Thông Tin 09/2021 # Chuyên Đề Thực Hiện Phương Pháp “bàn Tay Nặn Bột”

Xem 99

Cập nhật thông tin chi tiết về Chuyên Đề Thực Hiện Phương Pháp “bàn Tay Nặn Bột” mới nhất ngày 24/09/2021 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 99 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Tập Huấn Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Để Thực Hành Hiệu Quả Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột
  • Một Số Kinh Nghiệm Khi Áp Dụng Phương Pháp ” Bàn Tay Nặn Bột ” Vào Dạy Môn Khoa Học Lớp 4, 5
  • Xây Dựng Phong Cách Làm Việc Dân Chủ
  • “làm Theo” Phong Cách Quần Chúng, Dân Chủ, Nêu Gương Của Người
  • PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TÂN CHÂU

    CHUYÊN ĐỀ

    ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC “BÀN TAY NẶN BỘT”

    Tân Châu, ngày 21/ 2 / 2014

    Báo cáo viên :

    Nguyễn Hoàng Vân

    I. Mục Tiêu:

    – Tập huấn cho cán bộ quản lý và giáo viên dạy các môn tự nhiên

    – Nghiên cứu và triển khai vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào dạy học. Góp phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học .

    – Góp phần chuẩn bị cơ sở lý luận và thực tiễn về phương pháp dạy học cho việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau năm 2021.

    II. Nội dung

    A. PHẦN LÝ THUYẾT

    1 . Bàn tay nặn bột là gì?

    2. Lịch sử của phương pháp “Bàn tay nặn bột”

    3.”Bàn tay nặn bột” tại Việt Nam

    4. Mười nguyên tắc của phương pháp “Bàn tay nặn bột”

    5. Các bước của một tiến trình tìm tòi khám phá

    6. Tiến trình sư phạm của phương pháp ” Bàn tay nặn bột “

    7. Một số lưu ý khi áp dụng PPBTNB vào dạy học

    1. Bàn tay nặn bột là gì ?

    “Bàn tay nặn bột” là mô hình giáo dục tương đối mới trên thế giới, có tên tiếng Anh là “Hands On”,tiếng Pháp là “La main à la pâte”, đều có nghĩa là “bắt tay vào hành động”; “bắt tay vào làm thí nghiệm”, “bắt tay vào tìm tòi nghiên cứu”.

    Chương trình tập trung phát triển khả năng nhận thức của học sinh, giúp các em tìm ra lời giải đáp cho những thắc mắc trẻ thơ bằng cách tự đặt mình vào tình huống thực tế, từ đó khám phá ra bản chất vấn đề.

    -Trẻ luôn cảm thấy tò mò trước những hiện tượng mới mẻ của cuộc sống xung quanh, các em luôn đặt ra các câu hỏi “tại sao?”.

    – Chương trình “Bàn tay nặn bột” là sự quy trình hóa một cách logic phương pháp dạy học, dẫn dắt học sinh đi từ chưa biết đến biết theo một phương pháp mới mẻ là để học sinh tiếp xúc với hiện tượng, sau đó giúp các em giải thích bằng cách tự mình tiến hành quan sát qua thực nghiệm.

    – Phương pháp này giúp các em không chỉ nhớ lâu, mà còn hiểu rõ câu trả lời mình tìm được.

    – Qua đó, học sinh sẽ hình thành khả năng suy luận theo phương pháp nghiên cứu từ nhỏ và hình thành tác phong, phương pháp làm việc khi trưởng thành.

    B1_Chọn lựa tình huống khởi đầu (Các thông số giúp cho GV chọn lựa tình huống này dựa vào mục tiêu do chương trình đề ra)

    – Sự phù hợp với kế hoạch chung của khối lớp do hội đồng giáo viên của khối đề ra;

    – Tính hiệu quả của cách đặt vấn đề có thể có được từ tình huống;

    – Các nguồn lực địa phương (về vật chất và nguồn tư liệu)

    – Các mối quan tâm chủ yếu của địa phương, mang tính thời sự hoặc nảy sinh từ các hoạt động khác, có thể về khoa học hay không;

    -Tính phù hợp của việc học đối với các mối quan tâm riêng của học sinh

    B2_Việc phát biểu các câu hỏi của học sinh

    – Công việc được thực hiện dưới sự hướng dẫn bởi giáo viên, giáo viên có thể giúp sửa chữa, phát biểu lại các câu hỏi để đảm bảo đúng nghĩa, tập trung vào lĩnh vực khoa học và tạo điều kiện cho việc nâng cao khả năng diễn đạt nói của học sinh;

    – Sự chọn lựa có định hướng, có căn cứ của giáo viên trong việc khai thác các câu hỏi hiệu quả (nghĩa là thích hợp với một tiến trình xây dựng, có tính đến các dụng cụ thực nghiệm và tư liệu sẵn có) có thể dẫn đến việc học một nội dung trong chương trình;

    – Làm bộc lộ các quan niệm ban đầu của học sinh, đối chiếu chúng với nhau nếu có sự khác biệt để tạo điều kiện cho lớp lĩnh hội vấn đề đặt ra.

    B3 – Xây dựng các giả thuyết và thiết kế sự tìm tòi nghiên cứu cần tiến hành để chứng minh hay loại bỏ các giả thuyết đó

    – Cách quản lí tạo nhóm học sinh của giáo viên (ở các mức khác nhau tùy thuộc hoạt động, từ mức độ cặp đôi đến mức độ cả lớp); các yêu cầu đưa ra ( các chức năng và hành vi mong đợi ở từng nhóm)

    – Phát biểu bằng lời các giả thuyết ở các nhóm;

    – Có thể xây dựng các qui trình để chứng minh hay loại bỏ các giả thuyết

    – Viết các đoạn mô tả các giả thuyết và các tiến trình (bằng lời và hình vẽ, sơ đồ);

    – Phát biểu bằng lời hay viết mô tả các dự đoán của học sinh: ” điều gì sẽ xảy ra?” ” vì sao?”;

    – Trình bày các giả thuyết và các qui trình đề nghị bằng lời nói trong lớp.

    B4_ Sự tìm tòi nghiên cứu do học sinh tiến hành

    – Các giai đoạn tranh luận trong nhóm: các cách thức tiến hành thí nghiệm;

    – Kiểm soát sự thay đổi của các thông số;

    – Mô tả thí nghiệm (bằng các sơ đồ, các đoạn văn mô tả);

    – Tính lặp lại được của thí nghiệm (học sinh chỉ rõ các điều kiện thí nghiệm)

    – Việc quản lí các ghi chép cá nhân của học sinh.

    B5-Lĩnh hội và hệ thống hóa (cấu trúc) các kiến thức

    – So sánh và liên hệ các kết quả thu được trong các nhóm khác nhau, trong các lớp khác…

    – Đối chiếu với kiến thức đã được thiết lập /trong sách /(dạng khác của việc sử dụng các tìm kiếm tài liệu) trong khi đảm bảo “mức độ phát biểu kiến thức” thích hợp với trình độ học sinh;

    – Tìm kiếm các nguyên nhân của những kết quả khác biệt nếu có, phân tích /một cách phê phán/ các thí nghiệm đã tiến hành và đề xuất các thí nghiệm bổ sung;

    – Trình bày các kiến thức mới lĩnh hội được cuối cụm bài học bằng lời văn viết do học sinh của học sinh với sự giúp đỡ của giáo viên.

    B6-Vận dụng trong trường hợp có thể các kiến thức để:

    – Diễn giải một tài liệu

    – Chế tạo một đồ vật

    – Giải thích một hiện tượng

    – Dự đoán một hành vi /hay diễn tiến hiện tượng/ của một sinh vật hay vật thể, tùy thuộc vào một số thông số

    – Giai đoạn này rất quan trọng vì nó cho phép học sinh nhận thấy rõ sự tiến bộ của mình, tạo ra hứng thú học tập và bộc lộ khả năng của học sinh.

    – Đặt ra các câu hỏi mới

    – Tùy thuộc vào tính chất của các câu hỏi mới ( sự phù hợp với chương trình, tính hiệu quả…) và tùy thuộc vào những điều kiện bó buộc về vật chất và thời gian mà các câu hỏi này có thể dẫn đến một quá trình tìm tòi nghiên cứu mới hay không.

    Tiến tình tìm tòi nghiên cứu tuân theo các nguyên tắc tính thống nhất và tính đa dạng

    1- Nguyên tắc tính thống nhất:

    Tiến trình này gắn kết với quá trình đặt câu hỏi của học sinh về thế giới thực:

    – Hiện tượng hay sự vật, vô sinh hay hữu sinh, tự nhiên hay nhân tạo, Quá trình đặt câu hỏi /đặt vấn đề/ này dẫn đến việc lĩnh hội các kiến thức và kĩ năng, sau khi học sinh đã tìm tòi nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

    2. Nguyên tắc tính đa dạng:

    – Khai thác, thử và sai, thao tác thực nghiệm (ví dụ như dùng pin để làm sáng đèn, thử làm chìm một vật đang nổi,…). Kiểu hoạt động này nhằm giúp cho học sinh làm quen với hiện tượng, các sinh vật hay vật thể.

    – Thử nghiệm trực tiếp: thử nghiệm một giả thuyết bằng cách tạo ra một qui trình thực nghiệm thích hợp ( cách thức này đòi hỏi cao hơn cách thức trước)

    – Quan sát trực tiếp hay có sử dụng dụng cụ: Sự quan sát này được định hướng bởi cách đặt vấn đề chính xác, dẫn học sinh đến việc quan sát tập trung vào chính xác một yếu tố nhằm thử nghiệm một giả thuyết.

    – Mô hình hóa: tạo ra hay sử dụng một mô hình /maket/ để có thể hiểu được /hiện tượng/ (ví dụ để hiểu được sự thay đổi các pha của Mặt trăng)

    – Điều tra và tham quan: có thể được tiến hành ở bất cứ giai đoạn nào. Có thể được tiến hành ngay trong giai đoạn đầu để làm quen với môi trường ở địa phương, thu thập các vật liệu, gợi ra các câu hỏi. Có thể thực hiện trong giai đoạn tìm tòi để thúc đẩy các nghiên cứu tìm kiếm. Cũng có thể được thực hiện trong giai đoạn cuối để đem lại ý nghĩa cho các kiến thức đã được hình thành trong lớp.

    – Tìm kiếm tài liệu: cách thức này có thể thay thế cho việc thực nghiệm trực tiếp khi không thể tiến hành các thực nghiệm, hoặc có thể được dùng để thúc đẩy hoặc cũng có thể được dùng như phương tiện cuối cùng để đối chiếu kiến thức được xây dựng trong lớp với kiến thức đã được thiết lập/ trong sách

    6. TIẾN TRÌNH SƯ PHẠM CỦA PP BTNB

    (gồm 5 bước)

    Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Dạy Học Theo Phương Pháp “bàn Tay Nặn Bột” Ở Tiểu Học
  • Tiểu Cần: Phát Huy Sức Lan Tỏa Của Phong Trào Thi Đua “dân Vận Khéo”
  • Nhiều Kết Quả Tích Cực Trong Thực Hiện Phong Trào Thi Đua “dân Vận Khéo” Năm 2021
  • Nội Dung, Phương Thức Thực Hiện Phong Trào Thi Đua “dân Vận Khéo”
  • Khảo Sát Việc Triển Khai Thực Hiện Phong Trào Thi Đua Dân Vận Khéo Tại Huyện Hoa Lư
  • Bạn đang xem bài viết Chuyên Đề Thực Hiện Phương Pháp “bàn Tay Nặn Bột” trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Tin tức online tv