Xem Nhiều 1/2023 #️ Các Nước Đang Phát Triển Gặp Khó Khăn Trong Năm 2022 Do Chi Phí Vốn Vay Tăng Và Giá Dầu Và Giá Hàng Hóa Giảm # Top 8 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Các Nước Đang Phát Triển Gặp Khó Khăn Trong Năm 2022 Do Chi Phí Vốn Vay Tăng Và Giá Dầu Và Giá Hàng Hóa Giảm # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Các Nước Đang Phát Triển Gặp Khó Khăn Trong Năm 2022 Do Chi Phí Vốn Vay Tăng Và Giá Dầu Và Giá Hàng Hóa Giảm mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Lãi suất tại Hoa Kỳ có khả năng tăng sẽ đe dọa giảm dòng vốn và gây biến động thị trường tài chính tại các nước đang phát triển

WASHINGTON, Ngày 10/6/2015 – Các nước đang phát triển đang đối mặt với một loạt các thách thức nghiêm trọng trong năm 2015 như chi phí vốn vay đe dọa sẽ tăng trong khi giá dầu và giá hàng hóa sắp bước vào một đợt suy giảm mới và làm cho năm nay trở thành năm thứ 4 liên tiếp đáng thất vọng về tăng trưởng kinh tế, theo Báo cáo mới nhất của Ngân hàng Thế giới mang tên Triển vọng Kinh tế Toàn cầu vừa được công bố hôm nay.

Hệ quả là các nước đang phát triển dự báo sẽ tăng trưởng 4,4% năm nay, có khả năng tăng lên 5,2% năm 2016 và 5,4% năm 2017.

“Các nước đang phát triển từng là cỗ máy thúc đẩy tăng trưởng toàn cầu sau thời kỳ khủng hoảng, nhưng nay đang phải đối mặt với một môi trường kinh tế khó khăn hơn”, ông Jim Yong Kim, chủ tịch Ngân hàng Thế giới nói. “Chúng tôi sẽ làm mọi việc để giúp đỡ các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình, giúp họ có được sức đề kháng tốt hơn để có thể kiểm soát quá trình chuyển đổi một cách an toàn nhất có thể. Chúng tôi tin rằng những nước đầu tư vào giáo dục, y tế, cải thiện môi trường kinh doanh và tạo việc làm thông qua nâng cấp hạ tầng sẽ tăng trưởng mạnh trong các năm tới. Các khoản đầu tư đó sẽ giúp hàng trăm triệu người tự mình vượt qua đói nghèo”.

Lãi suất tại Hoa Kỳ dự đoán sẽ tăng làm cho vốn vay càng trở nên đắt đỏ hơn đối với các nước mới nổi và các nước đang phát triển trong vài tháng tới. Quá trình này dự đoán sẽ diễn ra tương đối suôn sẻ do kinh tế Hoa Kỳ tiếp tục phục hồi và lãi suất tại các nền kinh tế lớn khác cũng ở mức khá thấp.

Nhưng báo cáo cũng nêu các rủi ro đáng kể khác xung quanh vấn đề này. Cũng như năm 2013 khi thông báo đầu tiên về quá trình bình thường hóa chính sách tại Hoa Kỳ đã gây náo loạn trên thị trường tài chính, đợt tăng lãi suất do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ chủ trì lần đầu tiên kể từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu có thể sẽ châm ngòi cho một đợt biến động thị trường và giảm luồng vốn chảy vào các thị trường mới nổi tương đương 1,8 điểm phần trăm so với GDP, Báo cáo cho biết.

“Nền tảng kinh tế toàn cầu đang dịch chuyển một cách chậm chạp, nhưng chắc chắn. Trung Quốc đã khôn khéo thoát khỏi ổ gà và đạt mức tăng trưởng 7,1%; Brazil, hiện đang bị tai tiếng về vụ hối lộ, không được may mắn như vậy và đang tiếp tục tăng trưởng âm. Năm nay Ấn Độ dự kiến sẽ tăng trưởng 7,5% và đây sẽ là năm đầu tiên Ấn Độ dẫn đầu các nền kinh tế lớn trên biểu đồ tăng trưởng của Ngân hàng Thế giới. Khoảng tối còn lại trên bức tranh tăng trưởng đó chính là khả năng nâng lãi suất tại Hoa Kỳ sớm muộn sẽ xảy ra,” ông Kaushik Basu, Chuyên gia Kinh tế trưởng, Phó Chủ tịch cao cấp Ngân hàng Thế giới nói. “Điều đó sẽ hạn chế luồng vốn và làm tăng chi phí vốn vay. Báo cáo Triển vọng Kinh tế Toàn cầu đã phân tích toàn bộ các hệ quả của việc nâng lãi suất đối với các nước đang phát triển.”

“Nếu các thị trường mới nổi không thực hiện các chính sách cẩn trọng nhằm đối phó tốt với bất ổn tài chính và bất ổn từ bên ngoài thì họ sẽ gặp khó khăn đáng kể khi phải đối phó với cơn bão thắt chặt chính sách của Quỹ Dự trữ Liên bang Mỹ và các hệ quả đi kèm khác,” ông Ayhan Kose, Giám đốc Viễn cảnh Phát triển, Ngân hàng Thế giới, nói.

Nhiều nước đang phát triển phụ thuộc nặng vào xuất khẩu hàng hóa vì vậy giảm giá dầu và các mặt hàng chiến lược càng làm chậm lại tốc độ tăng trưởng của các nước này. Tuy các nước nhập hàng hóa được hưởng lợi từ lạm phát thấp, áp lực tài khóa thấp, và chi phí nhập khẩu thấp, nhưng giá dầu thấp cũng chỉ góp phần tăng cường mức độ hoạt động kinh tế một cách chậm chạp do nhiều nước bị thiếu điện, dịch vụ giao thông, tưới tiêu và các dịch vụ hạ tầng cơ bản khác một cách triền miên; ngoài ra còn một loạt các yếu tố khác như bất ổn chính trị; và hạn hán và lũ lụt gây ra bởi thời tiết bất thuận.

Kinh tế Brazil hiện đang bị ảnh hưởng bởi mức độ lòng tin thấp và lạm phát cao dự tính sẽ giảm 1,3% trong năm 2015, tức là 2,3 điểm phần trăm so với mức tháng Giêng. Nền kinh tế Nga bị ảnh hưởng của giá dầu thấp và các lệnh trừng phạt dự đoán sẽ giảm 2,7%. GDP của Mexico dự báo sẽ tăng trưởng 2,6% trong khi hoạt động kinh tế khởi sắc tại Mỹ và giá dầu giảm sẽ thúc đẩy tăng trưởng. Trung Quốc đang điều hành quá trình làm chậm tăng trưởng kinh tế một cách cẩn trọng dự đoán sẽ giảm đà tăng trưởng nhưng vẫn đạt mức cao là 7,1% trong năm nay. Tại Ấn Độ, một nước nhập khẩu dầu, kết quả cải cách đã giúp giữ vững lòng tin và giá dầu giảm đã góp phầm giảm nhẹ mức độ tổn thương, qua đó tạo cơ sở đạt mức tăng trưởng 7,5% trong năm 2015.

Một kết quả phân tích đặc biệt trong báo cáo cho thấy các nước thu nhập thấp, trong đó nhiều nước phụ thuộc vào xuất khẩu hàng hóa và đầu tư, rất dễ bị tổn thương trong điều kiện hiện nay. Khi giá hàng hóa tăng mạnh trong những năm 2000 các nền kinh tế này đã phát triển mạnh nhờ khai thác kim loại, khoáng chất, đầu tư vào khai thác tài nguyên và tăng cường xuất khẩu. Nhưng viễn cảnh giá hàng hóa thấp còn kéo dài có lẽ sẽ buộc các nhà hoạch định chính sách phải chuyển hướng từ dựa trên sản xuất kim loại và khoáng chất sang các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng khác. Vì vậy cần ưu tiên các chính sách tạo khoảng đệm để có thể chuyển hướng và thực hiện cải cách nhằm hỗ trợ tăng trưởng trong các ngành phi tài nguyên.

“Sau bốn năm với thành tích tăng trưởng đáng thất vọng, các nước đang phát triển vẫn chưa lấy lại được đà cũ,” ông Franziska Ohnsorge, Chủ biên báo cáo nói. “Mặc dù điều kiện tài chính thuận lợi nhưng sụt giảm tăng trưởng vẫn kéo dài tại nhiều nước đang phát triển bị gây ra bởi thiếu hụt các dịch vụ trong nông nghiệp, ngành điện, giao thông, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ kinh tế cơ bản khác. Chính vì vậy mà tái cơ cấu càng trở nên cấp thiết.”

Ngược lại, hồi phục kinh tế đã trở lại tại các nước thu nhập cao. Khu vực châu Âu và Nhật Bản tăng trưởng đã tăng trở lại, kinh tế Hoa Kỳ mở rộng tuy xuất phát còn hơi yếu vào đầu năm. Các nước thu nhập cao sẽ tăng trưởng 2% năm nay, sau đó tăng lên 2,4% năm 2016 và 2,2% năm 2017. Dự báo nền kinh tế toàn cầu sẽ tăng 2,8% năm nay, 3,3% năm 2016 và 3,2% năm 2017. [1]

Nhiều mối rủi ro vẫn đang đe dọa viễn cảnh tăng trưởng các nước mới nổi và đang phát triển. Trong khi một số rủi ro đang giảm đi, ví dụ kinh tế khu vực châu Âu và Nhật Bản bị đình trệ, thì lại xuất hiện các rủi ro mới. Đúng lúc lãi suất tại Hoa Kỳ rục rịch tăng thì hệ số tín nhiệm các thị trường mới nổi lại bị mu lờ dần, nhất là đối với các nước xuất khẩu dầu mỏ. Các rủi ro khác gồm gia tăng biến động trên thị trường tài chính và dòng vốn bị giảm. Nếu đồng đô-la Mỹ tăng giá quá mạnh sẽ dẫn đến làm giảm đà tăng trưởng của nền kinh tế lớn nhất thế giới, và sẽ tác động tiêu cực lên các đối tác thương mại của Hoa Kỳ trên toàn thế giới.

Xem toàn văn báo cáo và các bộ số liệu đăng tại www.worldbank.org/globaloutlook

[1] Nếu tính dựa trên trọng số giá trị sức mua (PPP) năm 2010 thì tăng trưởng toàn cầu sẽ đạt 3,4% năm 2015, 4,0% trong năm 2016 và 4% năm 2017.

Tóm tắt các khu vực

Tình hình Khu vực Đông Á – Thái Bình Dương dự tính sẽ giảm nhẹ mức tăng trưởng xuống còn 6,7% trong năm 2015  và duy trì mức đó trong hai năm tới. Mức tăng trưởng đó cũng thể hiện kinh tế Trung Quốc tiếp tục giảm nhưng lại được bù lại đôi chút bởi tăng trưởng tại các nước còn lại trong khu vực. Tính chung toàn bộ khu vực thì đây là nhóm nhập khẩu thuần dầu lửa nên được hưởng lợi từ giá dầu thấp mặc dù các nước xuất khẩu hàng hoá như Indonesia và Malaysia phải chịu áp lực giá hàng hoá giảm như dầu, khí đốt, than, dầu cọ và cao su.

Tăng trưởng tại Trung Quốc tiếp tục giảm xuống còn 7,1% trong năm nay. Tăng trưởng toàn khu vực (không kể Trung Quốc) dự đoán đạt 4,9% năm nay, sau đó tăng lên 5,4% năm 2016 do cầu bên ngoài tăng – mặc dù tăng trưởng tại Trung Quốc có chậm hơn – giảm bất ổn chính sách tại Thái Lan và giảm áp lực trong nước tại các nước khác.

Châu Âu và Trung Á dự kiến sẽ tiếp tục giảm tăng trưởng xuống còn 1,8% năm 2015 do giá dầu giảm, xung đột địa chính trị, và bị các tác động lan toả khác, trong đó có các tác động từ Nga. Mức độ phục hồi nhẹ tại khu vực châu Âu chỉ bù trừ được phần nào những tác động kể trên.

Tại Nga, dự kiến năm nay kinh tế sẽ bị co cụm 2,7%, sau đó sẽ phục hồi nhẹ năm 2016 do tác động của các chính sách dịch chuyển nền kinh tế sang một môi trường ít phụ thuộc vào giá dầu hơn. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, dự kiến tăng trưởng đạt 3% trong năm 2015 nhờ chi tư nhân được phục hồi sau các cuộc bầu cử trong tháng 6. Nếu giá dầu tăng nhẹ trong giai đoạn 2016-17, tình hình địa chính trị không bị xấu đi, và các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô vẫn tiếp tục được thực hiện tại các nền kinh tế chính thì tăng trưởng toàn khu vực dự tính sẽ tăng lên mức 3,5% trong giai đoạn 2016-17.

Khu vực Mỹ La-tin và Ca-ri-bê sẽ giảm tỉ lệ tăng trưởng xuống còn 0,4% năm 2015 do khu vực Nam Mỹ còn nhiều khó khăn trong nước, trong đó có một số vấn đề nổi cộm như hạn hán trên diện rộng, thiếu niềm tin nhà đầu tư, và giá hàng hoá thấp.

Tại Brazil, lòng tin của giới kinh doanh và đầu tư bị giáng một đòn mạnh, một phần bị ảnh hưởng bởi các cuộc điều tra Petrobras, sẽ dẫn đến hậu quả làm cho nền kinh tế co cụm khoảng 1,3%. Tại Mexico, mức độ lòng tin vẫn còn mỏng manh, mức độ họat động kinh tế tăng nhẹ nhưng chưa đủ mức mong đợi. Đây là hậu quả của giá dầu thấp, kết quả tăng trưởng kém tại Hoa Kỳ trong Q1 và do lương tăng ít. Dự đoán giai đoạn 2016-17 toàn khu vực sẽ tăng trưởng 2,4% do Nam Mỹ sẽ thoát khỏi suy trầm kinh tế và tăng trưởng tại Hoa Kỳ sẽ kéo theo tăng trưởng tại khu vực bắc Mỹ, trung Mỹ và Ca-ri-bê.

Tại khu vực Trung Đông – Bắc Phi, tăng trưởng dự tính sẽ giữ nguyên mức 2,2% trong năm 2015. Giá dầu giảm là một thách thức nghiêm trọng đối với các nước xuất khẩu dầu lửa mà đa số trong số đó còn phải đối mặt thêm với các thách thức nghiêm trọng về an ninh (Iraq, Libya, và Yemen) hoặc có ít dư địa đối phó về kinh tế (Iran, Iraq). Đối với các nước nhập khẩu dầu, hiệu ứng tích cực của giá dầu thấp đã bị bù trừ bởi các tác động lan toả khác từ các nước bất ổn hơn trong khu vực, trong đó có hiện tượng giảm kiều hối và rủi ro về an ninh. Hạn chế về cơ cấu đã tồn tại từ lâu và đã ngăn cản tăng trưởng trong khu vực trong một thời gian dài. Dự báo mức tăng trưởng toàn khu vực sẽ bật lên mức 3,7% giai đoạn 2016-17 nhờ tăng cầu bên ngoài, và tăng cường lòng tin dẫn đến tăng đầu tư tại một vài nước nhập khẩu dầu (Ai Cập, Jordan).

Nam Phi dự tính sẽ duy trì mức tăng trưởng 7,1% năm nay nhờ kinh tế hồi phục theo chu kỳ tại Ấn Độ và mức cầu tăng dần tại các nước thu nhập cao. Giá dầu toàn cầu giảm đã mang lại lợi ích lớn cho khu vực, giúp cải thiện tài khoá và cán cân thương mại, tạo điều kiện cho các cuộc cải cách cần đến trợ giá của nhà nước và giúp giảm nhẹ chính sách tiền tệ.

Tại Ấn Độ, các biện pháp cải cách đang giúp cải thiện lòng tin của giới kinh doanh và đầu tư, và thu hút thêm vốn sẽ đóng góp vào mức tăng trưởng 7,5% năm nay. Tại Pakistan, kiều hối sẽ vẫn ổn định, trong khi khu vực công nghiệp chế tạo và dịch vụ vẫn tiếp tục hồi phục. Nhưng mặc dù vậy mức tăng trưởng cũng chỉ ở mức vừa phải do vẫn bị kìm hãm về năng lượng.

Tại khu vực Tiểu Saharan châu Phi, giá dầu thấp đã làm giảm đáng kể tỉ lệ tăng trưởng tại các nước xuất khẩu hàng hoá (Angola, Nigeria), và cũng làm giảm mức hoạt động kinh tế trong các ngành phi dầu lửa. Tuy Nam Phi được hưởng lợi chính từ giá dầu thấp nhưng tăng trưởng toàn khu vực lại bị ảnh hưởng bởi tình trạng thiếu năng lượng, thiếu lòng tin nhà đầu tư, chính sách không ổn định, và chính sách tài khoá và tiền tệ dự tính sẽ bị thắt chặt dần.

Tăng trưởng toàn khu vực dự tính sẽ giảm xuống còn 4,2%, thấp hơn mức dự báo trước đây. Điều đó phản ánh kết quả đánh giá lại tình hình tại Nigeria và Angola sau khi giá dầu giảm mạnh và tình hình cấp điện yếu kém tại Nam Phi. Trong giai đoạn 2016-17, tỉ lệ tăng trưởng sẽ nhích lên một chút do các tác động tiêu cực trên sẽ được bù trừ bởi tăng trưởng tại các nước đối tác thương mại và tăng trưởng tại các nền kinh tế thu nhập thấp trong khu vực.   Khu vực Đông Á – Thái Bình Dương

Nếu không kể Trung Quốc, nơi đang áp dụng các biện pháp giảm dần tăng trưởng xuống còn 7,4% năm 2014, thì hoạt động kinh tế vẫn tiếp tục giảm trong năm 2015 mặc dù các biện pháp nới lỏng chính sách đã có tác dụng làm chậm lại quá trình suy giảm. Đầu tư vẫn bị hạn chế, các chỉ số về hoạt động chế tạo cũng cho thấy yếu kém, đồng thời qui mô các chương trình kích thích kinh tế cũng thu hẹp dần. Hỗ trợ chính sách, giá dầu giảm, và mức cầu toàn cầu đã bù lại phần nào tác động của suy giảm đầu tư và quá trình dịch chuyển từ công nghiệp sang dịch vụ cũng góp phần tạo việc làm và tăng mức tiêu dùng.

Trừ Trung Quốc, toàn khu vực dự tính sẽ tăng trưởng 4,7%, thấp hơn mức 5,2% năm 2013. Các yếu kém hồi đầu năm 2014 đã được bù trừ bởi sự tăng tốc mạnh mẽ trong quý cuối năm, lại được hỗ trợ thêm bởi giá dầu thấp và chính sách tiền tệ đi kèm. Thực hiện các dự án công lớn tại Malaysia và Phi-lip-pin cũng góp phần làm tăng tăng trưởng. Giá dầu thấp và tăng cường xuất khẩu góp phần cải thiện cán cân thanh toán, trừ trường hợp các nước xuất khẩu hàng hoá. Tăng cầu trong nước vẫn là yếu tố chính góp phần thúc đẩy tăng trưởng trong khu vực mặc dù mức cầu bên ngoài thấp và chịu áp lực cạnh tranh do đồng tiền nhiều nước trong khu vực tăng giá.

Viễn cảnh: Tăng trưởng toàn khu vực dự tính sẽ tiếp tục giảm xuống còn 6,7% năm 2015 và giữ ổn định ở mức này trong thời gian sau đó. Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc sẽ vẫn tiếp tục giảm nhưng các nước còn lại trong khu vực sẽ tăng nhờ vào sự phục hồi kinh tế tại các nước phát triển, giá năng lượng thấp, ổn định chính trị được cải thiện, cải thiện thanh khoản trên thị trường tài chính toàn cầu, tuy chính sách tiền tệ tại Hoa Kỳ có khả năng sẽ bị thắt chặt. Tại Trung Quốc, tăng trưởng dự báo sẽ đạt 7,1% năm 2015 và 7,0% năm 2016 do áp dụng các chính sách nhằm tăng trưởng ổn định hơn. Tăng trưởng toàn khu vực, trừ Trung Quốc, dự báo sẽ đạt 4,8% năm 2015 và 5,4% năm 2016 nhờ vào động lực từ các nền kinh tế lớn trong ASEAN. Tại Indonesia, tăng trưởng dự báo sẽ giảm xuống 4,7% năm 2015, sau đó sẽ tăng dần nhờ phục hồi đầu tư và xuất khẩu. Tại Thái Lan, GDP dự tính sẽ tăng 3,5% năm 2015, trong đó xuất khẩu tăng nhẹ. Tại Malaysia tăng trưởng sẽ giảm xuống còn 4,7% năm 2015 do giá dầu thấp làm giảm đầu tư trong ngành dầu khí trong khi đó thì tăng trưởng tín dụng cũng vẫn còn chậm.

Rủi ro: Khả năng xảy ra rủi ro do Trung Quốc giảm tăng trưởng mạnh hơn dự tính vẫn còn, mặc dù xác xuất xảy ra là thấp. Nếu điều đó xảy ra nó sẽ kéo theo các tác động lan toả tiêu cực lên các đối tác thương mại trong khu vực và các nước xuất khẩu hàng hoá.

Do các nền kinh tế trong khu vực là nền kinh tế mở nên chúng sẽ bị tác động mạnh nếu các đối tác thương mại bị suy giảm tăng trưởng  hoặc mỗi khi tỉ giá hối đoái thay đổi lớn, kể cả khi đồng đô-la Mỹ tiếp tục tăng giá. Biến động trên thị trường tài chính hoặc đột ngột siết chặt điều kiện cấp vốn sẽ là những nhân tố gây rủi ro lớn.  Phục hồi kinh tế thấp hơn mong đợi tại các nước thu nhập cao, nhất là tại Hoa Kỳ, khu vực châu Âu, Nhật Bản và các Nền Kinh tế Công nghiệp mới sẽ kìm hãm thương mại toàn cầu và thương mại khu vực cũng như kim ngạch xuất khẩu của các nước trong khu vực mà 60-90% lượng hàng xuất khẩu được xuất sang các nước thu nhập cao.

Nếu giá nhiên liệu tiếp tục giữ ở mức thấp thì đây sẽ là yếu tố thuận lợi đối với viễn cảnh kinh tế khu vực nhưng giá cả hàng hoá thấp đang cản trở tăng trưởng tại các nước xuất khẩu hàng hoá và các nước này phải tự điều chỉnh để thích ứng với hoàn cảnh đó.

Tiểu Luận Thực Trạng Xăng Dầu Tăng Giá Và Các Giải Pháp Bình Ổn Thị Trường Xăng Dầu Trong Nước

ng năm qua tôi chọn đề tài ” Thực trạng xăng dầu tăng giá. Các giải pháp bình ổn thị trường xăng dầu trong nước.” Chương I: TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG XĂNG DẦU THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM I. Thị trường xăng dầu thế giới trong những năm gần đây. 1. Thị trường xăng dầu thế giới năm 2008. Sau khi tăng liên tục từ giữa năm 2007, giá dầu đã gây sốc khi mở đầu năm 2008 bằng việc lần đầu tiên trong lịch sử chạm mốc 100 USD/thùng (03/01/2008) – mốc giá chưa từng có kể từ khi mặt hàng này được đưa vào giao dịch kỳ hạn tại thị trường New York vào năm 1983. Kể từ đó trở đi, giá dầu thế giới liên tiếp lập kỷ lục để rồi sau đó lại phá vỡ và đặt kỉ lục mới là 110 USD/ thùng (03/03/2008). Thị trường dầu mỏ nóng hơn bao giờ hết khi cứ tiếp tục “leo thang không biết mệt”. Tính chung từ đầu năm, giá vàng đen đã tăng hơn 50%. Biểu đồ giá dầu thế giới tính từ ngày 3/12/2007 đến ngày 15/12/2008 dựa trên giá dầu kỳ hạn đóng cửa tại thị trường New York. Có thể nói năm 2008 là năm mà thế giới phải chứng kiến mức trồi sụt giá dầu lớn đến vậy chỉ trong một thời gian ngắn. Đây là một năm lịch sử của thị trường dầu thô từ trước tới nay, khi mà giá “vàng đen” đạt đỉnh cao mọi thời đại 147, 27 USD vào tháng 7, rồi sau đó rớt một mạch hơn 100 USD/thùng, tương đương mức giảm hơn 70%, trong vòng có 4 tháng, về ngưỡng 40USD/thùng. Trong bối cảnh kinh tế thế giới đầy biến động và nhu cầu về năng lượng, như dầu mỏ, than đá, khí đốt… ngày càng tăng nhất là ở những quốc gia đang phát triển thì giá đầu tăng là điều không khỏi ngạc nhiên, thế nhưng tại sao giá dầu lại “nóng” đến đỉnh điểm như vậy? Có thể giải thích nguyên nhân giá dầu tăng mạnh trong thời gian này là do 5 yếu tố sau: Thứ nhất là do hoạt động của giới đầu cơ dầu lửa. Đây là lý do có ảnh hưởng mạnh nhất tới sự leo thang mạnh mẽ của giá dầu. Sự phát triển năng động của các nền kinh tế đang nổi lên như Trung Quốc, Ấn Độ…, sự vững vàng của kinh tế châu Âu, và cuộc khủng hoảng tài chính chưa tác động quá nghiêm trọng tới kinh tế Mỹ… khiến các nhà đầu cơ cho rằng, giá dầu sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới. Bởi vậy, lượng dầu được họ “găm giữ” là rất lớn. Thứ hai giá dầu tăng do sự mất giá của đồng USD. Sự lệch pha trong chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), cộng với sự tương phản giữa hai bức tranh kinh tế Mỹ và châu Âu, đã dẫn tới sự mất giá mạnh của USD trong thời gian nửa đầu năm 2008, và như thế, gián tiếp ảnh hưởng tới giá dầu. Lo ngại sự lan rộng của khủng hoảng nợ dưới chuẩn, FED liên tục hạ lãi suất USD. Trong khi đó, với việc chống lạm phát là mục tiêu số một thì ECB lại chủ trương duy trì lãi suất đồng Euro ở mức cao. Bên cạnh đó, dưới tác động của khủng hoảng, kinh tế Mỹ liên tục phát đi những dữ liệu đáng lo ngại, còn ở châu Âu, do khủng hoảng còn ở xa, các chỉ số kinh tế vẫn hết sức khả quan.Sự trái chiều này đẩy USD xuống mức thấp kỷ lục so với Euro là 1 Euro đổi được 1, 6038 USD (15/7/2008). Do dầu được định giá bằng USD nên tỷ giá USD càng thấp thì giá dầu càng cao và ngược lại. Thứ ba, xung đột vũ trang và bất ổn chính trị tại một số khu vực trên thế giới như ở Trung Đông- khu vực tập trung các nước xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới… cũng là một nguyên nhân khiến cho giá dầu leo thang chóng mặt như vậy. Mỗi khi tình hình chính trị tại các khu vực này có những diễn biến xấu đi là thị trường dầu thế giới lại chứng kiến một phiên tăng giá mạnh. Cụ thể, kỷ lục 147, 27 USD/thùng của giá dầu đã được thiết lập đúng vào ngày 11/7 ngày mà giới đầu tư lo ngại Israel có thể tấn công Iran, làm gián đoạn hoạt động vận chuyển dầu qua Vịnh Ba Tư. Thứ tư, các dự báo giá dầu cũng có ảnh hưởng đáng kể tới diễn biến giá trên thị trường giao dịch dầu thô. Giữa lúc giá dầu đang tăng mạnh, nhiều tổ chức như ngân hàng Goldman Sachs của Mỹ đưa ra dự đoán rằng giá dầu sắp sửa đạt tới mức 200 USD/thùng, hoặc thậm chí là hơn do nhu cầu dầu của thế giới nhất là các nền kinh tế đang nổi lên sẽ tăng mạnh.Trong giai đoạn đang “sốt” giá dầu như thế này thì những dự báo như vậy chẳng khác gì “thêm dầu vào lửa” làm cho giá dầu càng “nóng” hơn. Thứ năm, sự sụt giảm mạnh của thị trường chứng khoán thế giới, nhất là thị trường chứng khoán Mỹ, dưới tác động của khủng hoảng tín dụng bắt đầu năm 2007, đã thúc đẩy giới đầu tư chuyển một lượng vốn lớn sang thị trường hàng hóa để tìm kiếm mức lợi nhuận cao hơn. Trên thị trường này, cùng với vàng thì dầu thô cũng là một trong hai kênh đầu tư được lựa chọn nhiều hơn cả. Chính điều này cũng đã góp phần đẩy giá dầu lên cao như vậy. Tuy nhiên, ngay sau chạm mức 147, 27 USD/ thùng thì giá dầu lập tức bước vào “thời kỳ suy thoái”, giá dầu đã giảm xuống còn khoảng 90 USD/ thùng ngày 03/9 giảm gần 60 USD/ thùng.Giá dầu liên tục diễn biến theo chiều đi xuống, đóng cửa ở mức 40 USD/thùng trong phiên giao dịch ngày 02/12 tại thị trường New York. So với mức đỉnh 147, 27 USD/thùng ngày 11/7 chỉ trong vòng khoảng 4 tháng, giá dầu đã sụt tới hơn 100 USD/thùng, tương đương hơn 70%, đánh dấu năm sụt giảm mạnh chưa từng có của nhiên liệu này. Nguyên nhân đẩy giá dầu “lao dốc” ở giai đoạn này nhìn chung là những yếu tố trái ngược với những gì đã hỗ trợ giá dầu ở giai đoạn trước đó. Có thể thấy, giá dầu giảm thời kỳ này vì 4 nguyên nhân sau: Thứ nhất, do hoạt động bán tháo ồ ạt của giới đầu cơ đầu mỏ và thời kì đầu cơ hàng hoá đã đi vào hồi kết. Vụ phá sản của công ty bán khống dầu Semgroup khiến cho Semgroup phải bán lại hợp đồng cho bộ phận ngân hàng đầu tư của Barclays. Ngay sau khi Semgroup phải bán lại hợp đồng giá dầu bắt đầu “rơi tự do” do các nhà giao dịch dầu lửa ở khắp nơi, bao gồm các quỹ đầu cơ, các ngân hàng và các quỹ lương hưu, bán tháo các hợp đồng kỳ hạn. Với sự “ra đi” của SemGroup và những vụ bán khống quy mô lớn tương tự cũng không còn được thực hiện ở các công ty khác, thị trường dầu mất hẳn một nguồn lực đẩy tăng giá. Hơn nữa cuộc khủng hoảng tài chính leo thang và lan rộng ra phạm vi toàn thế giới đã trở thành nỗi lo chính của mọi quốc gia. Tới quý 4/2008, ba nền kinh tế hàng đầu của thế giới là Mỹ, Nhật Bản và châu Âu đã lần đầu tiên rơi vào suy thoái kể từ Đại chiến Thế giới thứ hai. Sự giảm tốc kinh tế khiến các loại hàng hóa mất dần địa vị là một kênh đầu tư hấp dẫn và giới đầu tư vì thế đã bán đổ bán tháo các loại nguyên liệu thô mà họ nắm giữ. Tính đến ngày 5/12, chỉ số giá của 19 loại nguyên vật liệu thô, trong đó có vàng và dầu thô, đã giảm 35% . Trong đó, sụt giảm mạnh nhất vẫn là giá dầu. Thứ hai là sự phục hồi của đồng USD. Sự chao đảo của thị trường toàn cầu đã thúc đẩy giới đầu tư tổ chức ở Mỹ rút vốn về nước. Bên cạnh đó, khủng hoảng cũng thúc đẩy các nhà đầu tư quốc tế đổ vốn mạnh vào trái phiếu Chính phủ Mỹ – kênh đầu tư siêu an toàn. Mặt khác, tương quan kinh tế xấu đi của châu Âu tạo cơ sở cho sự thoái lui của đồng Euro. Thêm nữa, tình trạng thắt chặt tín dụng khiến USD trở nên khan hiếm. Những yếu tố này đã giúp USD lên giá mạnh so với Euro trong một thời gian. Thứ ba, do thua lỗ trầm trọng trên thị trường chứng khoán và kẹt tiền mặt nghiêm trọng, giới đầu tư quốc tế phải bán ra các loại hàng hóa để có tiền bù lỗ. Thời gian này, sự đi xuống của chứng khoán thường tạo áp lực mất giá cho hàng hóa, trong đó có dầu, thay vì là một yếu tố hỗ trợ như trước đây. Thứ tư, các dự báo giá dầu lúc này đã được điều chỉnh giảm mạnh. Việc các nền kinh tế hàng đầu suy thoái và các nền kinh tế đang nổi lên, đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ, và Nga, cũng phát đi những tín hiệu đáng lo ngại như sản xuất công nghiệp và xuất khẩu giảm tốc mạnh, niềm tin giới doanh nghiệp sa sút… đã khiến giới quan sát không thể duy trì dự báo tăng trưởng nhu cầu dầu và giá dầu cao như trước đây. 2. Thị trường xăng dầu thế giới năm 2009. Sau khi lập kỷ lục cao trong lịch sử là 147,27 USD/thùng vào năm 2008, giá dầu đã giảm xuống mức thấp nhất chỉ 32,70 USD/thùng vào ngày 20/1/2009 và đạt trung bình 62 USD/thùng trong cả năm qua.Việc nhu cầu giảm mạnh do suy thoái kinh tế là nguyên nhân chính khiến giá dầu giảm vào nửa đầu năm 2009. Tuy nhiên, kinh tế hồi phục đã kéo dầu tăng giá trở lại. Mức cao kỷ lục của năm 2009 là 82 USD/thùng đạt được vào ngày 21/10/2009.Giá dầu thô ngọt nhẹ tại New York trung bình trong quý IV/2009 là 74,90 USD/thùng. Giá dầu thô ngọt nhẹ đã tăng lên 82 USD/thùng vào tháng 10/2009, sau đó giảm trở lại 70 USD/thùng vào tháng 11 do đồng USD tăng giá và nguồn cung dư thừa trên toàn cầu. Tính trung bình năm 2009, giá dầu thô đạt 63, 10 USD/thùng, cũng cao hơn mức 60, 80 USD/thùng mà các nhà phân tích dự báo trước đó. Giá các sản phẩm dầu thế giới sáng ngày 02/11/2009 Loại dầu Thị trường Giá Chênh lệch % thay đổi Dầu thô brent ( USD/ thùng) Luân Đôn 75,250 0,050 0,07 Nhiên liệu điêzen(ICE)(USD/tấn) Luân Đôn 632,520 – 18,750 – 2,88 Xăng RBOB (UScent/gallon) New York 196,400 0,450 0,23 Dầu đốt(UScent/gallon) New York 200,910 0,390 0,19 Khí đốt tự nhên(USD/MMB tu) New York 5,080 0,035 0,69 Dầu thô WTI(USD/ thùng) New York 76,870 – 0,130 – 0,17 3. Thị trường xăng dầu thế giới năm 2010. Thị trường dầu mỏ thế giới tuần đầu tiên của năm 2010 đã tăng giá khá mạnh lên trên 80 USD/thùng.Trong tháng 3 giá dầu thô diễn biến theo hướng tăng lên vào cuối tháng. Giá dầu thô WTI thấp nhất trong tháng là 78, 83$/thùng vào ngày 01.3.2010 và cao nhất là 83, 76 USD/thùng vào ngày 31.3.2010. Trong những tháng tiếp theo giá dầu liên tiếp tăng. Tuy nhiên giá dầu tăng không đồng đều thậm chí là ” trái chiều” ở các thị trường .Kết thúc phiên 18/10, giá dầu ngọt nhẹ giao tháng 11/2010 tại New York tăng 1,83 USD lên 83,08 USD/thùng và giá dầu Brent Biển Bắc giao tháng 12/2010 tại London tăng 1,92 USD lên 84,37 USD/thùng.Tuy nhiên, giá dầu thô lại giảm nhẹ tại thị trường châu Á trong phiên ngày 19/10, do những lo ngại về đà hồi phục kinh tế Mỹ đè nặng lên tâm lý của giới đầu tư. Chiều cùng ngày tại sàn giao dịch điện tử Singapore, giá dầu ngọt nhẹ giao tháng 11/2010 giảm 34 xuống 82, 74 USD/thùng. Giá bình quân sản phẩm dầu nửa đầu tháng 11.2010 so với cùng kỳ tháng 10.2010 Hiện tại thì giá dầu thô cũng như các sản phẩm từ xăng dầu vẫn biến động không ngừng. Giá dầu thô tại thị trường New York (Mỹ) đã tăng lên gần 86 USD/ thùng trong phiên giao dịch ngày 30/11. Dự đoán cho đến cuối năm 2010 giá dầu sẽ vẫn tiếp tục tăng do nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng khi thời tiết ở các nước ở Bắc Mỹ ngày càng lạnh hơn II. Thực trạng thị trường xăng dầu Việt Nam trong những năm gần đây 1.Thực trạng Thị trường xăng dầu Việt Nam ” bất ổn” trong những năm gần đây.Bắt đầu từ năm 2008 giá xăng dầu đã được Nhà Nước cho “thả nổi” theo giá thị trường nên thị trường xăng dầu Việt Nam luôn biến động theo sự biến động thị trường xăng dầu thế giới.Thời điểm năm 2008 khi giá dầu trên thị trường thế giới chạm mức 147,27 USD/thùng giá xăng trong nước lên tới 19.000đ/ 1lít. Từ đó đến nay đến nay giá xăng đã được điều chỉnh nhiều lần để theo kịp sự biến động của giá xăng dầu trên thế giới. Tuy nhiên giá xăng dầu nhiều lúc lại không đi theo giá trên thị trường thế giới, có những lúc giá xăng dầu thế giới xuống thấp nhưng giá xăng trong nước vẫn tăng nhiều khi giá xăng trong nước còn cao hơn cả giá xăng trên thế giới. Diễn biến giá xăng A92 từ đầu năm 2008 đến nay Thời điểm Giá xăng A92 (đồng/lít) Thời điểm Giá xăngA92 (đồng/lít) 25/02/2008 14.500 07/05/2009 12.500 21/07/2008 19.000 10/06/2009 13.500 14/08/2008 18.000 01/07/2009 14.200 27/08/2008 17.000 08/08/2009 14.700 07/10/2008 16.500 30/08/2009 15.700 17/10/2008 16.000 01/10/2009 15.200 18/10/2008 15.500 24/10/2009 20/11/2009 16.300 31/10/2008 15.000 15/12/2009 15.950 08/11/2008 14.000 14/01/2010 16.400 15/11/2008 13.000 21/02/2010 16.990 01/12/2008 12.000 27/05/2010 16.490 10/12/2008 11.000 08/06/2010 15.990 02/04/2009 11.500 09/08/2010 16.440 11/04/2009 12.000 27/11/2010 16.400 Nhìn vào bảng trên có thể thấy giá xăng tăng liên tiếp nhưng giảm rất ít ví dụ năm 2009 giá xăng tăng 9 lần nhưng chỉ giảm 2 lần mặc dầu diễn biến giá dầu thô trên thị trường thế giới biến động không nhiều chỉ tăng nhẹ rồi sau đó giảm thế nhưng giá xăng trong nước chỉ có tăng mà không giảm. Thời điểm 11/4/2009 đánh dấu mức tăng liên tiếp đến 1/10/2009 mới giảm nhẹ rồi lại tiếp tục tăng. Thực tế hệ thống phân phối bán lẻ xăng dầu của nước ta vẫn là hệ thống cửa hàng một giá, các doanh nghiệp không có sự cạnh tranh về giá trên thị trường xăng dầu. Thực tế thời gian qua cho thấy, khi giá xăng dầu thế giới tăng, để đảm bảo lợi ích của mình, các doanh nghiệp đầu mối sẽ làm thủ tục để xin tăng giá bán lẻ xăng dầu trong nước. Ngược lại khi giá thế giới giảm, nhưng các doanh nghiệp xăng dầu thường chần chừ giảm giá bán. 2. Nguyên nhân. Mặc dầu thị trường xăng dầu đã chuyển sang cơ chế thị trường thế nhưng vẫn chưa thật sự theo bản chất” thị trường” của nó mà dường như thị trường xăng dầu Việt Nam đang tồn tại ” độc quyền nhóm”. Nhà nước hãy còn nhúng tay quá sâu, còn doanh nghiệp vẫn chưa có được cạnh tranh thật sự. Các doanh nghiệp nước ngoài vẫn chưa thể thâm nhập vào thị trường nội địa. Hiện tại cả nước có 11 doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu trong đó Petrolimex chiếm 55% thị phần,10 doanh nghiệp còn lại đều là các doanh nghiệp nhỏ sức cạnh tranh không thể bằng Petrolimex.Các doanh nghiệp được phép tự do định giá bán lẻ xăng dầu nhưng từ trước đến nay, tất cả doanh nghiệp khi tăng hay giảm giá đều áp chung một mức giá, không có doanh nghiệp nào đề cập đến giá khác. Đây có thể là một hiện tượng câu kết của các doanh nghiệp trên để thao túng thị trường. Công tác phân tích và dự báo thị trường của các doanh nghiệp chưa tốt. Khi giá cao hay thấp thì các doanh nghiệp vẫn mua vào. Việc làm này quá cứng nhắc và không linh hoạt dẫn đến việc ở thời điểm giá dầu thế giới xuống thấp nhưng các doanh nghiệp không lợi dụng mua vào để đến lúc người ta dự báo giá lên cao lại mua vào với số lượng lớn nhưng sau đó giá dầu thế giới không tăng mà giảm liên tục. Điều này cũng lý giải tại sao mặc dù theo cơ chế thị trường nhưng khi giá dầu thế giới giảm nhưng giá xăng trong nước lại không giảm thậm chí còn tăng thêm. Hiện nay, hầu hêt các giao dịch mua bán xăng dầu đều dựa trên giá thả nổi. Giá thả nổi là giá được xác định dựa trên chỉ số giá của thời kì giao hàng. Vào thời điểm kí hợp đồng cả bên mua và bên bán đều chưa xác nhận được giá trị của lô hàng, chỉ đến ngày giao hàng giá này mới được xác định bằng chỉ số Platts của ngày hôm đó. Vì vậy để giá hợp đồng thả nổi theo giá thị trường, các công ty không thể kiểm soát được lợi nhuận của mình. Vì không được bảo hiểm giá nên các nhà nhập khẩu Việt Nam hoàn toàn có thể bị bắt nạt. Thời gian giao hàng có thể rơi vào lúc chí số giá lên cao hoặc cố thình bị đẩy lên cao. Vì vậy, có thể doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu xăng dầu với giá trung bình cao hơn thị trường thế giới. Chương II. ẢNH HƯỞNG CỦA XĂNG DẦU TĂNG GIÁ TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM Việt Nam là nước phải nhập khẩu gần như100% sản phẩm xăng dầu mặc dầu nhà máy lọc dầu Dung Quất đã bắt đầu đi vào hoạt động nhưng sản lượng dầu vẫn chưa đáp ứng được nhiều nhu cầu trong nước; trong những năm gần đây giá cả xăng dầu, dầu mỏ thế giới tăng liên tục đến mức chóng mặt, dĩ nhiên sự gia tăng giá xăng dầu trên thị trường thế giới cũng kéo theo sự gia tăng liên tục của giá xăng dầu tại thị trường Việt Nam trong năm 2010 đến thời điểm ngày22/11 thì giá xăng dầu đã tăng 5 lần. Tuy nhiên, nhờ nhiều biện pháp can thiệp kịp thời của Chính phủ nên biến động giá xăng dầu ở nước ta chưa đến mức cao như mức bình quân trên thị trường thế giới, nhưng giá xăng dầu cũng đã khá cao này nếu duy trì trong một thời gian dài cũng đặt ra nhiều vấn đề kinh tế đáng để các nhà hoạch định chính sách xem xét. Trong nhưng năm gần đây nhất là từ năm 2008 đến nay từ khi Chính Phủ quyết định bãi bỏ chính sách bù lỗ xăng dầu thì mặt hàng xăng dầu đã điều chỉnh tăng giá nhiều lần theo diễn biến của thị trường dầu mỏ thế giới. Giá xăng dầu tăng vừa có ảnh hưởng tích cực vừa có ảnh tiêu cực lên nền kinh tế nhưng chủ yếu là tác động tiêu như ảnh hưởng tới giá cả thị trường các mặt hàng và sức ép tăng giá như tăng giá điện,cước vận tải, gây sốc trên thị trường chứng khoán,gây bất lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp… Có thế tóm tắt ảnh hưởng của tăng giá xăng dầu bằng mô hình sau: Xăng dầu Tiêu dùng cuối cùng (nhiên liệu cho đi lại, đun nấu…) Tiêu dùng trung gian (nhiên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất, chế biến..) Tái cấu trúc nền kinh tế, dịch chuyển lợi thế cạnh tranh ảnh hưởng đến các nghành, ảnh hưởng đến đời sống dân cư… Tăng giá các mặt hàng khác(ảnh hưởng gián tiếp, dây chuyền) Tăng mức giá chung Sức ép tăng lương Giảm sức ép lên ngân sách do cắt giảm trợ giá Giảm sức ép thâm hụt ngân sách, giảm mức vay nợ hoặc thu thuế trong tương lai Giảm méo mó trong nền kinh tế,giúp ổn định vĩ mô trong dài hạn Nhập khẩu Biểu đồ lược tả ảnh hưởng của việc tăng giá xăng dầu 1. Ảnh hưởng tới các doanh nghiệp. Xăng dầu là yếu tố quan trọng trong đầu vào của phần lớn các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, vận tải và khai thác thuỷ hải sản. Khi xăng dầu tăng giá ảnh hưởng tới hàng loạt các mặt hàng cung ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng tăng giá theo ví dụ như tăng giá điện, hay chi phí vận tải…. dẫn đến việc tăng giá sản phẩm, dịch vụ. Một số hoạt động kinh tế và hàng hoá có tỷ trọng đầu vào là xăng dầu cao ( trên 10%) và mức độ tăng giá sản phẩm sau đợt tăng giá vào tháng 7/ 2008 Tên hàng hoá Tỷ trọng xăng dầu(%) Tăng giá (%) Đánh bắt thuỷ hải sản 23,57 7,31 Sản xuất các phương tiện giao thông 16, 87 5,23 Xăng dầu 42,22 – Điện và gas đốt 12,15 3,77 Giao thông đường bộ 19,85 6,15 Giao thông đường sắt 11,24 3,48 Giao thông đường thuỷ 30,09 10,57 Giao thông đường không 21,30 6,60 ( theo SAM 2000- Tổng Cục Thống Kê Việt Nam ,CIEM) Giá xăng dầu tăng ảnh hưởng lớn nhất đến các doanh nghiệp vận tải đầu tiên và trực tiếp là việc giá cước vận tải tăng. Biểu hiện là các hãng taxi đồng loạt tăng giá cước. Các doanh nghiệp vận tải cũng trong cảnh lao đao do giá xăng dầu cao. Ví dụ công ty vận tải Hoàng Long trong đợt tăng giá đầu năm 2008 đã phải chịu lỗ 13 tỷ đồng vào quý 2/ 2008. Giá các loại vé xe, tàu dịch vụ vận tải liên tục tăng để đảm bảo doanh nghiệp kinh doanh không bị lỗ. Ảnh hưởng tiếp theo của việc xăng dầu tăng giá là ảnh lưởng lớn đến các việc đánh bắt thuỷ hải sản. Do giá xăng dầu cao nên chi phí đánh bắt tăng gây không ít khó khăn cho nghề đi biển bởi vì ngư dân không thể tự điều chỉnh giá khai thác được. Hiện có nhiều tàu phải” nằm bờ”vì không theo kịp giá nhiên liệu, nhiều ngư dân lâm vào tình trạng ” tiến thoái lưỡng nan”. Ngoài ra khi xăng dầu tăng giá thì giá các loại vật liệu xây dựng, xi măng, sắt thép cũng liên tục tăng gây ảnh hưởng lớn tới các doanh nghiệp xây dựng trong áp lực phải hoàn thành công trình.Xăng dầu tăng giá làm cho chi phí đầu vào của các doanh nghiệp tăng gây ảnh hưởng tới sản xuất và tăng giá thành sản phẩm làm cho giá cả các mặt hàng trên thị trường tăng gây lạm phát và sức ép tăng lương…Bên cạnh đó xang dầu tăng giá cũng ảnh hưởng không nhỏ tới thị trường chứng khoán và thị trường vàng. Giá vàng tăng liên tiếp vào đúng thời điểm giá dầu thô thế giới tăng mạnh. Từ đó đến nay thị trường vàng cũng “biến động” giống với thị trường dầu mỏ 2. Ảnh hưởng đến đời sống của người dân Hiện nay, xe gắn máy là phương tiện đi lại chủ yếu của hầu hết các hộ gia đình. Do đó giá bán lẻ xăng dầu tăng đồng nghĩa với việc phải chi tiêu nhiều hơn cho sử dụng xe gắn máy trong quá trình đi lại.Việc giá xăng dầu cao và ngày càng tăng làm giảm mức sống của dân cư xuống dưới mức lẽ ra đã có thể đạt được do tổng tiêu dùng tăng lên tương đối so với thu nhập. Hơn nữa mặt hàng xăng dầu tương đối không co giãn so với giá- nghĩa là giá tăng nhưng người sử dụng phương tiện vận tải cơ giới vẫn phải sử dụng do không có nhiên liệu khác thay thế. Do vậy khi giá xăng dầu tăng thì người tiêu dùng ít có thu nhập hơn dùng để chi tiêu cho hàng hoá khác. Giá xăng dầu tăng cũng sẽ tác động tiêu cực về mặt tâm lý. Như chúng ta đã biết yếu tố tâm lý luôn gây phản ứng dây chuyền đội giá của các hàng hóa, dịch vụ khác theo vòng luân chuyển tiếp theo. Tác động tâm lý này trên thực tế lại xảy ra với thị trường Việt Nam thường cao hơn rất nhiều so với những dự liệu. Cứ mỗi lần xăng tăng giá là ngay lập tức các mặt hàng khác cũng tăng giá chóng mặt nhất là các hàng về thực phẩm, nguyên vật liệu xây dựng, …Giá cả tăng cao mà đồng lương không có gì thay đổi cộng thêm việc tiền mất giá thì áp lực chi tiêu ngày càng trở nên ” ngột ngạt” nhất là đối với những người có thu nhập thấp. Giá xăng dầu tăng cũng ảnh hưởng đến việc tăng giá gas và các loại dầu dùng để đun nấu cũng ” nóng” liên tục theo xu hướng của thị trường xăng dầu. Trong những năm gần đây giá gas đã tăng liên tục tác động rất lớn đến đời sống của người dân nhất là người có thu nhập thấp ở thành thị do tăng giá gas và các loại dầu đốt càng làm tăng gánh nặng chi tiêu nhất là trong thời điểm giá cả leo thang, lạm phát và đồng tiền mất giá như hiện nay. Hiện nay giá gas đang ở mức 335. 000 đ/ bình 12 kg. Dự kiến giá gas vẫn có thể tiệp tục tăng trong thời gian tới do giá gas chịu ảnh hưởng trực tiếp theo giá cả thị trường gas thế giới… Chương III. DỰ ĐOÁN THỊ TRƯỜNG XĂNG DẦU VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020. Theo như dự đoán của Cơ quan năng lượng quốc tế IEA thì nhu cầu dầu mỏ của thế giới tiếp tục tăng trong vòng 25 năm tới trong đó 1/3 nhu cầu mới sẽ là của Trung Quốc. IEA dự đoán nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ tăng 18% ( vào năm 2035) chủ yếu ở các nước đang phát triển. Theo như xu hướng của nhu cầu dầu mỏ thế giới và tình hình thị trường xăng dầu mấy năm gần đây có thể thấy rằng nhu cầu về xăng dầu cũng như các sản phẩm xăng dầu của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới. Nhất là Việt Nam đang trong giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá thì nhu cầu về năng lượng phục vụ cho quá trình sản xuất sẽ rất lớn. Hơn nữa với tốc độ phát triển kinh tế đời sống của người dân được nâng cao nhu cầu sử dụng các phương tiện cá nhân đi lại, cũng như sử dụng gas và các loại chất đốt tăng nhanh. Nói tóm lại, trong 20 năm tới nhu cầu xăng dầu của Việt Nam sẽ tăng mạnh. Báo cáo mới nhất về tình hình dầu khí Việt Nam dự báo lượng dầu tiêu thụ ở Việt Nam dự kiến tăng 101% trong giai đoạn 2007- 2018. Nhu cầu khí đốt của Việt Nam dự kiến tăng từ 7,7 tỷ m3 năm 2007 lên tới 22 tỷ m3 vào năm 2013 và sản lượng khí đốt cũng tăng từ 7,7 tỷ m3 năm 2007 lên 25 tỷ m3 vào 2018. Với dự báo này, sản lượng khí đốt của Việt Nam chỉ vừa đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước. Với tình hình trên thì chắc chắn giá xăng dầu sẽ tiếp tục tăng và biến động theo thị trường thế giới. Mặc dầu nhà máy lọc dầu Dung Quất đã đi vào hoạt động phần nào đó đáp ứng nhu cầu trong nước thế nhưng Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn xăng dầu nhập khẩu. Thế nên những năm tới chắc chắn thị trường xăng dầu sẽ ” nóng” theo nhịp thị trường thế giới. CHƯƠNG IV. KẾT LUẬN Trước diễn biến của giá dầu thô thế giới trong vài năm trở lại đây liên tục tăng nhanh, đặc biệt là gần đây giá dầu thô đã vượt mức 147 USD/thùng ( 2008) đã gây sức ép đối với giá xăng dầu trong nước làm cho giá xăng dầu trong nước liên tục tăng. Trong khi Việt Nam là nước nhập khẩu gần như 100% xăng dầu thành phẩm thì giá xăng dầu là đương nhiên. Mặc dầu thị trường xăng dầu đã được thả nổi theo giá cả thị trường điều này là hoàn toàn đúng thế nhưng thị trường xăng dầu Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề cần phải xem xét. Nhiều khi giá xăng dầu vẫn ngược chiều với giả cả thị trường thế giới. Xăng dầu tăng giá và những bất cập trong quản lý và kinh doanh xăng dầu đã có tác động không nhỏ tới các doanh nghiệp và người tiêu dùng. Vì vậy Nhà nước cũng như các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu nhất thiết phải tìm ra các biện pháp để phát triển thị trường xăng dầu trong nước, bình ổn giá cả tìm ra hướng đi của thị trường xăng dầu trong nước để giảm thiểu những tác động và thiệt hại tới nền kinh tế đảm bảo đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nhưng cũng đảm bảo ổn định giá cả và phát triển bền vững vì mục tiêu phát triển kinh tế chung của đất nước. Chương V. CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG XĂNG DẦU TRONG NƯỚC 1. Giải pháp ” thị trường hoá” thị trường xăng dầu. Tăng tính thị trường cho thị trường xăng dầu. Nhà Nước thực sự trao quyền kinh doanh cho doanh nghiệp và chỉ kiểm soát ở tầm vĩ mô không nên can thiệp quá sâu. Cần phải lập kho dự trữ xăng dầu quốc gia để điều tiết thị trường xăng dầu bên cạnh việc sử dụng quỹ bình ổn xăng dầu. Kho dự trữ với trữ lượng đủ mạnh khi giá tăng thấy cần thiết Nhà Nước có thể bán dầu từ kho dự trữ. Đây là cách giúp giảm giá hiệu quả hơn là bỏ tiền trực tiếp ra bù lỗ cho các doanh nghiệp, giá giảm Nhà Nước vẫn thu được tiền thậm chí có lãi. Tăng tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu. Hiện tại Việt Nam có 11 doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu là quá nhiều nhưng hoạt động không có sức cạnh tranh. Trong khi đó các nước như Mỹ, Singapore,… chỉ có khoảng 3-4 doanh nghiệp kinh doanh

Toàn Cầu Hóa Kinh Tế Ở Các Nước Đang Phát Triển

, Working at Hiệp hội ở không và ăn bám gia đình

Published on

toàn cầu hóa kinh tế tạo ra cơ hội và thách thức đổi với nền kinh tế các nước đang phát triển

1. LOGO chúng tôi Nhóm: 03 Lớp : 07 Giảng viên: Nguyễn Thị Thu Hà

2. Nhóm 3 Thành viên 1.Trần Thị Huế 2.Nguyễn Thị Hương 3.Phạm Thị Lan 4.Nguyễn Minh Huyền chúng tôi Thu Hương 6.Nguyễn Thị Linh 7.Trần Thị Mai 8.Nguyễn Thùy Linh 9.Đồng Thị Mai 10.Vũ Mạnh Hùng 11.Nguyễn Mai Hương 12.Trần Thị Hường

3.  Toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu khách quan, đã và đang tác động mạnh mẽ tới tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội ở mọi quốc gia trên thế giới.  Toàn cầu hóa chính là một quá trình hai mặt, nó vừa mang lại những cơ hội mà vừa đưa đến những thách thức cho mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Mở đầu

4. Tìm hiểu chung về toàn cầu hóa và các nước đang phát triển. Cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa với các nước đang phát triển. Thực trạng toàn cầu hóa tác động đến Việt Nam. Kết luận Một số giải pháp cho các nước đang phát triển trong quá trình toàn cầu hóa. Nội dung

5.  Khái niệm toàn cầu hóa: Toàn cầu hóa là sự gia tăng mạnh mẽ các mối quan hệ gắn kết, tác động phụ thuộc lẫn nhau, là quá trình mở rộng quy mô và cường độ hoạt động giữa các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên phạm vi toàn cầu trong sự vận động phát triển Toàn cầu hóa và các nước đang phát triển.

6.  Khái niệm các nước đang phát triển: Thuật ngữ “đang phát triển” chỉ xu thế đi lên của hầu hết các nước thuộc thế giới thứ ba – các nước có nền nông nghiệp lạc hậu hoặc các nước nông – công nghiệp đang từ sản xuất nhỏ tiến lên con đường công nghiệp hóa. Toàn cầu hóa và các nước đang phát triển.

7.  Mức sống thấp  Tỷ lệ tăng dân số cao và gánh nặng phụ thuộc.  Mức thất nghiệp và bán thất nghiệp cao.  Tỷ lệ tích lũy thấp  Trình độ kỹ thuật của sản xuất thấp  Năng suất lao động thấp Đặc điểm các nước đang phát triển

8. Chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế của một số nước năm 2003

9.  Được hưởng nhiều quyền lợi và sự bảo vệ của Quốc tế  Thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực  Tăng nguồn vốn đầu tư  Mở rộng kinh tế đối ngoại  Nâng cao trình độ kĩ thuật – công nghệ  Cơ sở hạ tầng được tăng cường  Học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến Những cơ hội của toàn cầu hóa với nền kinh tế đang phát triển.

10.  Tăng trưởng kinh tế không bền vững do phụ thuộc vào thương mại quốc tế và kinh tế thế giới.  Sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu kém  Nguy cơ chảy máu chất xám  Nợ nần tăng lên  Môi trường sinh thái ngày càng xấu đi Thách thức của toàn cầu hóa với nền kinh tế đang phát triển

11. Thực trạng toàn cầu hóa tác động đến Việt Nam Tình hình Việt Nam trước thời kì Đổi Mới và Toàn cầu hóa:  Đất nước đã lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng.  Sản xuất nông – công nghiệp đình đốn.  Lưu thông, phân phối ách tắc.  Lạm phát ở mức ba con số.  Đời sống của các tầng lớp nhân dân sa sút chưa từng thấy.

12. Tiến trình toàn cầu hóa tại Việt Nam. oĐại hội VI của Đảng (12/1986), Đảng cộng sản Việt Nam đã đưa ra quyết định chuyển đổi cơ chế kinh tế, từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước. oTrong lĩnh vực đối ngoại, Việt Nam thực hiện chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Thực trạng toàn cầu hóa tác động đến Việt Nam

13. Tháng 7-1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

14. Tháng 3-1996, Việt Nam tham gia Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM)

15. Tháng 11-1998, Việt Nam đã gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC)

16. Ngày 7/11/2006 Việt Nam đã được công nhận là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

17.  Có cơ hội lớn hơn trong tiếp cận tri thức tiên tiến của nhân loại.  Khắc phục lạm phát, nạn thiếu lương thực trước đây và hiện nay kinh tế phát triển liên tục, đặc biệt là sản xuất lương thực, Việt Nam trở thành một nước xuất khẩu gạo thứ hai, thứ ba trên thế giới.  Kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng trưởng và năm sau luôn cao hơn năm trước. Nhiều loại hình dịch vụ mới được mở mang. Một số ngành công nghệ mới, công nghệ cao đã được đầu tư và phát triển.  Thực hiện chính sách công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo. Những thành tựu Việt Nam đã đạt được.

18. Trong tiến trình toàn cầu hóa, Việt Nam cũng phải đối diện với nhiều thách thức, trở ngại. 1.Quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế của Việt nam còn chậm. 2.Thách thức tiếp theo chính là sức ép cạnh tranh ở thị trường trong nước và quốc tế. chúng tôi tăng tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự. Những hạn chế trong quá trình toàn cầu hóa tại Việt Nam

19. Chủ động hội nhập từng bước vững chắc.  Biết lợi dụng những yếu tố thuận lợi Vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Liên kết để có tiếng nói chung Có biện pháp an ninh, chính trị vững vàng. Một số giải pháp cho các nước đang phát triển trong quá trình toàn cầu hóa.

20.  Toàn cầu hoá vừa tạo cơ hội cho sự phát triển, sự tiến bộ nhung cũng vừa làm nảy sinh không ít những̛ thách thức mà các nước đang phát triển phải đối mạt.̆  Việt Nam đã và đang tham gia vào toàn cầu hóa một cách rất tích cực và thu được nhiều thành tựu to lớn. Kết luận.

21. LOGO chúng tôi ĐH Kinh Tế & Quản Trị Kinh Doanh Thái Nguyên Cảm ơn sự lắng nghe của cô và các bạn!

Thông Tin Giá Xăng Dầu Tăng Giảm Mới Nhất

Bạn đang xem bài viết Các Nước Đang Phát Triển Gặp Khó Khăn Trong Năm 2022 Do Chi Phí Vốn Vay Tăng Và Giá Dầu Và Giá Hàng Hóa Giảm trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!