Xem Nhiều 12/2022 #️ Chủ Động Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu, Bảo Vệ Môi Trường / 2023 # Top 15 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 12/2022 # Chủ Động Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu, Bảo Vệ Môi Trường / 2023 # Top 15 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Chủ Động Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu, Bảo Vệ Môi Trường / 2023 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

CỦA BỘ CHÍNH TRỊvề tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khoá XIvề chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu,tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

I- ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết, các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể các cấp đã nghiêm túc triển khai thực hiện và đạt được nhiều kết quả tích cực. Nhận thức trong hệ thống chính trị, các tầng lớp nhân dân về chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường được nâng lên. Tổ chức bộ máy, hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách từng bước được hoàn thiện. Năng lực phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu được nâng lên một bước. Tài nguyên thiên nhiên được quản lý chặt chẽ hơn, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả hơn. Công tác bảo vệ môi trường được chú trọng, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, bước đầu hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm.

Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được vẫn còn những hạn chế, yếu kém. Nhiều mục tiêu Nghị quyết đề ra đến năm 2020 dự báo không đạt được. Biến đổi khí hậu diễn biến nhanh hơn dự báo, gây hậu quả ngày càng lớn. Khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai còn thấp, nền kinh tế dễ bị tổn thương và chịu thiệt hại lớn khi có thiên tai xảy ra. Quản lý tài nguyên thiên nhiên còn nhiều yếu kém, sử dụng chưa hiệu quả, nhất là tài nguyên đất đai, tài nguyên nước, một số loại tài nguyên bị lạm dụng, khai thác quá mức dẫn đến suy thoái, cạn kiệt. Ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục gia tăng, nhất là tại các khu đô thị, thành phố lớn, ảnh hưởng lớn tới đời sống, sinh hoạt của người dân, trở thành vấn đề bức xúc của xã hội.

Những hạn chế, yếu kém nêu trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng do nguyên nhân chủ quan là chính. Nhận thức và ý thức trách nhiệm của một số cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên chưa đầy đủ. Bộ máy quản lý nhà nước còn bất cập, hệ thống pháp luật, công cụ quản lý thiếu đồng bộ, còn phân tán, chồng chéo, thực thi kém hiệu quả; thiếu nguồn lực để thực hiện các chương trình, đề án, nhiệm vụ đề ra. Công tác quản lý, phương thức tiếp cận về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường chậm được đổi mới. Nhiều quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội chưa được lồng ghép, thực hiện gắn với yêu cầu ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường làm gia tăng tác động tiêu cực của thiên tai. Vẫn còn tình trạng thu hút đầu tư thiếu chọn lọc, không cân nhắc, xem xét các yếu tố, tiêu chí về môi trường. Việc triển khai nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ gắn với yêu cầu ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường còn chậm. Công tác thanh tra, kiểm tra thực thi pháp luật về tài nguyên, bảo vệ môi trường chưa đáp ứng yêu cầu.

II- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

Để tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết trong thời gian tới, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan tiếp tục tổ chức thực hiện quyết liệt các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu trong Nghị quyết; tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách sau:

1. Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm về chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

– Tiếp tục chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự thống nhất trong toàn xã hội về nhận thức và hành động trước tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan, suy thoái tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường gia tăng, đang trở thành nguy cơ đe doạ nghiêm trọng sức khoẻ, đời sống nhân dân, sự phát triển bền vững của đất nước.

– Khẩn trương thể chế hoá và triển khai thực hiện Kết luận số 36-KL/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khoá XI về tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Rà soát, bổ sung và đẩy mạnh thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2045; Chiến lược về ứng phó với biến đổi khí hậu; Chiến lược quốc gia về phòng, chống thiên tai; Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; hoàn thiện cơ chế để thực hiện minh bạch hoá trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản và tài nguyên nước.

– Điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành và địa phương, hạn chế tối đa các ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, các dự án phát triển kinh tế sử dụng lãng phí, khai thác không hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phát thải nhiều chất ô nhiễm, khí nhà kính, huỷ hoại cảnh quan, sinh thái, gây ô nhiễm môi trường, gia tăng rủi ro thiên tai, nhất là vùng đầu nguồn nước, khu dân cư, vùng ven biển.

– Tăng cường, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn lực của cộng đồng quốc tế trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu.

3. Nâng cao năng lực, hiệu quả thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm

– Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật, đấu tranh phòng, chống tội phạm về tài nguyên, môi trường; kết hợp xử lý hành chính, hình sự với áp dụng công cụ kinh tế, thị trường để bảo đảm thực thi hiệu quả các chính sách, pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai và quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường.

– Rà soát, điều chỉnh các quy định xử lý vi phạm theo hướng nâng cao hơn mức xử phạt, bảo đảm đủ sức răn đe. Quy định rõ về cơ chế bồi thường, ký quỹ, đặt cọc, bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường, bảo hiểm rủi ro thiên tai, quy định mức trách nhiệm tối thiểu đối với từng đối tượng.

4. Một số nhiệm vụ cấp bách

– Tiếp tục cập nhật, cụ thể hoá “Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng” của cả nước và đến từng vùng, miền, địa phương. Lựa chọn các hạng mục, giải pháp ưu tiên để lồng ghép triển khai thực hiện. Khẩn trương hoàn thành các công trình chống ngập đang thi công ở Thành phố Hồ Chí Minh; bổ sung các giải pháp dần hình thành hệ thống chống ngập đồng bộ, hiệu quả. Triển khai các giải pháp chống ngập cho vùng lõi thành phố Cần Thơ. Đầu tư hoàn thiện và nâng cấp hệ thống đê biển, các công trình chống sạt lở ven sông, ven biển, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long. Rà soát, hỗ trợ di dời dân ra khỏi các vùng có nguy cơ cao sạt lở bờ sông, bờ biển, sạt lở núi, lũ quét và các nguy cơ thiên tai khác. Tiếp tục đầu tư, bảo đảm an toàn các hồ chứa nước; phát triển thuỷ lợi, nâng cao khả năng tưới, tiêu nước cho các vùng thường xuyên bị hạn hán, úng ngập nặng, nhất là ở Nam Trung bộ và Tây Nguyên.

– Hoàn thành việc điều tra và xây dựng bản đồ tài nguyên nước mặt và nước ngầm. Có cơ chế, chính sách phù hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng nước, ngăn chặn xu hướng suy giảm tài nguyên nước. Tích cực đàm phán, hợp tác với các quốc gia thượng nguồn để bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên nước ở lưu vực các dòng sông xuyên biên giới, nhất là sông Mê Kông và sông Hồng. Có chính sách khuyến khích áp dụng trên diện rộng các giải pháp sử dụng tiết kiệm nước ngọt. Chấn chỉnh việc khai thác cát sỏi trên phạm vi cả nước.

– Tiếp tục tăng cường quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên, nghiên cứu cơ chế cho phép kết hợp khai thác các giá trị kinh tế của rừng để góp phần giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội các địa phương có rừng.

– Quy định tiêu chí môi trường, quy chuẩn kỹ thuật về lựa chọn, quyết định đầu tư phát triển. Điều chỉnh cơ chế chấp thuận, quy trình, hình thức đánh giá tác động môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế. Phân vùng theo mức độ ô nhiễm môi trường để có biện pháp quản lý chất lượng môi trường sống, sinh thái và cảnh quan.

– Tăng cường các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát đối với các dự án đầu tư, cơ sở sản xuất có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường. Có chính sách hạn chế sản xuất, nhập khẩu và sử dụng đồ nhựa có tính năng sử dụng một lần trên toàn quốc. Không nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện đã qua sử dụng tiềm ẩn các chất nguy hại, gây ô nhiễm.

– Tập trung xử lý ô nhiễm môi trường, phấn đấu từ sau năm 2020 chất lượng môi trường được cải thiện năm sau cao hơn năm trước, nhất là ở các đô thị, thành phố lớn. Khắc phục ngay tình trạng ô nhiễm không khí, nguồn nước thải tại thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Chú trọng bảo vệ môi trường nông thôn, trọng điểm là các làng nghề, khu vực chăn nuôi tập trung.

– Thực hiện phân loại các chất thải tại nguồn, nhất là rác thải sinh hoạt. Tăng cường năng lực thu gom, thúc đẩy tái sử dụng, tái chế chất thải, hạn chế tối đa việc chôn lấp rác thải. Tập trung xử lý chất thải độc hại, chất thải y tế. Có chính sách phù hợp để khuyến khích mạnh mẽ hơn các doanh nghiệp đầu tư xử lý chất thải rắn, nước thải. Xử lý triệt để tình trạng ô nhiễm tại các bãi thải xung quanh các thành phố lớn, không để người dân sinh sống tại khu vực lân cận bức xúc, khiếu kiện do ô nhiễm bãi thải gây ra. Tăng cường năng lực quan trắc, giám sát, cảnh báo ô nhiễm môi trường. Thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính. Tăng cường hệ thống quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở Trung ương, địa phương và đẩy mạnh quản trị môi trường trong các doanh nghiệp.

III- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các cấp uỷ, cơ quan, tổ chức đảng các cấp tiếp tục chỉ đạo tổ chức thực hiện các nội dung của Nghị quyết và Kết luận này, tạo sự thống nhất cả trong nhận thức và hành động.

3. Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo rà soát, xây dựng các văn bản dưới luật; lồng ghép các nhiệm vụ về ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn đến năm 2030 và tổ chức thực hiện; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

4. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội đẩy mạnh vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia và giám sát việc thực hiện Nghị quyết và chính sách, pháp luật phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Bảo Vệ Môi Trường, Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Và Hành Động Của Chúng Ta / 2023

Bà Nguyễn Thị Kim Dung, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội chia sẻ, Thành phố Hà Nội đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng do ảnh hưởng của chất thải rắn (CTR), CTR công nghiệp, chất thải nông nghiệp, rác thải công nghiệp, nước thải công nghiệp, nước thải làng nghề…

Đến nay, 30/30 quận, huyện, thị xã đều xây dựng kế hoạch triển khai công tác bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, đặc biệt, vai trò của các tổ chức tôn giáo ngày càng được nâng cao, ý thức cho mọi người dân về bảo vệ môi trường sống, xanh, sạch, đẹp, sử dụng tiết kiệm nguồn nước sạch được duy trì.

Để tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, bà Nguyễn Thị Kim Dung cho rằng trong thời gian tới, Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội cần phối hợp mạnh mẽ hơn với các ban, ngành thành phố trong công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu của các tổ chức, cá nhân, các cơ sở thờ tự tôn giáo trên địa bàn thành phố; Tiếp tục duy trì và nhân rộng các mô hình tự quản bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu trong các cơ sở thờ tự và trên toàn địa bàn thành phố.

Chia sẻ về sự vào cuộc tích cực của Hội đồng Chức sắc Chăm BàLamôn tỉnh Ninh Thuận khi vận động các tín đồ tham gia bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, ông Lưu Sanh Thanh, đại diện Hội đồng Chức sắc Chăm BàLamôn tỉnh Ninh Thuận cho biết, với sự vào cuộc của Hội đồng Trị sự (HĐTS), ngay sau khi ký kết chương trình phối hợp, HĐTS đã chủ động phối hợp với Ban công tác Mặt trận, Ban Quản lý các thôn, khu phố thực hiện các hoạt động tuyên truyền, vận động bà con trong đồng bào Chăm thực hiện các biện pháp về sinh hoạt trong cuộc sống và sản xuất hằng ngày thân thiện với môi trường như: xây dựng các công trình như nhà vệ sinh, nhà tắm, sử dụng nước sạch; nhận trồng và chăm sóc cây xanh nơi ở và nơi công cộng, tại các cơ sở tôn giáo… Không sử dụng những vật tư, phương tiện tạo ra những sản phẩm độc hại. Kết quả có 1.480 hộ gia đình ký cam kết đạt tỷ lệ 93,08% cam kết thực hiện.

“Qua 4 năm triển khai thực hiện Chương trình đã góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong đồng bào Chăm trên địa bàn, bà con đã ý thức được trong việc sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường, sử dụng đồ dùng tiết kiệm năng lượng, hạn chế việc sử dụng bao nylong, chất thải nhựa, bao bì, chai lọ thuốc bảo vệ cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp đúng theo hướng dẫn và quy định”, ông Lưu Sanh Thanh nhấn mạnh.

Caritas Việt Nam đã tổ chức 7 cuộc tập huấn cấp quốc gia cho các Caritas giáo phận ở hơn 13 tỉnh, thành cho 89 tu sĩ và giáo dân tham dự. Các cuộc tập huấn đã tạo điều kiện để tu sĩ, tráng sinh và giáo dân nâng cao nhận thức, chia sẻ kinh nghiệm trong thực hiện hoạt động tăng cường sự nối kết giữa các giáo phận để cùng thực hiện bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu.

Để tiếp tục huy động sự vào cuộc của các Tăng, Ni, Phật tử tích cực tham gia bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, Thượng tọa Thích Thiện Quý, Phó trưởng ban kiêm Chánh thư ký BTS GHPG Việt Nam TP HCM cho rằng chính quyền, cơ quan chức năng cần vào cuộc để có biện pháp đối với việc sử dụng vàng mã bừa bãi trên phố; cần sớm có quy trình, quy định và thực hiện thực chất việc thu gom, vận chuyển rác có phân loại khi các hộ dân đã thực hiện phân loại rác tại nguồn; đồng thời cần tăng cường vận động, khuyến khích việc hỏa táng, tạo môi trường sống trong lành cho người dân.

Việt Nam Hành Động Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu / 2023

BĐKH đang là thách thức nghiêm trọng nhất đối với quá trình phát triển bền vững của tất cả quốc gia trên thế giới, trong đó Việt Nam là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH do có bờ biển dài.

Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), nhiều loại hình thiên tai và thời tiết cực đoan diễn ra với quy mô và tần suất ngày càng lớn. Tại Hội nghị LHQ về BĐKH (COP 23) ở Born, Đức (11/2017), số liệu thống kê cho thấy trên toàn thế giới, từ 1996-2016, thiên tai do BĐKH làm chết 520.000 người, gây thiệt hại kinh tế 3.160 tỷ USD.

Việt Nam được dự đoán bị tác động nặng nề nếu khí hậu tăng lên 1oC và nước biển dâng cao 1m. Trong 45 năm (1956-2000) có 311 cơn bão và áp thấp ảnh hưởng đến Việt Nam. Mỗi năm chính phủ phải chi hàng nghìn tỷ đồng để khắc phục hậu quả thiên tai. Chỉ riêng năm 2007, thiên tai đã làm thiệt hại 11.600 tỷ đồng, hơn 400 người chết, mất tích; làm ngập và hư hại 113.800 ha lúa, phá huỷ 1.300 công trình đập, cống thủy lợi. Đặc biệt, theo các kịch bản BĐKH của Việt Nam, đến cuối thế kỷ XXI, sẽ có 40% diện tích vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), 11% diện tích vùng Đồng bằng sông Hồng và 3% diện tích của các địa phương ven biển khác sẽ bị ngập nước. Khi đó sẽ có 10-12% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất 10% GDP. Đặc biệt, 20% diện tích TPHCM sẽ bị ngập.

BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường toàn thế giới.

Thay đổi toàn diện quá trình phát triển

BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường toàn thế giới. Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng gây ngập lụt, nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế-xã hội trong tương lai. Vấn đề BĐKH đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá trình phát triển và an ninh như năng lượng, nước, lương thực, xã hội, việc làm, ngoại giao, văn hóa, kinh tế… trên phạm vi toàn cầu.

Từ năm 1980 đến nay, hoạt động của con người làm gia tăng phát thải khí nhà kính (KNK) dẫn đến nhiệt độ bề mặt trái đất tăng. Sự nóng lên toàn cầu làm tăng nhiệt độ không khí và đại dương, làm tan băng diện rộng, dẫn tới tăng mực nước biển toàn cầu. Trong 100 năm (1906-2005), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 0,74oC, tốc độ tăng nhiệt độ 50 năm gần đây gần gấp đôi 50 năm trước đó. Trong thế kỷ XX, nhiệt độ trung bình của không khí gần mặt đất đã tăng 0,6oC. Các nhà khoa học dự báo nhiệt độ trái đất trong thế kỷ XXI còn có thể tăng từ 1,1 – 6,4oC.

Các nhà khoa học tại COP 21 (2015) cho rằng “tăng 2oC là ngưỡng nguy hiểm; tăng 3oC, các đại dương sẽ giãn nở, băng tan làm nước biển dâng 60cm, nhấn chìm nhiều khu vực ven biển, làm cho thời tiết khắc nghiệt hơn và thiên tai lũ lụt nhiều hơn…

Việt Nam nằm trong 10 nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH 20 năm qua vì bão, lũ và sạt lở đất (chuồi), theo Chỉ số Rủi ro Khí hậu do tổ chức Germanwatch (Đức) công bố tháng 12/2015. Trong đó, ĐBSCL là 1 trong 3 đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất do nước biển dâng, bên cạnh đồng bằng sông Nile (Ai Cập) và đồng bằng sông Ganges (Bangladesh). Tác động của BĐKH đến Việt Nam rất nghiêm trọng, là nguy cơ hiện hữu đối với mục tiêu xoá đói giảm nghèo, mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững. Theo Ủy ban liên chính phủ về BĐKH, khi nước biển dâng cao 1m, ước chừng 5,3% diện tích tự nhiên, 10,8% dân số, 10,2% GDP, 10,9% vùng đô thị, 7,2% diện tích nông nghiệp và 28,9% vùng đất thấp sẽ bị ảnh hưởng.

BĐKH tại Việt Nam còn đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp: Mực nước biển dâng làm tăng diện tích bị xâm nhập mặn, mất đất canh tác nông nghiệp, gia tăng xói lở bờ biển, ảnh hưởng đến hạ tầng giao thông, đô thị, khu dân cư, phát triển kinh tế – xã hội, đời sống…; Nhiệt độ tăng ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, làm tăng rủi ro an ninh lương thực. Nhiệt độ tăng, độ ẩm cao còn làm các loài vi khuẩn phát triển mạnh, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, chất lượng các công trình, chi phí bảo quản…; Gia tăng tính cực đoan của thời tiết, làm cho thiên tai nguy hiểm hơn: Hạn hán, thiếu nước ở nhiều nơi hơn. Đất hoang mạc hóa mở rộng, thậm chí bị sa mạc hóa. Nguy cơ mất an ninh về nước sẽ sớm hơn dự báo. Lũ lụt cũng nặng nề hơn…

Dưới tác động của BĐKH, chỉ trong 10 năm gần đây, các loại thiên tai như: bão, lũ, sạt lở đất, úng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn… đã gây thiệt hại đáng kể, làm chết và mất tích hơn 9.500 người, thiệt hại về tài sản ước tính 1,5% GDP/năm.

Chủ động ứng phó

Trong điều kiện chịu tác động của BĐKH, những đập thủy điện được xây dựng ngày một nhiều phía thượng nguồn sông Mekong đã mở đường cho xâm nhập mặn lấn sâu vào ĐBSCL trong mùa khô, khiến cuộc sống của gần 20 triệu cư dân sống nương nhờ nông nghiệp, đánh bắt cá đang bị đe dọa. Theo ước tính của CGIRA, Nhóm tư vấn nghiên cứu nông nghiệp quốc tế, đến năm 2030, cả vùng hạ lưu ĐBSCL sẽ bị bao phủ bởi khoảng 470 đập thủy điện lớn nhỏ. Vì vậy, TS. Naruepon Sukumasvin, Ban Thư ký Ủy hội sông Mekong Quốc tế cảnh báo: “Các dự án phát triển thủy điện làm ngưỡng đói nghèo gia tăng. Sản lượng đánh bắt cá ở hành lang sông Mekong sẽ giảm khoảng 1,57 tỉ USD”.

Nhận thức được các nguy cơ và thách thức của BĐKH, Việt Nam đã chủ động triển khai xây dựng và ban hành một cách hệ thống các chủ trương, chính sách nhằm ứng phó có hiệu quả với tác động của BĐKH. Ngày 3/6/2013 tại Hội nghị lần 7, BCH TƯ khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về “Chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”. Nghị quyết là cơ sở cho việc thống nhất nhận thức và hành động, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật, bố trí nguồn lực của Nhà nước về ứng phó với BĐKH, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, hướng tới mô hình phát triển mới để đạt được nền kinh tế xanh, phát triển bền vững ở nước ta trong tương lai.

Để triển khai đồng bộ, Chính phủ cũng ra Nghị quyết số 08/NQ-CP (23/1/2014) ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Đảng, nhằm mục tiêu đến 2020, về cơ bản chủ động được trong thích ứng với BĐKH, phòng tránh thiên tai, giảm phát thải KNK; phải đạt được những chuyển biến cơ bản trong khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững… hướng tới nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. Thủ tướng cũng ký Quyết định ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững ngày 10/5/2017. Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động ứng phó với BĐKH, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia.

Đặc biệt, nhận thức được nguy cơ, thách thức từ BĐKH, đòi hỏi một tầm nhìn, định hướng chiến lược với các giải pháp toàn diện, đồng bộ, huy động tối đa các nguồn lực để ứng phó với BĐKH và phát triển bền vững ĐBSCL, ngày 17/11/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH. ĐBSCL là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất Việt Nam: đóng góp 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng thủy sản, 70% trái cây; 95% lượng gạo xuất khẩu và 60% lượng cá xuất khẩu của cả nước. Theo dự báo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nếu mực nước biển dâng thêm 1m, ĐBSCL sẽ ngập chìm từ 19-38%, riêng Bến Tre sẽ ngập tới 50,1% diện tích…

Căn cứ vào các chủ trương, chính sách ứng phó với BĐKH đã đề ra, thời gian qua, các cơ quan trung ương và địa phương đã hành động tích cực nhằm hiện thực hóa chủ trương, chính sách thành các giải pháp ứng phó với BĐKH như: Tuyên truyền, phổ biến, tạo sự chuyển biến về nhận thức, nâng cao ý thức ứng phó với BĐKH; Đổi mới, hoàn thiện và đẩy mạnh việc thực thi chính sách, phát luật về ứng phó với BĐKH; Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước, phát triển nguồn nhân lực về ứng phó với BĐKH; Phát huy vai trò của khoa học và công nghệ trong ứng phó với BĐKH; Đẩy mạnh hợp tác, hội nhập quốc tế và mở rộng đối tác chiến lược về ứng phó với BĐKH như đẩy mạnh tham gia các điều ước quốc tế, thỏa thuận song phương, đa phương về BĐKH, chủ động xây dựng các thỏa thuận, hiệp định đa phương và song phương, tăng cường vai trò của Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế về BĐKH cũng như chủ động hợp tác với các quốc gia phát triển về BĐKH như Hà Lan để xây dựng Kế hoạch châu thổ ĐBSCL…; Tăng cường huy động nguồn lực tài chính cho ứng phó với BĐKH như tăng đầu tư và chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước cho công tác ứng phó BĐKH, khai thác hiệu quả nguồn hỗ trợ phát triển chính thức…

Nói chung, để thích ứng với BĐKH, Việt Nam đã triển khai rất nhiều mô hình nhà đa năng tránh bão, lũ; kè, kênh thủy lợi kết hợp đường giao thông nông thôn; xử lý nước mặn thành nước ngọt; trồng rừng ngập mặn ven biển, trồng rừng và bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn, xây dựng hệ thống cảnh báo thiên tai… kết hợp giải pháp sinh kế cho người dân. Bên cạnh đó, tăng cường nâng cao nhận thức cho cộng đồng bằng các hoạt động bảo vệ môi trường; tuyên truyền kiến thức về BĐKH đến rộng rãi nhân dân, giúp họ hiểu đúng bản chất của BĐKH để thích nghi, chủ động điều chỉnh hành vi, tiến tới sống chung với BĐKH.

Nhiều bãi biển ở Đông Nam Á sẽ đóng cửa vì vấn đề môi trường

Dù phải đối mặt với nguy cơ giảm nguồn thu du lịch và hàng chục nghìn lao động mất việc, chính quyền Thái Lan và …

Nỗ lực và quyết tâm chống biến đổi khí hậu

Giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu tại vùng ĐBSCL không chỉ là của Việt Nam, còn là nỗ lực và quyết tâm chung …

Giờ Trái đất 2018 tại Việt Nam: Tiết kiệm 485 ngàn kWh điện

Tối 24/3, tại Quảng trường Cách mạng Tháng Tám (Hà Nội) đã diễn ra Lễ tắt đèn hưởng ứng Chiến dịch Giờ Trái đất 2018 …

Những Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu / 2023

CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU.

Hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch ( Than đá-dầu mỏ)

Khai phá tìm nguồn nhiên liệu mới ( Điện gió, năng lượng mặt trời,

Thủy điện, xăng sinh học chế biến từ ngủ cốc , thủy triều … )

Cải tạo và nâng cấp nhà ở. Nhà ở chiếm 1/3 lượng khí thải gây hiệu ứng

nhà kính ( thông gió, giải nhiệt, xây dựng đường xá tốt cũng góp phần giảm

lượng khí thải do xe cộ gây ra …)

Ăn uống thông minh, ăn nhiều rau hạn chế ăn thịt ( giảm bớt lượng

khí thải do chăn nuôi gây ra) Trồng trọt không dùng thuốc trừ sâu

Và thức ăn thừa cũng sinh ra lượng khí thải.

Bảo vệ và phát triển rừng. Rừng bảo đảm môi trường sinh thái giúp giảm nhẹ

thiên tai, bảo tồn các giống gen quý và tính đa dạng sinh học, rừng là lá phổi

điều tiết khí hậu- giử đất giử nước phục vụ đời sống.

Sử dụng đất đai hợp lý. Nếu nước biển dâng cao 1m :

– Đồng bằng sông cửu long mất 40% diện tích

– Đồng bằng sông Hồng mất 11% diện tích

– Các tỉnh ven biển khác mất 3% diện tích

Đất đai canh tác sẽ bị thu hẹp, 10-12% dân số Việt nam

sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp.

Trong sinh hoạt hàng ngày: Tắt điện khi không sử dụng- Dùng bóng

đèn compact, đun nóng bằng năng lượng mặt trời, tận dụng gió trời

thay cho quạt điện, máy điều hòa

Trong sản xuất : chuyển từ than đá, dầu khí sang điện gió, lò trấu thay

Tắt đèn từ 20g39 – 21g30 vào thứ bảy cuối tháng 3 hằng năm.

Giảm thiểu ô nhiễm môi trường- hiệu ứng nhà kính:

– Dùng nhiên liệu sinh học thay cho than củi.

-Hạn chế dùng bao ni lông

– Đi xe đạp hạn chế dùng ô tô- xe máy.

Kế hoạch hóa gia đình và xóa đói giảm nghèo :

Biến động về dân số sẽ ảnh hưởng đến kinh tế, chính trị

và gây nên lượng khí thải nhà kính về lâu dài.

Nâng cao nhận thức cho cộng đồng về biến đổi khí hậu.

Bạn đang xem bài viết Chủ Động Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu, Bảo Vệ Môi Trường / 2023 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!