Xem Nhiều 12/2022 #️ Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Của Ngành Giáo Dục Và Đào Tạo Gắn Với Thực Hiện Đề Án 25 Của Huyện Giai Đoạn 2022 / 2023 # Top 21 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 12/2022 # Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Của Ngành Giáo Dục Và Đào Tạo Gắn Với Thực Hiện Đề Án 25 Của Huyện Giai Đoạn 2022 / 2023 # Top 21 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Của Ngành Giáo Dục Và Đào Tạo Gắn Với Thực Hiện Đề Án 25 Của Huyện Giai Đoạn 2022 / 2023 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nhờ thực hiện những giải pháp đồng bộ trên, ngành Giáo dục và Đào tạo đã đạt được những kết quả đáng khích lệ: chất lượng giáo dục đã có nhiểu chuyển biến tích cực, chất lượng mũi nhọn, chất lượng giáo dục vùng cao đã từng bước được nâng lên; tỷ lệ học sinh bỏ học giảm; củng cố vững chắc kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi.

Thực hiện Chỉ thị số 25-CT/TU ngày 28/02/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh ban hành về việc triển khai thực hiện Kết luận 64-KL/TW, ngày 28/5/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và Nghị quyết số 10-NQ/TU, ngày 05/12/2013 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về nội dung “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; tinh giản bộ máy, biên chế” là cơ hội, điều kiện thuận lợi để ngành Giáo dục và Đào tạo thực hiện bố trí, sắp xếp lại số lượng, cơ cấu mạng lưới trường, điểm trường, lớp, biên chế cán bộ, giáo viên, nhân viên nhằm tinh giản bộ máy, biên chế nâng cao chất lượng giáo dục. Phòng GD&ĐT đã xây dựng Đề án tinh giản bộ máy biên chế ngành Giáo dục và Đào tạo huyện Bình Liêu giai đoạn 2014- 2020, trong đó tập trung thực hiện các giải pháp: ghép lớp giữa các điểm trường lẻ có ít học sinh; giảm điểm trường lẻ; đưa học sinh lớp 4, 5 tại các điểm trường lẻ về học bán trú tại điểm trường chính; bố trí, sắp xếp lại chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; từ đó giảm được nhu cầu số lượng biên chế cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên.

Năm học 2014-2015, thực hiện sự chỉ đạo của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, sự vào cuộc của các ban, ngành, đoàn thể, Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn, Ngành đã triển khai thực hiện thí điểm một số nội dung của Đề án, cụ thể: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong ngành và nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện về việc triển khai thực hiện Đề án tinh giản bộ máy biên chế trong ngành Giáo dục và Đào tạo; Chỉ đạo các trường thực hiện bố trí, sắp xếp lại chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên theo hướng một người kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ phù hợp, gắn trách nhiệm của cá nhân với kết quả thực hiện nhiệm vụ; Thực hiện ghép 16 lớp giữa các điểm trường. Giảm 04 điểm trường lẻ (2 điểm trường Mầm non, 2 điểm trường Tiểu học). Đặc biệt, trong năm học 2014-2015, ngành đã thực hiện thí điểm thành công việc đưa học sinh lớp 5 tại 14 điểm trưởng lẻ về học bán trú tại điểm chính tại các trường TH Đồng Văn và TH Lục Hồn. Để thực hiện được việc đưa học sinh lớp 5 tại các điểm trưởng lẻ về học bán trú tại điểm trường chính, ngay từ đầu năm học, Phòng Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu với UBND huyện tập trung mọi nguồn lực để sửa chữa, cải tạo, xây dựng nhà ở nội trú, bếp ăn, nhà vệ sinh; mua sắm giường, bàn ghế, chăn màn, đồ dùng sinh hoạt…cho học sinh ở nội trú. Bên cạnh đó, Phòng đã tích cực chỉ đạo các nhà trường xây dựng lịch học tập, sinh hoạt hàng ngày, hàng tuần cho học sinh sao cho phù hợp với điều kiện từng địa phương, từng dân tộc; tổ chức quản lý giờ giấc, chăm sóc, dạy dỗ, hướng dẫn các em thói quen vệ sinh và nền nếp trong học tập, sinh hoạt, giao lưu, học hỏi, tạo cho các em sân chơi bổ ích.

Với việc thực hiện các nội dung trên, trong năm học 2014-2015, ngành đã đạt được một số kết quả nổi bật: Về quy mô lớp, giảm được 30 lớp so với năm học 2013-2014; Giảm được 36 giáo viên so với nhu cầu giáo viên năm học trước; Chất lượng giáo dục của học sinh: chất lượng học tập của học sinh các lớp bán trú được nâng lên. Khả năng Tiếng Việt của học sinh có nhiều tiến bộ, các em mạnh dạn, tự tin hơn trong các hoạt động giao tiếp và học tập, đây là tiền đề quan trọng các em bước vào lớp 6; Ý thức trách nhiệm của đội ngũ giáo viên, nhân viên cũng có những chuyển biến rõ rệt. Đặc biệt là đội ngũ giáo viên đã chủ động hơn trong việc tìm ra các phương pháp giảng dạy hiệu quả, phù hợp với các đối tương học sinh.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác giáo dục và đào tạo của ngành còn một số tồn tại, khó khăn, thách thức sau:Chất lượng giáo dục chưa đồng đều giữa trung tâm huyện với các xã, giữa vùng thấp với vùng cao và chưa đạt được yêu cầu mục tiêu đề ra. Công tác xã hội hoá giáo dục còn nhiều hạn chế; Đại đa số các trường mầm non, tiểu học đều có nhiều điểm trường lẻ (toàn huyện hiện có 121 điểm trường lẻ), cơ sở vật chất còn thiếu thốn, giao thông đi lại nhiều điểm trường còn khó khăn, nhận thức của nhân dân, học sinh ở một số điểm trường vùng cao còn hạn chế…nên ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của việc đổi mới nội dung chương trình, áp dụng phương pháp giảng dạy mới; Nghiệp vụ quản lý của một số cán bộ quản lý trường học còn hạn chế, chất lượng đội ngũ giáo viên không đồng đều, một số chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới về chuyên môn nghiệp vụ; Việc triển khai thực hiện Triển khai thực hiện Đề án tinh giản bộ máy, biên chế ngành giáo dục và đào tạo giai đoạn 2014-2020 theo tinh thần Chỉ thị số 25-CT/TU, ngày 28/02/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh đòi hỏi phải đầu tư nhiều về cơ sở vật chất phục vụ cho tổ chức ăn bán trú, số lượng giáo viên dôi dư hàng năm tương đối lớn, việc vận động nhân dân trong việc dồn ghép các điểm trường, tổ chức học bán trú cho học sinh… là những khó khăn, thách thức không nhỏ đối với ngành trong thời gian tới.

Để đảm bảo cho chất lượng giáo dục tiếp tục phát triển ổn định và bền vững trong giai đoạn 2015-2020, gắn với việc thực hiện Đề án 25, ngành Giáo dục và Đào tạo xác định cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: Nâng cao vai trò lãnh đạo của người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Tích cực tham mưu với cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện chỉ thị của Đảng, phối hợp đồng bộ giữa các ban, ngành, tạo động lực cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo ngày càng phát triển; Triển khai thực hiện Đề án tinh giản bộ máy, biên chế ngành giáo dục và đào tạo giai đoạn 2014-2020 theo tinh thần Chỉ thị số 25-CT/TU, ngày 28/02/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh về việc triển khai thực hiện Kết luận 64-KL/TW, ngày 28/5/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và Nghị quyết số 10-NQ/TU, ngày 05/12/2013 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về nội dung “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; tinh giản bộ máy, biên chế”. Trong đó tập trung thực hiện các nội dung: thực hiện quy mô trường, lớp hợp lý trên cơ sở đảm bảo đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh toàn huyện; nhân rộng mô hình đưa học lớp 4, 5 tại các điểm trường lẻ về học bán trú tại điểm trường chính; tiếp tục thực hiện bố trí, sắp xếp lại chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; giải quyết nghỉ hưu trước tuổi đối với các giáo viên yếu chuyên môn, yếu sức khỏe và có đủ điều kiện…;Triển khai thực hiện có hiệu quả Kế hoạch số 79/KH-HU ngày 02/4/2014 của Huyện ủy Bình Liêu về thực hiện Nghị quyết số 29- NQ/TW Hội nghị TW8 (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Tiếp tục quán triệt Chỉ thị 40-CT/TW, nhằm nâng cao nhận thức, vai trò của toàn bộ cán bộ, viên chức trong ngành trong việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà và cán bộ quản lý giáo dục; Tiếp tục củng cố kỷ cương, nề nếp trong kiểm tra đánh giá, thi cử đảm bảo khách quan, công bằng. Tập trung chỉ đạo đổi mới kiểm tra đánh giá, thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, học tập và quản lý; Chỉ đạo thực hiện tốt việc rà soát, đánh giá, phân loại đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý làm cơ sở để đề ra các giải pháp xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hóa, nâng cao chất lượng về trình độ chuyên môn, trình độ quản lý, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục và đào tạo trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Một năm học mới bắt đầu, với những giải pháp trên, tin rằng chất lượng giáo dục và đào tạo của huyện sẽ ngày càng được nâng cao, diện mạo của ngành Giáo dục và Đào tạo huyện sẽ từng bước đổi thay tích cực, đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục – đào tạo, đặc biệt góp phần thực hiện thành công Đề án 25 của huyện.

Nhiều Giải Pháp Thiết Thực Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Và Đào Tạo / 2023

Bộ GD&ĐT đã và đang xây dựng Đề án Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) và sư phạm, trong đó tập trung xây dựng các trường sư phạm trọng điểm như: Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, Trường ĐH Sư phạm TP HCM… là những máy cái để đào tạo, bồi dưỡng lại đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu của chương trình GDPT mới.

Đồng thời tiến hành khảo sát nhu cầu sử dụng giáo viên toàn quốc làm cơ sở giao chỉ tiêu đào tạo theo nhu cầu thực tiễn của từng địa phương và cơ sở giáo dục. Như vậy sẽ chỉ đào tạo sư phạm theo nhu cầu thực tế thay vì đào tạo theo năng lực của cơ sở đào tạo như trước đây. Nâng cao điều kiện chất lượng đầu vào tuyển sinh sư phạm (chẳng hạn yêu cầu thí sinh phải có lực học khá giỏi khi xét tuyển học bạ) và quy định điểm sàn đầu vào.

Cùng với đó giám sát, công khai các điều kiện đảm bảo chất lượng: Cơ sở vật chất, Giảng viên, tỷ lệ việc làm của sinh viên. Tăng cường kiểm định và công khai kết quả kiểm định chất lượng đào tạo sư phạm.

Đổi mới chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy gắn với chương trình phổ thông mới để giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo. Nghiên cứu đề xuất xây dựng chính sách nâng chuẩn giáo viên phổ thông.

Cụ thể, Dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Giáo dục đã đề xuất nâng chuẩn giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở phải đạt trình độ đại học thay vì trung cấp, cao đẳng như trước đây.

Cùng với đó, đề xuất tăng lương, cải thiện chế độ đãi ngộ cho đội ngũ nhà giáo để các thầy cô yên tâm lao động, cống hiến và học tập. Người học sư phạm cũng thấy yên tâm hơn khi ra trường.

Hạn chế học sinh, sinh viên đi học nước ngoài

Xây dựng các trường xuất sắc tại Việt Nam theo chuẩn quốc tế như các Trường ĐH Việt pháp, Trường ĐH Việt Đức, Trường ĐH Việt Nhật… để tạo môi trường quốc tế hóa giáo dục đại học Việt Nam. Chất lượng đầu ra sẽ tiệm cận với chuẩn đào tạo quốc tế.

Cụ thể như: Triển khai các chương trình chất lượng cao, nhập khẩu từ các nước phát triển: Chương trình tiên tiến, chương trình kỹ sư chất lượng cao… POHE, Liên kết đào tạo quốc tế (Các chương trình đào tạo được kiểm định bởi tổ chức quốc tế, văn bằng được quốc tế công nhận, chương trình, giáo trình nhập khẩu và giảng dạy bằng ngoại ngữ, có sự tham gia của các giáo sư nước ngoài, chương trường đào tạo được cấp song bằng).

Có các chính sách thu hút các sinh viên nước ngoài học tập tại Việt Nam để tạo ra môi trường học tập quốc tế. Tăng cường trao đổi sinh viên quốc tế hai chiều. Khuyến khích và hỗ trợ các trường đại học Việt Nam tham gia kiểm định quốc tế, tham gia các bảng xếp hạng quốc tế để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo , để bằng cấp ĐH của Việt Nam được quốc tế công, qua đó khẳng định uy tín và vị thế của các trường đại học Việt Nam hội nhập với khu vực và trên thế giới.

Đồng thời, tăng cường năng lực ngoại ngữ cho đội ngũ giảng viên để nâng cao năng lực hội nhập và công bố khoa học quốc tế cũng như năng lực ngoại ngữ cho sinh viên để có thêm công cụ hội nhập trong học tập và hội nhập với thị trường lao động quốc tế.

Để sinh viên ra trường làm đúng nghề đào tạo

Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư số: 07/2015/TT-BGDĐT quy định việc xây dựng, thẩm định và trong quá trình tổ chức, thực hiện chương trình đào tạo phải có sự tham gia của đơn vị sử dụng lao động, doanh nghiệp. Như vậy nội dung chương trình đào tạo sẽ gắn chặt chẽ, thiết thực với yêu cầu để hình thành năng lực làm việc của người sử dụng lao động.

Trong các thông tư quy định về mở ngành (Thông tư 09 và 22/2017/TT-BGDĐT), Bộ đưa ra yêu cầu mở ngành mới phải căn cứ vào nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp.

Điều này sẽ kết nối chặt chẽ giữa cung và cầu, hạn chế tình trạng quá nhiều trường tập trung đào tạo vào 1 số nhóm ngành dẫn đến dư thừa lao động cục bộ ở một số nhóm ngành. Chẳng hạn như một số năm trước đây đã có cảnh báo dư thừa nhân lực Tài chính ngân hàng, Quản trị kinh doanh…

Để thực hiện chiến lược phát triển du lịch Quốc gia cũng như việc phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp 4.0, Bộ cũng đã xây dựng và ban hành công văn hướng dẫn cơ chế đào tạo đặc thù ngành Du lịch và công nghệ thông tin (CNTT) theo hướng yêu cầu gắn kết đào tạo với doanh nghiệp, cam kết đầu ra của doanh nghiệp là điều kiện bắt buộc để thực hiện cơ chế tự chủ xác định chỉ tiêu tuyển sinh, tổ chức đào tạo thực hành tại doanh nghiệp.

Triển khai Chương trình đào tạo theo định hướng ứng dụng nghề nghiệp (POHE ) tại 8 trường đại học với 40 chương trình đào tạo theo hai giai đoạn. Một số chương trình đã có sự lan tỏa ra nhiều trường ĐH khác dù không tham gia dự án.

Triển khai xây dựng phát triển chương trình đào tạo theo chuẩn CDIO (là một quy trình xây dựng chương trình đào tạo để đáp ứng chuẩnđầu ra với sự tham gia của đơn vị sử dụng lao động từ khâu thiết kế chương trình đào tạo đến khâu triển khai và sử dụng sinh viên sau tốt nghiệp).

Đặc biệt, Bộ GD&ĐT đang đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục đại học, trong đó có đề xuất xây dựng chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào giáo dục đại học, tham gia hỗ trợ thực hành, thực tập, cấp học bổng cho sinh viên, giám sát chuẩn đầu ra, phản hồi về chất lượng sinh viên tốt nghiệp.

Để khắc phục tình trạng sinh viên ra trường không có việc làm hoặc làm không đúng ngành nghề đào tạo, Bộ GĐ&ĐT đã và đang triển khai các giải pháp như: Hoàn thiện cơ chế chính sách phát triển GDĐH: Đã trình Thủ tướng Chính phủ Đề án Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025; Soạn thảo trình QH ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GD và Luật GDĐH; trình Chính phủ ban hành Nghị định tự chủ đối với các cơ sở GDĐH công lập…

Tiến hành quy hoạch lại mạng lưới cơ sở đào tạo, tăng cường hiệu quả công tác dự báo nhu cầu nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của quốc gia.Tăng cường kiểm định chất lượng, đổi mới chương trình đào tạo để nâng cao chất lượng đào tạo.

Cùng với đó, yêu cầu các cơ sở GDĐH tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp để gắn đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động trong và ngoài nước. Các trường đại học phải căn cứ vào kết quả khảo sát tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm để đổi mới chương trình, phương pháp đào tạo, điều chỉnh chỉ tiêu tuyển sinh, ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.

Từ năm 2016, Bộ GD&ĐT yêu cầu các trường đại học phải tiến hành khảo sát tỷ lệ việc làm của sinh viên sau 1 năm ra trường và phải công bố công khai số liệu này trong Đề án tuyển sinh đại học, làm cơ sở định hướng cho một số hoạt động quản lý giáo dục và để người học tham khảo, chọn trường, ngành học. Theo GD&TĐ

Ngành Giáo Dục Và Đào Tạo: Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Toàn Diện / 2023

Một giờ học văn hóa tại Trường THPT Gia Viễn A

Kết quả sau gần 5 năm thực hiện, đối chiếu với các chỉ tiêu, nhiệm vụ đề ra, ngành Giáo dục đã thực hiện tốt, đảm bảo đúng tiến độ. Một số chỉ tiêu đã về đích trước 2 năm kế hoạch đề ra như: Xây dựng trường chuẩn Quốc gia cấp Tiểu học, THCS; các trường mầm non, tiểu học THCS, THPT, TTGDNN-GDTX có phòng ứng dụng CNTT được kết nối Internet tốc độ cao…

Là một trong những cơ sở giáo dục THPT đạt danh hiệu trường chuẩn quốc gia muộn, nhưng Trường THPT Gia Viễn A lại là cơ sở giáo dục trung học đầu tiên của tỉnh thực hiện công tác tự đánh giá theo Thông tư 18/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018 của Bộ GDĐT ban hành Quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học. Thầy giáo Lê Thành Dương, Hiệu trưởng Trường THPT Gia Viễn A cho biết: Việc kết hợp bộ tiêu chuẩn công nhận kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đã mang lại nhiều thuận lợi cho nhà trường. Với hơn 100 tiêu chí đánh giá, được thực hiện chặt chẽ, có lộ trình, cho thấy, công tác tự đánh giá là việc làm vô cùng cần thiết đối với các cơ sở giáo dục trong bối cảnh hiện nay, giúp nhà trường nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những việc đã làm, đang làm, những việc cần làm, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho nhà trường nói riêng, cho địa phương và ngành giáo dục tỉnh nói chung… Với sự chuẩn bị chu đáo, đầy đủ, chi tiết, công tác tự đánh giá của nhà trường đã được Đoàn công tác của Sở GD&ĐT công nhận đạt kiểm định chất lượng giáo dục cấp độ 2 và được UBND tỉnh công nhận trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1, thời hạn 5 năm vào cuối năm 2019.

Nhà giáo Đỗ Văn Thông, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Ninh Bình cho biết: 5 năm qua, Ngành Giáo dục đã duy trì tương đối ổn định quy mô trường, lớp các cấp học, tỷ lệ học sinh bỏ học ít. Số lượng trường, nhóm lớp mầm non tư thục tăng, đáp ứng nhu cầu gửi trẻ của nhân dân, góp phần giảm bớt tình trạng quá tải trẻ/lớp, nhóm. Số trẻ em ở độ tuổi nhà trẻ được huy động đến lớp đạt tỷ lệ 60,2% dân số độ tuổi, trẻ mẫu giáo đến lớp đạt 99,1% dân số độ tuổi (vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh). Huy động 99,9% trẻ 6 tuổi vào lớp 1 và học sinh hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học vào lớp 6. Cùng với đó, 8/8 huyện, thành phố đều tiếp tục củng cố, duy trì tốt và đạt chuẩn phổ cập giáo dục, xóa mù chữ ở các mức độ cao nhất. Năm 2018, tỉnh Ninh Bình được Bộ GD&ĐT công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục, xóa mù chữ và đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 3, chuẩn xóa mù chữ mức độ 2. Đây là mức độ cao nhất trong tiêu chí về phổ cập giáo dục, Ninh Bình là tỉnh thứ 3 của cả nước dẫn đầu về công tác phổ cập giáo dục xóa mù chữ.

Việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trường chuẩn Quốc gia ngày càng phát triển theo hướng hiện đại, đồng bộ, số trường học đạt chuẩn quốc gia và tỷ lệ phòng học kiên cố, phòng bộ môn, thư viện đạt chuẩn tăng; trang thiết bị giáo dục ngày càng đáp ứng tốt hơn quá trình dạy và học. Trong 5 năm, toàn tỉnh đã đầu tư xây mới, sửa chữa 1.373 phòng học, 213 phòng hiệu bộ, 431 phòng chức năng, 512 nhà vệ sinh và 63.760 m2 sân, tường rào. Tính đến tháng 12/2019, tỷ lệ phòng học cao tầng kiên cố đạt 87,5%, dự kiến đến hết năm 2020, tỷ lệ phòng học cao tầng kiên cố 88%, đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI (tăng 3,7% so với năm 2015). Ngành cũng đã tích cực phối hợp với các địa phương chỉ đạo xây dựng trường học đạt chuẩn Quốc gia theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới. Đến nay, có 437/474 trường học đạt chuẩn quốc gia, chiếm 92,2%; 122/145 xã, phường, thị trấn; 4 huyện, thành phố (Hoa Lư, Yên Khánh, thành phố Ninh Bình, thành phố Tam Điệp) có 100% trường mầm non, tiểu học, THCS công lập đều đạt chuẩn quốc gia. Tỷ lệ trường học chuẩn quốc gia đạt và vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI ở hai cấp học tiểu học và THCS (hoàn thành trước 2 năm). Kết quả xây dựng trường chuẩn quốc gia đã nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, góp phần vào công cuộc xây dựng nông thôn mới ở các địa phương.

Chất lượng đội ngũ, công tác quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ngày càng đạt được những kết quả toàn diện. Đội ngũ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, THCS được kiện toàn, luân chuyển công tác đảm bảo đúng, đủ theo quy định, phát huy được năng lực lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ. Đến nay, toàn ngành có 3 tiến sỹ, trên 650 thạc sỹ; tỷ lệ nhà giáo có trình độ đạt chuẩn trở lên là 99,9%, trên chuẩn chiếm 82,06%. Bên cạnh đó, toàn ngành đã tích cực bồi dưỡng đội ngũ, chuẩn bị cho triển khai thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới. Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên, tổ chức tốt các kỳ thi cấp tỉnh và cấp quốc gia, học sinh và giáo viên Ninh Bình tham dự các kỳ thi quốc gia, quốc tế đều đạt kết quả khá, tốt. Kết quả thi THPT quốc gia tỉnh Ninh Bình nhiều năm liền xếp trong tốp 5 tỉnh, thành phố có điểm trung bình tất cả các bài thi cao của cả nước.

Ngành Giáo dục cũng đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học, quản lý giáo dục. Năm 2018, Sở Giáo dục và Đào tạo Ninh Bình được UBND tỉnh xếp thứ Nhất về chỉ số cải cách hành chính trong số 17 sở, ban, ngành của tỉnh. Ngành cũng chỉ đạo đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy, học và quản lý hồ sơ chuyên môn, quản lý kết quả học tập và rèn luyện của học sinh. Đến nay, cấp học mầm non có 82/153 trường (chiếm 53,6%), 47/97 cơ sở giáo dục mầm non tư thục (chiếm 48,5%) lắp đặt camera phục vụ công tác quản lý và nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Tính đến tháng 10/2019, 100% trường THPT và Trung tâm GDNN-GDTX có phòng ứng dụng công nghệ thông tin được kết nối Internet tốc độ cao (đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI); 71% các trường mầm non, tiểu học, THCS có phòng ứng dụng công nghệ thông tin được kết nối Internet tốc độ cao (vượt 11% chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI)…

Thời gian tiếp theo, ngành Giáo dục Ninh Bình đề ra mục tiêu tiếp tục phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh theo hướng toàn diện và vững chắc; tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục – đào tạo; thực hiện tốt mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Phấn đấu đạt một số chỉ tiêu quan trọng, như xây dựng trường chuẩn Quốc gia: Đến hết năm 2025, trường học đạt chuẩn quốc gia bậc học mầm non 98%, tiểu học 94% (đạt chuẩn quốc gia mức độ 2), THCS 97%, THPT 80%. Đảm bảo có đủ thiết bị để dạy học môn Tin học trong các cơ sở giáo dục theo quy định của Bộ GD&ĐT. Tỷ lệ phòng học kiên cố hóa đạt 90%; có 85% giáo viên đạt trình độ trên chuẩn về đào tạo, trong đó cấp THPT là 30%… Đến năm 2025, Ninh Bình trở thành tỉnh có nền giáo dục – đào tạo chất lượng, uy tín trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ và cả nước.

nguồn: Mỹ Hạnh/baoninhbinh.org.vn

Thực Hiện Có Hiệu Quả Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Và Đào Tạo Trên Địa Bàn Tỉnh Nghệ An / 2023

Nhìn lại trong thời gian qua ngành giáo dục Nghệ An (ngành) cũng có thể tự hào vì đã đạt được nhiều kết quả nổi bật.

Trong đó, với chức năng tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền về lĩnh vực giáo dục và đào tạo trên địa bàn, trong 5 năm qua Sở Giáo dục đã tham mưu Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng để phục vụ công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo với 7 Nghị quyết, 2 Đề án, 12 Kế hoạch, 23 Quyết định và 6 Chỉ thị. Trong đó, đặc biệt là các chương trình, kế hoạch, đề án triển khai Chương trình hành động số 33-CTr/TU thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Trên lĩnh vực chuyên môn, ngành đã triển khai thực hiện tốt quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục và đào tạo. Vì vậy, tính đến tháng 3/2020, toàn ngành đã giảm 47 đơn vị sự nghiệp công lập với 3 trường mầm non, 19 trường Tiểu học, 12 trường THCS, 1 Ban Quản lý dự án và 12 trung tâm giáo dục thường xuyên (GDTX), giảm 75 điểm trường lẻ. Ngành chú trọng xây dựng các mô hình thực hiện đổi mới, tham mưu xây dựng và triển khai thí điểm mô hình trường trung học trọng điểm chất lượng cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2019- 2023 tại 14 trường trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT). Triển khai nghiêm túc, khoa học và đạt hiệu quả các mô hình giáo dục trường học mới ở tiểu học và trung học cơ sở, các chương trình dự án SEQAP, VVOB. Đồng thời, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá ở giáo dục phổ thông, trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm và xem đây là là tiền đề để đúc rút kinh nghiệm trong việc triển khai và bắt đầu thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 từ năm học 2020-2021.

Để tạo nền tảng vững chắc cho quá trình đổi mới giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn và giáo dục toàn diện, Sở Giáo dục và Đào tạo đã tập trung chỉ đạo toàn ngành thực hiện có hiệu quả một số giải pháp trọng tâm sau:

– Nâng cao chất lượng tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban hành các cơ chế chính sách mới; chiến lược phát triển bền vững giáo dục và đào tạo tầm nhìn đến năm 2045; nhằm phát triển giáo dục và đào tạo của tỉnh nhà.

– Tổ chức bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ về phẩm chất, trình độ, năng lực đáp ứng chuẩn mới của người học; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đầu ngành từ cán bộ cấp Sở đến cán bộ cấp Phòng, cấp Trường nhằm: nâng cao chất lượng chuyên môn, chất lượng giảng dạy và chất lượng học tập của học sinh. Tập trung lãnh đạo thực hiện xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục: cơ bản đủ về số lượng, chuẩn hóa về trình độ đào tạo, có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ từng bước đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, thực hiện tốt chương trình giáo dục phổ thông 2018 và Luật Giáo dục 2019.

– Chỉ đạo thực hiện tốt các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn: Tiếp tục duy trì phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi; dạy học phân hóa đối với học sinh nhằm tạo nguồn học sinh giỏi các cấp. Duy trì và phát triển hệ thống các trường trọng điểm cấp THCS của các huyện nhằm tạo nguồn học sinh giỏi, học sinh được phát triển toàn diện cho các trường THPT trên địa bàn các huyện và cho Trường THPT chuyên Phan Bội Châu. Xây dựng kế hoạch để phát triển Trường THPT Chuyên Phan Bội Châu phù hợp với xu thế của giai đoạn đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo và là trường THPT chuyên có chất lượng trong toàn quốc.

– Tiếp tục triển khai thực hiện tốt các giải giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện xác định mục tiêu, động lực học tập cho học sinh. Tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo Sở Lao động thương binh và xã hội trên cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế của tỉnh xây dựng nhu cầu về nguồn lực lao động cho tỉnh và về các ngành nghề để các cơ sở đào tạo, ngành giáo dục, phụ huynh, học sinh biết để có định hướng tốt nhất. Trên cơ sở nhu cầu nguồn lao động có định hướng tuyên truyền, hướng nghiệp cho học sinh, để các em yên tâm trong học tập, có định hướng cho tương lai của mình. Giúp cho học sinh xác định được mục tiêu của học tập để đạt được các phẩm chất năng lực theo CTGDPT và theo 4 trụ cột của UNESCO: Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình.

– Tiếp tục tập trung, chỉ đạo rà soát quy hoạch mạng lưới trường lớp theo lộ trình, hợp lý nhằm đảm bảo hài hòa các mục tiêu: giảm đầu mối, tinh giản biên chế, thuận lợi cho học sinh nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu về chuyên môn. Uu tiên từng bước hiện đại hóa trường lớp học đảm bảo phát triển năng lực người học đáp ứng yêu cầu hội nhập và cách mạng công nghiệp 4.0.Đẩy mạnh xây dựng các mô hình giáo dục ưu tiên tiến, trước hết là các trường trọng điểm chất lượng cao nhằm tạo nòng cốt đi đầu trong đổi mới giáo dục và đào tạo, cơ chế quản lý, góp phần thúc đẩy giáo dục cho từng vùng miền, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho tỉnh, tạo tiền đề xây dựng Đề án trường phổ thông tiên tiến, hội nhập theo tiêu chuẩn khu vực và quốc tế

– Tiếp tục phối hợp với Sở Nội vụ, tập trung xây dựng đảm bảo số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, nhân viên. Về số lượng: Cán bộ, chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo: Bố trí thêm định biên chuyên viên hoặc tăng số biệt phái để chỉ đạo dạy học (đặc biệt cấp THCS); có cơ chế để thành lập Hội đồng cốt cán theo môn học, cấp học (có quy chế hoạt động, có quyền và nghĩa vụ để phát huy trách nhiệm đội ngũ cốt cán). Về giáo viên: Bố trí đủ ở cấp Tiểu học; có giải pháp để khắc phục tình trạng thừa thiếu cục bộ ở mỗi cấp học, đặc biệt cấp THCS.

– Về chất lượng: Chú trọng bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên: Bồi dưỡng để đảm bảo năng lực chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng nhiệm vụ hiện nay và thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018 trong những năm tới: Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học môn học; thiết kế bài học, bài kiểm tra đánh giá sát đối tượng và theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực của học sinh, đạt chuẩn đầu ra theo yêu cầu; năng lực sử dụng thiết bị dạy học…Tiếp tục tăng cường chỉ đạo và kiểm tra công tác tự bồi dưỡng ở các nhà trường. Tập trung đầu tư và quản lý việc khai thác sử dụng CSVC, trang thiết bị dạy học. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cho các trường học (kể cả nhà công vụ cho GV miền núi để giáo viên yên tâm công tác). Quản lý việc bảo quản, khai thác, sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đảm bảo hiệu quả. Đồng thời nâng cao hiệu quả công tác quản lý đối với các cơ sở giáo dục, gắn trách nhiệm của người đứng đầu đối với chất lượng giáo dục của từng nhà trường, đặc biệt khi thực hiện CT GDPT 2018.

– Chỉ đạo và thực hiện nghiêm quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh đảm bảo thực chất đối với từng cấp học, từ đó đưa ra các giải pháp tác động đến chất lượng dạy học mới có hiệu quả. Bên cạnh đó, cần công khai kết quả thi, xếp hạng để các địa phương, nhà trường biết thực trạng, vị trí của mình để chỉ đạo, phấn đấu. Đẩy mạnh xây dựng các phong trào thi đua trong toàn ngành, như: Phong trào “Phòng giúp Phòng”, “Trường giúp Trường”; phong trào “xây dựng trường xanh, sạch, đẹp, an toàn”; đồng thời phối hợp các tổ chức chính trị xã hội để hỗ trợ trong công tác tuyên truyền, quản lý học sinh. Đây là giải pháp hỗ trợ rất quan trọng đối với các nhà trường. Trong thời gian tới cần đẩy mạnh hơn, rõ việc hơn và cần sự vào cuộc của các phòng chuyên môn trong phong trào “Phòng giúp Phòng”, “Trường giúp Trường” và hoạt động “sinh hoạt chuyên môn theo cụm trường”.    

– Tăng cường Hội nhập quốc tế: Chủ động liên kết, hợp tác với các địa phương trong nước, khu vực và quốc tế về phát triển giáo dục và đào tạo, về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trên địa bàn tỉnh. Hỗ trợ các cơ sở giáo dục tiên phong, chủ động xây dựng mô hình trường theo hướng song chương trình đảm bảo chuẩn chất lượng khu vực, quốc tế; mô hình trường dạy học tăng cường ngoại ngữ có giáo viên bản địa; trường học tự chủ; tạo cơ hội phát triển và hội nhập của học sinh Nghệ An. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, ưu tiên phát triển giáo dục miền núi, vùng khó khăn đáp ứng nguồn nhân lực phát triển kinh tế, xã hội miền Tây, kinh tế biển và các khu công nghiệp. Tăng cường triển khai các mô hình giáo dục STEM, giáo dục trải nghiệm, giáo dục dựa vào cộng đồng, nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ vào học tập, đời sống đối với học sinh phổ thông trên địa bàn…Với các giải pháp trọng tâm đã được Đảng bộ Sở Giáo dục và Đào tạo lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020-2025 đề ra, nhằm phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong toàn ngành để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo trên địa bàn trong thời gian tới và quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp và hướng tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng./.

                                  Nguyễn Mạnh Khôi 

                           Phó Trưởng ban TT Ban Dân vận Tỉnh ủy 

Bạn đang xem bài viết Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Của Ngành Giáo Dục Và Đào Tạo Gắn Với Thực Hiện Đề Án 25 Của Huyện Giai Đoạn 2022 / 2023 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!