Xem Nhiều 1/2023 #️ Chính Sách Đối Với Người Có Công Thực Trạng Và Một Số Kiến Nghị # Top 8 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Chính Sách Đối Với Người Có Công Thực Trạng Và Một Số Kiến Nghị # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Chính Sách Đối Với Người Có Công Thực Trạng Và Một Số Kiến Nghị mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Theo Pháp lệnh ưu đãi người có công số 26/2005/PL-UBTVQH, người có công với cách mạng bao gồm: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01-01-1945; người hoạt động cách mạng từ ngày 01-01-1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19-8-1945; Liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng; Thân nhân của người có công với cách mạng(1).

Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc “Uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa”, ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (năm 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định chọn ngày 27-7 là ngày Thương binh – Liệt sĩ, nhằm tôn vinh và tỏ lòng biết ơn đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công. Hồ Chủ tịch đã nói: “Thương binh, bệnh binh, gia đình bộ đội, gia đình liệt sỹ là những người có công với Tổ quốc. Bởi vậy bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, thương yêu và giúp đỡ họ”. Vì vậy, chăm sóc, ưu đãi người có công với cách mạng có ý nghĩa chính trị, xã hội to lớn và trở thành một nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Điều 67 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi với người có công với nước, vận động toàn xã hội tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, nâng cao mức sống về mặt vật chất tinh thần của người có công”(2). Đây là yếu tố nhằm thực hiện sự tiến bộ và công bằng xã hội, góp phần ổn định chính trị, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển.

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan chụp ảnh cùng các đại biểu người có công tỉnh Hà Nam Ngoài ra, liên Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội – Bộ Tài chính đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc người có công với nước(3). Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục dành sự quan tâm đặc biệt trong việc chăm sóc người có công với Nước. Hiện cả nước có trên 8,8 triệu đối tượng người có công được hưởng trợ cấp một lần và hàng tháng. Mỗi năm, Nhà nước đã dành gần 26.000 tỷ đồng để thực hiện các chế độ ưu đãi cho người có công với cách mạng.

Lợi dụng chủ trương giải quyết chế độ đối với quân nhân là người dân tộc thiểu số, 20 cán bộ chủ chốt của xã Sơn Kỳ, huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi, đã làm giả nhiều loại hồ sơ, thủ tục để chiếm đoạt tiền Nhà nước. Theo kết luận thanh tra của Thanh tra huyện Sơn Hà, trong số 215 trường hợp đã được UBND xã đề nghị giải quyết chế độ, chỉ có 37 người đúng đối tượng, còn lại 178 trường hợp không đúng quy định. Cụ thể: 68 trường hợp đã có quyết định công nhận bệnh binh với tỷ lệ 61% trở lên, đã hưởng trợ cấp hàng tháng với tổng số tiền hơn 2,42 tỷ đồng; trong đó, có 48 trường hợp không đúng đối tượng được giải quyết, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước (tính đến cuối tháng 5-2012) là 1,7 tỷ đồng.

Tại Hà Giang, vụ án Ngô Văn Lai cùng đồng phạm làm giả hồ sơ thương binh chiếm dụng tiền trợ cấp của Nhà nước gây xôn xao, ảnh hưởng xấu đến quần chúng nhân dân ở tỉnh vùng cao biên giới, được Công an tỉnh Hà Giang điều tra, phát hiện và khởi tố. Với thủ đoạn “biến người lành thành… thương binh”, Ngô Văn Lai hướng dẫn các đối tượng tự kê khai thương tật (là các vết sẹo, vết thương, vết gãy xương do tai nạn lao động, tai nạn giao thông hoặc do vết mổ bệnh lý…), giả mạo chữ ký (xác nhận cho nhau), sau đó xin xác nhận của cấp ủy, chính quyền địa phương. Vụ Huỳnh Ngọc Minh, nguyên cán bộ Thương binh – Xã hội phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ chiếm đoạt hơn 1 tỷ đồng tiền trợ cấp người có công với cách mạng. Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ phiên xét xử sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Huỳnh Ngọc Minh tù chung thân về tội Tham ô tài sản. Vừa qua, Công an tỉnh Đắk Nông cũng đã phối hợp điều tra, triệt phá một đường dây chuyên làm hồ sơ giả để hưởng chế độ thương binh, bệnh binh; khởi tố 14 đối tượng, trong đó có 4 đối tượng bị khởi tố về hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức, 10 đối tượng bị khởi tố về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; truy thu hàng trăm triệu đồng cho Nhà nước.

Từ những vụ việc cụ thể nêu trên cho thấy: Công tác quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở trong việc thực hiện chính sách đối với người có công còn nhiều bất cập, hạn chế. Một số văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện “Pháp lệnh ưu đãi người có công” chưa đầy đủ, thiếu thống nhất. Quy định hướng dẫn về điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình, trách nhiệm xác nhận người có công chưa đồng bộ, thiếu hợp lý; có nội dung quá “khắt khe”, gây khó khăn cho đối tượng; có nội dung quá “thông thoáng”, tạo kẽ hở cho phần tử xấu lợi dụng, dẫn đến tiêu cực. Để thực hiện tốt chính sách đối với người có công, thiết nghĩ trong thời gian tới, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, thấm nhuần tư tưởng, quan điểm của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính sách pháp luật của Nhà nước về chăm sóc đối với người có công, tiếp tục ban hành các văn bản, quyết định, chỉ thị phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương; phải phối hợp thường xuyên, chặt chẽ giữa các ngành chức năng trong quá trình thực thi chính sách đối với người có công.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện chính sách để khắc phục các hạn chế, ngăn ngừa đối tượng lợi dụng chính sách để gian lận chiếm hưởng chế độ. Nhiều vấn đề cần được bổ sung như: hướng dẫn việc xác nhận thương binh, liệt sỹ trong điều kiện hoàn cảnh mới, thực hiện ưu đãi người hoạt động cách mạng trước năm 1945 và từ năm 1945 đến trước tổng khởi nghĩa 19-8-1945. Một số chế độ ưu đãi về giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe, dụng cụ chỉnh hình phục hồi chức năng, chế độ trợ cấp… cũng cần được sửa đổi, bổ sung để việc ưu đãi xã hội được đồng bộ, đầy đủ và có tính khoa học, hợp lý, tránh tạo kẽ hở dễ phát sinh tiêu cực.

Ba là, kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác chính sách bảo đảm đủ phẩm chất, đạo đức, năng lực chuyên môn; đủ khả năng tham mưu cho cấp ủy đảng, chính quyền thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với người có công.

Năm là, các cơ quan bảo vệ pháp luật tăng cường phát hiện, kiên quyết đưa ra khởi tố và xử lý nghiêm minh các vụ việc, vụ án vi phạm chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước đối với người có công, bảo đảm tính răn đe để phòng ngừa tiêu cực xảy ra.

(1) Điều 2 Pháp lệnh ưu đãi người có công số 26/2005/PL-UBTVQH ngày 29-6-2005. (2) Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Nxb CTQG, Điều 67, Chương V, tr.19. (3) Thông tư liên tịch số 47/2009/TTLT-BTCBLĐTBXH ngày 11-3-2009.

Bùi Thu Huyền (Chuyên viên Ban Nội chính Trung ương)

Thực Trạng Ngân Sách Nhà Nước Và Một Số Khuyến Nghị

Tốc độ thu Ngân sách Nhà nước có xu hướng giảm trong thời gian vừa qua bởi những chính sách miễn, giãn, giảm thuế sau năm 2012 và tốc độ lạm phát hàng năm thấp hơn trong giai đoạn 2012 đến nay so với giai đoạn 2008 – 2011 làm cho tốc độ tăng thu của một số sắc thuế phụ thuộc vào yếu tố lạm phát giảm đi.

Chính phủ cần tăng cường khuyến khích sự tham gia của người dân, 

cơ quan ngôn luận xã hội khác trong quá trình lập và thực hiện Ngân sách Nhà nước 

từ đó sẽ đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước 

Kỷ luật chi Ngân sách Nhà nước vẫn còn một số hạn chế khi nhiều năm liền, chi Ngân sách Nhà nước thực tế đều cao hơn so với dự toán. Bội chi Ngân sách Nhà nước ở mức cao trong nhiều năm và cao hơn so với dự toán ban đầu dẫn đến nợ công trên GDP có xu hướng tăng và đạt đỉnh vào năm 2016 ở mức 63.7% GDP. Bài viết này sẽ đưa ra các đánh giá về thực trạng thu, chi, bội chi Ngân sách Nhà nước và nợ công và từ đó, đưa ra các khuyến nghị cho Việt Nam.

 

1. Về thu Ngân sách Nhà nước  

Thu Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam có thể chia thành 3 nguồn chính đó là thu từ thuế và phí, thu về vốn (lợi nhuận từ các doanh nghiệp có vốn nhà nước), thu từ viện trợ không hoàn lại. Nguồn thu Ngân sách Nhà nước từ thuế, phí và viện trợ được chia làm 3 loại: Nguồn thu cho ngân sách trung ương, nguồn thu cho ngân sách địa phương, nguồn thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Nguồn thu từ thuế và phí là nguồn thu quan trọng nhất đóng góp khoảng 90.7% tổng thu Ngân sách Nhà nước, thu từ vốn chiếm 7.95% và thu từ viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 1.45% [1].  

Thu Ngân sách Nhà nước tăng 3.23 lần trong giai đoạn từ 2008 đến 2018 trung bình 14.3%/năm, nhưng nếu loại bỏ yếu tố lạm phát ra thì tăng trưởng thu Ngân sách Nhà nước thực chỉ khoảng 6.4%/năm. Thu Ngân sách Nhà nước có xu hướng tăng chậm lại từ năm 2012, khi tốc độ thu Ngân sách Nhà nước trung bình chỉ tăng 10.2%/năm, thấp hơn mức 21.3% giai đoạn 2008 – 2011. Nguyên nhân thu Ngân sách Nhà nước tăng trưởng chậm hơn từ năm 2012 là do Chính phủ thực hiện điều chỉnh chính sách thuế theo hướng miễn, giảm, giãn, giảm thời hạn nộp thuế ở hầu hết các sắc thuế chính như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu, thuế sử dụng đất nông nghiệp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nếu loại trừ yếu tố lạm phát thì thu ngân sách thực giai đoạn 2008 đến 2011 trung bình tăng trưởng 6.95%/năm,trong khi tăng trưởng thu ngân sách thực giai đoạn 2013 đến 2018 là 7.67%/năm. Do đó, mặc dù thu ngân sách có vẻ cao hơn trong giai đoạn 2008-2011 nhưng lại đi kèm với yếu tố lạm phát cao và những bất ổn kinh tế vĩ mô dẫn đến thu Ngân sách Nhà nước thực (sau khi loại trừ yếu tố lạm phát) dành để cho chi tiêu công lại tăng trưởng thấp hơn so với những giai đoạn lạm phát thấp và nền kinh tế vĩ mô ổn định. (Hình 1)

 

Thu Ngân sách Nhà nước có cơ cấu ngày càng bền vững hơn, phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế với hàng loạt các hiệp định cắt giảm thuế quan khi tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu Ngân sách Nhà nước ngày càng cao tăng từ mức 55.76% trong tổng thu Ngân sách Nhà nước năm 2008 lên đến hơn 81.7% năm 2018. Thu Ngân sách Nhà nước từ xuất nhập khẩu và thu Ngân sách Nhà nước từ dầu thô giảm từ mức đóng góp 21.24% và 20.8% tổng thu Ngân sách Nhà nước năm 2008 xuống còn 14.3% và 4% năm 2018. Thu Ngân sách Nhà nước từ xuất nhập khẩu trong tổng thu Ngân sách Nhà nước giảm do cắt giảm thuế quan theo các hiệp định thương mại tự do. Thu Ngân sách Nhà nước đỡ phụ thuộc vào dầu thô thể hiện xu hướng tốt vì đây là nguồn thu từ tài nguyên thiên nhiên và không có tính bền vững lâu dài. Về phân cấp thu Ngân sách Nhà nước, thu ngân sách địa phương có xu hướng tăng cả về quy mô lẫn tỷ trọng từ đó giảm dần vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương trong tổng thu Ngân sách Nhà nước. Cụ thể, quy mô thu ngân sách địa phương năm 2017 theo quyết toán gấp 2.1 lần năm 2011, tỷ trọng thu ngân sách địa phương trong tổng thu Ngân sách Nhà nước cũng tăng từ 37.2% năm 2011 lên mức 43.79% năm 2017.   

Thu Ngân sách Nhà nước qua các năm đều cao hơn so với dự toán trước đó (trừ năm 2012). Trung bình trong giai đoạn 2008 đến 2018 thu ngân sách thực tế luôn cao hơn dự toán thu Ngân sách Nhà nước 13.5%. Điều này đặt ra yêu cầu về công tác dự báo thu Ngân sách Nhà nước cần chính xác và sát với thực tế hơn. Bên cạnh đó, xuất phát từ nguyên nhân chủ quan một số địa phương có thể muốn dự báo thu ngân sách ở mức thấp hơn so với thu ngân sách thực tế hàng năm để từ đó có khoản thưởng vượt thu từ ngân sách trung ương [2].

 

2. Về chi Ngân sách Nhà nước  

Chi Ngân sách Nhà nước được phân cấp thành chi ngân sách trung ương và chi ngân sách địa phương. Ngân sách trung ương, ngân sách mỗi cấp địa phương được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể. Những địa phương có nguồn thu Ngân sách Nhà nước thấp sẽ được bổ sung từ ngân sách trung ương để đảm bảo các nhiệm vụ chi ngân sách. Chi Ngân sách Nhà nước chủ yếu là cho: Chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trả nợ, chi trả lãi vay, chi cho dự phòng và chi cải cách tiền lương. Trong đó, chi thường xuyên luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi Ngân sách Nhà nước chiếm trung bình khoảng 61% trong tổng chi Ngân sách Nhà nước, chi đầu tư phát triển chiếm khoảng 23%, chi trả nợ và viện trợ chiếm khoảng 7% giai đoạn 2008 – 2018. Tỷ trọng chi thường xuyên trong tổng chi Ngân sách Nhà nước có xu hướng tăng lên và đạt đỉnh ở mức 70.7% trong năm 2017. Trong khi đó, chi cho đầu tư phát triển trong tổng chi Ngân sách Nhà nước lại có xu hướng giảm từ mức khoảng 26.3% năm 2008 xuống khoảng 21.27% năm 2017. Chi thường xuyên có xu hướng tăng trong khi chi cho đầu tư phát triển mới chính là nguồn lực cho phát triển kinh tế dài hạn lại có xu hướng thu hẹp lại.  

Tổng chi Ngân sách Nhà nước tăng 2.8 lần trong giai đoạn 2008 – 2018 với tốc độ trung bình 12%/năm. Nếu loại trừ lạm phát, tốc độ tăng trưởng trung bình thực của chi Ngân sách Nhà nước ở mức 4%/năm. Giai đoạn 2008 – 2012, trung bình tốc độ tăng chi Ngân sách Nhà nước hàng năm ở mức 20.8%/năm nhưng sau năm 2012, tốc độ tăng chi Ngân sách Nhà nước giảm bởi vì những chính sách thắt chặt chi tiêu (đặc biệt là chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển) sau khi lạm phát cao ở mức 2 chữ số trong năm 2011 (18.58%). Chi Ngân sách Nhà nước thực tế luôn cao hơn so với dự toán chi Ngân sách Nhà nước từ năm 2008 đến năm 2016. Cụ thể, trung bình chi Ngân sách Nhà nước luôn cao hơn so với dự toán chi 9.9% đặc biệt là từ năm 2008, 2009, 2010 và 2013 chi ngân sách thực tế luôn cao hơn ở mức hai chữ số so với dự toán chi. Do đó, kỷ luật chi tiêu Ngân sách Nhà nước vẫn còn lỏng lẻo, dẫn đến chi ngân sách luôn vượt dự toán làm tăng bội chi ngân sách và nợ công. Trên thực tế, nhiều công trình dự án đầu tư có nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước khi thực hiện thường có mức chi tiêu cao hơn nhiều so với dự toán ban đầu. Chi tiêu thường xuyên từ Ngân sách Nhà nước cũng tăng cao cho quản lý hành chính, tăng lương và tăng biên chế, y tế giáo dục. Bắt đầu từ năm 2017, chi Ngân sách Nhà nước bắt đầu ở mức thấp hơn dự toán cho thấy kỷ luật chi Ngân sách Nhà nước bắt đầu được thắt chặt đảm bảo chi Ngân sách Nhà nước ở mức hợp lý giảm bội chi ngân sách và nợ công.  

 

Một vấn đề nữa đó là vẫn còn tình trạng tham nhũng ở một số dự án, dẫn đến việc chi tiêu Ngân sách Nhà nước thường tăng cao hơn so với dự toán và được đánh giá là hiệu quả thấp. Ba loại tham nhũng chính từ Ngân sách Nhà nước có thể nhận thấy đó là: các khoản chi tiêu gian lận, gian lận khi đấu thầu các dự án công, hay mua sắm các hàng hóa dịch vụ hay xây dựng các công trình chất lượng thấp hơn so với tiêu chuẩn. Do đó, công tác phòng chống tình trạng tham nhũng từ Ngân sách Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước và giảm thiểu tăng chi so với dự toán đảm bảo bội chi ngân sách ở mức mục tiêu đề ra trong dự toán Ngân sách Nhà nước hàng năm (Hình 2).

Trong thời gian qua, chi cao hơn so với dự toán và bội chi Ngân sách Nhà nước còn xuất hiện cao hơn so với mức bội chi mà theo dự toán của Quốc hội đã đặt ra. Cụ thể là, các năm 2008, 2009 và giai đoạn từ 2012 đến 2015, bội chi cao hơn so với dự toán, có những năm bội chi cao hơn so với dự toán 31.5%. Gần đây, bội chi Ngân sách Nhà nước có xu hướng giảm dần nhờ có chủ trương tăng kỷ luật chi Ngân sách Nhà nước, giảm bội chi và nợ công. Theo đó, nợ công trên GDP cũng đã tăng từ mức 44.3% GDP năm 2008 lên mức 63.7% GDP năm 2016 và giảm dần xuống còn 61% trong năm 2018.   

Cùng với xu hướng của thu ngân sách trung ương thì chi ngân sách trung ương cũng giảm dần vai trò, thay vào đó là sự gia tăng chi tiêu ở cấp ngân sách địa phương từ mức chiếm 45.77% trong tổng chi Ngân sách Nhà nước trong năm 2011 lên mức 58.33% năm 2017. Chi bổ sung ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương tăng từ mức 182,225 tỷ đồng năm 2011 lên đến 320,581 tỷ đồng năm 2017 nhưng xét về cơ cấu thì bổ sung từ ngân sách trung ương so với tổng chi ngân sách địa phương có xu hướng giảm từ 32.72% xuống còn 30.95%, thể hiện tính tự chủ của ngân sách địa phương ngày càng tăng. Tuy nhiên, hiện nay, ngân sách trung ương phải cấp bổ sung cân đối ngân sách cho một số tỉnh có nguồn thu không đủ chi tiêu (một số tỉnh miền núi). Việc chi tiêu của nhiều tỉnh có nguồn thu Ngân sách Nhà nước thấp và phụ thuộc quá nhiều vào phân bổ ngân sách trung ương tạo áp lực cho ngân sách trung ương hàng năm.

 

3. Một số khuyến nghị   

Thứ nhất, nâng cao chất lượng công tác dự báo thu Ngân sách Nhà nước ở cấp chính quyền địa phương và chính quyền trung ương; Hạn chế các tác nhân chủ quan nhằm làm sai lệch dự báo thu Ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, có thể nghiên cứu để bổ sung chỉ tiêu tổng thu chi ngân sách thực sau khi đã loại trừ lạm phát hàng năm khi đánh giá về kết quả công tác ngân sách hàng năm vì sau khi loại trừ yếu tố lạm phát để có thể sẽ đánh giá được nguồn lực tài chính thực sự từ nguồn thu ngân sách đáp ứng cho chi tiêu hàng năm của Chính phủ nhất là chi đầu tư phát triển vì cơ sở hạ tầng máy móc thiết bị thường sẽ tăng giá hàng năm do yếu tố lạm phát.  

Thứ hai, Chính phủ cần tăng cường khuyến khích sự tham gia của người dân, cơ quan ngôn luận xã hội khác trong quá trình lập và thực hiện Ngân sách Nhà nước qua việc phản hồi về chất lượng các dịch vụ hàng hóa được cung cấp, các công trình dự án được xây dựng… Từ đó sẽ đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước, đẩy lùi các hành vi tham nhũng như: Chi tiêu gian lận, gian lận khi đấu thầu các dự án công, hay mua sắm các hàng hóa dịch vụ hay xây dựng các công trình chất lượng thấp hơn so với tiêu chuẩn.  

Thứ ba, kỷ luật chi tiêu nên được tuân thủ chặt chẽ hơn nữa nhằm kiểm soát khoảng cách giữa chi tiêu Chính phủ thực tế và dự toán chi Ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện ngân sách, các dự án, chương trình nào bị đội vốn do chi phí đầu vào tăng hay các lý do phát sinh khác thì phải bù bằng cách giảm các khoản chi tiêu khác để tránh chi tiêu thực tế cao hơn so với dự toán. Công khai minh bạch ngân sách cần được đẩy mạnh hơn, nhất là chi tiêu cho các thành phố, khu vực nông thôn huyện xã. Cần có chuẩn mực chung về báo cáo tài chính ngân sách cho các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương, các thành phố, huyện, xã.   

Thứ tư, việc chi tiêu ngân sách của một số tỉnh vẫn phụ thuộc vào nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương, do đó, làm tăng gánh nặng cho ngân sách trung ương; Cần tăng cường thêm tính tự chủ của ngân sách địa phương và Ngân sách Nhà nước chỉ nên phân bổ cho ngân sách địa phương nhằm thực hiện các mục tiêu chi cho cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội còn thu ngân sách địa phương cần phải đảm bảo các nhiệm vụ chi thường xuyên khác qua đó sẽ giảm áp lực lên ngân sách trung ương và bội chi ngân sách Nhà nước.  

Thứ năm, chi phí thu thuế bao gồm chi phí quản lý của các cơ quan thuế và chi phí tuân thủ thuế của người có nghĩa vụ thuế. Trong thời gian qua, các cơ quan quản lý thuế đã chú trọng theo hướng giảm chi phí tuân thủ thuế của người dân thông qua các giải pháp đơn giản hóa thủ tục hành chính, kê khai thuế điện từ… nhưng các biện pháp giảm chi phí quản lý của các cơ quan thuế cần được đẩy mạnh hơn nữa. Do đó, cần có các giải pháp giảm chi phí quản lý thuế của các cơ quan nhà nước qua việc tinh gọn bộ máy quản lý; nâng cao hiệu quả hoạt động, ứng dụng các công nghệ phương thức quản lý hiện đại để tiết giảm chi phí. Bên cạnh đó, cần tiếp tục tăng cường áp dụng các chế tài đối với các hành vi trốn thuế nhằm giảm kỳ vọng về lợi ích đạt được khi có ý định trốn thuế của cá nhân, doanh nghiệp.   

Cuối cùng, cần tiếp tục khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế giảm thất thu cho Ngân sách Nhà nước. Cơ quan quản lý thuế có thể có thêm nhiều thông tin của các đối tượng nộp thuế khi thanh toán không dùng tiền mặt trở nên phổ biến. Hệ thống ngân hàng đóng vai trò là trung gian thanh toán, đồng thời, cũng là đầu mối cung cấp thông tin cần thiết cho các cơ quan quản lý thuế nhằm có được sự thống nhất đối với những số liệu về thuế mà cơ quan quản lý thuế có được, để từ đó đưa ra những đối tượng có khả năng không tuân thủ các nghĩa vụ về thuế nhất là đối với các sắc thuế trực thu như thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp và các đối tượng có thu nhập cao dễ trốn thuế sẽ được kiểm soát chặt chẽ hơn khi các giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt qua hệ thống ngân hàng trở nên phổ biến.

 

 1 Trong giai đoạn từ 2008 đến 2018.

 2 Theo khoản 4, điều 59 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015 (Luật số 83/2015/QH13). Thưởng vượt dự toán các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách: Trường hợp ngân sách trung ương tăng thu so với dự toán từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương với ngân sách địa phương, ngân sách trung ương trích một phần theo tỷ lệ không quá 30% của số tăng thu thưởng cho các địa phương có tăng thu, nhưng không vượt quá số tăng thu so với mức thực hiện năm trước.

3 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015.

 

Peter J. Morgan and Long Q. Trinh. Fiscal decentralization and local budget deficits in Viet Nam: An empirical Analysis. ADBI Working Paper, No. 613. 2016.

Tran Dinh Thien and Chu Minh Hoi. Counter – Cyclical Fiscal Policy In Viet Nam: Theory, Evidence and Policy Recommendation. European Journal of Business and Social Sciences, Vol. 4, No. 10, January 2016. p.p. 73 – 85.

Nguyen Van Giau. Public Debt And Sustainability In Viet Nam: The Past, Present and The Future. National Assembly’s Economic Committee In Viet Nam. 2013.

Nguyen Cong Nghiep. Vietnam Public Expenditure and Financial Accountability (PEFA). Ministry Of Finance. 2013.

C.Ebdon and A. Franklin. Searching for a Role for Citizens in the Budget Process. Spring 2004.

Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015

H.T.Duncan và C.E Mclure (1997). Tax administration in the United Atates of America: A Decentralized System.  International Bureau of Fiscal Documentation.

J.L. Mikesell (1997). Tax Administration: The Link Between Tax Law and Tax Collections. Indiana University.

J.L. Mikesell (2016). Tax Administration. Indiana University. 

J.L. Mikesell (2002). Tax expenditure budgets, budget policy, and tax policy: confusion in the States. Indiana University. ThS. Hồ Ngọc Tú TCNH số 22/2019

Một Số Kiến Nghị Đối Với Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Môi Trường Trên Địa Bàn Tỉnh

Thực hiện chương trình công tác năm 2017, Ban Pháp chế HĐND tỉnh đã tổ chức giám sátcông tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm về bảo vệ môi trường. Qua giám sát cho thấy, công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh ngày càng được các cơ quan, đơn vị, địa phương quan tâm. Căn cứ tình hình thực tế tại địa phương, đã tham mưu các cấp có thẩm quyền ban hành văn bản chỉ đạo thực hiện, làm cơ sở bảo đảm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường được triển khai thực hiện với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, đạt được nhiều kết quả, tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức về bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, cá nhân, hộ gia đình. Qua đó, nhiều mô hình, cách làm hay về bảo vệ môi trường đang phát huy hiệu quả. Việc tổ chức thanh tra, kiểm tra bảo vệ môi trường được thực hiện theo đúng tiến độ, kế hoạch đề ra, dần dần đi vào nề nếp. Qua thanh tra, kiểm tra đã kịp thời chấn chỉnh, hướng dẫn các cơ sở sản xuất kinh doanh thực hiện các biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường.

Nhìn chung, các cơ quan, đơn vị, địa phương đã rà soát, nắm chắc tình hình, cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Công tác phối hợp giữa các ngành, các cấp trong công tác bảo vệ môi trường nói chung và công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về môi trường nói riêng được triển khai đồng bộ, chặt chẽ, thể hiện qua việc ký kết các quy chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ. Định kỳ 6 tháng, hàng năm, các cơ quan, đơn vị đã phối hợp tổ chức sơ kết, tổng kết các kế hoạch, quy chế phối hợp. Qua đó, đã huy động sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.

Lực lượng cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường đã chủ động nắm chắc tình hình, tham mưu triển khai thực hiện các chuyên đề và kế hoạch tấn công, trấn áp tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, góp phần đảm bảo tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh; hoàn thành đạt và vượt mức chỉ tiêu đề ra, không để xảy ra phức tạp và hình thành điểm nóng về môi trường.

Vấn đề môi trường ở một số lĩnh vực được cải thiện rõ nét, nhất là vấn đề rác thải sinh hoạt, môi trường vỉa hè thông thoáng, vệ sinh môi trường khu dân cư được quan tâm hơn.

Một số vấn đề còn tồn tại, hạn chế nổi lên là: Qua công tác thanh tra, kiểm tra tình hình chấp hành pháp luật về môi trường ở cấp huyện hầu như chỉ dừng lại ở việc nhắc nhở, chấn chỉnh, hướng dẫn khắc phục vi phạm; việc xử phạt vi phạm hành chính còn nhiều hạn chế. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về bảo vệ môi trường có lúc chưa quyết liệt đúng mức, thực hiện quyết định xử phạt chưa nghiêm. Việc thực hiện cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường đối với các đối tượng vi phạm gặp nhiều khó khăn do thiếu các quy định cụ thể. Ngoài ra, Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính không quy định việc phong tỏa tài khoản của đối tượng vi phạm hành chính khi xác minh thông tin tài khoản. Do đó, các đối tượng vi phạm đã kịp thời đối phó đến khi ban hành quyết định cưỡng chế thì số tiền trong tài khoản của đối tượng vi phạm không còn hoặc còn rất ít. Mặt khác, do một số Ngân hàng không tích cực hợp tác nên việc thực hiện phong tỏa tài khoản rất khó khăn, hầu như không thực hiện được. Tình hình ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh có lúc, có nơi còn diễn biến phức tạp, nhất là ở các cơ sở sản xuất kinh doanh, làng nghề, vấn đề vệ sinh môi trường khu công viên, bãi biển chưa bảo đảm. Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của UBND cấp xã chưa được thực hiện đầy đủ, hiệu quả theo quy định pháp luật. Nguồn nhân lực, kinh phí, trang thiết bị phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường chưa bảo đảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tất cả các xã, phường, thị trấn đều bố trí cán bộ địa chính – xây dựng hoặc văn hóa kiêm nhiệm phụ trách môi trường, các cán bộ này chưa được đào tạo chuyên môn về môi trường; công chức làm công tác quản lý môi trường ở cấp huyện thiếu về số lượng so với yêu cầu công việc; công cụ phục vụ công tác cho các cấp tỉnh, huyện, xã đều chưa được trang bị thỏa đáng; Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường chưa được phân bổ kinh phí sự nghiệp môi trường hàng năm; trình độ, năng lực cán bộ tham mưu công tác quản lý nhà nước về môi trường các cấp còn hạn chế.Với nguồn nhân lực, tài lực như thực trạng hiện nay, để thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các quy định tại Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là điều rất khó khả thi.

Hoạt động của Quỹ bảo vệ môi trường chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Ngoài ra, quy định pháp luật về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường còn thiếu, chưa cụ thể, nặng về thủ tục hành chính và thiếu tính khả thi, gây khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ. Các dự án đầu tư được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường chưa được tổ chức kiểm tra công tác bảo vệ môi trường thường xuyên. Khi có sự cố về ô nhiễm môi trường xảy ra ở các dự án này, vai trò của Bộ – là cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường còn mờ nhạt.

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, đề nghị Chính phủ xem xét, rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường, đảm bảo đầy đủ, khả thi; quy định cơ chế được phép trích để lại cho các đơn vị chủ trì xử lý vi phạm hành chính lĩnh vực bảo vệ môi trường nói riêng và lĩnh vực tài nguyên môi trường nói chung để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường; Bộ Tài nguyên và Môi trường cần tăng cường kiểm tra công tác bảo vệ môi trường đối với các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh do Bộ phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; UBND tỉnh chỉ đạo các Sở, ngành chức năng tăng cường tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ về môi trường đối với các công chức làm công tác quản lý nhà nước về môi trường, nâng cao vai trò, trách nhiệm, chất lượng công tác tham mưu, nhất là ở cấp xã; Quan tâm công tác quản lý nhà nước về môi trường ở cấp huyện, cấp xã, bảo đảm thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường theo quy định pháp luật; Chỉ đạo việc sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường ở cấp huyện, đảm bảo hiệu quả, đúng quy định; Nghiên cứu có giải pháp thu hút nguồn lực xã hội hóa đối với công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh; Kịp thời biểu dương, khen thưởng những cá nhân, tổ chức có thành tích trong công tác bảo vệ môi trường; Có giải pháp quản lý và sử dụng có hiệu quả Quỹ bảo vệ môi trường./.

Hoàn Thiện Chính Sách Ưu Đãi Người Có Công

Đoàn công tác Bộ Quốc phòng do Thượng tướng Lê Chiêm, Ủy viên Trung ương Đảng,Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm trưởng đoàn đã thăm, tặng quà gia đình bà Nguyễn Thị Cháu,là vợ liệt sĩ, tại khu phố 5, phường Đông Lễ, Tp Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Ảnh: chúng tôi

Nhằm cụ thể hóa các Nghị quyết của Đảng, Chỉ thị số 14-CT/TW ngày 19/7/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII, về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng, khẳng định “thực hiện tốt hơn nữa công tác người có công với cách mạng; phấn đấu đến năm 2020, 100% gia đình người có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú”, thờigian tới đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ hệ thống chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trong đó, chú trọng thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:

1. Tiếp tục thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, ngành, lực lượng đối với người có công với cách mạng. Theo đó, cần quán triệt sâu sắc các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XII; Chỉ thị số 14-CT/TW ngày 19/7/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng… Trên cơ sở đó thể chế hóa thành pháp luật của Nhà nước về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, bảo đảm phù hợp với các quy định của Hiến pháp và thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật; góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng.

Hệ thống các cơ quan báo chí truyền thông từ Trung ương đến địa phương phải có chuyên trang, chuyên mục tăng cường thực hiện tuyên truyền về chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đối với người có công với cách mạng. Thông qua đó nâng cao trách nhiệm của cộng đồng, xã hội thực hiện tốt đạo lý “Đền ơn đáp nghĩa” cùng chung tay chăm lo thực hiện tốt chính sách đối với người có công với cách mạng.

2. Các cơ quan chức năng tích cực nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện chính sách, pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng. Trước mắt, tập trung nghiên cứu, đề xuất sửa đổi (thay thế) Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng theo hướng toàn diện, đồng bộ; khắc phục được những hạn chế, bất cập hiện nay, vừa kịp thời bổ sung chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới; hạn chế đến mức thấp nhất sự chồng chéo, mâu thuẫn về chế độ, chính sách và cơ chế, chức năng nhiệm vụ của các ban, bộ, ngành Trung ương và của các cơ quan trong tổ chức thực hiện chính sách. Theo đó, cần chú trọng làm tốt một số nội dung sau:

– Tổng kết, đánh giá khách quan, toàn diện về chính sách, pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng thời gian qua, nhất là từ khi thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng (năm 2005); tổ chức tọa đàm, hội thảo khoa học; dân chủ, rộng rãi; lấy ý kiến tham gia, góp ý của các cơ quan và tầng lớp nhân dân.

– Về khái niệm người có công với cách mạng: Nghiên cứu đề xuất làm rõ khái niệm người có công với cách mạng, cụ thể về tiêu chí xác định người có công (mức độ cống hiến, đóng góp, hy sinh…), phân biệt rõ người có công với các đối tượng khác, làm rõ phạm vi xác nhận người có công về không gian, thời gian, quốc tịch.

– Về đối tượng người có công: Theo quy định tại Pháp lệnh hiện hành, có 12 diện đối tượng người có công là tương đối phù hợp. Tuy nhiên, cần nghiên cứu bổ sung người tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế sau ngày 30/4/1975 bị đối phương bắt, giam giữ vào nhóm đối tượng “Người hoạt động cách mạng, người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày” (theo quy định hiện hành mới chỉ áp dụng thực hiện đối với người hoạt động cách mạng, người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày).

– Về điều kiện, tiêu chuẩn: Nghiên cứu cụ thể hóa điều kiện, tiêu chuẩn xác nhận người có công phù hợp với từng thời kỳ cách mạng (thời kỳ kháng chiến; thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc); đề xuất bổ sung số đối tượng có cùng đặc điểm, nhiệm vụ mà Pháp lệnh hiện hành chưa quy định hoặc giảm bớt một số điều kiện, tiêu chuẩn, nếu hiện nay không còn phù hợp với thực tế; quy định cụ thể hơn về điều kiện, tiêu chuẩn xác nhận người có công với cách mạng; làm rõ ranh giới giữa người được công nhận người có công và người không được công nhận người có công.

– Về chế độ, chính sách: Tiếp tục nghiên cứu, cải cách chính sách ưu đãi người có công theo hướng nâng mức trợ cấp, phụ cấp phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và khả năng cân đối, huy động các nguồn lực của đất nước hiện nay. Đồng thời, bảo đảm công bằng giữa các đối tượng và thân nhân của họ, hướng tới mục tiêu “100% gia đình người có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú”.

3. Không ngừng đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện chính sách đối với người có công; đẩy mạnh công tác quản lý hành chính gắn với việc nâng cao hiệu quả quản lý đối tượng người có công ở các đơn vị, địa phương. Để thực hiện tốt nội dung này, cần có tổng thể các biện pháp nhằm nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, nhân viên chính sách sách từ Trung ương đến địa phương. Do vậy, các cấp phải tạo điều kiện cho họ được học tập, bồi dưỡng, tập huấn… để nâng cao trình độ, bắt kịp yêu cầu của công việc đặt ra. Mỗi cán bộ, nhân viên làm công tác chính sách phải không ngừng nêu cao tinh thần tự học tập, tự rèn luyện để nâng cao trình độ và phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Để tránh những hạn chế, tiêu cực có thể xảy ra, các cấp cần thực hiện nghiêm nền nếp chế độ sinh hoạt, học tập của tổ chức đảng, chính quyền theo quy chế, quy định của tổ chức. Đặc biệt, trong tình hình hiện nay phải tích cực thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đồng thời, thực hiện Quy định 08-QĐi/TW của Hội nghị Trung ương 8 (khóa XII) về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Thông qua đó chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, nhân viên chính sách nói chung và đối với cán bộ, nhân viên đảm nhiệm chính sách đối với người có công với cách mạng nói riêng.

4. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị trong thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng... Công lao, cống hiến to lớn của người có công với cách mạng mang lại cho toàn xã hội, không cho riêng một ai. Vì vậy, toàn xã hội phải có trách nhiệm thực hiện tốt truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc ta. Do đó, bằng nhiều hình thức, phương pháp phải làm cho các cấp, ngành, lực lượng, toàn dân nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình đối với người có công với cách mạng. Thông qua đó huy động được sức mạnh tổng hợp không chỉ nguồn của Đảng, Nhà nước mà huy động từ nguồn xã hội hóa sâu rộng, đẩy mạnh các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” bằng nhiều nội dung, chương trình hoạt động và cách làm sáng tạo, thiết thực, hiệu quả.

5. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; tổng kết rút kinh nghiệm, bảo đảm không để sai sót, tiêu cực. Lãnh đạo phải có kiểm tra là nguyên tắc trong công tác lãnh đạo của Đảng. Để chính sách, pháp luật đối với người có công đến đúng đối tượng, đầy đủ theo quy định của pháp luật thì phải tăng cường công tác kiểm tra cả thường xuyên và đột xuất. Thông qua thanh tra, kiểm tra vừa giúp đối tượng được kiểm tra thực hiện đúng chế độ, chính sách đối với người có công, vừa chấn chỉnh kịp thời những sai phạm (nếu có) không để tình trạng này kéo dài ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước ta.

Công tác chính sách là công tác động, có độ mở cao do Đảng, Nhà nước ta ngày càng quan tâm hơn đến người có công; mặt khác, thành tựu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước ngày càng to lớn là điều kiện thuận lợi để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chăm lo tốt hơn đối với người có công. Để điều đó trở thành chính sách, pháp luật, thành các chế tài trong cuộc sống đòi hỏi các cơ quan chức năng phải tích cực tổng kết thực tiễn thực hiện công tác chính sách để làm căn cứ đề xuất chính sách, pháp luật mới phù hợp hơn, quan tâm hơn đến đối tượng chính sách, người có công với cách mạng.

Thực hiện tốt các nội dung trên, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng của Đảng, Nhà nước ta đi vào cuộc sống góp phần quan trọng xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Bạn đang xem bài viết Chính Sách Đối Với Người Có Công Thực Trạng Và Một Số Kiến Nghị trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!