Xem Nhiều 3/2023 #️ Các Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Học Sinh Bỏ Học Ở Trường Thpt Lê Lai # Top 9 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 3/2023 # Các Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Học Sinh Bỏ Học Ở Trường Thpt Lê Lai # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Các Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Học Sinh Bỏ Học Ở Trường Thpt Lê Lai mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

A. ĐẶT VẤN ĐỀ Để một nền kinh tế bền vững thì nhân tố con người luôn đóng vai trò quyết định. Vì vậy, không chỉ Việt Nam mà tất cả các nước trên thế giới đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Cùng với xu hướng trên, Việt Nam luôn tạo mọi điều kiện để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật cho người lao động, nhằm đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Tuy giáo dục đóng vai trò quan trọng là vậy, nhưng thời gian gần đây dư luận đang ” nóng ” lên vì những thông tin học sinh bỏ học. Theo kết quả kiểm tra phong trào thi đua ” trường học thân thiện học sinh tích cực ” năm học 2011-2012 tại 12 tỉnh thành gồm có : Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Bình Định, Quảng Ngãi, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Sóc Trăng, Hậu Giang, TP Hồ Chí Minh con số bỏ học tính riêng học kỳ I lên tới gần 14.000, nhiều nhất là TP HCM với trên 5.600. Số vụ học sinh đánh nhau là 384 (nhiều nhất là ở Quảng Ninh 169 vụ), số học sinh vi phạm bị kỷ luật là 376 (nhiều nhất là Lạng Sơn 151 em).Tình trạng học sinh bỏ học đang tăng hàng loạt ở các địa phương khiến những ai quan tâm đến giáo dục không khỏi băn khoăn, trăn trở. Nếu vấn đề này không được quan tâm đúng mức sẽ đưa đến những hậu quả xấu cho chính bản thân các em, gia đình các em và xã hội. Có thể thấy rằng, việc khắc phục tình trạng học sinh bỏ học hiện nay là vấn đề hết sức bức thiết và đòi hỏi sự quan tâm của tất cả các ban ngành. Là một giáo viên chủ nhiệm lớp từ nhiều năm nay, bản thân tôi cũng đúc rút ra một số kinh nghiệm mà tôi đã thực hiện và thấy có hiệu quả nên tôi chọn đề tài: ” Các giải pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học ở trường THPT Lê Lai – Ngọc Lặc Thanh Hóa”, nhằm góp phần tìm hiểu thực trạng và nêu lên những suy nghĩ về biện pháp khắc phục vấn đề này. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Cơ sở lý luận của vấn đề Bỏ học là hiện tượng xảy ra trong phạm vi nhà trường. Đó là hiện tượng học sinh rời khỏi ghế nhà trường khi đang ở giai đoạn được giáo dục thuộc cấp học mà học sinh đó được tuyển sinh. Bỏ học trước hết là ảnh hưởng đến bản thân học sinh sau đó ảnh hưởng đến gia đình và xã hội.

1

Đối với bản thân học sinh sẽ làm cho học sinh không có đủ những kiến thức cơ bản để đi vào cuộc sống lao động sản xuất hoặc tiếp tục học lên trên. Hiện nay, trong lao động sản xuất đòi hỏi người lao động phải có một trình độ nhất định về văn hoá phổ thông và trình độ về kĩ năng nghề nghiệp. Bỏ học ở bậc trung học phổ thông còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội.Gia đình phải tốn kém hơn về kinh tế, phải bỏ ra một khoản tiền đầu tư thêm cho con em mình học lại, xã hội phải tốn kém hơn về công sức và tiền của trong việc đầu tư sức lực và kinh phí để giải quyết vấn đề nâng cao dân trí. II. Thực trạng của vấn đề. 1. Cơ sở thực tiễn. Huyện Ngọc Lặc là huyện miền núi, đang được UBND tỉnh Thanh Hóa quy hoạch thành trung tâm kinh tế phía tây của tỉnh. Để đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện của Huyện, giáo dục đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực có kiến thức, có tay nghề và trình độ kỹ thuật cao. Trong đó không đơn thuần chỉ từ phía giáo dục Đại học – Cao đẳng, mà nó là của cả ngành giáo dục, trong đó không kém phần quan trọng là giáo dục phổ thông. Hiện nay trên toàn địa bàn huyện Ngọc Lặc có tất cả 03 trường trung học phổ thông và 01 trung tâm giáo dục thường xuyên với 03 cụm, đó là những nơi để có thể phát triển nguồn nhân lực chính cho Huyện nhà. Trường THPT Lê Lai là một trong ba trường trung học phổ thông của huyện Ngọc Lặc, trường đóng trên địa bàn của xã Kiên Thọ, là huyện miền núi nên đa số học sinh của trường là con em nông thôn, đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn thiếu thốn, nhận thức của người dân về học tập chưa cao, độ tuổi các em học sinh THPT lại là độ tuổi lao động chính của các gia đình, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhiều học sinh phải bỏ học, là hiện tượng đáng lo ngại, cần được quan tâm và suy nghĩ. 2. Nguyên nhân học sinh bỏ học. Trong những năm học trước do số học sinh của nhà trường bỏ học nhiều. Cụ thể năm học 2010 – 2011 là 60 em, năm học 2011 – 2012 là 62 em, năm học 20122013 là 61 em. Qua tìm hiểu thực tế tôi được biết học sinh trường THPT Lê Lai – Ngọc Lặc bỏ học gồm một số nguyên nhân sau: 2.1/ Nguyên nhân từ phía gia đình học sinh: Địa bàn tuyển sinh của trường THPT Lê Lai gồm 10 xã, nhưng có tới 05 xã thuộc vùng 135 đó là Vân Am, Phùng Giáo, Phùng Minh, Phúc Thịnh, Nguyệt Ấn, như vậy có khoảng 50% số học sinh trong trường thuộc vùng 135, vì điều kiện kinh 2

tế của gia đình còn quá khó khăn, cha mẹ các em phải đi làm ăn xa ( trong thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Lâm Đồng…) nên ít có điều kiện quan tâm đến việc học của con em. Những đối tượng học sinh này phần lớn sống với ông bà, những người bà con, các em ít được chỉ bảo, động viên trong việc học dẫn đến học yếu,chán nản và bỏ học. Bên cạnh đó có một số đối tượng do hoàn cảnh gia đình bị đổ vỡ, cha mẹ ly hôn, cảm giác các em như bị bỏ rơi, chán nản không có ý thức phấn đấu trong học tập dần dần sa sút, xấu hổ với bạn bè sinh ra bỏ học. Ngoài những em học sinh phải bỏ học vì gia đình khó khăn thì cũng có em gia đình khá giả, bản thân cũng muốn đi học nhưng bố mẹ lại muốn các em ở nhà phụ giúp việc buôn bán hay làm một số công việc khác, đó là những người chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học, họ chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt bên cạnh đó có một số sinh viên ra trường chưa xin được việc làm, và họ nghĩ rằng con em mình có học và thi đậu đại học thì sau này cũng không xin được việc làm, vì lý do đó mà những bậc phụ huynh này đã không cho con mình tiếp tục theo học. 2.2/ Nguyên nhân từ phía xã hội: Mặc dù chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể trong xã hội rất quan tâm đến vấn đề giáo dục.Tuy nhiên trong xã hội còn tồn tại những phần tử không lành mạnh những phần tử này lôi kéo rủ rê các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học lực yếu, thích sống đua đòi, có tư tưởng lưng chừng…đi vào con đương ăn chơi dẫn đến bỏ học. 2.3/ Nguyên nhân từ bản thân học sinh: Đa số học sinh trong độ tuổi vừa học vừa làm. Qua tìm hiểu tôi được biết một số em học sinh khi đến kỳ nghỉ hè là lên đường đi vào miền nam hoặc đi Hà Nội và một số thành phố khác để làm thuê, kiếm tiền gửi về cho gia đình hoặc ăn chơi, đến đầu năm học các em lại về quê đi học, khi các em tiếp xúc với đồng tiền thì việc học của các em rất khó khăn. Ngoài ra những em học sinh có học lực yếu kém cũng thường có tư tưởng chán nản, tự ti với bạn bè, bên cạnh đó cũng có một số em có hoàn cảnh gia đình quá khó khăn không được trang bị đầy đủ các dụng cụ học tập cần thiết, một mặt do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, muốn làm người lớn, các em chưa ý thức được vai trò của việc học, thích sông tự do bị các phần tử xấu lợi dụng lôi kéo vào con đương ăn chơi, sao nhãng việc học. 3. Hậu quả của việc học sinh bỏ học: Dù nguyên nhân bỏ học của các em là gì đi chăng nữa thì hậu quả mà nó gây ra là rất lớn. Trước tiên bản thân các em sẽ phải gánh chịu, ngay thời điểm hiện tại các em sẽ bị thiếu hụt một nền tảng tri thức cơ bản cần thiết cho sự phát triển của các em, từ sự mặc cảm, tự ti thua kém bạn bè, không có môi trường để rèn luyện 3

đạo đức…dễ dàng đưa các em đến với những thói hư tật xấu, những hành vi lệch chuẩn. Hoặc trong một tương lai không xa khi các em trưởng thành, xã hội sẽ đón nhận các em như thế nào khi nền kinh tế đang trong xu thế toàn cầu hóa, làm sao các em có thể xin được việc làm khi chưa tốt nghiệp THPT. Và lúc đó, các em sẽ thật sự trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Với những em có hoàn cảnh kinh tế khá giả, bố mẹ có thể bao bọc hoặc lo cho các em một công việc nào đó nhưng còn những em có hoàn cảnh khó khăn thì sao? Khi không có công ăn việc làm, khó khăn sẽ chồng chất khó khăn và nếu không có bản lĩnh các em sẽ trở thành “tay sai” của tệ nạn xã hội (như trộm cướp, bài bạc, mại dâm…). Có thể nói hậu quả từ việc bỏ học là rất tệ hại mà chúng ta không thể lường hết được. Nó tác động xấu đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước nói chung và của địa phương có học sinh bỏ học như huyện Ngọc Lặc nói riêng.Thậm chí ở những địa phương có tỷ lệ học sinh bỏ học đông sẽ xảy ra tình trạng “khủng hoảng cộng đồng”. Vì một số thanh niên ở địa phương không có tri thức kéo theo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, cuộc sống nghèo khó. Không có tri thức rất dễ sinh nhiều con, ảnh hưởng của sự gia tăng dân số. Còn sự nghèo khó nó sẽ dẫn đến con đường tội phạm, làm ăn phi pháp. III. Các giải pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học ở trường THPT Lê Lai – Ngọc Lặc. Xuất phát từ nguyên nhân, thực trạng và những hậu quả của tình trạng bỏ học của học sinh phổ thông nói chung và học sinh trường THPT Lê Lai nói riêng, qua quá trình tìm hiểu thực tế kết hợp với ý kiến của ban giám hiệu nhà trường tôi xin nêu lên một số giải pháp đối với vấn đề này như sau: 1. Giải pháp tức thời 1.1/ cần có ngay một cuộc vận động ” nói không với hiện tượng học sinh bỏ học vì hoàn cảnh khó khăn ” Không thể để cho các em vì nghèo mà thất học. Cần rà soát lại những chính sách ưu tiên, hỗ trợ những học sinh nghèo, bổ sung những ưu đãi mới, có những giải pháp vận động nguồn tài chính cho học sinh nghèo, thực hành tiết kiệm dành tiền cho học sinh nghèo, đẩy mạnh phong trào từ thiện trong các nhà trường, vận động những học sinh khá giúp đỡ bạn nghèo. Hiện học sinh nghèo đã được miễn học phí , nhưng các khoản đóng góp khác thì bình đẳng như những học sinh khác, báo chí cũng đề cập nhiều đến vấn đề “lạm thu, loạn thu” trong các nhà trường, đó cũng là một trong những nguyên nhân làm cho học sinh nghèo phải bỏ học. Có không ít trường học không những không có biện pháp giúp học sinh nghèo mà còn 4

luôn ” sáng tạo ” ra những khoản thu để ” bòn rút ” của học sinh. Cần có chính sách cho những gia đình nghèo vay vốn cho con học phổ thông, cũng như có các quy định ” xử phạt ” những trường, địa phương để học sinh phải bỏ học vì nghèo. Đối với những địa phương nghèo cần điều tra khảo sát và xin nhà nước hỗ trợ kinh phí. 1.2/ Nhà trường cần phối hợp với các cơ quan đoàn thể khác. Nhà trường cần phối hợp với cơ quan công an xã, các tổ chức đoàn thể: Hội phụ nữ, hội cựu giáo chức, đoàn thanh niên nơi học sinh cư trú đến từng gia đình học sinh bỏ học hoặc có ý định bỏ học khuyến khích, động viên bản thân các em và gia đình để các em quay lại trường học. Đây là giải pháp mà tôi đã thực hiện ở xã Phúc Thịnh – Ngọc Lặc, qua một lần tôi đến xã này động viên học sinh bỏ học của lớp tôi chủ nhiệm đó là em Trương Thị Khánh Phương. Tôi đã cùng bác hội trưởng hội cựu giáo chức đến nhà em Phương, qua tìm hiểu được biết em Phương bỏ học với lý do gia đình khó khăn, bố đi làm ngoài Quảng Ninh, nhà còn hai em ăn học, hơn nữa lực học của em chỉ ở mức trung bình, nếu có học sau này cũng không thi đậu đại học, nhưng sau khi nghe những lời động viên phân tích của tôi và bác hội trưởng hội cựu giáo chức thì em Phương đã quay trở lại học bình thường, năm học lớp 12 em Phương đã tâm sự với tôi, ” May mà cô đã quan tâm và phân tích động viên em đi học trở lại, bố mẹ em là nông thôn không hiểu rõ được thiệt thòi của việc bỏ học nên ngày đó bố mẹ em đồng ý để em bỏ học “. Như vậy nếu được sự quan tâm của các ban ngành đoàn thể cũng như gia đình các em sẽ có những quyết định đúng đắn nhất để có một tương lai tốt đẹp, đồng thời các em cũng thấy được tác hại của việc bỏ học ảnh hưởng như thế nào đến tương lai của mình. Từ đó các em có cách nhìn, cách nghĩ mới và quyết định trở lại trường học. 1.3/ Phân loại đối tượng học sinh : Mỗi giáo viên chủ nhiệm phải lên danh sách những học sinh có nguy cơ bỏ học ( có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cuộc sống gia đình không hạnh phúc, học sinh học kém..) phân nhóm để có những biện pháp phù hợp giúp đỡ các em, đối với những học sinh có nguy cơ bỏ học giáo viên phải thường xuyên tới thăm gia đình các em, trò chuyện với các bậc phụ huynh, hiểu được những suy nghĩ của các em và gia đình để kịp thời có những biện pháp giải quyết. Đối với học sinh học kém, học sinh ở lại lớp giáo viên cần tìm hiểu nguyên nhân, nếu do còn yếu kém kiến thức ở lớp dưới thì tổ chức bồi dưỡng, phụ đạo để học sinh theo kịp bạn bè. Ví dụ: Cuối năm học 2010 – 2011 tôi đã nhờ riêng ba giáo viên đó là thầy Lê Đức Quang dạy bộ môn toán, cô Hoàng Thị Liên dạy bộ môn hóa học và cô Hoàng Thị Hằng dạy bộ môn tiếng Anh ra ba đề thi khảo sát, mục tiêu của đề thi khảo sát là tìm những học sinh còn yếu kiến thức cơ bản của ba môn này, với vai trò là giáo viên chủ nhiệm lớp 10C1, tôi đã cho lớp tiến hành thi khảo sát ba môn này, sau đó nhờ các giáo viên trực tiếp ra đề chấm và phân loại học sinh hổng kiến thức cơ bản 5

trong một học kỳ nhà trường tổ chức thao giảng bắt buộc ít nhất hai lần để các giáo viên dự giờ và góp ý cho nhau…Từ đó các giáo viên được bồi dưỡng thêm về chuyên môn như cách giảng bài, cách truyền đạt kiến thức ngắn gọn, dễ hiểu gây được hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em biết tư duy sáng tạo, độc lập suy nghĩ. Một vấn đề nữa gây ra sự khô khan cho học sinh khi học trên lớp đó là, giáo viên luôn dạy theo cách truyền thống, không đổi mới phương pháp, không sử dụng hoặc rất ít sử dụng đồ dùng dạy học. Hàng năm các nhà trường nên rà soát lại toàn bộ đồ dùng dạy học và các thiết bị thí nghiệm để bổ sung thật đầy đủ, từ đó có biện pháp bắt buộc giáo viên phải sử dụng đồ dùng hoặc thiết bị thí nghiệm. Tôi tin rằng với những thay đổi trong phương pháp truyền đạt kiến thức theo hướng tích cực sẽ giúp các em cảm thấy thú vị, yêu thích việc học tập hơn và nhận thấy rất nhiều điều bổ ích trong việc học tập, từ đó sẽ khắc phục tình trạnh học sinh chán học dẫn đến bỏ học. 2.3/ Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, chính quyền các cấp trong việc đưa trẻ đến trường, ngăn chặn tình trạng bỏ học. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo chặt chẽ của chính quyền các cấp. Đặc biệt là sự nổ lực của ban chỉ đạo phổ cập cấp xã, huyện và sự phối hợp tốt của các ban ngành đoàn thể trong việc vận động đưa trẻ đến trường, kiểm tra khảo sát thường xuyên tình hình học tập thực tế của học sinh trên địa bàn dân cư. Tăng cường công tác tuyên truyền và đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nâng cao ý thức trách nhiệm của từng người dân và cộng đồng dân cư trong quá trình triển khai thực hiện công tác phổ cập giáo dục, góp phần hạn chế tình trạng bỏ học của học sinh. Có chính sách hỗ trợ đặc biệt, đủ mạnh cho các địa phương khó khăn. Các địa phương cần ưu tiên dành kinh phí của mình và các nguồn tài chính vận động được của quỹ khuyến học, các công ty đóng trên địa bàn để cấp học bổng, xe đạp cho các học sinh thuộc diên xóa đói giảm nghèo hoặc các học sinh có hoàn cảnh khó khăn tiếp tục có điều kiện theo học ở các trường THPT. Đối với những nơi thuộc vùng sâu, vùng xa, cơ sở hạ tầng thấp kém, cần đầu tư xây dựng nhiều trường lớp với đầy đủ trang thiết bị phục vụ cho quá tình dạy và học, tạo điều kiện để cho con em dân tộc thiểu số có cơ hội được đến trường, được tiếp thu kiến thức như những em học sinh ở đồng bằng. 3. Giải pháp giáo dục học sinh cá biệt Ngoài các em học sinh bỏ học vì hoàn cảnh gia đình khó khăn thì đa số các em còn lại bỏ học là những đối tượng học sinh cá biệt, vì vậy dù mang tính tức thời hay dài hạn thì giáo dục học sinh cá biệt vẫn là một biện pháp chủ yếu. 7

Việc giáo dục các đối tượng học sinh cá biệt không đơn thuần là nhìn nhận những biểu hiện bên ngoài của các em mà cần phải tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến các hành động thiếu chuẩn xác, khi đã xác định được nguyên nhân chúng ta mới tìm ra biện pháp giáo dục phù hợp 3.1 / Giáo dục bằng tâm lý: Quan hệ thầy trò vốn là mối quan hệ tách biệt từ ngàn xưa. Trong nền giáo dục hiện tại, nhất là từ năm 2008 đến nay ta đang tích cực thực hiện cuộc vân động ” xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực ” quan hệ đó đã được thay đổi, thầy trò ngày nay có tình cảm thân mật gần gũi hơn, bởi có quan hệ gần gũi thì mới biết được những tâm tư nguyện vọng của các em, chúng ta mới có những biện pháp giáo dục thích hợp hơn. Và vì lẽ đó chúng ta mới thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục toàn diện. Đối với học sinh cá biệt việc gần gũi với các em quả là một vần đề không đơn giản, nếu GVCN thiếu tế nhị một chút thôi thì khó mà có thể gần gũi với các em được, chẳng hạn thường xuyên phê bình, dùng nhiều lới xúc phạm đến các em … đều có thể làm tổn thương đến mối quan hệ này. Hơn nữa vì các em thường xuyên vi phạm nên các em càng lẩn tránh tiếp xúc với giáo viên nhất là giáo viên chủ nhiệm lớp. Để thấy được hết cá tính của học sinh, GVCN cần tạo đựơc mối quan hệ gần gũi với các em, thật sự là chỗ dựa đáng tin cậy nhất sau cha mẹ của các em. Chú ý khi giao tiếp với các em ta phải luôn cởi mở, chân tình, vui vẻ dễ cảm hóa được các em, khi có được mối quan hệ tốt các em sẽ thổ lộ những tâm tư tình cảm với GVCN mà không một chút ngần ngại. Những lời khuyên răn dạy bảo của chúng ta sẽ có tác dụng lớn đối với các em. Ví dụ:Em Ngô Thị Hương Dung- học sinh lớp 10C1 do tôi chủ nhiệm là một học sinh học rất yếu, em thường xuyên không thuộc bài cũ và điểm rất kém ở các bài kiểm tra, em chán nản và có ý định bỏ học nhưng vì gia đình ép nên em đành phải đi học. Em tỏ ra lầm lì ít nói, mặc cảm với bạn bè, với thầy cô, xa lánh mọi người, nhất là đối với tôi em lại càng lẩn tránh hơn. Thấy vậy tôi tìm cách gần gũi em bằng cách: Trong tuần học thứ 10 em không thuộc bài 2 lần đều bị điểm 1 và giáo viên bộ môn ghi tên vào sổ đầu bàiLẽ ra như các tuần trước, những em không thuộc bài thì bị phê bình trước lớp, buộc viết bản cam kết, nhưng để có thể gần gũi em tôi không phê bình việc không thuộc bài cũ mà trong tiết sinh hoạt này tôi chỉ chú ý đến việc phê bình các em còn mất trật tự trong tiết học, tôi tìm cách tuyên dương em: (bạn Hương Dung là một học sinh học rất yếu, tuy vậy bạn lại rất có tinh thần tập thể, trong các tiết học bạn đều nghiêm túc lắng nghe thầy cô giảng bài, không gây ảnh hưởng đến các bạn khác…). Sau lần tuyên dương ấy em Dung có một thái độ khác, tôi nhận thấy em có mong

8

muốn gần gũi với mọi người hơn. Thế là trong buổi lao động tôi tìm cách tâm sự cùng em, dần dần mối quan hệ giữa tôi và em ngày thêm gần gũi, lúc đó em mới thật sự thổ lộ hết mong muốn của mình. Em tâm sự với tôi rằng: “Em học yếu, đó là điều em luôn mặc cảm, việc học đối với em như một gánh nặng, gia đình em chẳng ai giúp được gì cho em, nhà lại ở cách xa các bạn, điều kiện gia đình lại khó khăn, em muốn nghỉ học đi vào Bình Dương làm ở công ty dày da, em nghĩ em học yếu quá, có học cho lắm sau này cũng chẳng làm được việc gì. Hơn nữa việc đi vào Bình Dương làm ở công ty dày da sẽ có cuộc sống tốt hơn..” Biết được tâm tư, nguyện vọng của em, tôi động viên em học, trong các giờ học tôi thường xuyên quan tâm em nhiều hơn, trao đổi với GVBM tạo điều kiện tốt hơn để em tự tin trong học tập, phân công các em học sinh giỏi ở gần nhà đến giúp đỡ, ở lớp – tôi phân một em học sinh giỏi, nhiệt tình ngồi cạnh để quan tâm nhiều đến em hơn. Dần dần em tự tin hơn, em được nhiều người quan tâm, em nỗ lực cố gắng và đã có những tiến bộ rõ nét, cuối năm lớp 10 học lực em đạt loại trung bình. Trường hợp Em Hoàng là một HS nằm trong một hoàn cảnh đặc biệt, cha mất sớm, một mình mẹ nuôi em ăn học, vất vả vì công việc, thu nhập ít, đời sống vô cùng chật vật, không có thời giờ để quan tâm nhiều đến em. Hoàng theo bạn, bỏ học, đánh lộn, chơi điện tử, bi da, có hôm lấy trộm tiền của các bạn trong lớp. Sau khi theo dõi và tìm hiểu phân tích hoàn cảnh của Hoàng, tôi gặp riêng em sau gìơ học cuối cùng của ngày thứ bảy- cả lớp đã ra về tôi gọi em ở lại để khuyên nhủ em, trước mặt tôi em rất ngoan ngoãn không có biểu hiện gì. Tôi bắt đầu từ việc hỏi thăm gia đình em, mẹ em thế nào? cô nghe nói vừa qua mẹ em bị ốm nặng bây giờ thế nào rồi… trước sự quan tâm chân tình của cô giáo chủ nhiệm với bản tính lương thiện của trẻ em- Hoàng nói chuyện với tôi chân tình. Khi thấy em không ngần ngại gì trong tâm sự cùng tôi, tôi bắt đầu gợi ý nhắc nhở từng vi phạm của em, chú ý trong các vi phạm của em tôi đều đưa em vào thế bị lôi kéo theo bạn mà hư. Tôi dùng tình cảm của người mẹ để tâm sự cùng em: Em là niềm an ủi duy nhất đối với mẹ – mẹ là chỗ dựa duy nhất của em, mẹ tần tảo nuôi em ăn học là muốn em trở thành người tốt, bao vất vả nặng nhọc mẹ đều gánh chịu để em được có điều kiện tốt mà học tập bằng bạn bằng bè, thế mà vừa rồi cô nghe mẹ ngã bệnh là do biết em theo các bạn bỏ học, trộm cắp… em không thương mẹ sao? Nói đến đây, tôi thấy đôi mắt em chớp chớp, rưng rưng… Tôi đã cảm hoá được em, từ đó tôi thường xuyên trao đổi với em, mỗi lần trao đổi riêng, tôi đều tìm cách khen ngợi những tiến bộ của em. Một trường hợp khác, gia đình kinh tế khá giả, cha mẹ buôn bán, lo việc kinh doanh không quan tâm đến việc học tập của con em, như gia đình em Lê Đức Tài. Tài là một học sinh học khá từ những năm học ở THCS, lên THPT Tài theo bạn bè hay bỏ học, được cha mẹ thường xuyên cho tiền nên Tài tha hồ chơi điện tử, thường xuyên bỏ học, có lần Tài đã ” dọa ” bố mẹ bỏ nhà đi, khi bố mẹ và chị gái của em gọi điện nhưng em cố tình không nghe điện thoại, chỉ khi tôi gọi thì em 9

nghe và hứa sáng mai về đi học luôn … Với Tài tôi dùng biện pháp khác tôi theo dõi em nhiều hơn, hễ em có vi phạm gì là tôi biết ngay và mỗi lần trao đổi với em tôi đều đưa ra những chi tiết rất chính xác, ví dụ chiều nay em bỏ học tiết 2, 3 đi chơi điện tử ở quán…. với em…, sáng thứ ba em xin nghỉ học với lý do ốm đau nhưng cô biết em chơi điện tử với ban…lớp ….Tất cả việc làm của em cô đều biết, em biết vì sao cô biết nhiều về em như vậy không? em biết vì sao cô quan tâm tới em nhiều không? Cha, mẹ bận bịu công việc cốt tạo sự nghiệp và cũng là tạo điều kiện để em ăn học, lo cho tương lai của em, nhiều bạn gia đình vất vả mà các bạn vẫn cố gắng học tốt như bạn Bình, bạn Thắm… còn em có điều kiện tốt mà không lo học tập. Chơi bời với các bạn thời gian rồi sẽ chán, em có thể chơi cả đời được không? nếu bây giờ không lo học thì sau này em có thể làm được gì? rồi cha mẹ em sẽ ra sao? có xấu hổ với mọi người vì đã có một đứa con như em không? Dần dần Tài thấy được cái sai của mình và Tài cũng đã sửa đổi. 3.2/ Giáo dục bằng tập thể Ở lứa tuổi THPT bạn bè có một vị trí rất lớn trong mối quan hệ xã hội của các em, thường ở lứa tuổi này các em chưa ý thức được việc nào là cần thiết hơn, chính vì thế đa phần trong quan hệ với thầy cô giáo các em thường có biểu hiện bao che cho nhau, nhất là những khi đề cập tới các đối tượng học sinh cá biệt, mặc dù biết việc làm của bạn là sai, tuy vậy khi hỏi đến phần lớn các em đều trả lời một câu chung nhất ( không biết) – đối với những em có quan hệ gần gũi với HS cá biệt, cũng có thể các em ngại không dám nói ra sự thật vì sợ sự đe doạ của các bạn… Nhưng phải nói rằng tất cả những suy nghĩ, những việc làm của các em cá biệt thì chính các em học sinh cùng lớp, cùng khối là biết rõ nhất. Về vấn đề này GVCN cần khéo léo trong cách điều tra, có thể là điều tra bằng cách giao nhiệm vụ theo dõi tìm hiểu cho ban cán sự lớp hoặc một đối tượng HS đáng tin cậy nhất nào đó và sẽ trao đổi với các em bằng cách bảo mật thông tin. Thường thì những em này sẽ cung cấp cho chúng ta nguồn tin chính xác nhất. Sau khi nắm được thông tin, phân tích tình hình, tôi hướng dẫn các em gần gũi và giúp đỡ bạn, nên tạo được quan hệ tốt và nhất là tạo cho những em cá biệt có niềm tin với mình. Phải nói rằng trong quan hệ bạn bè các em sẽ bộc lộ rõ cá tính không e ngại. Tôi thường xuyên giữ mối quan hệ với các em này tìm hiểu những khó khăn khi phải thuyết phục HS cá biệt để tháo gỡ khó khăn cho các em, thường xuyên cung cấp biện pháp xử lý kịp thời những biến động của các đối tượng và động viên các em, tạo cho các em có niềm tin thuyết phục, giúp đỡ học sinh cá biệt tiến bộ. Trong biện pháp này cũng có thể dùng cách ” lấy độc trị độc “. Qua các hoạt động của lớp, GVCN cần theo dõi kỹ, qua từng hoạt động các em có những biểu hiện như thế nào: say mê, hứng thú, nhiệt tình, tích cực hay qua loa chiếu lệ, đùn 10

đẩy, …Hoạt động này em thích dẫn đến nhiệt tình, hoạt động kia không thích thì né tránh.. Từ việc theo dõi trên GVCN có biện pháp phát huy sở trường của từng em lấy đó làm đòn bẩy để tiến hành ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực khác nảy sinh ở các em. Ví dụ: Em Trần Văn Khanh là học sinh thường xuyên nói chuyện riêng trong lớp, khi ban cán sự lớp phê bình là em hăm doạ đánh bạn. Để vừa ngăn chặn được sự mất đoàn kết trong lớp đồng thời xây dựng nề nếp tiết học tốt tôi phân em làm lớp phó kỷ luật – giao nhiệm vụ theo dõi các bạn đồng thời trước lớp tôi quy định những em cán sự lớp phải luôn gương mẫu đi đầu trong mọi hoạt động, nếu vi phạm thì hình thức kỷ luật sẽ nặng hơn. Khi nhận chức danh lớp phó Khanh rất thích, tuần đầu tiên Khanh có tiến bộ nhưng vẫn còn một vài lần bị phê bình là nói chuyện riêng, cuối tuần nhận xét tình hình chung của lớp tôi cho các em phát biểu phê bình vai trò trách nhiệm của Khanh. Sau đó tôi nhận xét chung.”Tuy rằng trong tuần qua bạn Khanh vẫn còn sai sót – có vi phạm kỷ luật, nhưng so với các tuần trước nề nếp của lớp ta tuần này tiến bộ hơn và bản thân Khanh cũng có tiến bộ, vì sự tiến bộ của lớp ta có thể xí xoá cho bạn và cho bạn cơ hội để khẳng định vai trò của mình ở tuần học tiếp theo”. Về sau Khanh đã ý thức được trách nhiệm của mình và không còn vô kỷ luật như trước nữa. Đối với những đối tượng thích gây rối tập thể, nghịch ngợm (lớp bị phê bình là niềm vui của các em)… Đối với đối tượng này tôi dùng cách đẩy mạnh các hoạt động của lớp để các em thấy được những việc làm của mình không có tác dụng gì khi cả lớp đều có chung một sự quyết tâm nỗ lực vươn lên, làm cho các em bị tách ra khỏi tập thể, không thể gây rối tập thể được và vô hiệu hoá những hành động nghịch ngợm của các em. Không làm hại được tập thể lại bị tách ra khỏi tập thể, các em tự khắc thấy mình như bị hụt hẫng, xấu hỗ. Từ đó chính các em có mong muốn được sống chung trong một tập thể đoàn kết. Khi các đối tượng này thấy được những lỗi lầm của mình, GVCN lớp cần động viên HS trong lớp gần gũi khích lệ để các em hoà nhập với tập thể. 3.3/ Kết hợp với phụ huynh học sinh Có thể trao đổi qua các cuộc họp phụ huynh học sinh chung của lớp, GVCN báo cáo kết quả rèn luyện của từng em và có thể mời phụ huynh các đối tượng này ở lại để trao đổi riêng, tránh sự mặc cảm của phụ huynh. Có thể trao đổi qua việc đến thăm gia đình học sinh. Thường học sinh cá biệt thì lại có phụ huynh cá biệt ; một là không quan tâm đến việc học của con em, hoặc không dám đối diện với sự thật về những sai phạm của con mình…thường những phụ huynh này ít tham gia vào các cuộc họp chung kể cả những lúc có giấy mời riêng cùng không đến. Đối với đối tượng này GVCN cần nhiệt tình hơn, có thể đến 11

thăm gia đình để tìm hiểu điều kiện sinh hoạt của gia đình và nắm được tình hình của các em ở nhà, thường những đối tượng này họ ngại nói những điều sai của con em họ vì thế tôi tổng hợp những điểm tốt mà các em có được dù đó chỉ là một việc không đáng kể để khen ngợi các em, sau đó tôi lồng một vài khuyết điểm của các em; tránh nêu hoàn toàn hoặc một loạt khuyết điểm thì phụ huynh sẽ có sự mặc cảm, hoặc nảy sinh sự tiêu cực, buông xuôi, ngại nói ra những điều mà ta cần tìm hiểu, trao đổi. Có thể trao đổi bằng điện thoại, ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm tôi đã xin số điện thoại của toàn bộ phụ huynh, và đưa số điện thoại của tôi cho tòan bộ phụ huynh của lớp biết, để từ đó giữa phụ huynh và GVCN có thể trao đổi về tình học tập của các em bất cứ lúc nào cần thiết. Cách làm này có thể thường xuyên trao đổi với phụ huynh và kịp thời giáo dục, chấn chỉnh những sai phạm của các em. 3.4/ Kết hợp với giáo viên bộ môn Như phần trình bày nguyên nhân trên, một phần biểu hiện cá biệt của các em là do quan hệ giữa giáo viên và học sinh chưa tốt, có em có những phản kháng đối với những hành động quá đáng của một vài giáo viên. ví dụ như có GV dùng những lời quá nặng nề trong việc nhận xét HS không thuộc bài cũ, không hiểu được bài hay có những biểu hiện áp đặt, thiếu công bằng … Để xác định chính xác cá biệt của HS từ nguyên nhân này hay không, tôi thăm dò hỏi tất cả giáo viên dạy bộ môn của lớp để có biện pháp giáo dục thích hợp và cũng từ đó tôi có thể góp ý ngay với GV trong việc cần phải tôn trọng và công bằng trong đối xử với HS . Cũng có thể do tính cách cá biệt của các em, ở mỗi môn học em có một biểu hiện cá biệt khác nhau, tôi tổng hợp các ý kiến để xác định nguyên nhân cơ bản. Từ việc trao đổi trên tôi tìm ra những ưu điểm của các em để động viên đồng thời lồng vào từng chút một những khuyết điểm của các em để nhắc nhở khắc phục. Ví dụ: em Phan Thanh Sự là một học sinh cá biệt của lớp tôi chủ nhiệm năm học 2011 – 2012 Các môn học thuộc lĩnh vực tự nhiên em học rất tốt, nhưng các môn đòi hỏi học thuộc bài thì em học rất yếu, thậm chí môn Tiếng Anh em đạt điểm kém. Em luôn đem đến sự phiền toái cho lớp như thường xuyên nói chuyện trong giờ học, bỏ học đi chơi điện tử, xem đá bóng, chơi bi da, có hôm bỏ nhà đi chơi rồi ngủ ở nhà bạn… Cha mẹ em phiền hà, lớp cũng rất phiền hà. Đối với đối tượng này tôi theo dõi thật sát đồng thời cứ mỗi lần không thuộc bài tôi cho em viết một bản kiểm điểm, cam kết với giáo viên bộ môn và cam kết với lớp. Sau đó tôi trao đổi với GVBM về tính cách cá biệt của em đồng thời mong muốn có sự kết hợp giáo dục bằng cách thường xuyên kiểm tra bài em, nhất là trong tiết học luôn gọi em phát biểu trước lớp ưu tiên chọn những câu hỏi tương

12

đối dễ để em trả lời được và thường xuyên khen để khích lệ em, nên bỏ qua lỗi nhỏ của các em. Với biện pháp trên qua một học kỳ em Sự đã tiến bộ rõ rệt cuối năm học em đã đạt được danh hiệu học sinh tiên tiến . 4. Một số giải pháp khác Từ những nguyên nhân đã phân tích cho thấy, học sinh bỏ học không hoàn toàn là lỗi ở các em mà ngoài ra còn ở người lớn vì thế tôi cũng nêu thêm một số giải pháp khác: – Thứ nhất: Kết hợp các tổ chức chính quyền ở địa phương ( các xã, các làng ), tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức cho các bậc làm cha, làm mẹ về tầm quan trọng của việc học và tạo điều kiện cho các em học tập thật tốt, về việc giáo dục con cái, nhất là cần hiểu tâm lý của con cái. Biện pháp này chỉ có hiệu quả khi người cán bộ quả lý giáo dục cũng như người các bộ ở địa phương có đầy đủ trách nhiệm và bản lĩnh trước nhiệm vụ bức thiết này. – Thứ hai: Kết hợp với gia đình để tìm ra những nguyên nhân của từng tình hình cụ thể, để có thể giáo dục và ngăn chăn kịp thời tình trạng học sinh bỏ học. Biện pháp này chỉ có kết quả khi giáo viên chủ nhiệm có nhiều thời gian trên lớp và biết áp dụng nhiều biện pháp, hình thức giáo dục và phối hợp với gia đình, nhà trường trong những tình huống xác định. – Thứ ba: Bảo đảm thông tin hai chiều giữa gia đình và nhà trường. Biện pháp này chỉ có hiệu lực khi hai bên cùng thực hiện đúng những quy định chung về sự phát triển toàn diện của học sinh. Sau khi thấy học sinh nghỉ học nhiều lần, nhà trường mà cụ thể là giáo viên chủ nhiệm cần có sự thông tin kịp thời và cần thiết cho gia đình để cùng nhau phối hợp giải quyết. – Thứ tư: Phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nhà trường khảo sát, điều tra nắm chắc và kịp thời về tình hình diễn biến của số lượng học sinh bỏ học ở địa phương để có thể ngăn chặn kịp thời và có hiệu quả. Biện pháp này chỉ mang lại hiệu quả nếu nhà trường luôn trung thực về số lượng học sinh bỏ học, không chạy theo thành tích, để có thể đưa ra những con số chính xác, phối hợp với các tổ chức ban ngành để ngăn chặn tình trạng học sinh bỏ học. – Thứ năm: Cải thiện đời sống cán bộ, giáo viên bằng các chế độ chính sách phù hợp với tay nghề, cải thiện môi trường sư phạm ngày càng đạt chất lượng và đạt chuẩn để thu hút học sinh tới trường. Như vậy những giải pháp cơ bản trên vừa nhằm tạo thêm nhiều cơ hội cho các em học sinh nghèo, học sinh là con em đồng bào dân tộc, vùng đặc biệt khó khăn có cơ hội đến trường, các em có học lực yếu kém có nguy cơ bỏ học được quan tâm bồi dưỡng phụ đạo thêm để các em có thể được trang bị đầy đủ kiến thức để tiếp tục đến trường. Để các giải pháp này triển khai được tốt cần có sự lãnh đạo 13

của sở giáo dục, sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường, của gia đình các em học sinh và các tổ chức xã hội, theo tôi các giải pháp này phải thực hiện đồng bộ, vừa thực hiện các giải pháp ngắn hạn, vừa tiến hành triển khai xen kẽ các giải pháp dài hạn đồng thời chú ý đến các đối tượng học sinh cá biệt, coi các giải pháp ngắn hạn là tiền đề cho việc thực hiện cho việc thực hiện giải pháp dài hạn đạt kết quả tốt, giúp các em học sinh có những điều kiện tốt nhất để tiếp tục được đến trường. IV. Hiệu quả thực tế của đề tài Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng của vấn đề học sinh bỏ học ở trường THPT Lê Lai – Ngọc Lặc – Thanh Hóa, để từ đó tìm ra các giải pháp và áp dụng vào thực tế ở lớp mình chủ nhiệm, bản thân tôi thật sự thấy hài lòng với kết quả thu được trong suốt thời gian làm chủ nhiệm khóa học 2010-2013 của lớp C1. Trong ba năm làm chủ nhiệm lớp C1 chỉ có duy nhất một học sinh nghỉ học vì phải theo gia đình vào Tây Nguyên sinh sống, trong khi đó ở các lớp khác bình quân trong một năm học có từ 02 đến 03 em học sinh bỏ học. Qua việc khảo sát sự biến động sỹ số học sinh hàng năm cho thấy kết quả cụ thể như sau: Năm học 2010-2011: ST Lớp Sỹ số Sỹ số T đầu cuối năm năm 1 10C1 49 48 2 10C2 50 48

Số HS Nguyên nhân bỏ học bỏ học 01 Theo gia đình vào Tây Nguyên sinh sống 02 01 bỏ do lực học yếu, 01 do hoàn cảnh gia đình khó khăn 03 02 bỏ do hoàn cảnh gia đình khó khăn, 01 bỏ do lực học yếu. 0 Lớp chọn toán 02 02 bỏ do lực học yếu 0 Lớp chọn văn 01 Bố mẹ ít quan tâm đến việc học của con dẫn đến chơi bời và bỏ học

3

10C3 47

44

8

10C8 45

43

02

9

10C9 47

38

09

10

10C1 48

46

02

01 bỏ do hoàn cảnh gia đình khó khăn, 01 là học sinh cá biệt bị đình chỉ học 04 bỏ do lực học yếu, 02 bỏ do nhà xa trường, 02 bỏ do hoàn cảnh khó khăn, 01 bỏ vì chơi bời nhiều, bố mẹ không cho đi học. Bỏ do lực học yếu

14

11

Tổng 488

467

21

Năm học 2011 – 2012 ST Lớp T

Nhận Sỹ số thêm đầu từ C9 năm

3

11C3

06

50

40

10

8

11C8

08

51

49

02

11C9 Giải tán lớp do tụt sỹ số nhiều 11C10 06 52 47 05

11

Tổng

38

467

441

26

Nguyên nhân bỏ học

Nhà xa trường, hoàn cảnh gia đình khó khăn 04 bỏ do gia đình khó khăn, 01bỏ do gia đình ít quan tâm, dẫn đến chơi bời, 03 bỏ do lực học yếu, 02 bỏ vì là học sinh cá biệt bị đình chỉ học Lớp chọn toán Bỏ do lực học yếu Lớp chọn văn 02 bỏ do gia đình không cho đi học, 01 bỏ do theo bạn đi Hà Nội, 02 bỏ do lực học yếu 01 bỏ do hoàn cảnh gia đình, 01 là học sinh cá biệt, bị đình chỉ học 01 bỏ do lực học yếu, 02 bỏ vì là học sinh cá biệt bị đình chỉ học, 02 bỏ vì hoàn cảnh gia đình khó khăn

Năm học 2012 – 2013 ST Lớp T

Nhận Sỹ số thêm đầu từ C3 năm

Nguyên nhân bỏ học

15

Qua bảng khảo sát sự biến động sỹ số học sinh ta thấy, trong một khóa học có tới 56 học sinh bỏ học, nhưng ngoài hai lớp chọn ra thì lớp C1 chỉ có 01 em bỏ học từ năm lớp 10 với một lý do bất khả kháng, điều đó cho thấy tôi đã áp dụng có hiệu quả một số giải pháp trên. Theo tôi nếu được sự quan tâm của tất cả các cấp lãnh đạo để triển khai một cách đồng bộ các giải pháp trên thì chắc chắn kết quả sẽ còn tốt hơn nhiều. C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT I. Kết luận 1. Hiện tượng bỏ học của học sinh ở bậc THPT nói chung, trường THPT Lê Lai – Ngọc Lặc – Thanh Hóa nói riêng vẫn còn xảy ra, việc ngăn ngừa hiện tượng bỏ học của học sinh là trách nhiệm của những người làm công tác giáo dục, việc tìm ra những nguyên nhân tác động dù là khách quan hay chủ quan để đưa ra biện pháp ngăn ngừa kịp thời để hạn chế đến mức thấp nhất là việc làm cần thiết phù hợp với quy luật phát triển của xã hội và yêu cầu về phổ cập giáo dục THPt hiện nay, song song với việc tìm tòi, nghiên cứu, nắm bắt hiện tượng để thấy bản chất của hiện tượng là việc làm nghiêm túc, từ đó khắc phục hiện tượng học sinh bỏ học, tiến đến chỉnh đốn về chất lượng và đảm bảo về số lượng trong nhà trường với mục tiêu của ngành giáo dục đề ra. “Nâng cao chất lượng và hiệu quả trong giáo dục”.

16

Nguyễn Thị Lan

17

MỤC LỤC Trang A. ĐẶT VẤN ĐỀ ………………………………………………………………………………………1 B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ…………………………………………………………………………..1 I. Cơ sở lý luận của vấn đề ………………………………………………………………..1 II. Thực trạng của vấn đề …………………………………………………………………..2 1. Cơ sở thực tiễn ……………………………………………………………………2 2. Nguyên nhân học sinh bỏ học ………………………………………………..2 2.1 Nguyên nhân từ phía gia đình học sinh …………………………2 2.2 Nguyên nhân từ phía xã hội ………………………………………..3 2.3 Nguyên nhân từ bản thân học sinh ……………………………….3 3. Hậu quả của việc học sinh bỏ học……………………………………………3 III. Các giải pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học ở trường THPT Lê Lai – Ngọc Lặc……………………………………………………………………………………………4 1. Giải pháp tức thời………………………………………………………………….4 1.1 Cần có ngay cuộc vận động “Nói không với hiện …….”…..4 1.2 Nhà trường cần phối hợp với các cơ quan đoàn thể khác…5 1.3 Phân loại đối với học sinh……………………………………………5 1.4 Cần có chế tài đối với những trường hợp buộc học sinh… 6 2. Giải pháp dài hạn………………………………………………………………….6 2.1 Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “hai không”………………6 2.2 Thay đổi phương pháp dạy và học………………………………..6 2.3 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng……………………7 3. Giải pháp giáo dục học sinh cá biệt…………………………………………7 3.1 Giáo dục bằng tâm lý………………………………………………….8 3.2 Giáo dục bằng tập thể………………………………………………..10 3.3 Kết hợp với phụ huynh học sinh…………………………………11 3.4 Kết hợp với giáo viên bộ môn…………………………………….12 4. Một số giải pháp khác………………………………………………………….13 IV. Hiệu quat thực tế của đề tài………………………………………………………….14 C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT……………………………………………………………………16 I. Kết luận……………………………………………………………………………………….16 II. Đề xuất……………………………………………………………………………………….17

18

Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Học Sinh Bỏ Học Ở Trường Thpt Phạm Văn Đồng

Câu chuyện học sinh bỏ học giữa chừng có thể xa lạ với học sinh ở các trung tâm, các thành phố, nhưng lại khá quen thuộc đối với chúng tôi – một ngôi trường đóng chân trên địa cấp xã, điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, trong những năm học qua, tình trạng học sinh bỏ học ở Trường THPT Phạm Văn Đồng (xã Eana, huyện Krông Ana) chiếm tỷ lệ khá cao. Nỗi lo học sinh nghỉ học, bỏ học trở thành nỗi lo lắng thường trực của nhà trường. Năm nào nhà trường cùng các thầy cô giáo chủ nhiệm cũng bàn bạc và đưa ra các giải pháp, tiến hành thực hiện một cách nghiêm túc nhưng xem chừng năm nào cũng vậy, nỗi lo đó không ngoại lệ.

Không chỉ ở trường chúng tôi, tình trạng học sinh bỏ học luôn là mối quan tâm hàng đầu của ngành giáo dục và xã hội. Bởi khi bỏ học, tâm trạng chán ch­ường, mặc cảm luôn đè nặng khiến những học sinh bỏ học có thể kéo theo nhiều hệ lụy cả trước mắt lẫn lâu dài, không chỉ đối với cá nhân, gia đình học sinh mà cả với nhà tr­ường và xã hội. Những thành phần này thường dễ bị kích động, lôi kéo. Từ đó có thể hình thành nên một l­ượng thanh thiếu niên thất học, lêu lổng, dễ sa vào các thói hư, tật xấu như­ bỏ nhà đi lang thang, gây gỗ, trộm cắp, kết bè phái. Thậm chí một số tr­ường hợp có thể sa vào các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật.

Bản thân tôi là một giáo viên chủ nhiệm lớp. Đối với công tác chủ nhiệm, tôi quan niệm rằng nếu ví lớp học là một dàn nhạc giao hưởng với sự kết hợp của rất nhiều các âm thanh, nhạc cụ đa màu sắc, đa âm điệu thì giáo viên chủ nhiệm lớp chính là vị nhạc trưởng rất tài ba, bởi để điều hành dàn nhạc ấy, người giáo viên phải là một người mẹ, người thầy, người bạn, một nhà tâm lý, nhà đạo diễn và là một vị quan tòa thật công bằng. Hơn thế nữa, người giáo viên chủ nhiệm cần phải cùng lúc đảm nhận tốt tất cả các vai trò đấy. Do đó, đối với tất cả giáo viên chúng tôi, chủ nhiệm lớp là một nhiệm vụ mang lại rất nhiều niềm vui, nổi buồn, rất nhiều kỷ niệm nhưng cũng là một thử thách lớn.

Mỗi khi phải nhìn thấy một em học sinh bỏ học, tôi xót xa lắm. Bởi các em còn nhỏ quá, còn non nớt quá, vậy nhưng các em lại lựa chọn rời xa ghế ngồi nhà trường để bước vào con đường mưu sinh quá sớm, tiền bạc trước mắt đâu chưa thấy, chỉ thấy tương lai mờ mịt của các em ở phía trước, tuổi cúa các em sẽ làm được gì, khi trình độ chưa có, kỹ năng và kinh nghiệm sống càng không…? Ngoài việc làm thuê hay cao lắm chỉ được làm công nhân mà thôi, và điều quan trọng nữa, các em dễ sa ngã khi sống xa nhà, xa quê. Không ít lần tôi nhận được điện thoại của các em, lời nói xen lẫn trong nước mắt: “Cô ơi, ở dưới này vất vả lắm, chúng em phụ bán cà phê, bán quán cho họ cô à. Em ước được đi học lại quá.” “Cô ơi, đi làm rồi mới biết, khổ lắm cô à…”

Năm học 2017-2018, lớp 12A5 tôi chủ nhiệm có 43 học sinh, vào năm lớp 10 có một em học sinh bỏ học để đi phụ bán cửa hàng thuốc bảo vệ thực vật cho người ta, và năm đó tôi không vận động được em ấy đi học lại, sĩ số lớp còn 42. Điều đó khiến tôi buồn, day dứt mãi. Thương các em càng nhiều thì quyết tâm càng cao, tôi đặt mục tiêu sẽ không để bất kỳ một em học sinh nào rời xa mái nhà A5 thân yêu này nữa. Thế nhưng sang đầu năm 11 lại có một em học sinh đòi bỏ học, em ấy là H’Rưng Ayũn – học sinh thuộc dân tộc Ê Đê. Và cũng trong năm đó, thêm một em học sinh nữa đòi bỏ học, đó là lớp trưởng Trần Đăng Minh Chiến của lớp tôi. Nhưng lần này tôi không thể để các em bỏ học như vậy nữa, và cho tới hết năm 11, tôi vẫn giữ được sĩ số lớp 42, cứ như vậy 42 đứa con thân yêu của tôi đều tốt nghiệp ra trường.

Tôi xin phép được chia sẻ với quý thầy cô là anh, chị, em, là bạn bè đồng nghiệp – những người đã, đang và sẽ đảm nhận công tác chủ nhiệm lớp như tôi một số kinh nghiệp ít ỏi của bản thân mình, đồng thời cũng là dựa trên sự đóng góp ý kiến của bạn bè đồng nghiệp trong trường.

Tôi chia các giải pháp làm giảm tỷ lệ học sinh bỏ học thành hai nhóm giải pháp sau:

Nhóm giải pháp thứ nhất: Khi có học hinh bỏ học.

Một là: Đối với việc học sinh bỏ học thì việc quan trọng đầu tiên người giáo viên chủ nhiệm cần làm là tìm hiểu được chính xác nguyên nhân vì sao các em bỏ học để đưa ra biện pháp tác động đúng, hiệu quả.

Tôi chia nguyên nhân bỏ học của học sinh thành ba nguyên nhân. Một là vì hoàn cảnh gia đình( khó khăn hoặc hoàn cảnh khác). Hai là vì chán học, học yếu, không có mục tiêu và động lực học. Ba là bị ảnh hưởng bởi bạn bè xấu, game, vì cái lợi trước mắt là làm kiếm tiền…

Hai là: Lựa chọn biện pháp tác động phù hợp.

Người giáo viên cần phải khéo léo lựa chọn biện pháp tác động phù hợp cho từng loại nguyên nhân, và cho dù đó là biện pháp nào thì giáo viên cũng cần phải cân nhắc đến đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của các em.

Ba là: Theo sát học sinh sau khi các em quay lại trường học.

Vận động các em đi học lại đã khó, nhưng giữ được cho các em sự kiên định để tiếp tục đi học lại càng khó hơn. Do vậy, Giáo viên cần theo sát các em để giúp đỡ, động viên, nhắc nhở, khuyên bảo kịp thời.

Nhóm giải pháp thứ hai: Xây đựng tập thể lớp đoàn kết, vững mạnh.

Một tập thể lớp đoàn kết, vững mạnh sẽ là một môi trường học tập và rèn luyện tốt cho tất cả các thành viên, sẽ là nguồn động lực to lớn để “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”, để các em không chán học, không mất đi mục tiêu học tập đúng đắn và sẽ không muốn bỏ học nữa.

Nhưng một tập thể lớp có đoàn kết, có vững mạnh hay không, nó phụ thuộc phần lớn vào các giải pháp mà giáo viên chủ nhiệm đề ra, áp dụng cho chính lớp mình. Các Mác đã từng nói rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng“. Vị nhạc trưởng ấy phải là giáo viên chủ nhiệm. Tôi xin chia sẻ một số giải pháp như sau:

Một là: Tìm hiểu đối tượng học sinh.

Đây là khâu quan trọng đầu tiên khi bắt đầu đảm nhận công tác chủ nhiệm bất kỳ một lớp học nào, giáo viên phải tìm hiểu đặc điểm tất cả học sinh nhưng cần tập trung hơn vào nhóm học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và nhóm học sinh có ý thức chưa tốt (học sinh cá biệt).

Ở nhóm học sinh có hoàn cảnh khó khăn, nên quan tâm, động viên, giúp đỡ bằng nhiều hình thức (tinh thần, quỹ học bổng, hỗ trợ…) để các em giảm bớt phần nào gánh nặng học phí, để các em thấy mình được yêu thương, được chia sẽ…từ đó hạn chế việc các em bỏ học.

Ở nhóm học sinh cá biệt, cần có biện pháp tác động đến ý thức một cách phù hợp ngay từ đầu để định hướng hành vi, suy nghĩ tích cực cho các em. Chúng ta đều biết rằng giáo dục một học sinh cá biệt, có học lực yếu kém mất nhiều công sức, thời gian không kém gì so với việc bồi dư­ỡng một học sinh giỏi, nên giáo viên chủ nhiệm cần tìm hiểu, giáo dục bằng cả tình yêu thương và lòng bao dung như một người cha, người mẹ.

Hai là: Xây dựng khối đoàn kết trong lớp học.

Để xây dựng được khối đoàn kết lớp học thì vai trò định hướng của giáo viên chủ nhiệm là vô cùng quan trọng. Có rất nhiều cách để làm được điều đó, và một trong những cách hiệu quả nhất là xây dựng được phong trào, hoạt động tập thể của lớp. Ví dụ như làm công trình thanh niên, phong trào văn hóa-văn nghệ -TDTT… những phong trào này giáo viên cần phải huy động nhiều nhất có thể số lượng thành viên tham gia, bởi chỉ khi các em cùng sinh hoạt, cùng hoạt động, cùng chia sẻ, cùng vui, cùng buồn với nhau thì mới có thể hiểu nhau, yêu thương nhau, đoàn kết với nhau được. Tôi tin chắc rằng, nếu được học tập trong một môi trường như thế, các em sẽ không nỡ bỏ học, không muốn bỏ học nữa.

Phối hợp với phụ huynh học sinh trong việc quản lý, giáo dục học sinh là giải pháp chúng ta đã nói nhiều, nghe nhiều, viết nhiều, nhưng chỉ những giáo viên trực tiếp làm công tác chủ nhiệm mới thấu hiểu được giải pháp này thực hiện không dễ. Thật sự để làm tốt giải pháp này thì người giáo viên phải đầu tư, phải hy sinh khá nhiều thời gian và tâm sức. Một trong những cách để phối hợp tốt nhất với phụ huynh học sinh là phải thông qua các buổi họp cha mẹ học sinh. Trong buổi họp này, giáo viên nên chuẩn bị thật kỹ những yêu cầu, giải pháp mà bản thân cần phụ huynh phải chủ động phối hợp trong năm học.

Bốn là: Công tác phối hợp với các tổ chức Đoàn thể trong, ngoài nhà trường.

Giáo viên chủ nhiệm cần chủ động phối hợp với giáo viên bộ môn, các tổ chức Đoàn thể trong, ngoài nhà trường để kịp thời nắm bắt mọi tình hình của học sinh, kịp thời đưa ra những giải pháp xử lý hiệu quả nhất cho mọi tình huống xảy ra.

Năm là: Thực hiện phân loại học sinh trong lớp để lên kế hoạch bồi dư­ỡng, tổ chức phụ đạo, giúp đỡ học sinh yếu kém.

Công việc này lại đòi hỏi nhiều công sức, sự kiên trì và tâm huyết. Do vậy giáo viên chủ nhiệm cần chủ động trong việc phối hợp với các giáo viên bộ môn để động viên, giúp đỡ những học sinh yếu- đối tượng dễ bỏ học nhất- giúp các em hiểu bài hơn, kích thích sự ham học của các em.

Sáu là: Giáo viên cần chú ý đến công tác hướng nghiệp cho các em học sinh, đặc biệt trong xu thế các em bị tác động bởi tư tưởng học xong không xin được việc làm nên bỏ học.

Trường THPT Phạm Văn Đồng

Một Số Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Học Sinh Học Yếu Môn Toán

1. ĐỀ TÀI MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG HỌC SINH HỌC YẾU MÔN TOÁN 2. ĐẶT VẤN ĐỀ : Trong thời gian qua, Trung tâm HN & GDTX TP Uông Bí đã đạt được nhiều thành quả góp phần phát triển giáo dục của tỉnh nói riêng, kinh tế xã hội của tỉnh nói chung. Tuy nhiên trong thực tế chất lượng học tập của một số học sinh (HS) còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn. Trong quá trình học tập, một số HS tỏ ra chán học, ít hứng thú trong học tập, thiếu mạnh dạn và tự tin, kết quả học tập thấp dẫn đến tình trạng nghỉ học làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của Trung tâm. Một số HS chán học, nghỉ học có nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có nguyên nhân quan trọng là một số học sinh còn học yếu môn Toán cho nên việc triển khai đề tài: “Một số giải pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn toán ” là rất cần thiết.

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong các môn học , môn Toán đóng vai trò hết sức quan trọng, bởi lẽ học môn Toán giúp cho học sinh dần hình thành và phát triển được sự linh hoạt, sáng tạo và tư duy trừu tượng. Học toán giúp con người nâng cao trình độ tính toán, giúp khả năng tư duy logic, sáng tạo. Tuy nhiên, hiện nay tình trạng học sinh học yếu môn Toán ở Trung tâm HN & GDTX TP Uông Bí là một thực tế đáng lo ngại và là nỗi băn khoăn trăn trở của giáo viên dạy Toán. Có nhiều nguyên nhân khiến cho học sinh học yếu môn Toán, song nguyên nhân chính là do học sinh chưa có phương pháp học tập đúng đắn, có nhiều lỗ hỏng về kiến thức, kĩ năng. Nguy hiểm hơn là sự kéo dài từ năm này sang năm khác làm cho các em càng ngày càng hỏng kiến thức. từ thực tế đó tôi nhận thấy cần phải nghiên cứu, tìm ra giải pháp để khắc phục tình trạng trên mới có thể nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, tạo cho học sinh niềm say mê học tập, nhất là với bộ môn Toán. Vì lý do trên nên tôi chọn đề tài ” Tìm hiểu một số giải pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn Toán ” để nghiên cứu. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1

cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục, nhà trường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội. Nhà trường thay vì chỗ truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhận thông tin một cách có hệ thống, có tư duy phân tích và tổng hợp. Việc đổi mới giáo dục đã đáp ứng một cách năng động hơn, hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu của sự phát triển đất nước. Để khẳng định được chất lượng giáo dục của đơn vị thì ngoài việc đầu tư cho chất lượng mũi nhọn là chất lượng bề nổi thì một nhiệm vụ hết sức quan trọng mà mỗi nhà trường cần thiết phải làm đó là nâng cao chất lượng đại trà mà nhất là đối tượng học sinh yếu kém. Vì vậy mỗi nhà trường cần phải tập trung các biện pháp để số học sinh yếu kém chiếm một tỉ lệ thấp nhất. 4 Cơ sở thực tiễn: Tại trường THCS nơi tôi công tác, tất cả cán bộ và giáo viên đều xác định rõ vấn đề nâng cao chất lượng dạy học là sự sống còn của nhà trường, vì vậy chúng tôi đã đầu tư rất nhiều công sức cho công tác này. Song về phía giáo viên mặc dù đã rất nhiệt tình trong công tác, rất yêu nghề, yêu trẻ, tuy nhiên trên thực tế vẫn còn lúng túng trong việc tìm ra các biện pháp có hiệu quả nhất để nâng cao chất lượng học sinh yếu kém. Nguyên nhân dẫn đến kết quả học yếu của học sinh thì rất nhiều, có những nguyên nhân rất dễ xác nhận nhưng có những trường hợp bản thân người làm công tác giáo dục khó phát hiện ra. Muốn giáo dục đối tượng này có hiệu quả thì nhất thiết phải tìm cho được nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh học yếu kém từ đó đề ra các biện pháp để giúp đỡ các em. Trước những vấn đề đó tôi đã chọn đề tài để nghiên cứu “Tìm hiểu một số giải pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn Toán” 5. NỘI DUNG 1/ Tình hình chung : Học tốt được bộ môn Toán sẽ giúp ích cho các em trong các môn học khác, tuy vậy, không ít học sinh đã ngại ngùng khi nhắc tới môn học này, việc 3

học môn Toán đối với các em đa phần là khó khăn và nhiều học sinh còn đạt kết quả chưa cao. Có nhiều nguyên nhân làm cho học sinh học yếu môn Toán, song nguyên nhân chính là học sinh chưa có phương pháp học tập đúng đắn, có nhiều lổ hổng về kiến thức, kỹ năng. Chính vì vậy, tình trạng học sinh học yếu môn Toán ngày càng tăng và nguy hiểm hơn là sự kéo dài từ năm này sang năm khác. 2/ Tình hình : Ý thức học tập của một số học sinh chưa cao, phương pháp học tập chưa phù hợp, dẫn đến chất lượng học tập của các em còn yếu ,vì thế nhiều em sợ học môn Toán. 3/ Một số biểu hiện ở học sinh yếu môn Toán: Học sinh yếu môn Toán là những học sinh có kết quả học tập thường xuyên ở mức độ thấp, điểm kiểm tra thường xuyên dưới trung bình. Sự yếu kém có nhiều biểu hiện, nhiều vẻ nhưng nhìn chung học sinh học yếu Toán có những đặc điểm sau đây: 3.1 Có nhiều lỗ hổng về kiến thức, kỹ năng, không biết vận dụng kiến thức vào bài tập : – Có nhiều học sinh kĩ năng tính toán rất kém, khi thực hiện một dãy các phép toán thì luôn sai sót, đặc biệt là sai dấu. Nguyên nhân là học sinh không nắm được thứ tự thực hiện phép toán nào trước, phép toán nào sau, khi thực hiện các bài toán có dấu ngoặc thì không nắm được quy tắc dấu ngoặc, không nhớ đổi dấu khi có dấu trừ trước dấu ngoặc cũng như không đổi dấu khi chuyển vế hay không nắm vững công thức tính lũy thừa … – Học sinh yếu thường chậm hiểu, có khi bị buộc chặt vào lời giảng của giáo viên hoặc cách phát biểu trong sách giáo khoa, thay cho việc tiếp thu nội dung bài học theo lối tư duy bằng việc nắm kiến thức một cách máy móc. Học sinh có thể đọc vanh vách quy tắc tìm ước, tìm bội, ước chung lớn nhất, bội chung nhỏ nhất …nhưng các em không biết tìm cho đúng, hay không phân biệt 4

được thừa số nguyên tố chung và riêng. Cũng như xác định số mũ của các thừa số còn lẫn lộn … Từ đó dẫn đến sai kết quả bài toán là điều hiển nhiên. 3.2 Thái độ học tập thờ ơ, phương pháp học tập bộ môn Toán chưa tốt. – Nhiều em học sinh chưa tự giác học tập, chưa có động cơ học tập nên học không tốt. Có nhiều em học các môn xã hội rất khá nhưng rất ngại học Toán. Tâm lý chung của học sinh là rất sợ các môn tự nhiên, nhất là môn Toán. Các em học yếu thường không có sự cố gắng liên tục, trong giờ học thường thiếu sự tập trung, không chú ý,có thái dộ rất thụ động và thờ ơ với việc học tập. – Bài tập giao về nhà các em chỉ làm đối phó. Tệ hơn có em còn chép nguyên văn trong sách giải hay của bạn bè mà không hiểu gì, thậm chí có những học sinh cá biệt không làm bài tập ở nhà, thái độ thiếu hợp tác trong giờ học, không mang sách vở đầy đủ, có khi còn không chịu ghi bài. – Khi học ở nhà, các em cũng không có phương pháp học tập và quy trình làm việc đúng. Thường là chưa nắm lý thuyết đã vội lao vào làm bài tập, mà lại không bao giờ làm ngoài nháp. Đây là đặc thù của học sinh học yếu các môn tự nhiên nói chung. Làm không được lại nản chí, quay sang học lý thuyết một cách miễn cưỡng, hình thức, bó chặt vào các ví dụ trong sách giáo khoa hay học vẹt để đối phó. – Học sinh học yếu môn Toán thì thường lười suy nghĩ, chủ yếu trông chờ vào giáo viên giải bài tập trên bảng rồi chép vào vở, khả năng tập trung chú ý thấp, khả năng phân tích, tổng hợp rất hạn chế, nắm kiến thức không chắc nên học sinh thường vận dụng kiến thức một cách máy móc, không tìm hiểu kỹ yêu cầu đề bài, không biết phân tích bài toán.

4/ Nguyên nhân của biểu hiện trên : – Đặc thù của môn Toán là thiếu tính sinh động, hấp dẫn nên học sinh không có ý thức tìm hiểu, khám phá kiến thức mới như các môn học khác. Hơn nữa thiết bị dạy học cho môn Toán không sinh động nên học sinh ít có hứng thú khi học môn Toán và đặc biệt đây là một trong các bộ môn khoa học đòi hỏi 5

người học phải có tính tư duy cao, tính kiên trì, nhẫn nại, đều này không phải ai cũng có sẵn, càng không thể học vẹt, không thể học tuỳ hứng. – Ở lứa tuổi học sinh đầy hiếu động đa số các em chưa tự mình ý thức được cái tốt, cái xấu, các em dễ xúc động và nhạy cảm với các vấn đề xung quanh. Mặc khác, do gia đình ít có thời gian quan tâm, kiểm tra việc học tập của các em, nhiều khi phó mặc cho thầy cô, nhà trường và tự bản thân các em. Từ đó, các em không xác định đúng động cơ học tâp, không hiểu được tầm quan trọng trong việc học nói chung, học môn Toán nói riêng. Ngoài ra, bản thân của các em đã bị mất căn bản từ các lớp dưới, để lổ hỏng kiến thức ngày càng lớn khiến các em luôn có cảm giác mất tự tin trong giờ học, ngày càng xa lạ với môn Toán. Dù bản thân có ý thức tự lực cầu tiến song không tìm được phương pháp học hợp lý. – Bên cạnh đó có một số em là con trong gia đình làm nông, hoặc gia đình không có đủ điều kiện cho các em học tập. Từ những nguyên nhân trên làm cho các em không hứng thú học tập dẫn đến kết quả yếu kém. – Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cùng với Internet, các dịch vụ vui chơi, giải trí hấp dẫn lôi cuốn các em hơn là nhiệm vụ học tập, bên cạnh đó là tệ nạn xã hội có nguy cơ xâm lấn vào nhà trường. Thực tế dạy học môn Toán ở nhiều trường hiện nay cho thấy nhiều, rất nhiều học sinh chán học, lười học và có khuynh hướng “ham chơi hơn ham học”. Tình trạng học tập của các em là “rất khó nhớ nhưng lại mau quên” càng trở nên phổ biến. – Ngoài ra một số giáo viên dạy Toán chưa có biện pháp động viên khích lệ kịp thời đối với những tiến bộ của học sinh dù là rất nhỏ, có thái độ khắc khe làm cho học sinh có tâm lý e sợ trong giờ học, rụt rè không dám phát biểu, … GIẢI PHÁP Để khắc phục phần nào tình trạng trên, tôi xin đưa ra một số giải pháp giúp các em phần nào cải thiện tình trạng yếu kém của bộ môn Toán cũng như việc nắm kiến thức kỹ hơn, sâu hơn, vận dụng được linh hoạt kiến thức đó vào

6

quá trình dạy học, từ đồ dùng dạy học đến nội dung bài dạy để tạo cho học sinh những tiền đề xuất phát nhất định. 2.2 Lấp lỗ hổng kiến thức. – Trong quá trình dạy học trên lớp, người giáo viên phải luôn coi trọng tính vững chắc của kiến thức, kỹ năng, phải quan tâm phát hiện những lỗ hổng kiến thức, yếu kém kỹ năng. Có những lỗ hổng có thể khắc phục được ngay nhưng cũng có những lỗ hổng dù là điển hình nhưng trên lớp chưa đủ thời gian khắc phục và giáo viên phải có kế hoạch tiếp tục giải quyết. – Để tiết dạy có thể vừa dạy kiến thức mới vừa có thể lấp lỗ hổng kiến thức, đòi hỏi giáo viên phải lựa chọn và sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học. Trong giảng dạy người giáo viên nên kết hợp sử dụng tất cả các phương pháp được học từ trường sư phạm như đàm thoại, trực quan, giảng giải, vấn đáp, thuyết trình… Đặc biệt phương pháp dạy học nêu vấn đề, tạo ra tình huống có vấn đề, hỏi đáp với một hệ thống câu hỏi tốt là quá trình dẫn dắt cho học sinh, tác động đến nhiều học sinh nên được sử dụng nhiều và thường xuyên. a) Sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở dùng hệ thống câu hỏi để phát triển sự suy nghĩ của học sinh : Trong toán học kiến thức mới bao giờ cũng mang tính kế thừa nghĩa là có mối quan hệ sâu sắc với các kiến thức cũ, vì thế hệ thống câu hỏi phải làm cho học sinh có thể từ cái đã biết tìm ra cái chưa biết, từ cái dễ nhận biết đến cái khó hơn, hệ thống câu hỏi phải tạo nên một quá trình dìu dắt, hướng dẫn học sinh suy nghĩ và trả lời theo quy luật phát triển của tư duy. Khi học sinh trả lời giáo viên có thể dự đoán trước để kịp thời biến những câu trả lời sai thành những phản ví dụ có ích nhằm khắc sâu kiến thức. Trong quá trình giảng bài mới nhằm kích thích sức học tập của các em, người giáo viên đặt các câu hỏi cụ thể chính xác ngắn gọn và gần sát với câu trả lời, để từ kiến thức cũ xây dựng kiến thức mới, khi trả lời đúng nên cho điểm để khuyến khích các em phát biểu. b) Tạo ra tình huống có vấn đề trong tiết dạy : 8

9

– Chú ý không nên học thuộc lòng theo kiểu “con vẹt” mà phải học nhớ ý của bài giảng của thầy cô rồi dùng lời văn diễn đạt theo sự hiểu biết của mình. – Mỗi ngày nên bỏ ra một ít thời gian để làm bài tập, lâu dần các em sẽ quen và không còn khó khăn khi tính toán các bài toán cộng, trừ, nhân, chia thông thường. – Phải thật sự có tinh thần tự giác, nhận thức được tầm quan trọng của bộ môn, biết cách yêu thích và cố gắng vươn lên để nâng cao chất lượng học tập. – Sắp xếp một thời khoá biểu học tập ở nhà cho thật hợp lí, dành nhiều thời gian cho những bộ môn mình đang rơi vào yếu, kém, tự giác học tập, biết tin vào sự nổ lực và phấn đấu của chính mình, không nên ỷ lại vào thầy cô và bạn bè . 2.4 Giúp đỡ học sinh yếu ngoài tiết học chính khóa: – Giáo viên nên chủ động gặp phụ huynh để trao đổi về việc học của học sinh, cùng với phụ huynh tìm ra giải pháp tối ưu nhất để giúp các em tiến bộ. Kinh nghiệm cho thấy, càng cá nhân hóa triệt để càng tốt, giáo viên làm việc với nhóm độ 1- 2 học sinh thì hiệu quả cao hơn với số lượng đông. – Chúng tôi nhận thấy học sinh càng yếu thì phải có hướng giúp đỡ càng nhiều. Ngoài giờ dạy trên lớp giáo viên phải dành riêng thời gian để quan tâm đến đối tượng học sinh yếu bằng cách dạy phụ đạo riêng. – Nếu có nhiều học sinh yếu thì có thể phân công các em khá, giỏi trong lớp có trách nhiệm giúp đỡ bạn yếu. Bên cạnh đó, việc soạn bài giảng tốt cũng là điều quan trọng. Đối với tiết lí thuyết giáo viên cần suy nghĩ về cách truyền tải lượng kiến thức đến học sinh xem làm thế nào để học sinh có hứng thú với bài học, các ví dụ đưa ra có thích hợp không, tìm cách dạy hợp lý để dẫn dắt sự tìm tòi của các em, lựa chọn phương tiện, phương pháp dạy phù hợp, tìm những bài toán vui, những ứng dụng thực tế, những cách giải khác nhau của bài toán. Đối với tiết luyện tập thầy cô phải làm một cách cẩn thận và xem xét nhiều khía cạch tất cả các bài tập trong SGK và những bài tập cho học sinh làm thêm, không giải một cách qua loa, và 10

sau mỗi tiết dạy cần tự đánh giá bài dạy của mình, nhờ đồng nghiệp dự giờ, rút kinh nghiệm để nâng cao tay nghề, nâng cao chất lượng dạy học, thường tham khảo tài liệu nhằm bổ sung những hiểu biết cần thiết cho việc dạy và học 6. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Biểu hiện học yếu môn Toán trong học tập * Nguyên nhân chủ quan từ bản thân HS TT 1 4 5 6 7 8 9

Nguyên nhân Do không hiểu nhiệm vụ học tập Chưa có phương pháp học tập hợp lý Vốn kinh nghiệm sống ít Nhận thức chậm Không có hứng thú học tập Không nhận thức được tầm quan trọng của học tập Đi học không chuyên cần

* Nguyên nhân khách quan (từ gia đình, xã hội) TT Các nguyên nhân SL 1 Do thiếu sự quan tâm hợp tác từ gia đình 79 2 Do chính quyền địa phương, đoàn thể chưa phối hợp chặt chẽ 2 3 Do gia đình chưa quan tâm và giúp đỡ đúng cách cho HS 76 4 Do ảnh hưởng của kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán của địa phương. 2

giữa thầy và trò. Ông cha ta từ xưa cũng thường bảo “dạy dỗ” để nói đến việc giáo dục một con người, “dạy” là cung cấp nội dung, “dỗ” là làm cách đối xử với con người, làm sao gây thiện cảm, tạo ra hứng thú, phát huy tiềm năng của học sinh hơn là áp đặt ý muốn chủ quan của thầy. Chính vì thế vấn đề cốt lõi vẫn là phải hiểu trẻ, yêu thương và tôn trọng trẻ. Người giáo viên phải là người giỏi về tâm lý trẻ, từ đó mới khám phá ra tâm hồn của trẻ để giáo dục trẻ cho tốt. Khi đã tìm ra phương pháp giáo dục phù hợp, với trách nhiệm lương tâm thì mọi giáo viên chúng ta đều có thể tìm ra con đường đi tới niềm vui trong giáo dục học sinh yếu Toán. ĐỀ NGHỊ 1. Đối với học sinh – Học sinh có đầy đủ sách giáo khoa và dụng cụ học tập. – Vào lớp tích cực lắng nghe thầy cô giảng bài và đóng góp xây dựng bài. – Phải xác định được động cơ và mục đích học tập của mình . 2. Đối với giáo viên. Soạn giảng đúng, đủ theo qui định, theo chuẩn KTKN, ra vào lớp đúng giờ, không cắt xén chương trình, không dạy chay, dạy ép…. Khi lên lớp dạy lý thuyết hay tiết bài tập đều phải chuẩn bị chu đáo, giải kỹ từng bài tập ở nhà, xem kỹ các trường hợp có thể xảy ra để từ đó tìm ra thuật Toán đơn giản nhất, giúp học sinh từng bước nắm được kiến thức và có hứng thú giải Toán. Dạy từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp dựa trên chuẩn kiến thức không cần phải bổ sung, nâng cao đối với học sinh yếu kém; cần giúp học sinh nắm được kiến thức cơ bản, trọng tâm của từng bài Không được chủ quan đối với những kiến thức đã dạy xem như học sinh đã biết rồi mà phải tranh thủ thời gian để ôn tập lại kiến thức cũ khi giảng bài mới và luyện tập.

12

5. Đối với gia đình & Xã hội: – Cha mẹ phải quan tâm nhiều hơn đến con cái, phải quản lí, kiểm tra đôn đốc việc học ở nhà, phải thường xuyên liên hệ với nhà trường, với GVCN, với giáo viên bộ môn để biết được điểm mạnh, điểm yếu của con em mình. Uông Bí ngày 10 tháng 05 năm 2013 Người thực hiện

Nguyễn Văn Hùng

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên chu kỳ III (2004 – 2007) – Nhà xuất bản giáo dục năm 2005. 2. SGK Toán 10 – Nhà xuất bản giáo dục 2008. 14

3. SGV Toán 10 – Nhà xuất bản giáo dục 2008. 4. Sách thiết kế bài giảng Toán 10 – Nhà xuất bản giáo dục 2008. 5. Một số vấn đề đổi mới phương pháp giáo dục ở trường THCS – Nhà xuất bản giáo dục năm 2002. 6. Đề cương bài giảng Nghiên cứu khoa học ( CĐSP Bắc Ninh ).

MỤC LỤC

A. MỞ ĐẦU

1/ Đặt vấn đề

1

2/ Lý do chọn đề tài

1

3/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1

4/ Nhiệm vụ nghiên cứu

1

5/ Các phương pháp nghiên cứu

2

B. NỘI DUNG

2

Chương I : Cơ sở lý luận

2

1/ Cơ sở lý luận

2

2/ Cơ sở thực tiễn

2

Chương II : Kết quả điều tra khảo sát thực tiễn

3

1/ Tình hình chung

3

2/ Tình hình

3

3/ Một số biểu hiện ở học sinh yếu môn Toán

3

4/ Nguyên nhân

3

Chương III : Giải pháp

5

1/ Giải pháp tâm lý

5

2/ Giải pháp dạy học

7

C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

11

16

PHIẾU ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI SKKN

BAN GIÁM ĐỐC 17

( Ký tên, đóng dấu )

18

Nguyên Nhân Sinh Viên Bỏ Học Và Giải Pháp Khắc Phục

Lấy nội dung ” vì sao sinh viên bỏ học và giải pháp để giảm tỷ lệ bỏ học” vào mỗi buổi sinh hoạt lớp hằng tháng tôi đều lấy ý kiến của sinh viên, cho các em nêu nguyên nhân tại sao các bạn bỏ học, đa số ý kiến cho rằng do các bạn không có ý thức học tập, coi nhẹ việc học, nên không thích đến trường . Nhưng theo bản thân tôi các em nghỉ học do một số nguyên nhân sau:

– Nghỉ học vì thi đậu đại học

– Chưa định hướng được nghề mình chọn nên khi vào học thấy không thích

– Gia đình cho đi học nhưng các em thiếu ý thức học tập

– Đi du học

– Do hoàn cảnh gia đình không đủ khả năng đi học

– Trốn nghĩa vụ

Từ những nguyên nhân trên tôi xin phân tích từng nguyên nhân vào đưa ra giải pháp

Nghỉ học vì thi đầu đại học hay chưa định hướng được nghề mình sẽ đi.

Các em chưa định hướng ngành nghề rõ ràng, do chọn nghề theo bạn bè, hoặc do nhu cầu xã hội, nên khi học một thời gian cảm thấy chán nản, bỏ học hoặc chuyển sang học nghề khác. Nguyên nhân thứ 2 là do “Tâm lý của học sinh, phụ huynh vẫn thích vào học đại học. Có trường hợp các em chọn học cao đẳng nghề, nhưng trong quá trình học cố gắng luyện thi để thi đại học”. Điều này cũng dễ lý giải vì sao các trường cao đẳng nghề, trung cấp chuyên nghiệp công lập lẫn ngoài công lập, hằng năm đều có “hao hụt” học sinh trong quá trình học hoặc sau khi tốt nghiệp.

– Từ nguyên nhân trên tôi xin đưa ra giải pháp: trường hợp các em có nghị lực phấn đấu thi và đậu vào đại học thì tôi xin không đưa ra giải pháp, riêng trường hợp các em chưa định hướng được nghề nghiệp thì nhà trường nên có một bộ phận hướng nghiệp rõ ràng cho các em trong giai đoạn tuyển sinh và trong học kỳ 1 năm đầu tiên

– Nhà trường nên xây dựng và hiệu chỉnh lại chương trình đào tạo hệ cao đẳng, vì có thể một số nội dung và môn học chưa phù hợp với trình độ của sinh viên hệ cao đẳng, vì đa phần các em vào trường là những thành phần nhát học, nhưng chúng ta nặng về lý thuyết nhiều quá chính vì vậy gây cho các em sự nhàm chán và không đạt được mục tiêu mong muốn.

– Nâng cao thiết bị học tập, để cho sinh viên thực hành nhiều hơn.

– Tổ chức cho các em đi thực tế

Gia đình cho đi học nhưng do các em thiếu ý thức học tập:

Trường hợp này nó cũng rơi vào một phần của trường hợp thứ nhất, vì bản thân các em đã có năng lực yếu kém, không thích đến trường nên nhà trường, nên nhà trường cần làm sao cho các em thích đến trường như cho các em đi thực tế, tổ chức những chương trình cho các em vui chơi. Trường hợp chúng ta không khích lệ dược các em thì chúng ta vận động gia đình khuyên nhủ các em đến trường, một bộ phận không kém phần quan trọng để ràng buộc các em đến trường là bộ phận giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm.

Có khi nào các thầy cô đứng lớp thắc mắc và tìm cách lý giải cho những giờ học rất nhiều SV bỏ tiết, nhưng có những giờ học lại rất đông đủ?

Điều này xuất phát từ việc thầy cô có điểm danh chặt hay không. Nếu thầy cô chỉ điểm danh theo kiểu gọi tên, SV ( một ai đó ở dưới) hô “có” thì rất dễ xảy ra tình trạng điểm danh hộ. Còn nếu như điểm danh chặt thì ít có SV nào dám cúp tiết. Vậy có cách nào để điểm danh và quản lý chặt SV không?

Xin nêu ra một vài cách đó là: điểm danh nhìn mặt, điểm danh giấy rồi thầy đi thu từng bàn và đếm số SV, và SV còn phải sợ hơn nếu có một lời cảnh báo từ phía thầy cô: nghỉ học từ 2 buổi trở lên hay điểm danh xong mà bỏ về luôn thì xin mời học lại. Vì vậy, điểm danh có hiệu quả cũng là một giải pháp, không chỉ hạn chế số SV bỏ tiết mà còn tạo ra sự công bằng giữa các SV.

Nếu điểm danh chặt mà SV vẫn còn tiếp tục bỏ tiết thì chúng ta cần phải tìm hiểu kĩ nguyên nhân vì sao?

Vậy lý do SV bỏ tiết là gì? Cũng có những lý do chính đáng, nhưng lý do tiêu cực đó chính là do SV buồn ngủ, lười đi học, ngại trời mưa, không có cảm hứng học, môn học chán, hay…thầy cô dạy chán.

Theo bản thân tôi trường hợp này có thể khắc phục theo cách sau :

– Cho các bạn nghỉ học thành lập thành 1 nhóm và tổ chức cho các bạn một chương trình vui chơi cụ thể là: Chúng ta đưa ra trò chơi cam kết đi học và bầu ra một bạn làm thủ quỹ, nếu bạn nào nghỉ học một ngày thì phải nộp cho thủ quỹ một số tiền ( theo quy định của nhóm ), số tiền này cuối tháng hoặc cuối kỳ sẽ dẫn cả nhóm đi uống café, nếu cả nhóm đều đi học đủ thì GVCN sẽ dẫn nhóm đi uống càfe vào cuối kỳ, như vậy các em có thêm một trò chơi và hứng thú hơn khi đến lớp đỡ lẫn nhau trong học tập.

– Khuyến khích SV học và tìm nguồn cảm hứng từ bè bạn:

Cũng giống như một buổi đi chơi không thể vui khi vắng bạn bè, một môn học có thể trở thành niềm say mê của SV khi được bạn bè tác động. GVCN có thể giúp đỡ SV của mình tham gia các nhóm tự học tập tại nhà với bạn bè. Qua đó GVCN định hướng những mục tiêu, kế hoạch học tập rõ ràng cho SV (để tránh tình trạng buôn dưa lê) hoặc giúp đỡ các SV yếu kém kết bạn với những bạn học “cực đỉnh” trong lớp để có thể hiểu vì sao bạn ấy lại giỏi đến vậy.

Những giải pháp trên chỉ để hỗ trợ cho SV, khiến những buổi học thú vị hơn. Điều cốt yếu vẫn là chính bản thân SV mà thôi. Khi SV kiên quyết nói không, những cám dỗ chẳng thể nào nói có được, đúng không nào?

3. Gia đình quá khó khăn không có điều kiện để đi học, phải nghỉ học ở nhà đi làm phụ giúp gia đình kiếm miếng ăn hằng ngày. Để những SV này trở lại trường thì cần tạo điều kiện cho các em. Bởi vì chỉ khi nào gia đình các em ổn định về kinh tế thì các em mới dồn tâm trí cho chuyện học được. Chính quyền địa phương cần có chính sách hỗ trợ những gia đình khó khăn có con em đi học như hỗ trợ vốn để phát triển kinh tế, có chính sách ưu đãi đặc biệt. Ngoài ra, nhà trường cũng nên tích cực trong việc vận động kêu gọi sự giúp đỡ từ các nhà hảo tâm, các doanh nghiệp để xây dựng quĩ học bổng giúp đỡ học sinh nghèo.

Ngoài những giải pháp trên nhà trường nên có những biện pháp thưởng – phạt( là hình thức để các em phấn đấu – ví dụ: có những suất học bổng nho nhỏ để làm tục tiêu cho các em phấn đấu )

GVHa Lien

Bạn đang xem bài viết Các Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Học Sinh Bỏ Học Ở Trường Thpt Lê Lai trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!