Xem Nhiều 1/2023 #️ Chức Năng Của Gan Theo Tây Y Và Đông Y # Top 9 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Chức Năng Của Gan Theo Tây Y Và Đông Y # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Chức Năng Của Gan Theo Tây Y Và Đông Y mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Quan điểm về chức năng của gan theo Y học hiện đại

Gan theo y học hiện đại được định nghĩa là một cơ quan nằm trong hệ tiêu hóa của con người và động vật có xương sống. Gan được ví như là nhà máy hóa chất của cơ thể vì nó phụ trách điều hòa các phản ứng hóa sinh và đảm nhiệm hàng trăm chức năng khác nhau để duy trì sự sống của con người.

Các chức năng của gan vẫn còn đang trong giai đoạn khám phá nên rất khó để có thể đưa ra con số chính xác về số lượng công việc mà gan phải làm mỗi ngày. Các chức năng của gan được nhắc đến nhiều nhất là:

Gan là nơi chuyển hóa chính của cả đường, protein và lipid.

Trong chuyển hóa Carbohydrate: Gan vừa là nơi tân tạo glucose từ amino acid, lactate hoặc glycerol. Phân giải glycogen, đồng thời tạo glycogen từ glucose.

Trong chuyển hóa Lipid: Gan tổng hợp Cholesterol và sản xuất Triglyceride.

Gan dự trữ rất nhiều chất quan trọng trong cơ thể gồm: glucose, vitamin B12, vitamin A, D và một số vi chất sắt, đồng,…

Sắc tố mật và muối mật tạo ra ở gan đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu hóa thức ăn.

Trong gan chứa nhiều tế bào có thẩm quyền miễn dịch hoạt động, với nhiệm vụ phát hiện ra những kháng nguyên có trong máu qua tĩnh mạch cửa của gan.

Gan là nơi tổng hợp các yếu tố đông máu.

Gan là nơi tạo ra tế bào hồng cầu cho thai nhi trong 3 tháng đầu tiên của thai kỳ.

Gan là cơ quan chuyển hóa các chất độc thành chất không độc để đào thải ra ngoài cơ thể.

2. Quan điểm về chức năng của gan theo Y học cổ truyền

Trong y học cổ truyền, can là một trong ngũ tạng thuộc cơ thể con người, vai trò của tạng can vô cùng quan trọng, được ví như vị trí tướng quân của một nước.

Các chức năng chính của tạng can:

Chức năng này có nghĩa là tàng trữ và điều tiết lượng máu đến các cơ quan theo nhu cầu của cơ thể. Các hoạt động của cơ thể đều nhờ sự dinh dưỡng của huyết dịch lưu thông trong kinh mạch. Chức năng này của can bị rối loạn sẽ gây các triệu chứng: hoa mắt chóng mặt, chân tay co quắp, kinh nguyệt ít hoặc bế kinh. Một số trường hợp can huyết có nhiệt có thể gây nôn ra máu, chảy máu cam, rong huyết, rong kinh.

Cân được hiểu ở đây là cân mạch, bao gồm các khớp, gân, cơ phụ trách việc vận động của cơ thể. Sự dinh dưỡng cần thiết cho cân nhờ vào sự cung cấp huyết dịch của can, chức năng can đầy đủ, cân được nuôi dưỡng, vận động tốt. Ngược lại, nếu can huyết hư gây các chứng bệnh tê dại, chân tay run, co quắp, teo cơ, cứng khớp,…

Khi can khỏe thì móng tay, móng chân hồng hào, tươi nhuận. Khi can hư thì móng tay, móng chân khô, dễ gãy…

Tinh khí của huyết dịch ở Can đi lên mắt, nên khi can bị thực tà xâm phạm thì mắt đỏ, can hư gây quáng gà, giảm thị lực

3. Suy giảm chức năng gan là gì?

Suy giảm chức năng gan được hiểu nôm na là gan không thực hiện được đầy đủ các chức năng của mình. Nguyên nhân thường là do tổn thương các tế bào gan, do rượu bia, do thuốc hay do virus tấn công.

Các biểu hiện của suy giảm chức năng gan thường gặp như: Rối loạn tiêu hóa, vàng da, vàng mắt, bụng chướng, men gan tăng cao, nổi mẩn dị ứng,… Tùy thuộc vào từng mức độ tổn thương tế bào gan mà có những biểu hiện khác nhau.

Theo Y học cổ truyền, suy giảm chức năng gan còn được gọi là chứng Can hư. Can huyết hư gây rối loạn kinh nguyệt, hoa mắt chóng mặt, chân tay co quắp, rối loạn tiêu hóa, chân tay run, móng tay móng chân khô, nhợt nhạt, tím tái. Can âm hư sinh hỏa làm người nóng, háo khát, dễ cáu giận, nhức đầu, táo bón, dễ nổi nóng,… Tùy từng bệnh nhân mà sẽ có những biện chứng khác nhau.

Có nhiều nguyên nhân làm cho chức năng của gan không được đảm bảo, điều này rất gây nguy hiểm đối với sức khỏe con người. Việc duy trì thói quen sinh hoạt khoa học, ăn uống điều độ để giữ cho gan luôn khỏe mạnh là vô cùng quan trọng. Khi có các dầu hiệu suy giảm chức năng gan, bệnh nhân cần phải đi khám để được chẩn đoán cụ thể, từ đó có hướng điều trị thích hợp nhất theo chỉ định của bác sỹ.

– Đánh Giá Chất Lượng Bài Viết –

Chức Năng Của Gan Theo Đông Y Và Tây Y

Gan theo y học hiện đại được định nghĩa là một cơ quan nằm trong hệ tiêu hóa của con người và động vật có xương sống. Gan được ví như là nhà máy hóa chất của cơ thể vì nó phụ trách điều hòa các phản ứng hóa sinh và đảm nhiệm hàng trăm chức năng khác nhau để duy trì sự sống của con người.

Các chức năng của gan vẫn còn đang trong giai đoạn khám phá nên rất khó để có thể đưa ra con số chính xác về số lượng công việc mà gan phải làm mỗi ngày. Các chức năng của gan được nhắc đến nhiều nhất là:

Gan là nơi chuyển hóa chính của cả đường, protein và lipid.

Trong chuyển hóa Carbohydrate: Gan vừa là nơi tân tạo glucose từ amino acid, lactate hoặc glycerol. Phân giải glycogen, đồng thời tạo glycogen từ glucose.

Trong chuyển hóa Lipid: Gan tổng hợp Cholesterol và sản xuất Triglyceride.

Gan dự trữ rất nhiều chất quan trọng trong cơ thể gồm: glucose, vitamin B12, vitamin A, D và một số vi chất sắt, đồng,…

Sắc tố mật và muối mật tạo ra ở gan đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu hóa thức ăn.

Trong gan chứa nhiều tế bào có thẩm quyền miễn dịch hoạt động, với nhiệm vụ phát hiện ra những kháng nguyên có trong máu qua tĩnh mạch cửa của gan.

Gan là nơi tổng hợp các yếu tố đông máu.

Gan là nơi tạo ra tế bào hồng cầu cho thai nhi trong 3 tháng đầu tiên của thai kỳ.

Gan là cơ quan chuyển hóa các chất độc thành chất không độc để đào thải ra ngoài cơ thể.

Quan Điểm Về Chức Năng Của Gan Theo Y Học Cổ Truyền

Trong y học cổ truyền, can là một trong ngũ tạng thuộc cơ thể con người, vai trò của tạng can vô cùng quan trọng, được ví như vị trí tướng quân của một nước.

Các chức năng chính của tạng can:

Chức năng này có nghĩa là tàng trữ và điều tiết lượng máu đến các cơ quan theo nhu cầu của cơ thể. Các hoạt động của cơ thể đều nhờ sự dinh dưỡng của huyết dịch lưu thông trong kinh mạch. Chức năng này của can bị rối loạn sẽ gây các triệu chứng: hoa mắt chóng mặt, chân tay co quắp, kinh nguyệt ít hoặc bế kinh. Một số trường hợp can huyết có nhiệt có thể gây nôn ra máu, chảy máu cam, rong huyết, rong kinh.

Cân được hiểu ở đây là cân mạch, bao gồm các khớp, gân, cơ phụ trách việc vận động của cơ thể. Sự dinh dưỡng cần thiết cho cân nhờ vào sự cung cấp huyết dịch của can, chức năng can đầy đủ, cân được nuôi dưỡng, vận động tốt. Ngược lại, nếu can huyết hư gây các chứng bệnh tê dại, chân tay run, co quắp, teo cơ, cứng khớp,…

Khi can khỏe thì móng tay, móng chân hồng hào, tươi nhuận. Khi can hư thì móng tay, móng chân khô, dễ gãy…

Tinh khí của huyết dịch ở Can đi lên mắt, nên khi can bị thực tà xâm phạm thì mắt đỏ, can hư gây quáng gà, giảm thị lực

Các biểu hiện của suy giảm chức năng gan thường gặp như: Rối loạn tiêu hóa, vàng da, vàng mắt, bụng chướng, men gan tăng cao, nổi mẩn dị ứng,… Tùy thuộc vào từng mức độ tổn thương tế bào gan mà có những biểu hiện khác nhau.

Theo Y học cổ truyền, suy giảm chức năng gan còn được gọi là chứng Can hư. Can huyết hư gây rối loạn kinh nguyệt, hoa mắt chóng mặt, chân tay co quắp, rối loạn tiêu hóa, chân tay run, móng tay móng chân khô, nhợt nhạt, tím tái. Can âm hư sinh hỏa làm người nóng, háo khát, dễ cáu giận, nhức đầu, táo bón, dễ nổi nóng,… Tùy từng bệnh nhân mà sẽ có những biện chứng khác nhau.

Làm Gì Khi Suy Giảm Chức Năng Gan

Mặc dù cách diễn giải của Đông Y và Tây Y về chức năng gan khác nhau nhưng đều có chung một số phương pháp để cải thiện tình trạng suy giảm chức năng gan. Trong đó, thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục thường xuyên, ngủ đủ giấc là 3 yếu tố quan trọng để có được lá gan khỏe mạnh. Cụ thể:

Hạn chế tối đa việc sử dụng những thực phẩm ảnh hưởng đến gan như: rượu, bia, thuốc lá, cà phê, ngũ cốc tinh chế, các thực phẩm chiên dầu mỡ, kém an toàn.

Ăn nhiều rau tươi có màu xanh đậm như rau bina, bắp cải xanh, rau ngót… Và ăn các loại quả như: quả óc chó, quả bơ, quả mọng… Đồng thời, không quên uống ít nhất 2l mước mỗi ngày.

Khi mắc bệnh gan cần tích cực cải thiện, theo dõi thường xuyên và tuyệt đối tuân theo y lệnh của chuyên gia. Đừng đợi “nước đến chân mới nhảy”, khi các triệu chứng suy giảm chức năng gan bộc phát thì phần lớn bệnh gan đã đi vào giai đoạn nặng, khó cải thiện. Nếu không cải thiện kịp thời, tính mạng người bệnh có thể bị đe dọa nghiêm trọng.

Ngoài ra, một biện pháp quan trọng thường được các chuyên gia y tế khuyến cáo là sử dụng một số thảo dược tốt cho gan nhằm tăng cường chức năng gan và phòng ngừa các bệnh lý ở gan.

Y học Phương Đông và Y học Phương Tây có lưu truyền nhiều loại thảo dược tốt giúp điều trị bệnh gan hiệu quả. Đặc biệt, ở các nước Châu Âu, 2 loại thảo dược là Kế sữa và Actiso đã được sử dụng như một loại “thần dược” trong điều trị và phòng ngừa nhiều căn bệnh ở gan.

Từ những năm đầu của thế kỷ thứ 4 TCN, Kế sữa đã được các nước Hy Lạp cổ đại sử dụng để bảo vệ gan và điều trị nhiều bệnh lý như men gan cao, viêm gan, xơ gan, gan nhiễm mỡ, nhiễm độc gan… Ngày nay, y học hiện đại ngày càng khám phá ra nhiều công dụng tuyệt tuyệt vời của nó. Thậm chí, Kế sữa đã trở thành một thành phần không thể thiếu trong điều trị nhiều bệnh ở gan.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, với thành phần hoạt chất chính Silymarin, Kế sữa có tác dụng ổn định tế bào gan, kích thích RNA polymerase hoạt động để tổng hợp protein ở tế bào gan. Đồng thời, nó sửa chữa các tế bào bị tổn thương, tái tạo, phục hồi và thúc đẩy phát triển các tế bào gan mới. Từ đó giúp chống oxy hóa, chống viêm, tiêu sỏi mật, giải độc gan và giảm bớt các triệu chứng do các về bệnh gan gây ra như mụn nhọt, mẩn ngứa, vàng da, men gan cao… hỗ trợ điều trị viêm gan, gan nhiễm mỡ và xơ gan hiệu quả.

Chỉ riêng Kế sữa đã có công dụng tốt với lá gan như vậy, nhưng còn tuyệt vời hơn khi nó được kết hợp cùng Actiso – một thảo dược nổi tiếng về những lợi ích cho gan khác – bởi sự kết hợp này làm tăng vượt trội tác dụng của chúng với lá gan so với khi dùng riêng lẻ từng loại thảo dược, giúp giảm nhanh các triệu chứng bệnh gan và tăng cường chức năng gan.

Trên thực tế, thị trường có nhiều sản phẩm chứa riêng biệt các thành phần Kế sữa, Actiso nhưng lại rất ít sản phẩm được kết hợp từ 2 loại thảo dược này.

Một trong những sản phẩm hiếm hoi kết hợp Kế sữa và Actiso rất hiệu quả, lại có nguồn nguyên liệu nhập khẩu trực tiếp từ Châu Âu (Địa Trung Hải) và sản xuất tại nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP là Sily-GAN.

SILYGAN – Bổ gan, giải độc gan đến từ Châu Âu.

Bên cạnh đó, ngoài bệnh nhân đang mắc bệnh gan hoặc người có thói quen xấu hại gan, thì bệnh nhân tim mạch, người bị tiểu đường type 2, người bị suy thận, bệnh nhân thiếu máu… cũng có nguy cơ suy giảm chức năng gan, vì thế bên cạnh việc cải thiện bệnh lý nền, những đối tượng này cũng cần chú ý bảo vệ gan, phòng ngừa bệnh gan từ sớm.

Chứng Nóng Gan Theo Đông Y

Chứng nóng gan là chỉ người bệnh do hay uống rượu, uống bia, các chất kích thích, ăn nhiều đồ ngọt làm cho gan phải làm việc nhiều hơn nhằm loại bỏ các chất có hại ra khỏi cơ thể làm tổn thương đến gan gây ra một số triệu chứng như ngứa ngáy, dị ứng, eczema, tiểu tiện vàng, đại tiện táo…

CHỨNG NÓNG GAN THEO ĐÔNG Y

Theo y học cổ truyền, can (gan) là một tạng có chức năng như sau:

Phân bố dương khí toàn thân, sách Tố vấn ghi: “Can giữ chức tướng quân”. Nếu can khí thiếu làm người ta yếu đuối dễ sợ. Nếu can khí sơ tiết quá độ, can dương thịnh dễ sinh choáng váng, đau đầu, mắt đỏ, chảy máu mũi. Can khí bị dồn nén uất ức dễ sinh ngực đầy tức, đau mạng sườn.

Tàng là giữ, chứa và điều hòa lượng huyết trong cơ thể. Khi hoạt động lượng huyết cung cấp cho cơ quan nhiều. Khi nghỉ, lượng huyết cho các cơ quan ít. Khi ngủ thì huyết về can.

Cơ khớp co duỗi vận động được điều hòa là nhờ can dinh dưỡng cân tốt. Khi bị trúng phong, tổn thương can, cơ thể có thể liệt từng phần như liệt mặt hoặc liệt nửa người. Can vinh nhuận ra móng tay móng chân, xem móng để biết can khỏe hay yếu “móng là phần dư của can”.

Người bệnh tiểu vàng, đau bụng dưới, phát sốt, mạng sườn đầy chướng và đau, chân tay cựa quậy liên tục; hay nằm, hay kinh hãi, nằm không yên; nói không thôi, nói như điên…

Chứng can hỏa thượng viêm

Là triệu chứng biểu hiện do can hoả nghịch lên. Người bệnh mặt đỏ bừng, mắt đỏ, miệng đắng, họng khô, tai ù hoặc điếc đột ngột, đầu choáng váng, chướng đau, phát sốt, phía sườn nóng đau, phiền nóng, dễ giận, nhiều chiêm bao, ít ngủ, đại tiểu tiện bí sáp, tiểu tiện ngắn đỏ, rìa lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng….

Người bị chứng can dương thượng cang

(thuộc bệnh tăng huyết áp, rối loạn thân fkinh thực vật) thường có biểu hiện choáng váng, đầu nặng, chân nhẹ, tai ù, hoặc mặt nóng, họng khô, tâm phiền, dễ giận, ngủ ít, mắt mờ, nhiều chiêm bao, lưng gối đau mềm, lưỡi đỏ rêu ít…

Khi bị mắc các chứng này, thầy thuốc có thể kê đơn dùng thuốc thanh can (mát gan), nhưng phải phối hợp trong một bài thuốc hoàn chỉnh.

Thông thường, nhiều người hay nhầm lẫn giữa chức năng gan theo y học hiện đại với chức năng của tạng can theo y học cổ truyền, dẫn đến nhầm lẫn trong điều trị. Cần nhớ là mọi loại thuốc khi vào cơ thể hầu hết đều qua gan, nên khi gan bị bệnh (nhất là khi viêm gan do virut, do rượu…), cần tránh để gan phải làm việc quá tải. Bạn nên đến các phòng chẩn trị đông y để được khám bệnh, kê đơn cụ thể theo đúng tình trạng bệnh của bản thân.

Phòng Khám Chữa Bệnh Đông Tây Y

 BỆNH TIÊU HOÁ » Bệnh Dạ Dày

CHỨC NĂNG SINH LÝ CỦA DẠ DÀY

BS Phạm Thị Mai _SKLS :   trước khi bàn đến CÁC BỆNH LÝ DẠ DÀY – HÀNH TÁ TRÀNG chúng ta ôn tập lại những vấn đề cơ bản về chức năng sinh lý của dạ dày. Trên cơ sở đó mọi người sẽ hiểu rõ hơn khi phân tích về cơ chế sinh lý bệnh của dạ dày- hành tá tràng.

CHỨC NĂNG SINH LÝ CỦA DẠ DÀY                                              BS Phạm Thị Mai_SKLS

CHỨC NĂNG NGOẠI TIẾT VÀ NỘI TIẾT

I. DỊCH VỊ ĐƯỢC TIẾT RA THEO TỪNG KHU VỰC 

    Dịch vị  do các tuyến ở niêm mạc dạ dày bài tiết,  khoảng 2 – 2,5 lít/ 24 giờ .

1. Thân vị và bờ cong bé : Có cấu tạo phần lớn là các tế bào chính bài tiết ra men tiêu hoá và  tế bào bìa.tiết ra HCL 

2. Hang vị : có cấu tạo đặc biệt bởi các tế bào G và các tế bào nội tiết :tiết ra các hormone. Ngoài ra còn tiết ra nhiều chất nhầy, ít pepsin

3. Đáy vị  :là các tế vào viền  tiết yếu tố nội (yếu tố Castle)

4.Tâm vị và môn vị: tế bào cổ tuyến tiết chủ yếu chất nhầy và bicacbonat; Tiết ít pepcin

5. Toàn bộ niêm mạc dạ dày :  đều bài tiết HCO3-  và ít chất nhầy.

II. THÀNH PHẦN VÀ TÁC DỤNG  CỦA DỊCH VỊ 

     Dịch vị  lỏng, trong, hơi nhầy, có chứa 0,3-0,4% HCl nên rất acid ( pH 0,8-0,9), được  tiết ra 2,0-2,5 lít/ 24 giờ, chứa  98-99% nước, còn lại là các chất hữu cơ và vô cơ.

1.Các men tiêu hoá  

+ Pepsin:  pepsinogen ( men tiêu hoá protein chưa hoạt động) , trong môi trường pH < 5,1,  được hoạt hóa thành pepsin hoạt động,

+ Lipase ( men tiêu hóa lipid ) hoạt động trong môi trường acid, có tác dụng thủy phân các triglycerid đã được nhũ tương hóa sẵn trong thức ăn (triglycerid trong sữa, lòng đỏ trứng) thành glycerol và acid béo.

+ Chymosin  (rennin, presur, lab- ferment): phân giải caseinogen ( protein trong sữa) thành vón sữa casein, để  pepsin tiêu hóa. Các phần còn lại trong sữa (nhũ thanh) được đưa nhanh xuống ruột. Một lần bú sữa, trẻ có thể thu nhận một lượng sữa lớn hơn thể tích dạ dày rất nhiều..

2.Acid  chlohydric  ( HCl )

    Tế bào viền tiết ra HCl ( H+ và Cl-). Dưới tác dụng của bơm proton ( H+-K+ATPase ) H+  từ bên trong tế bào viền đi ra hoà vào dịch vị ở khoang dạ dày, K+  của dịch vị đi vào tế bào viền ( trao đổi ion). Nồng độ HCl toàn phần của dịch vị là 160 mEq %, trong đó có 40mEq ở dạng tự do. HCL có nhiều chức năng rất quan trọng :

+ Hoạt hoá pepsin và góp phần phân giải protit :  HCL hoạt hóa pepsinogen thành pepsin thể hoạt động . HCL bảo đảm pH cho pepsin xúc tác. HCL làm tan mô liên kết bao ngoài khối cơ,  để pepsin tiếp tục phân giải phần bên trong là protid.+Thủy phân cellulose của rau củ.+ Điều hoà bài tiết các dich ở  dạ dày, tuỵ mật và ruột+ Kích thích nhu động dạ dày, đóng tâm vị và môn vị. + Sát trùng chống lên men thối ở dạ dày.

    Khi yếu tố bảo vệ ( chất nhầy)  giảm và yếu tố phân huỷ (HCL) tăng,HCl sẽ phối hợp với pepsin gây ra loét dạ dày.

3.CÁC CHẤT BẢO VỆ

+ Bicarbonat NaHCO3- và các ion  Na+, K+, Ca++, Mg++, Cl-... Đảm bảo cân bằng độ pH cho dạ dày không quá acid. NaHCO3- do các tế bào niêm mạc dạ dày bài tiết. HCO3- cùng với với chất nhầy tạo  liên kết  bảo vệ niêm mạc dạ dày. HCO3- cân bằng độ pH trong dịch vị, tránh tình trạng tăng acid quá mức.

+ Chất nhầy glycoprotein : được tiết ra từ các tuyến ở môn vị, tâm vị ( hầu hết) , tế bào cổ tuyến vùng thân vị và  toàn bộ tế bào niêm mạc dạ dày. Lớp màng liên kết nhầy-bicarbonat bền vững dày 1 – 1,5 mm bao phủ toàn bộ niêm mạc dạ dày. Nhờ lớp màng bảo vệ này mà  H+ từ dịch vị , không thể khuyếch  tán ngược vào trong niêm mạc dạ dày.

   Loét dạ dày xảy ra khi : Hoặc có sự tăng tiết bất thường của HCl và pepsin;  Hoặc giảm tiết chất nhầy và HCO3-; Hoặc dùng nhiều rượu, chất chua, chất cay, muối mật, các thuốc giảm đau chống viêm.. làm tổn thương lớp màng nhầy-bicarbonat. Ba nhóm  nguyên nhân trên làm  H+ và pepsin sẽ xâm nhập vào lớp niêm mạc dạ dày, gây   tổn thương loét dạ dày.

4.CÁC HORMONE VÀ SẢN PHẨM CHUYỂN HOÁ

    +Hormone gastrin, somatostatin : Dưới tác dụng kích thích của dây X hoặc của các sản phẩm tiêu hóa protid (pepxon, proteose) , hoặc  thành dạ dày tăng  trương lực đã  kích thích tế bào G hang vị tiết ra. Gastrin.  Gastrin theo máu đến vùng thân vị , kích thích các tuyến bài tiết  HCl và pepsinogen. Khi thức ăn trong vùng hang vị hoặc môi trượng dịch vị  quá acid sẽ ức chế bài tiết gastrin  theo cơ chế  feed back     +Histamin : là sản phẩm chuyển hoá của  niêm mạc dạ dày  từ   Histidin, có tác dụng kích thích các thụ thể H2 của tế bào viền (H2-recepxor) làm tăng tiết acid HCl. Thuốc ức chế H2-recepxor để làm giảm tác dụng tiết acid HCl của histamin (ví dụ:cimetidin, ranitidin, famotidin…).    +Hormone Prostaglandin E2  (của tế bào niêm mạc dạ dày) có tác dụng ức chế  tiết  HCl và pepsin,  đồng thời kích thích tăng tiết chất nhầy. Các thuốc dẫn xuất từ prostaglandin (:cytotec),  các thuốc tăng bài tiết prostaglandin E2  (colloidal bismuth subcitrate) có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày , chống loét. Các thuốc giảm đau, chống viêm ( aspirin, voltaren, piroxicam, ibuprofen…) ức chế tổng hợp prostaglandin E2 ,gây  loét dạ dày..    + Hormone secretin : có tác dụng  kích thích bài tiết dịch tụy.

    Ngoài ra, các hormone của các tuyến nội tiết ngoài dạ dày cũng tham gia điều tiết hoạt động chế xuất dịch vị như

* Hormone  Glucocorticoid: ( vỏ thượng thận)  : kích thích bài tiết acid HCl và pepsin đồng thời ức chế bài tiết chất nhầy. Hoặc  strees  tâm lý kéo dài ; Hoăc dùng quá liều  glucocorticoid (Dexamethazon, Prednisolon…) có thể gây ra loét dạ dày.

* Hormone Gastrin-like: Các tuyến nội tiết ở  niêm mạc tá tràng và tụy nội tiết bài tiết ra Gastrin-like: , tác dụng tương tự gastrin. Hội chứng Zollinger-Ellison : các tế bào khối u tuỵ tăng  tiết gastrin-like,  dẫn đến tăng  HCl và pepsin trong dịch vị, gây ra nhiều ổ  loét dạ dày tá tràng.

5. YẾU TỐ NỘI

    Yếu tố nội chống thiếu máu (Intrinsic factor)  do tế bào viền tiết ra. B12 ở dạ  dày tạo thành phức hợp B12- yếu tố nội. Phức hợp này dễ dàng được được hấp thu vào máu khi xuống đến hồi tràng

    Dạ dày bị cắt 2/3, teo niêm mạc dạ dày…gây thiếu yếu tố nội, bệnh nhân sẽ bị bệnh thiếu B12, thiếu máu hồng cầu to (Biermer

6. MỘT SỐ CHẤT KHÁC :

     Protein của huyết tương , đặc biệt là albumin, globulin miễn dịch,  các chất chứa nitơ… 

III. ĐIỀU HOÀ BÀI TIẾT DỊCH VỊ 

1.Sát trước bữa ăn và khi bắt đầu ăn  : ngửi, nhìn, nghe nói về thức ăn, nếm, nhai, món ưa ưa thích, thức ăn kích thích vào niêm mạc miệng…đều gây phản xạ tiết dịch vị

2.Thức ăn tới dạ dày :

+ Thức ăn kích thích các cảm thụ ở niêm mạc dạ dày, truyền tín hiệu về trung khu ăn uống ở hành não và tuỷ sống:

     –  Xung động từ hành não theo dây X đến chi phối dạ dày, gây tăng tiết dịch vị,  men và acid HCL .

     –  Xung động từ trung khu giao cảm ( Đốt lưng 4-10) theo các sợi giao cảm đi ra, kích thích dạ dày tăng tiết chất nhầy và bicarbonat.

+  Dây X và HCl kích thích dạ dày tiết ra gastrin và histamine, nhờ các 2 chất này, dạ dày bài tiết dịch vị, HCl và men tăng lên . 

+ Thần kinh phế vị tác động trực tiếp đến vùng thân vị, làm tăng tự mẫn cảm của các tế bào dạ  dày đối với gastrin; kết quả làm bài tiết dịch giàu pepsin.

+ Các đám rối Meissner ( dưới niêm mạc dạ dày).  Dưới tác dụng kích thích của thức ăn trong dạ dày hoặc từ những kích thích của thần kinh trung ương. đám rối này làm  tăng bài tiết dịch vị.

3.Thức ăn xuống tá tràng :

+  HCl và protein kích thích tá tràng tiết enterogastrin. Enterogastrin vào máu rồi quay trở lại kích thích dạ dày tiết dịch vị . Dạ dày tiết ra gastron và tá tràng tiết ra enterogastron là các hormon ức chế bài tiết dịch vị.

IV. CHỨC NĂNG CƠ HỌC CỦA DẠ DÀY

Chức năng cơ học của dạ dày là chứa đựng, nhào trộn thức ăn với dịch vị, nghiền nhỏ thức ăn và tống xuống ruột.1.     1. Nhu động :

   Thức ăn vào dạ dày,  5-10 phút sau mới có nhu động dạ dày. Dạ dày nhu động theo làn sóng từ vùng tâm vị, lan theo bờ cong lớn và bờ cong nhỏ, xuống tới môn vị.  Do môn vị vẫn đóng, nên thức ăn lại quay ngược lên,  kết thúc một sóng nhu động. Rồi kế tiếp đợt song khác, cứ 10-15 giây có 1 sóng nhu động.

    Nhu động của dạ dày chịu sự tác động của hệ thần kinh;của yếu tố thể dịch và các chất  trong dạ dày. Gastrin, CCK, motiline làm tăng co bóp. Secretin, glucagon GIP, VIP, somatostatin làm giảm co bóp dạ dày.

    Dạ dày còn có khả năng co bóp tự động, nhờ có các đám rối thần kinh nằm ngay trong thành dạ dày (Meissner và auerbach).

    Thức ăn được trộn với dịch vị thành khối nhuyễn sền sệt gọi là vị trấp. Vị trấp được dồn dần xuống vùng hang-môn vị.

    2.Hoạt động đóng-mở ngắt quãng của môn vị ,

    Sự đóng mở môn vị còn chịu sự chi phối của thần kinh dạ dày, vỏ não và thần kinh-thể dịch. Căng thẳng, lo buồn làm môn vị thắt lại, hưng phấn vui vẻ làm môn vị mở nhanh. Vị trấp được tống từng đợt xuống tá tràng cho tới hết.

     3. Trương lực dạ dày:

   Sự co thường xuyên của các lớp cơ dạ dày, tạo áp lực khoảng 8-10 cm H2O . Khi dạ dày chứa đầy thức ăn , trương lực giảm đi chút ít, khi dạ dày đã vơi thức ăn, trương lực tăng lên. Trương lực cao nhất khi   khi dạ dày rỗng.

 V. CHỨC NĂNG  TIÊU HOÁ THỨC ĂN

+ Những thức ăn được dạ dày hấp thu nhanh là : nước, bia, rượu, đường đơn ( một ít) , sắt ( một phần ).. Dạ dày của nhũ nhi có thể hấp thu ngay 25% chất dinh dưỡng trong sữa mẹ.

 + Những chất khác được nghiền nhuyễn với dich vị tạo thành vị trấp. Trong vị trấp :

        10-20% protid được phân giải thành các polypeptid .

        Một phần lipid đã nhũ hoá được phân giải thành monoglycerid, và acid béo.

         Còn glucid hầu như chưa được tiêu hoá. chị bị thủy phân một phần cellulose

+ Thời gian thức ăn lưu lại ở dạ dày lâu mau tuỳ thuộc vào tính chất và số lượng của nó.        Glucid qua dạ dày nhanh nhất, sau 2-3 giờ.        Protid qua sau 4-5 giờ.        Lipitd qua chậm nhất, sau 5-7 giờ.

Mời các bạn đón xem các bài CÁC BỆNH LÝ DẠ DÀY – HÀNH TÁ TRÀNG sẽ được đăng tiếp

CÁC BÀI KHÁC

 CHỮA BỆNH VIÊM DẠ DÀY DO HELICOBACTER PYLORI.

(20-05-2014)

 ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA VIÊM DẠ DÀY CẤP ?

(20-05-2014)

 VIÊM DẠ DÀY CẤP

(20-05-2014)

 CÁC VI SINH GÂY BỆNH DẠ DÀY _RUỘT

(17-05-2014)

Bạn đang xem bài viết Chức Năng Của Gan Theo Tây Y Và Đông Y trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!