Xem Nhiều 1/2023 #️ Đặc Điểm Âm Học Của Phụ Âm Đầu Trong Tiếng Việt # Top 1 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Đặc Điểm Âm Học Của Phụ Âm Đầu Trong Tiếng Việt # Top 1 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Đặc Điểm Âm Học Của Phụ Âm Đầu Trong Tiếng Việt mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

ThS. NGUYỄN TRẦN QUÝ(Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM)

TÓM TẮT

     Trong nghiên cứu ngữ âm học, cần có số liệu làm minh chứng xác thực. Thủ pháp phân tích ngữ âm học có giá trị cho việc kiểm chứng các giả thuyết âm vị trước đây. Qua đó, nêu lên cơ sở khoa học để củng cố các quan niệm nghiên cứu ngữ âm, âm vị học chính thống. Nếu như các chỉ số của formant F1, F2, F3 được xem là cơ sở để đo đạc các nguyên âm thì đối với phụ âm, các chỉ số Voice onset time (VOT), độ dịch chuyển formant, tiền formant, tần số quỹ tích formant sẽ được chú ý. Trong bài viết này, chúng tôi mong muốn trình bày cơ sở để đo đạc các phụ âm đầu tiếng Việt như: phụ âm hữu thanh, phụ âm vô thanh, phụ âm tắc, phụ âm xát, phụ âm mũi. Các phụ âm hữu thanh sẽ có voice bar còn phụ âm vô thanh thì không có voice bar. Phụ âm xát luôn có tần số cao hơn phụ âm tắc. Dựa vào hình dạng ảnh phổ của một phụ âm, chúng ta có thể xác định được vị trí cấu âm của phụ âm đó. Nét âm học của phụ âm mũi và phụ âm bên gần giống với nét âm học của nguyên âm bởi vì khi cấu tạo các phụ âm này, dây thanh rung nhiều hơn.

     Từ khóa: VOT, sự dịch chuyển formant, xung, tiền formant, tần số quỹ tích, ảnh phổ, khoảng lặng, trường độ.

xx x

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     Cho đến hiện tại, trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm âm học của phụ âm. Tuy nhiên, ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về ngữ âm học âm học còn khá khiêm tốn. Về nghiên cứu thực nghiệm về phụ âm, có thể kể đến các tác giả sau:

     Công trình nghiên cứu ảnh phổ của Potter (1947) cho thấy F2 và F3 ở điểm bắt đầu của nguyên âm dường như gần nhau hơn về tần số tại điểm khởi đầu nguyên âm theo sau một âm tắc ngạc mềm hơn là âm tắc chân răng [1]. Từ thập niên 60 đến thập niên 80, các nhà khoa học như: Lehiste & Peterson (1961), Öhman (1966), Fant (1973), Kewley-Port (1982) khám phá một chứng cứ về quỹ tích F2 (locus F2) cho các phụ âm [2-4, 27]. Sự di chuyển của F3 có thể cho biết thông tin về chỗ tắc và đặc biệt là tách chân răng khỏi ngạc mềm (Öhman, 1966; Fant, 1973; Cassidy & Harrington, 1995) [2, 4, 5]. Sự dịch chuyển formant phản ánh ảnh phổ của phụ âm (Sussman, 1994; Sussman et al., 1993, 1995; Modarresi et al., 2005) [6-8, 28]. Tìm hiểu phụ âm xát, có thể kể đến Shadle và Johnson. Âm xát được tính toán dựa trên biểu đồ phổ (Forrest, 1988; Jongman, 2000; Tabain, 2001) [9-11].

     Về phụ âm tắc, có những vị trí khác nhau trong hình dạng phổ của âm tắc (Fant, 1960; Stevens, 1998) [12, 13]. Thông số về vị trí tắc (Smits, 1996a; Fischer-Jørgensen, 1972; Blumstein and Stevens 1979, 1980) [14-17]. Bàn về phụ âm mũi, có các nhà nghiên cứu như: Stevens (1985, 2002), Fant (1960), Flanagan (1972) [12, 18-20]. Phụ âm đầu mũi khác phụ âm cuối mũi như kết quả nghiên cứu của Repp và Svastikula (1988), Redford và Diehl (1999), Hajek (1997) [21-23]. 

     Đặc điểm âm học của phụ âm phức tạp hơn nguyên âm. Nhìn chung, phụ âm thường được miêu tả qua một số tính chất sau: giai đoạn đóng, giai đoạn mở, sự dịch chuyển, khoảng lặng (dây thanh không rung).

     Phụ âm tiếng Việt mang đặc trưng âm học như thế nào? Các tiêu chí dùng để phân biệt các nhóm phụ âm tiếng Việt là những gì? Việc trả lời những câu hỏi này sẽ giúp chúng tôi có những cơ sở để xác định đặc điểm âm học của phụ âm tiếng Việt. Việc phân biệt phụ âm vô thanh với hữu thanh vốn rất tinh tế nay có thể được minh chứng bằng các chỉ số rõ ràng.

2. PHƯƠNG PHÁP

     Âm thanh được ghi âm và lưu lại dạng *.wav. Có 10 cộng tác viên nói phương ngữ Nam bộ và phương ngữ Bắc bộ (5 nam, 5 nữ) được chọn thu âm với mục đích chọn được các mẫu âm thanh của phụ âm gần đúng với chuẩn tiếng Việt nhất. Sau khi so sánh kết quả phân tích thực nghiệm phụ âm của các cộng tác viên, chúng tôi chọn kết quả nghiên cứu của một giọng nam để dùng làm minh chứng cho bài viết này.

     Bảng từ dùng để thu âm dựa vào các tiêu chí sau:

     – Xác định rõ điểm đầu và cuối của một âm tố, trong thế đối lập âm vị. Chẳng hạn như: để khảo sát phụ âm, chúng tôi chọn từ có ngữ cảnh chẳng hạn như: tata, đa đa, mama… Cấu trúc âm tiết là CV. Chỉ sử dụng nguyên âm [a] cho tất cả các từ được thu âm.

     – Một từ được lặp lại ít nhất 2 lần để giúp cộng tác viên phát âm tự nhiên và rõ ràng. Thời gian, cao độ, cường độ được đo đạc dựa vào các đoạn âm đã được phân tích trong phần mềm Praat. Chúng tôi sử dụng phần mềm và công cụ phân tích sóng âm như sau: phần mềm ghi âm Cool edit pro phiên bản 2.1, phần mềm phân tích ngữ âm PRAAT phiên bản 5.2.28 [24], micrô ghi âm Shure SM 58-LC, Sound card Roland Tri Capture. Thủ pháp Spectral center of gravity và Dispersion được dùng để tính toán các phụ âm xát trên nền phần mềm Praat. Spectral center of gravity (Spectral COG) rất hữu dụng để đo đạc tần số không tuần hoàn của các âm xát. COG miêu tả một âm xát có tần số cao. Cách đo đạc này có thể dùng nghiên cứu điền dã ngôn ngữ, dùng để xác định vị trí cấu âm của từng loại âm xát khác nhau. 

     Dispersion (độ lệch chuẩn – standard deviation) cung cấp một cách đo năng lượng tập trung ở một dải hẹp quanh COG hoặc trải rộng trên dải tần số rộng.

3. CÁC TIÊU CHÍ DÙNG ĐỂ ĐO ĐẠC PHỤ ÂM

     Phụ âm có đặc điểm là có sự thay đổi nhanh ở các khí quan. Những biểu hiện trên ảnh phổ của phụ âm thường là: xát, bật hơi, tiếng thanh.

     Các phụ âm bao gồm những biến đổi nhanh chóng ở nguồn và bộ lọc. Phụ âm khác nguyên âm ở chỗ phần lớn không thể hiệntrên số liệu về formant 1, 2, 3, 4 cụ thể như nguyên âm. Có thể xác định phụ âm dựa vào một số đặc điểm về phổ trước và sau nguyên âm. Các thông tin về xung (burst), thời lượng khởi phát của âm (VOT), tắc (stop) và xát (fricative) là cơ sở để xác định các phụ âm. 

     Không giống như nguyên âm, các phụ âm không có ảnh phổ rõ rệt. Tuy nhiên, đối với phụ âm đầu hữu thanh, sẽ có sự ảnh hưởng lên formant của nguyên âm kế cận. Vị trí cấu âm của một số phụ âm có thể ảnh hưởng tới đoạn đầu formant F2 và F3 của nguyên âm.

     Phụ âm tắc, phụ âm xát và phụ âm mũi có một số tiêu chí chung trong khi đo đạc. Tuy vậy, tuỳ vào phương thức cấu âm mà cần thêm một số tiêu chí khác bổ sung cho việc kiểm tra đặc điểm âm học của phụ âm.

     Tiêu chí VOT không thể thiếu để tách bạch loạt phụ âm hữu thanh, vô thanh trong cả hai phương thức tắc, xát. Tiêu chí formant chuyển hoá (transition formant) giúp phân biệt từng loại phụ âm hữu thanh.

     3.1 Voice onset time

     VOT (Voice onset time) là thời lượng tính từ khởi âm (burst) đến điểm bắt đầu chu kỳ của nguyên âm và có tín hiệu âm học nổi bật để phân biệt âm hữu thanh với vô thanh, bật hơi trong tiếng Anh và nhiều ngôn ngữ khác (Lisker, 1967) [25]. VOT là một nét riêng của việc sản sinh phụ âm tắc. Không những vậy, đối với các phụ âm xát, VOT được biểu hiện như thanh âm (voice bar), giúp xác định phụ âm xát hữu thanh một cách dễ dàng trên ảnh phổ.

     VOT có thể cung cấp thông tin về vị trí phát âm của âm tắc hữu thanh: Âm tắc ngạc mềm có VOT dài hơn âm tắc chân răng. Âm tắc chân răng lại dài hơn âm tắc môi (Kewley-Port, 1982). 

     VOT có 3 loại:

     – VOT dương (positive): phụ âm bắt đầu sau burst.

     – VOT âm (negative): phụ âm bắt đầu trước burst.

     – VOT xấp xỉ zero: phụ âm và burst rất gần nhau.

     Phụ âm tắc vô thanh bắt đầu khoảng trên 50 ms (mili giây) sau burst. Âm này không xuất hiện trong giai đoạn đóng.

     Phụ âm tắc hữu thanh bắt đầu khoảng 30 ms trước burst. Âm có thể xuất hiện trong giai đoạn đóng. 

     Âm tắc vô thanh, không bật hơi (âm p) có VOT gần bằng 0.

     ÂM tắc hữu thanh không bật hơi có VOT nhỏ hơn 0, (VOT âm), nghĩa là dây thanh bắt đầu rung trước khi xuất hiện burst của phụ âm. Với một âm tắc hoàn toàn, VOT sẽ trùng với burst.

     Dựa vào thời lượng VOT, có thể xác định được phương thức phát âm của phụ âm là hữu thanh hay vô thanh của tiếng Việt cũng như một số ngôn ngữ

Ngôn ngữ Tắc vô thanh Tắc hữu thanh Anh Positive VOT Zero VOT Pháp Zero VOT Negative VOT Việt Zero VOT Negative VOT

     Các phụ âm tắc, hữu thanh và xát, hữu thanh sẽ có giá trị VOT là âm. Các phụ âm tắc, vô thanh của tiếng Việt có VOT dưới 30 ms, còn phụ âm xát có VOT trên 54 ms.

     Bảng 1. Thống kê VOT của phụ âm đầu tiếng Việt.

Negative

Zero

Positive

Tắc

xát

Tắc

xát

Tắc

xát

Môi

b -105

v -105

f- 54

Đầu lưỡi răng

d -85

z -195

t- 9

tʰ- 60

s-101

Đầu lưỡi ngạc

ʐ -81

ʈ-15

ʂ-182

Mặt lưỡi

c- 27

Gốc lưỡi

ɣ -145

k-29

χ-208

Thanh hầu

ʔ- 5

h- 69

     3.2 Sự dịch chuyển formant

     Thông thường, các formant: F1, F2, F3, F4… được sử dụng để thống kê về vị trí, phương thức của các nguyên âm. Tuy thế, trong một số bối cảnh phát âm chẳng hạn như CV, VC thì sẽ xuất hiện một đoạn ngắn chuyển tiếp formant của nguyên âm.

     Sự dịch chuyển của những formant là tín hiệu rất quan trọng đối với cách thức (F1) và vị trí (F2, F3) của phụ âm. Trong đoạn chuyển hoá formant, F1 thay đổi đối với phụ âm tắc, hữu thanh hoặc âm mũi. Đối với phụ âm tắc, vô thanh, F1 không thay đổi. Một điều quan trọng là hình dạng của những dịch chuyển formant sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào nguyên âm kế cận. Sự dịch chuyển formant phải bắt đầu tại điểm có tần số formant của nguyên âm trước nó hoặc phải kết thúc tại điểm có tần số formant của nguyên âm sau nó. Tuy vậy, sự dịch chuyển formant của một phụ âm tắc hữu thanh sẽ giống nhau mặc dù trong bối cảnh nguyên âm kế cận khác nhau.

     Đối với phụ âm tắc hữu thanh, chúng ta sẽ nhận ra sự ảnh hưởng từ formant của phụ âm này lên formant của nguyên âm trong âm tiết có cấu trúc CV. Các phụ âm vô thanh không thể hiện sự dịch chuyển formant rõ rệt như phụ âm hữu thanh.

     Sự chuyển hoá formant (formant transition) là sự thay đổi đột ngột tần số formant xảy ra ở đoạn đầu của formant nguyên âm trong cấu trúc âm tiết CV. Trong cấu trúc âm tiết VC, chuyển hoá formant xảy ra ở đoạn cuối của formant nguyên âm.

     Trong ảnh phổ của chuyển hoá formant (Hình 2), giá trị F2 thay đổi có ý nghĩa về mặt âm học rất quan trọng đối với vị trí cấu âm của phụ âm đang được xem xét. Tần số F1 thay đổi sẽ phản ánh phương thức cấu âm của phụ âm. (nguồn: http://blogjam.name/sid/?page_id=2465).

Hình 1. Sự dịch chuyển của formant trong các âm tiết: [ba], [da], [ga].Nguồn: http://www.indiana.edu/~p1013447/dictionary/vot.htm

     3.3 Phụ âm tắc

     Phụ âm tắc được xác định dựa vào các thông số sau: VOT, spectral pattern và sự chuyển hoá formant (formant transition). Phổ của phụ âm tắc gần giống với phổ của phụ âm xát ở cùng vị trí cấu âm. Chúng ta có thể dùng cách đo đạc phụ âm tắc để đo phụ âm xát. Các phụ âm tắc và xát sẽ có thông số khác nhau tuỳ vào vị trí cấu âm. Chỉ số F1 của phụ âm tắc luôn luôn thấp ở tất cả các vị trí cấu âm. Tuy vậy, chỉ số F2 và F3 của phụ âm tắc sẽ biến đổi tuỳ thuộc vào vị trí cấu âm. Tiếng Việt có 9 phụ âm tắc như sau: /t, tʰ, ʈ, c, k, ʔ, b, d/.

     Tắc môi

Hình 2. Ảnh phổ của phụ âm [b] trong từ ba

     Trong hình 2, VOT của phụ âm [b]: 0,082 giây

Hình 3. Đồ thị sóng âm của phụ âm [b] trong từ ba

     Có thể dựa vào hình dạng ảnh phổ và sóng âm để phân biệt các phụ âm. Phụ âm vô thanh không có voice bar (vệt màu đen ở chân) đối lập với phụ âm hữu thanh có voice bar. Sóng âm của phụ âm hữu thanh là những đường cong tuần hoàn, có chu kỳ, trong khi sóng âm của phụ âm vô thanh là những đường cong không tuần hoàn. (Hình 3)

     Phụ âm môi thường có có quỹ tích của formant F2 và F3 tương đối thấp.

     Tắc đầu lưỡi – răng

Hình 4. Ảnh phổ của phụ âm [tʰ] trong từ tha, [t] trong từ ta

     VOT của phụ âm [tʰ] luôn dài hơn vot của phụ âm [t]. Âm tắc vô thanh bật hơi (âm tʰ) có VOT (positive) lớn hơn âm tắc, vô thanh, không bật hơi. (Hình 4)

Hình 5. Ảnh phổ của phụ âm [t] trong từ ta, phụ âm [d] trong từ đa

     VOT của phụ âm [d] tuy lớn hơn vot của phụ âm [t], nhưng đó là vot âm (negative) (Hình 5). Tất cả các phụ hữu thanh nói chung, không phân biệt phương thức là tắc hay xát, đều có thể dễ dàng xác định nhờ voice bar trên ảnh phổ.

     Tắc đầu lưỡi – ngạc     /ʈ/

Hình 6. Ảnh phổ của phụ âm [ʈ] trong từ tra

     Tần số âm quặt lưỡi khoảng 3000 Hz thấp hơn âm đầu lưỡi răng (4000 Hz). F2 và F3 của âm quặt lưỡi thường nhập lại thành một. (Hình 6)

     Tắc mặt lưỡi

Hình 7. Ảnh phổ của phụ âm [c] trong từ cha

     Trong ảnh phổ trên (Hình 7), quỹ tích F1 của phụ âm [c] thấp hơn F1 của của nguyên âm nhưng quỹ tích F2, F3 lại cao hơn F2, F3 của nguyên âm [a].

     Tắc gốc lưỡi

Hình 8. Ảnh phổ của phụ âm [k] trong từ ca

     So sánh F2 và F3 của phụ âm [k] với phụ âm [c], chúng ta dễ dàng nhận ra sự khác biệt ở sự hội tụ hoặc phân tán formant. F2 và F3 của phụ âm [k] rất gần nhau trong khi F2 và F3 của phụ âm [c] cách xa.

     Tắc thanh hầu

Hình 9. Ảnh phổ của phụ âm [ʔ] trong từ a

     Bảng 2. Bảng tần số burst (xung) và tần số locus (quỹ tích) của các phụ âm đầu trong tiếng Việt

Môi răng

Đầu lưỡi răng

Đầu lưỡi ngạc

Mặt lưỡi

Cuối lưỡi

Thanh hầu

b

t

d

ʈ

c

k

ʔ

Burst CentreFrequency

151

511

4075

352

473

416

4446

140

F2 LocusFrequency

1154

1275

1728

1680

1691

2115

1967

1665

F3 LocusFrequency

2472

2659

2719

2643

2650

3094

2178

2464

     Trong bảng 2, tần số burst centre của phụ âm môi sẽ thấp hơn F2 của nguyên âm kế cận. Riêng phụ âm [tʰ] và [k] có tần số burst centre rất cao. Phụ âm tắc thanh hầu luôn có tần số F1 locus cao hơn F1 của nguyên âm.

     Qua khảo sát các phụ âm tắc tiếng Việt trên Praat, chúng tôi rút ra nhận định sau: Phụ âm tắc có khoảng trống trong ảnh phổ. Đối với phụ âm tắc vô thanh sẽ có burst, còn phụ âm tắc hữu thanh sẽ có voice bar.

     3.4 Phụ âm xát

     Nét âm học cốt lõi của phụ âm xát là sự di chuyển xuống dãy tần số thấp khi vị trí cấu âm lùi vào trong (từ môi đến cuối lưỡi). Cường độ của âm môi-răng thấp hơn âm răng. Cường độ của âm đầu lưỡi quặt thấp hơn âm đầu lưỡi bẹt.

     Các tiêu chí dùng để xác định phụ âm xát gồm: tần số của spectral peak và tần số amplitude peak. Chú ý F2 của phụ âm xát hữu thanh.

     Đặc điểm âm học của âm xát:

     – Âm ở phía trước khoang âm có tần số cao. Ngược lại âm ở phía sau khoang âm có tần số thấp.

     – Âm trước khoang âm có dãy sóng rộng hơn.

     – Âm sau khoang âm có nhiều cấu trúc formant.

     Sự dịch chuyển formant F2, F3 có thể dùng để phân biệt âm [f] và âm [θ] (Tabain, 1998)[11]. F2 di chuyển có thể dùng phân biệt âm [s] với âm [ʃ] (Soli, 1981) [26].

     Các phụ âm xát của tiếng Việt gồm có 9 âm vị:

     /f, v, s, z, ʂ, ʐ, χ, ɣ, h, l/

     Âm xát hữu thanh được đánh dấu bằng voice bar. Âm xát vô thanh sẽ không có voice bar. Trên ảnh phổ, âm xát được đánh dấu ở sự dịch chuyển formant.

     Âm /f, v/ có điểm khác với âm /s, z/ nhờ đặc điểm: hạ thấp F2 so với F2 của nguyên âm kế cận. 

     Âm /s/ có tần số vào khoảng trên 5 kHz, còn âm /z/ có tần số 6 kHz.

     Bảng 3. Tương ứng vị trí và đặc trưng âm học của phụ âm xát

h χ, ɣ ʂ, ʐ, s, z, f, v Vị trí cấu âm Thanh hầu Ngạc mềm Đầu lưỡi ngạc Đầu lưỡi răng Môi răng Hình dạng burst Rãnh dọc Rãnh ngang Rãnh dọc Rãnh ngang Rãnh dọc Cản trở Răng trên Tần số Giống với nguyên âm 1,5-7 kHz 2-8 kHz 4 kHz -9 kHz 2kHz-8kHz

     Bảng 4. Tần số và cường độ của phụ âm xát

Âm xát Peak frequency (Hz) Amplitude of peak frequency (dB) f 111 7v23931s 9084 11z196 30 ʂ 3908 32 ʐ 9018 x 1575 7 ɣ 9025 h 13220

     Dựa vào bảng trên (bảng 4), ta thấy âm xát [s] có tần số peak cao nhất nhưng không phải là âm lớn nhất. Âm [ʂ] có cường độ cao nhất nên phát âm lớn nhất. Hai âm xát [ʐ], [ɣ] có tần số peak thấp nhất. 

     Xát môi

Hình 10. Ảnh phổ của phụ âm [f] trong từ pha, [v] trong từ va

     Trong hình trên (Hình 10), so sánh phổ của /f/ và /v/, chúng ta dễ dàng nhận ra voice bar (vệt màu đen ở chân ảnh phổ) của âm /v/ và vệt phổ có tần số lớn hơn 2 kHz của âm /f/. Tất cả các phụ âm xát sẽ có sự xuất hiện của vệt phổ, không phải formant. Phụ âm xát, vô thanh đối lập với phụ âm xát hữu thanh vì không có voice bar.

     Xát đầu lưỡi – răng

Hình 11. Ảnh phổ của phụ â [s] trong từ xa, [z] trong từ từ gia.

     Phụ âm /s/ và /z/ có cùng vị trí cấu âm nhưng khác nhau về phương thức dẫn đến có đặc điểm ảnh phổ khác nhau. Phụ âm /z/ có các tiền formant và sự dịch chuyển formant. Tần số F1 và F2 của phụ âm /z/ thấp hơn tần số F1 và F2 của nguyên âm /a/.

     Xát đầu lưỡi – ngạc

Hình 12. Ảnh phổ của phụ âm [ʂ] trong từ sa, [ʐ] trong từ ra.

     Quan sát kỹ, chúng ta sẽ thấy phổ của phụ âm /ʂ/ tập trung (vệt đậm) ở mức 4 kHz, còn phổ của phụ âm /s/ tập trung ở mức 8 kHz. Chiều hướng tập trung năng lượng sẽ giảm dần theo vị trí cấu âm từ môi đến thanh hầu.

     Xát gốc lưỡi

Hình 13. Ảnh phổ của phụ âm [χ] trong từ kha, [ɣ] trong từ ga.

     Phụ âm /χ/ có điểm gần giống với phụ âm bật hơi, kèm thêm nét tiền formant khá nhạt. Đối với âm /ɣ/ thì tiền formant hiện rõ hơn (Hình 13)

     Xát thanh hầu

Hình 14. Ảnh phổ của phụ âm [h] trong từ ha

     Âm [h] có vệt phổ rất yếu (Hình 14).

     Bảng 5. Tương ứng vị trí cấu âm với một số thông số của phụ âm xát

Môi răng

Đầu lưỡi răng

Đầu lưỡi ngạc

Cuối lưỡi

Thanh hầu

f

v

s

z

ʂ

ʐ

χ

ɣ

h

Cường độ (dB)

56

65

47

67

60

55

55

58

54

Centre ofgravity (Hz)

93

164

902

181

2004

292

404

157

346

Dispersion (Hz)

329

181

2393

162

1864

761

1131

139

855

Trường độ

0,055

0,105

0,102

0,195

0,182

0,082

0,209

0,145

0,082

     Bảng 5 cho kết quả về sự tập trung (Centre of gravity) và độ lệch chuẩn (Dispersion) của phổ phụ âm xát. Phổ hình có tỉ lệ Dispersion đối với Centre of gravity lớn thì đó là phổ loãng, ngược lại là phổ đặc. Ví dụ như: phổ hình của âm /f/ là phổ loãng, phổ hình của âm /ʂ/ là phổ đặc. Các phụ âm xát, vô thanh thường có phổ loãng, trừ phụ âm [ʂ]. Hầu hết các phụ âm xát, hữu thanh có phổ đặc, trừ phụ âm [ʐ].

     Điểm nổi bật nhất của phụ âm xát ở việc xuất hiện với tần số cao và tuỳ thuộc vào vị trí cấu âm.

     3.5 Phụ âm mũi

     Điểm bắt đầu và kết thúc của âm mũi có thể dễ dàng nhận ra bởi ảnh phổ gián đoạn đột ngột, điều này lệ thuộc vào sự kết hợp hạ thấp hay nâng cao ngạc mềm và đóng hoặc mở khoang miệng ở điểm khởi đầu hoặc kết thúc của âm mũi (Stevens, 1985, 2002) [19, 20]. Trong tiếng Anh và nhiều ngôn ngữ, sự gián đoạn đột ngột này đánh dấu phụ âm đầu mũi hơn là phụ âm cuối mũi (e.g., Repp & Svastikula, 1988; Redford and Diehl, 1999) [22, 23].

     Phụ âm mũi gồm thanh âm (voice bar) và các anti-formant (formant có màu nhạt hơn formant nguyên âm). Phụ âm mũi cũng được thể hiện qua dải sóng âm tuần hoàn.Vị trí của âm mũi được xác định nhờ các formant và sóng âm của nguyên âm lân cận. Trong Praat, chúng ta có thể xác định được ranh giới của phụ âm mũi bằng cách kiểm tra đoạn tiếp nối giữa sóng âm của âm mũi với sóng âm của phụ âm như sau:

Hình 15. Đồ thị sóng âm của âm mũi [m]

     Trong hình trên (Hình 15), vị trí diễn ra sự thay đổi chu kỳ dao động sóng âm chính là ranh giới của phụ âm mũi /m/ với nguyên âm /a/. Các âm mũi /m, n, ɲ, ŋ/ có formant tương tự formant các nguyên âm. 

     Các formant âm mũi nhạt hơn của nguyên âm và được gọi là tiền formant (anti- formant). Trên ảnh phổ, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra sự đứt quãng giữa formant của âm mũi và các formant của nguyên âm lân cận. Toàn bộ biên độ của âm mũi đều thấp và năng lượng tập trung chủ yếu ở dãy tần số thấp. Phụ âm mũi giống với phụ âm tắc ở sự dịch chuyển formant.

Hình 16. Ảnh phổ của phụ âm mũi [m], [n] trong từ ma, na

     Ảnh phổ chuyển hoá phụ âm [m] cho thấy F1 và F2 đều hạ thấp, còn sự chuyển hoá formant của âm [n] cho thấy F1 cần bằngtrong khi F2 hạ thấp (Hình 16). Điểm chung của cặp âm môi [m, n] là hướng của F2 đi xuống.

Hình 17. Ảnh phổ của phụ âm [ɲ] trong từ nha, [ŋ] trong từ nga

     Cặp âm mũi [ɲ, ŋ] có điểm chùng là F2 đều hướng lên (Hình 17). Tuy vậy, vẫn có sự khác biệt ở F3. Đối với âm [ɲ], F3 hướng lên, còn âm [ŋ] có F3 hạ thấp. F3 được biết đến như một đường formant tiêu biểu cho nét tròn môi của nguyên âm.

     Xét ở sự chuyển hoá formant phụ âm, khi phần cuối lưỡi nâng lên để tạo âm mũi có vị trí cấu âm cuối lưỡi thì F3 buộc phải hạ thấp. Có thể nói, vị trí cấu âm của phụ âm mũi càng lùi vào trong thì chỉ số F2 của formant chuyển hoá càng tăng cao.

     Bảng 6. Liệt kê F1 và các tiền formant của phụ âm mũi

[m] [n] [ɲ] [ŋ] F1 440 429 294301 Tiền formant A1 A2 A3 23410702334 24414862566 30121143041 1869332496

     Trong bảng trên (bảng 6), A1 là tiền formant của F1, A2 là tiền formant của F2 và A3 là tiền formant của F3. Qua bảng thống kê trên, các tiền formant của âm mũi [m, n, ɲ] sẽ tăng dần theo vị trí cấu âm từ môi đến mặt lưỡi. Ngược lại, âm cuối lưỡi [ŋ] có chỉ số các tiền formant thấp đồng loạt A2 và A3 tăng cao ở phụ âm [ɲ] và thấp nhất ở phụ âm [m].

     3.6 Phụ âm bên

     Bảng 7. So sánh chỉ số âm học của phụ âm bên [l] với nguyên âm [a].

Formants 1a F1 F2F3 364 1512 2512 775 1683 2505

     Trong bảng 7, các formant F1 và F2 của phụ âm [l] đều thấp hơn formant F1, F2 của nguyên âm [a]. Tuy vậy, formant F3 của âm [l] lại xấp xỉ với nguyên âm [a].

Hình 18. Ảnh phổ của phụ âm [l] trong từ la

     Sau khi khảo sát đặc điểm âm học của phụ âm [l] khi đứng trước các nguyên âm khác (Hình 18), chúng tôi có nhận định, F1 của [l] khoảng 200 – 400 Hz, F1 hướng lên trước hầu hết các nguyên âm ngoại trừ nguyên âm hàng trước [i]. F2 khoảng từ 800 đến 2400 Hz, thấp nhất khi đứng trước nguyên âm hàng sau tròn môi [u]. F3 từ 2600 Hz đến 3200 Hz. Cường độ phụ âm [l] cao hơn so với các phụ âm khác từ 66 dB đến 75 dB.

4. KẾT LUẬN

     Các cứ liệu âm học về phụ âm giúp chúng ta có cái nhìn khoa học và cụ thể về các âm thanh phụ âm tiếng Việt. Tuỳ vào phương thức và vị trí cấu âm mà phần mềm Praat sẽ có các thông số và cách đo đạc hợp lí. Các phụ âm hữu thanh sẽ có voice bar còn phụ âm vô thanh thì không có voice bar. Phụ âm xát luôn có tần số cao hơn phụ âm tắc. Dựa vào hình dạng ảnh phổ của một phụ âm, chúng ta có thể xác định được vị trí cấu âm của phụ âm đó. Nét âm học của phụ âm mũi và phụ âm bên gần giống với nét âm học của nguyên âm bởi vì khi cấu tạo các phụ âm này, dây thanh rung nhiều hơn.

     Bên trên là những ghi nhận ban đầu về đặc trưng âm học của phụ âm đầu trong tiếng Việt. Cần thêm nhiều công trình nghiên cứu về âm học để góp phần làm sáng tỏ nét âm học của phụ âm tiếng Việt.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]R.-K. POTTER, G. Kopp, and G. H, Visible Speech. New York: Dover Publications, 1947.

[2]G. Fant, Speech sounds and features. Cambridge, MA: MIT Press, 1973.

[3]I. Lehiste and G. E. Peterson, “Transitions, glides, and diphthongs,” The journal of the acoustical society of America, vol. 33, no. 3, pp. 268-277, 1961.

[4]S. E. G. Öhman, “Coarticulation in VCV utterances: Spectrographicmeasurements,” Journal of the AcousticalSociety of America, vol. 39, pp. 151-168, 1966.

[5]S. Cassidy and J. Harrington, “The place of articulation distinction in voiced oral stops: evidence from burst spectra and formant transitions,” Phonetica, vol. 52, no. 4, pp. 263-284, 1995.

[6]G. Modarresi, H. Sussman, B. Lindblom, and E. Burlingame, “Locus equation encoding of stop place: Revisiting the voicing/VOT issue,” Journal of Phonetics, vol. 33, pp. 101-113, 2005.

[7]H. M. Sussman, D. Fruchter, and A. Cable, “Locus equations derived from compensatory articulation,” The Journal of the Acoustical Society of America, vol. 97, no. 5, pp. 3112-3124, 1995.

[8]H. M. Sussman, K. A. Hoemeke, and F. S. Ahmed, “A cross‐linguistic investigation of locus equations as a phonetic descriptor for place of articulation,” The Journal of the Acoustical Society of America, vol. 94, no. 3, pp. 1256-1268, 1993.

[9]K. Forrest, G. Weismer, P. Milenkovic, and R. N. Dougall, “Statistical analysis of word-initial voiceless obstruents: Preliminary data,” Journal of the Acoustical Society of America, vol. 84, pp. 115-124, 1988.

[10] A. R. Jongman, S. Wayland, and S. Wong, “Acoustic characteristics of English fricatives,” Journal of the Acoustical Society of America, vol. 108, pp. 1252-1263, 2000.

[11] M. Tabain, “Variability in fricative production and spectra: Implications for the hyper-and hypo-and quantal theories of speech production,” Language speech, vol. 44, no. 1, pp. 57-93, 2001.

[12] G. Fant, “Acoustic theory of speech production,” ed: The Hague Mouton, 1960.

[13] K. N. Stevens, Acoustic Phonetics. Cambridge, MA: MIT Press, 1998.

[14] E. Fischer-Jørgensen, “Acoustic analysis of stop consonants,” Miscellanea Phonetica, vol. 2, pp. 42-59, 1954.

[15] R. Smits, L. T. Bosch, and R. Collier, “Evaluation of various sets of acoustic cues for the perception of prevocalic stop consonants, I: Perception experiment,” The Journal of the Acoustical Society of America, vol. 100, no. 6, pp. 3852-3864, 1996a.

[16] S. E. Blumstein and K. N. Stevens, “Acoustic invariance in speech production: Evidence from measurements of the spectral characteristics of stop consonants,” The Journal of the Acoustical Society of America, vol. 66, no. 4, pp. 1001-1017, 1979.

[17] S. E. Blumstein and K. N. Stevens, “Perceptual invariance and onset spectra for stop consonants in different vowel environments,” The Journal of the Acoustical Society of America, vol. 67, no. 2, pp. 648-662, 1980.

[18]J. L. Flanagan, Speech synthesis, analysis and perception. New York: Springer-Verlag, 1972.

[19] K. N. Stevens, “Evidence for the role of acoustic boundaries in the perception of speech sounds,” in Phonetic Linguistics, V. A. Fromkin, Ed. New York: AcademicPress, 1985, pp. 243-255.

[20] K. N. Stevens, “Toward a model for lexical access based on acoustic landmarks and distinctive features,” The Journal of the Acoustical Society of America, vol. 111, no. 4, pp. 1872-1891, 2002.

[21]J. Hajek, Universals of Sound Change in Nasalization. Oxford: Blackwell, 1997.

[22] M. Redford and R. Diehl, “The relative perceptual distinctiveness of initial and final consonants in CVC syllables,” Journal of the Acoustical Society of America, vol. 106, pp. 1555-1565, 1999.

[23] B. H. Repp and K. Svastikula, “Perception of the [m]–[n] distinction in VC syllables,” Journal of the Acoustical Society of America, vol. 83, pp. 237-247, 1988.

[24] P. Boersma and D. Weenink, “Praat: doing phonetics by computer (Version 5.3. 23) http://www. praat. org,” ed: Accessed, 2012.

[25] L. Lisker and A. S. Abramson, “A cross-language study of voicing in initial stops: Acoustical measurements,” Word, vol. 20, no. 3, pp. 384-422, 1964.

[26] S. D. Soli, “Second formants in fricatives: Acoustic consequences of fricative‐vowel coarticulation,” The Journal of the Acoustical Society of America, vol. 70, no. 4, pp. 976-984, 1981.

[27] D. Kewley-Port, “Measurement of formant transitions in naturally produced stop consonant-vowel syllables”, Journal of the Acoustical Society of America, vol. 72, no. 2,pp. 379-389, 1982.

[28] H. M. Sussman, “Thephonological reality of locus equations across manner class distinctions: Preliminary observations”, Phonetica, vol. 51, pp. 119–31, 1994.

Tài liệu từ website:

[29]Cox’s acoustics website: http://clas.mq.edu.au/speech/acoustics/consonants/approxweb.html

[30]Prof Stonham’s lecture notes:http://stonham.dyndns.org/phonetics/handouts/eng_obs_hndt.pdf

[31] http://en.wikipedia.org/wiki/Voice_onset_time

[32] ww.ling.ohio-state.edu/~swinters/371/VOTdifferences.pdf

[33]http://www.lel.ed.ac.uk/~jkirby/hanoi/slides/lecture15-hanoi-4up.pdf

[34] http://home.cc.umanitoba.ca/~krussll/phonetics/acoustic/spectrogram-sounds.html

[35]http://ec-concord.ied.edu.hk/phonetics_and_phonology/wordpress/learning_website/chapter_3_consonants_new.htm

[36] http://www.phon.ox.ac.uk/jcoleman/consonant_acoustics.htm

[37] http://www.cog.jhu.edu/courses/325-f2004/ladefoged/course/chapter8/figure8.html.

xx x

Acoustic properties of Vietnamese initial consonants

Nguyen Tran Quy(University of Social Sciences and Humanities, VNU-HCM, Viet Nam)

ABSTRACT

     In acoustic phonetic research, phonetic data is needed to prove authenticity. The acoustic phonetic analysis method is valid for verifying previous phonetic hypotheses. Thereby, lay the foundations of science to reinforce the notion of phonetic or phonetic study. The formant frequencies F1, F2, F3 are considered as the basis for measuring vowels. According to consonants, the length of VOT, formant transitions, antiformants, and locus frequencies will be noted. In this article, we present the basis to measure Vietnamese initial consonants such as: voiced consonants, voiceless consonants, stop consonants, fricative consonants, nasal consonants. The voiced consonants will have a voice bar and voiceless consonants will have no voice bar. Fricative consonants always have higher frequencies than stop consonants. Based on the spectral image of a consonant, we can determine the articulation of consonants. The acoustic properties of the nasal consonant and lateral consonant are nearly identical to the acoustic properties of the vowels, because in the construction of these consonants, the vocal cords are more vibrating.

     Index Terms: voice onset time (VOT), formant transition, burst, anti-formant, locus frequency, spectrogram, silence, length.

Nguồn: Tạp chí Phát Triển Khoa Học & Công Nghệ: 75 chuyên san Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, tập 1, số 4, 2017

Ảnh đại diện: Ban Tu Thư chúng tôi thiết lập.Ảnh chỉ mang tính chất tô điểm. Tone màu ảnh: NocturnalBan Tu Thư (https://vietnamhoc.net)

(Visited 1.058 times, 1 visits today)

Âm Vị Và Các Hệ Thống Âm Vị Tiếng Việt

1. Âm vị

Âm vị là đơn vị tối thiểu của hệ thống ngữ âm của một ngôn ngữ dùng để cấu tạo và phân biệt vỏ âm thanh của các đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ.

Âm vị còn có thể được coi là một chùm hoặc một tổng thể đặc trưng các nét khu biệt được thể hiện đồng thời.

Chi tiết…

2. Phân biệt âm tố với âm vị. Biến thể của âm vị

Âm vị là một đơn vị trừu tượng còn âm tố là một đơn vị cụ thể. Âm vị được thể hiện ra bằng các âm tố và âm tố là sự thể hiện của âm vị.

Những âm tố cùng thể hiện một âm vị được gọi là các biến thể của âm vị.

3. Các hệ thống âm vị của tiếng Việt

3.1. Hệ thống âm đầu

Tiếng Việt có 22 phụ âm đầu, bao gồm:

/b, m, f, v, t, t’, d, n, z, ʐ, s, ş, c, ʈ, ɲ, l, k, χ, ŋ, ɣ, h, ʔ/

Bảng hệ thống âm đầu tiếng Việt

3.2. Hệ thống âm đệm

Âm đệm /w/ có chức năng làm trầm hoá âm sắc của âm tiết.

3.3. Hệ thống âm chính

Tiếng Việt có 13 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi làm âm chính:

/i, e, ε, ɤ, ɤˇ, a, ɯ, ă, u, o, ɔ, ɔˇ, εˇ, ie, ɯɤ, uo/

Bảng hệ thống nguyên âm tiếng Việt

3.4. Hệ thống âm cuối

Ngoài âm cuối /rezo/, tiếng Việt còn có 8 âm cuối có nội dung tích cực, trong đó có 6 phụ âm /m, n, ŋ, p, t, k/ và hai bán nguyên âm /-w, -j/.

Bảng hệ thống âm cuối tiếng Việt

3.5. Hệ thống thanh điệu

Tiếng Việt có 6 thanh điệu.

Quy luật hình thành thanh điệu tiếng Việt

Sơ đồ về nguồn gốc các thanh trong tiếng Việt

Đầu công nguyên (không thanh) Thế kỉ thứ VI (ba thanh) Thế kỉ XII (sáu thanh) Ngày nay

pa pa pa ba

sla, hla hla la la

ba ba pà bà

la la là là

pas, pah pà pả bả

slas, hlah hlà lả lả

bas, bah bà pã bã

las, lah là lã lã

pax, pa? pá pá bá

slax, ba? hlá lá lá

bax, ba? bá pạ bạ

lax, la? lá lạ lạ

Âm Nhạc Là Gì? Tác Dụng Của Âm Nhạc Trong Cuộc Sống

Âm nhạc là thần dược của tâm hồn và sức khỏe của con người. Ảnh: TEDSAIGON

Đó là một bộ môn nghệ thuật dùng chất giọng, âm thanh để diễn đạt các cung bậc cảm xúc, tình cảm của con người. Âm nhạc gồm hai thể loại chính là thanh nhạc và khí nhạc.

Thanh nhạc: Âm nhạc dựa trên lời bài hát để diễn tả, thể hiện ý tưởng, cảm xúc, tâm tư tình cảm.

Khí nhạc: Âm nhạc dựa trên các âm thanh thuần túy của những loại nhạc cụ. Vì thế, thanh nhạc khá trừu tượng, gây cảm xúc và sự liên tưởng cho thính giả.

Ký hiệu âm nhạc: Đó là toàn bộ các dấu hiệu cũng như chữ viết được sử dụng để ghi lại âm thanh với những đặc tính của chúng.

Môn học ký âm chính là ghi lại âm thanh bằng những ký hiệu âm nhạc trên trang giấy. Ngược lại, môn học xướng âm là đọc lên các ký hiệu âm nhạc đã được ký âm đúng cao độ, trường độ.

Có nhiều ký hiệu âm nhạc và khóa nhạc để quy định cao độ, cường độ và trường độ cho bản nhạc. Khóa nhạc có nhiều khóa khác nhau nhưng phổ biến nhất là khóa sol. Đôi khi cần thiết thì người ta dịch một bản nhạc ngôn ngữ khóa sol sang các khóa nhạc khác hoặc ngược lại.

Âm nhạc đem lại cho con người các cảm xúc về thẩm mỹ và sự tinh tế . Ảnh: TEDSAIGON

Tác dụng của âm nhạc trong cuộc sống Giải trí, sự hình thành, phát triển của con người

Hiện nay âm nhạc là một trong những nguồn giải trí tối ưu và không thể thiếu của con người. Đặc biệt, âm nhạc còn có thể tác động lớn đến quá trình hình thành phát triển của con người.

Chính vì thế, lời khuyên được đưa ra: Phụ nữ mang thai nên cho bé nghe nhạc ngay từ trong bụng mẹ để bé hình thành và phát triển tư duy tốt hơn.

Phương diện hiệu quả để giáo dục con người phát triển toàn diện

Âm nhạc có tác dụng phản ánh trí tuệ, tư tưởng, cũng như tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến cảm xúc của con người.

Nó làm rung động tình cảm lắng đọng trong tâm hồn.

Chắp cánh cho sức tưởng tượng được bay bổng.

Giúp mọi người nhận thức, yêu đời và yêu cuộc sống hơn.

Đem lại cho con người các cảm xúc về thẩm mỹ và sự tinh tế.

Là nguồn hạnh phúc cho tất cả mọi người

Nếu không có âm nhạc, thế giới sẽ rất buồn tẻ. Âm nhạc có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với hạnh phúc của con người. Nó giúp xua tan nỗi đau khổ, mang lại niềm vui sướng, sự tươi trẻ, tràn đầy sức sống. Thưởng thức những ca khúc yêu thích giúp con người thư thái và có rất nhiều trải nghiệm thú vị.

Tăng cường trí nhớ, hiệu quả học tập và làm việc

Chơi piano giúp tăng khả năng tư duy và ghi nhớ. Ảnh: TEDSAIGON

Lựa chọn những bản nhạc phù hợp như nhạc piano không lời, nhạc cổ điển, nhạc Baroque… giúp con người tập trung, tăng khả năng ghi nhớ, thậm chí tăng IQ… Nhờ vậy mà, chúng ta có thể tập trung ghi nhớ tốt hơn trong học tập và làm việc.

“Âm nhạc là tiếng vọng của cảm xúc”

Con người không thể nghe, nhìn, ngửi, chạm, nếm được cảm xúc mà chỉ có thể cảm nhận. Đôi khi, chúng ta yêu thích một ca khúc nào đó không chỉ vì giai điệu, ca từ mà còn bởi cảm giác mà bài hát đó mang lại. Chúng ta có thể chìm đắm vào bài hát như kể lại câu chuyện cuộc đời mà ta đã từng trải qua và tưởng chừng như đã lãng quên.

Hòa mình trong những giai điệu, ca từ của bản nhạc cũng sẽ giúp xoa dịu được những nỗi thống khổ của mình trong cuộc sống. Đây chính là phương diện truyền tải cảm xúc trọn vẹn và tuyệt vời nhất. Âm nhạc giúp chúng ta cảm nhận được từng ngõ ngách sâu thẳm nhất trong tâm hồn.

Có tác dụng tốt đối với sức khỏe

Âm nhạc không chỉ giải trí, tác động vào cảm xúc mà còn rất tốt đối với sức khỏe. Nghiên cứu của các nhà khoa học, âm nhạc là thần dược của tâm hồn và sức khỏe của con người. Các bản nhạc có tiết tấu nhanh như disco, chachacha, pop… giúp chúng ta tỉnh táo, năng động và nhạy bén hơn. Những bản nhạc không lời, piano, Baroque … còn giúp giảm mệt mỏi, căng thẳng trong cuộc sống. Đây chính là nguyên nhân khiến con người có nguy cơ cao bị mắc cách bệnh về tim mạch, huyết áp.

Nêu Đặc Điểm Cấu Tạo Hóa Học Của Adn

ADN được biết đến là một đại phân tử hữu cơ có cấu tạo theo nguyên tắc đa phân, với các đơn phân bao gồm các nucleotit. Phân tử ADN thường hai chuỗi polinucleotit được liên kết với với nhau theo nguyên tắc bổ sung. Bên cạnh đó, ADN còn có chức năng là bảo quản, mang và truyền đạt thông tin di truyền. Vậy nên, trong bài viết này, chúng tôi sẽ nêu đặc điểm cấu tạo hóa học của ADN để mọi người có thể hiểu rõ hơn về phân tử này.

Một số đặc điểm cấu tạo hóa học của ADN

Như đã đề cập ở trên, ADN là một đại phân tử được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân với các đơn phân là nucleotit. Trong mỗi nucleotit cấu tạo sẽ gồm có 3 thành phần :

– Một gốc axit photphoric là H3PO4H3PO4

– Một gốc bazơ nitơ gồm có T, A, G, X

– Một gốc đường đêoxiribôzơ là C5H10O4C5H10O4

Vì các loại nucleotit chỉ khác nhau ở mỗi bazo nito nên các chuyên gia đặt tên các loại nucleotit theo tên của bazo nito.

Do nằm liền nhau nên liên kết với nhau bằng liên kết hóa trị, từ đó tạo nên chuỗi polinucleotit.

Liên kết hóa trị là liên kết giữa gốc axit photphoric (H3PO4H3PO4) với gốc của nucleotit khác đường đêoxiribôzơ (C5H10O4C5H10O4).

*** Tìm hiểu qua về cấu trúc không gian của phân tử ADN

Vì mỗi phân tử ADN sẽ gồm có hai chuỗi polinucleotit ở song song ngược chiều nhau ( chẳng hạn như chiều 5’→→3′ và 3’→→5′) . Các nucleotit của hai mạch sẽ liên kết với nhau theo nguyên tắc bổ sung.

– A – T thực hiện liên kết với nhau bằng 2 liên kết H

– G – X thực hiện liên kết với nhau bằng 3 liên kết H

Từ kết quả của nguyên tắc bổ sung thì chúng ta có thể suy ra được thành phần của nucleotit và số lượng nucleotit ở mạch còn lại.

– Đường kính của vòng xoắn được tính là 20 A0

– Khoảng cách giữa hai cặp bazo đo được là 3,4A0

– Một chu kì vòng xoắn có thể có 10 cặp nucleotit ( 20 nucleotit)

Nắm giữ chức năng truyền đạt, lưu giữ và bảo quản thông tin di truyền giữa các thế hệ với nhau.

Bốn loại nuclêôtit trên thường liên kết với nhau theo chiều dọc, và tuỳ theo số lượng của chúng mà có thể xác định chiều dài ADN. Đồng thời, chúng còn có thể sắp xếp theo nhiều kiểu khác nhau nhằm tạo ra được vô số loại phân tử ADN khác nhau. Các phân tử ADN phân biệt với nhau không chỉ bởi trình tự sắp xếp mà còn cả về số lượng và thành phần các nuclêôtit.

Tính đặc thù và tính đa dạng của ADN là cơ sở cho tính đa dạng cũng như tính đặc thù của các loài sinh vật. ADN trong tế bào chủ yếu tập trung trong nhân và thường có khối lượng ổn định, mang tính đặc trưng cho mỗi loài.

Bạn đang xem bài viết Đặc Điểm Âm Học Của Phụ Âm Đầu Trong Tiếng Việt trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!