tới các doanh nghiệp xây dựng trong áp lực phải hoàn thành công trình.Xăng dầu tăng giá làm cho chi phí đầu vào của các doanh nghiệp tăng gây ảnh hưởng tới sản xuất và tăng giá thành sản phẩm làm cho giá cả các mặt hàng trên thị trường tăng gây lạm phát và sức ép tăng lương…Bên cạnh đó xang dầu tăng giá cũng ảnh hưởng không nhỏ tới thị trường chứng khoán và thị trường vàng. Giá vàng tăng liên tiếp vào đúng thời điểm giá dầu thô thế giới tăng mạnh. Từ đó đến nay thị trường vàng cũng “biến động” giống với thị trường dầu mỏ 2. Ảnh hưởng đến đời sống của người dân Hiện nay, xe gắn máy là phương tiện đi lại chủ yếu của hầu hết các hộ gia đình. Do đó giá bán lẻ xăng dầu tăng đồng nghĩa với việc phải chi tiêu nhiều hơn cho sử dụng xe gắn máy trong quá trình đi lại.Việc giá xăng dầu cao và ngày càng tăng làm giảm mức sống của dân cư xuống dưới mức lẽ ra đã có thể đạt được do tổng tiêu dùng tăng lên tương đối so với thu nhập. Hơn nữa mặt hàng xăng dầu tương đối không co giãn so với giá- nghĩa là giá tăng nhưng người sử dụng phương tiện vận tải cơ giới vẫn phải sử dụng do không có nhiên liệu khác thay thế. Do vậy khi giá xăng dầu tăng thì người tiêu dùng ít có thu nhập hơn dùng để chi tiêu cho hàng hoá khác. Giá xăng dầu tăng cũng sẽ tác động tiêu cực về mặt tâm lý. Như chúng ta đã biết yếu tố tâm lý luôn gây phản ứng dây chuyền đội giá của các hàng hóa, dịch vụ khác theo vòng luân chuyển tiếp theo. Tác động tâm lý này trên thực tế lại xảy ra với thị trường Việt Nam thường cao hơn rất nhiều so với những dự liệu. Cứ mỗi lần xăng tăng giá là ngay lập tức các mặt hàng khác cũng tăng giá chóng mặt nhất là các hàng về thực phẩm, nguyên vật liệu xây dựng, …Giá cả tăng cao mà đồng lương không có gì thay đổi cộng thêm việc tiền mất giá thì áp lực chi tiêu ngày càng trở nên ” ngột ngạt” nhất là đối với những người có thu nhập thấp. Giá xăng dầu tăng cũng ảnh hưởng đến việc tăng giá gas và các loại dầu dùng để đun nấu cũng ” nóng” liên tục theo xu hướng của thị trường xăng dầu. Trong những năm gần đây giá gas đã tăng liên tục tác động rất lớn đến đời sống của người dân nhất là người có thu nhập thấp ở thành thị do tăng giá gas và các loại dầu đốt càng làm tăng gánh nặng chi tiêu nhất là trong thời điểm giá cả leo thang, lạm phát và đồng tiền mất giá như hiện nay. Hiện nay giá gas đang ở mức 335. 000 đ/ bình 12 kg. Dự kiến giá gas vẫn có thể tiệp tục tăng trong thời gian tới do giá gas chịu ảnh hưởng trực tiếp theo giá cả thị trường gas thế giới… Chương III. DỰ ĐOÁN THỊ TRƯỜNG XĂNG DẦU VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020. Theo như dự đoán của Cơ quan năng lượng quốc tế IEA thì nhu cầu dầu mỏ của thế giới tiếp tục tăng trong vòng 25 năm tới trong đó 1/3 nhu cầu mới sẽ là của Trung Quốc. IEA dự đoán nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ tăng 18% ( vào năm 2035) chủ yếu ở các nước đang phát triển. Theo như xu hướng của nhu cầu dầu mỏ thế giới và tình hình thị trường xăng dầu mấy năm gần đây có thể thấy rằng nhu cầu về xăng dầu cũng như các sản phẩm xăng dầu của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới. Nhất là Việt Nam đang trong giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá thì nhu cầu về năng lượng phục vụ cho quá trình sản xuất sẽ rất lớn. Hơn nữa với tốc độ phát triển kinh tế đời sống của người dân được nâng cao nhu cầu sử dụng các phương tiện cá nhân đi lại, cũng như sử dụng gas và các loại chất đốt tăng nhanh. Nói tóm lại, trong 20 năm tới nhu cầu xăng dầu của Việt Nam sẽ tăng mạnh. Báo cáo mới nhất về tình hình dầu khí Việt Nam dự báo lượng dầu tiêu thụ ở Việt Nam dự kiến tăng 101% trong giai đoạn 2007- 2018. Nhu cầu khí đốt của Việt Nam dự kiến tăng từ 7,7 tỷ m3 năm 2007 lên tới 22 tỷ m3 vào năm 2013 và sản lượng khí đốt cũng tăng từ 7,7 tỷ m3 năm 2007 lên 25 tỷ m3 vào 2018. Với dự báo này, sản lượng khí đốt của Việt Nam chỉ vừa đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước. Với tình hình trên thì chắc chắn giá xăng dầu sẽ tiếp tục tăng và biến động theo thị trường thế giới. Mặc dầu nhà máy lọc dầu Dung Quất đã đi vào hoạt động phần nào đó đáp ứng nhu cầu trong nước thế nhưng Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn xăng dầu nhập khẩu. Thế nên những năm tới chắc chắn thị trường xăng dầu sẽ ” nóng” theo nhịp thị trường thế giới. CHƯƠNG IV. KẾT LUẬN Trước diễn biến của giá dầu thô thế giới trong vài năm trở lại đây liên tục tăng nhanh, đặc biệt là gần đây giá dầu thô đã vượt mức 147 USD/thùng ( 2008) đã gây sức ép đối với giá xăng dầu trong nước làm cho giá xăng dầu trong nước liên tục tăng. Trong khi Việt Nam là nước nhập khẩu gần như 100% xăng dầu thành phẩm thì giá xăng dầu là đương nhiên. Mặc dầu thị trường xăng dầu đã được thả nổi theo giá cả thị trường điều này là hoàn toàn đúng thế nhưng thị trường xăng dầu Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề cần phải xem xét. Nhiều khi giá xăng dầu vẫn ngược chiều với giả cả thị trường thế giới. Xăng dầu tăng giá và những bất cập trong quản lý và kinh doanh xăng dầu đã có tác động không nhỏ tới các doanh nghiệp và người tiêu dùng. Vì vậy Nhà nước cũng như các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu nhất thiết phải tìm ra các biện pháp để phát triển thị trường xăng dầu trong nước, bình ổn giá cả tìm ra hướng đi của thị trường xăng dầu trong nước để giảm thiểu những tác động và thiệt hại tới nền kinh tế đảm bảo đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nhưng cũng đảm bảo ổn định giá cả và phát triển bền vững vì mục tiêu phát triển kinh tế chung của đất nước. Chương V. CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG XĂNG DẦU TRONG NƯỚC 1. Giải pháp ” thị trường hoá” thị trường xăng dầu. Tăng tính thị trường cho thị trường xăng dầu. Nhà Nước thực sự trao quyền kinh doanh cho doanh nghiệp và chỉ kiểm soát ở tầm vĩ mô không nên can thiệp quá sâu. Cần phải lập kho dự trữ xăng dầu quốc gia để điều tiết thị trường xăng dầu bên cạnh việc sử dụng quỹ bình ổn xăng dầu. Kho dự trữ với trữ lượng đủ mạnh khi giá tăng thấy cần thiết Nhà Nước có thể bán dầu từ kho dự trữ. Đây là cách giúp giảm giá hiệu quả hơn là bỏ tiền trực tiếp ra bù lỗ cho các doanh nghiệp, giá giảm Nhà Nước vẫn thu được tiền thậm chí có lãi. Tăng tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu. Hiện tại Việt Nam có 11 doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu là quá nhiều nhưng hoạt động không có sức cạnh tranh. Trong khi đó các nước như Mỹ, Singapore,… chỉ có khoảng 3-4 doanh nghiệp kinh doanh

Bình Ổn Giá Xăng Dầu: Dùng Tiền Của Dân, Nhưng Dân Không Được Hưởng

– “Họ nói rất rõ là không được hưởng lợi nhiều từ các chương trình bình ổn giá. Rốt cục, cái bình ổn giá đấy là lấy tiền của dân để thực hiện, nhưng việc hưởng lợi đối với người dân lại không nhiều”

– Nhà nước đang thực hiện các biện pháp can thiệp thị trường mang tính hành chính như đối với giá xăng, giá dầu. Nên chăng Nhà nước can thiệp bằng cách thiết lập tính cạnh tranh hơn cho thị trường xăng, dầu, điện, minh bạch hơn về chi phí để người dân tin tưởng hơn.

– “Để đảm bảo an sinh xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, như mục đích của chương trình bình ổn giá, có lẽ cần có cách làm, thậm chí là chính sách mới hiệu quả và minh bạch hơn”

“Họ nói rất rõ là không được hưởng lợi nhiều từ các chương trình bình ổn giá. Rốt cục, cái bình ổn giá đấy là lấy tiền của dân để thực hiện, nhưng việc hưởng lợi đối với người dân lại không nhiều”, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, cũng nằm trong nhóm tác giả thực hiện báo cáo Thay đổi cảm nhận nhận về Nhà nước và Thị trường của người Việt Nam năm 2014 (CAMS 2014) cho biết.

Bình ổn giá cả hàng hóa thiết yếu trên thị trường luôn là mối quan tâm của Chính phủ Việt Nam, nhằm hỗ trợ cho đối tượng chính là người có thu nhập thấp, đời sống khó khăn do bão giá của lạm phát, chính vì vậy, có rất nhiều quy định và chính sách được ban hành để thực hiện mục tiêu này.

Tuy nhiên, với 8 mặt hàng thiết yếu phổ biến đối với người dân Việt Nam gồm Sữa, Gas, Xăng dầu, Thuốc phòng bệnh – chữa bệnh thiết yếu, Thực phẩm, Điện, Gạo, Nước sạch, thì Xăng dầu là loại mặt hàng có sự can thiệp của nhà nước mà tỷ lệ người trả lời cho biết ít/không hưởng lợi là cao nhất (66%). Tiếp đến là sữa (60%), gas (59%), điện (58%), thuốc phòng bệnh chữa bệnh thiết yếu (55%).

Phân tích dữ liệu theo thời gian về hiệu quả của chương trình bình ổn giá cho kết quả khá thú vị. Năm 2011, trong số 208 người tham gia điều tra, có 63% đánh giá chương trình bình ổn là rất/khá hiệu quả. Sau 3 năm quan sát, tỷ lệ nhóm này đã giảm 8% xuống còn 55%. Đáng lưu ý, mức độ sụt giảm mạnh nhất khi đánh giá hiệu quả của chương trình bình ổn là ở nhóm các cơ quan chính phủ và bộ ngành, từ 68% xuống còn 42%…

Dù chưa được hưởng lợi nhiều từ việc nhà nước can thiệp giá đối với các mặt hàng thiết yếu, phần lớn người trả lời vẫn cho rằng là hoàn toàn cần thiết/cần thiết để Nhà nước can thiệp.

Ba mặt hàng được nhiều người cho rằng cần thiết có sự can thiệp giá của nhà nước bao gồm thuốc phòng/chữa bệnh (90%), điện (87%) và xăng dầu (85%). Hai mặt hàng khác cũng có sự quan tâm lớn của người trả lời là nước sạch (82%) và gas (81%). Những mặt hàng này đều là những mặt hàng còn nằm trong tay những nhóm độc quyền hoặc chi phối thị trường để quyết định giá cả.

Thị trường: Không thể 1 người bán, chục người mua

Về tâm lý mâu thuẫn của người dân khi một mặt thấy sự can thiệp của Nhà nước không hiệu quả, một mặt vẫn muốn Nhà nước can thiệp, TS Nguyễn Đức Độ – Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính – cho rằng do người dân đang mất niềm tin vào thị trường.

“Họ muốn tin tưởng vào thị trường, nhưng không muốn tin tưởng vào doanh nghiệp trên thị trường. Vừa rồi có nhiều vụ việc xảy ra như thức ăn không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, hay xăng, dầu, điện còn tính độc quyền cao… Chính những yếu tố ấy làm người dân ít tin tưởng vào thị trường hơn, mặc dù người ta vẫn nghĩ cơ chế thị trường là cơ chế ưu việt”.

TS. Độ cũng cho rằng, hiện Nhà nước đang thực hiện các biện pháp can thiệp thị trường mang tính hành chính như đối với giá xăng, giá dầu. Ông Độ cho rằng Nhà nước nên chăng can thiệp bằng cách thiết lập tính cạnh tranh hơn cho thị trường xăng, dầu, điện, minh bạch hơn về chi phí để người dân tin tưởng hơn.

“Chi phí của doanh nghiệp không phải cái dễ nắm bắt để từ đó định ra chi phí hợp lý. Cách kiểm soát chi phí sau đó định giá tôi nghĩ không khả thi. Quan trọng nhất là xây dựng thị trường có tính cạnh tranh hơn, lúc đó, mọi người sẽ tin tưởng vào cơ chế thị trường nhiều hơn”, TS. Độ nhận định.

Hiện nay, với mặt hàng xăng dầu, ngoài các yếu tố đầu vào như giá xăng thế giới, tỷ giá, mức trích quỹ bình ổn giá và các loại thuế, phí liên đới, giá xăng dầu còn phải “gánh” cả lợi nhuận định mức cho doanh nghiệp ở mức 300 đồng/lít.

Nói về chương trình bình ổn giá, TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng bình ổn giá không phải là chương trình thúc đẩy kinh tế thị trường.

“Giá do Nhà nước kiểm soát. Vấn đề là ở chỗ chúng ta chuyển sang kinh tế thị trường phải thiết lập được một thể chế thị trường để thị trường đó vận hành. Giờ một người bán chục người mua thì không còn là một thể chế thị trường”, TS. Cung nhìn nhận.

“Để đảm bảo an sinh xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, như mục đích của chương trình bình ổn giá, có lẽ cần có cách làm, thậm chí là chính sách mới hiệu quả và minh bạch hơn”, báo cáo CAMS 2014 nhận định.

Bạn đang xem bài viết Các Biện Pháp Bình Ổn Giá Xăng Dầu Của Việt Nam trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!