Xem Nhiều 1/2023 #️ Đảm Bảo An Toàn Nợ Công: Kiểm Soát Chặt Các Chỉ Tiêu # Top 5 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Đảm Bảo An Toàn Nợ Công: Kiểm Soát Chặt Các Chỉ Tiêu # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Đảm Bảo An Toàn Nợ Công: Kiểm Soát Chặt Các Chỉ Tiêu mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thâm hụt ngân sách Nhà nước vẫn ở mức cao, nhu cầu đầu tư từ nguồn vốn vay công cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế ngày càng gia tăng là nguyên nhân chính dẫn đến nợ công tăng nhanh, dần tiến sát ngưỡng an toàn.

Tuy nhiên, Chính phủ, Bộ Tài chính đã có nhiều giải pháp quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững.

Theo ông Võ Hữu Hiển, Phó Cục trưởng Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính), quy định của Luật Quản lý nợ công cũng như thông lệ quốc tế, sự an toàn của nợ công được đánh giá dựa trên một số chỉ tiêu cụ thể; trong đó quan trọng nhất là quy mô nợ công/GDP và khả năng trả nợ.

Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng, do ngân sách yêu cầu lớn, Việt Nam vẫn phải bội chi và nợ công, nhưng tốc độ tăng vay đã giảm hơn một nửa. Cụ thể, giai đoạn 2016-2019 tốc độ tăng nợ công chỉ ở mức hơn 8%, trong khi giai đoạn 2011-2015 là 18,6% cao gấp 3 lần so với tăng trưởng kinh tế.

Do đó, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết, tỷ lệ nợ công so với GDP các năm qua đều đạt kế hoạch và giảm rất sâu. Năm 2016, tỷ lệ nợ công là 63,3% GDP, nhưng đến năm 2019 dự kiến là 56,1% GDP và năm 2020 ước chỉ còn khoảng 54,3% GDP.

Đặc biệt, cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, thời gian qua ngành tài chính đã nỗ lực trong cơ cấu lại nợ công. Nợ công chủ yếu là trái phiếu Chính phủ vay trong nước, giai đoạn trước vay nước ngoài chiếm hơn 60%/GDP, nhưng nay chỉ còn 39%/GDP và vay trong nước là 61%/GDP. Kỳ hạn vay giai đoạn 2012-2013 bình quân trên 3 năm (vay trong nước), đến giai đoạn hiện nay đã kéo dài trên 13 năm.

“Trong đó lãi suất vay đã giảm sâu. Nếu như những năm 2011-2013 có những khoản vay lãi suất từ 12-13%/năm, kỳ hạn vay 3 năm thì đến năm 2017-2019 vay bình quân đã lên đến 12-13 năm, nhưng lãi phải trả là 4,6-4,7%/năm. Đây là kết quả rất tốt,” Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng khẳng định.

Bộ Tài chính cũng dự kiến đến cuối năm 2019 các chỉ tiêu nợ so với GDP duy trì trong các ngưỡng an toàn được Quốc hội cho phép và tiếp tục có xu hướng giảm như năm 2018. Điều này căn cứ trên tình hình cân đối ngân sách Nhà nước diễn biến thuận lợi, qua đó giảm nhu cầu huy động vốn của Chính phủ để bù đắp bội chi cho đầu tư phát triển, siết chặt bảo lãnh Chính phủ cho doanh nghiệp vay và mức bảo lãnh phát hành cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam thấp hơn nợ gốc đến hạn, dẫn đến dư nợ bảo lãnh Chính phủ tiếp tục giảm trong năm 2019…

Song theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, mặc dù tỷ lệ nợ công so với GDP đã có xu hướng giảm, nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, còn một số vấn đề thực tế đặt ra có tác động đến sự an toàn của nợ công tại Việt Nam. Trường hợp giải ngân vốn vay theo đúng kế hoạch thì nợ công có thể tăng thêm từ 1,7-1,8% GDP.

Bên cạnh đó, việc xử lý tài chính một số doanh nghiệp nhà nước, cam kết bảo lãnh của Chính phủ đối với một số dự án quan trọng như nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, Vinashin… sẽ tác động không nhỏ đến ngân sách, nợ công.

Ngoài ra, nghĩa vụ trả nợ của ngân sách đang ngày càng tăng làm gia tăng áp lực trả nợ trong thời gian tới.

Theo ông Võ Hữu Hiển, nhiều khoản vay trong nước cơ bản sẽ đến hạn sau 5 năm vay, tức là các năm 2020-2021 tới đây. Một số khoản vay ODA, kể cả có lãi và không lãi cũng đến hạn phải trả nợ gốc vào năm 2020…

Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại, lũy kế 9 tháng năm 2019, tổng trả nợ của Chính phủ khoảng 237.470 tỷ đồng, bằng 71,3% kế hoạch năm; trong đó trả nợ trong nước khoảng 196.281 tỷ đồng, trả nợ nước ngoài khoảng 41.189 tỷ đồng.

Tuy nhiên, đánh giá về tình hình trả nợ của Chính phủ, Bộ Tài chính cho biết, việc thực hiện nghĩa vụ trả các khoản trả gốc, lãi của Chính phủ nằm trong mức đã được phê duyệt, đảm bảo đầy đủ, đúng hạn theo cam kết.

Khẳng định rõ hơn việc này, ông Võ Hữu Hiển thông tin, chỉ tiêu nghĩa vụ trả nợ so với thu ngân sách nhà nước được duy trì ở mức hợp lý. Đến cuối năm 2018 đạt khoảng 15,9%, thấp hơn ngưỡng an toàn được Quốc hội cho phép là mức 25%.

Để đạt được kết quả này, Bộ Tài chính đã chủ động thực hiện linh hoạt hàng loạt các biện pháp tái cơ cấu nợ trái phiếu Chính phủ trong nước và quốc tế trong thời gian qua để giảm đỉnh nợ, không để nghĩa vụ trả nợ tập trung quá nhiều vào một năm, giảm áp lực cân đối nguồn của ngân sách nhà nước.

Bộ Tài chính cũng chủ động phát hành trái phiếu quốc tế mới để mua lại nợ gốc 2 khoản trái phiếu quốc tế đã phát hành trong các năm 2010 và năm 2005, giãn nghĩa vụ trả nợ gốc cho ngân sách khi đến hạn trái phiếu quốc tế vào năm 2015 và 2020.

Theo Bộ Tài chính, việc quản lý nợ công và tái cơ cấu nợ công từ nay đến cuối giai đoạn 2020 và giai đoạn 5 năm tiếp theo cần được tiếp tục triển khai đồng bộ với việc thực hiện các mục tiêu, giải pháp cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh; trong đó, có cơ cấu lại ngân sách nhà nước, đầu tư công, khu vực doanh nghiệp nhà nước, hệ thống các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng.

Bộ sẽ tiếp tục kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu an toàn nợ. Việc nghiên cứu, đề xuất các ngưỡng an toàn nợ cho giai đoạn 5 năm tới cần được đánh giá hết sức thận trọng, không chỉ tập trung vào quy mô nợ so với GDP mà còn phải phù hợp với khả năng chi trả nợ của ngân sách nhà nước, ưu tiên tạo thêm dư địa để bố trí nguồn lực ngân sách cho đầu tư phát triển.

Bộ sẽ thực hiện các giải pháp tháo gỡ vướng mắc trong thủ tục đầu tư công, giao vốn, đấu thầu; điều chỉnh kế hoạch vốn, mua sắm, bố trí vốn đầu tư…, qua đó thúc đẩy đầu tư công, đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn; trong đó có vốn vay.

Bên cạnh đó, Bộ cũng thúc đẩy phát triển thị trường vốn trong nước, thị trường trái phiếu Chính phủ cả về chiều rộng và chiều sâu theo hướng đa dạng hóa công cụ nợ và mở rộng cơ sở nhà đầu tư, ưu tiên phát triển nhà đầu tư dài hạn; đồng thời thu hút sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường vốn, thị trường trái phiếu.

Việc kiểm soát chặt chẽ thực hiện hạn mức nợ nước ngoài theo phương thức tự vay, tự trả của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng, bảo đảm trong hạn mức được phê duyệt, đặc biệt là các khoản nợ ngắn hạn cũng được Bộ Tài chính chú trọng.

TTXVN

Các Giải Pháp Đảm Bảo An Toàn Nợ Công

Để giám sát và quản lý nợ công hiệu quả cần tổ chức thực hiện tốt các nhóm giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nợ công, bao gồm:

Một là, tập trung quản lý chặt chẽ nợ công, nhất là các khoản vay mới (gồm vay của Chính phủ, vay được Chính phủ bảo lãnh và vay của chính quyền địa phương), đảm bảo trong giới hạn cho phép và an toàn tài chính quốc gia; tập trung cho đầu tư phát triển, xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế – xã hội quan trọng, thiết yếu theo quy hoạch. – Khắc phục ngay tình trạng chỉ tập vào huy động vốn vay, mở rộng diện sử dụng, đầu tư dàn trải. Cần chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay theo hướng: rà soát lại các dự án đang triển khai, cơ cấu lại nguồn vốn, loại bỏ dự án không hiệu quả, phân kỳ đầu tư để tập trung vốn cho các dự án cần đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa vào khai thác nhằm phát huy hiệu quả đầu tư.

– Tổ chức thực hiện tốt quy trình của dự án đầu tư, nhất là các khâu chuẩn bị, thẩm định và phê duyệt quy hoạch, kế hoạch, quyết định đầu tư, thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán, dự toán công trình, lựa chọn nhà thầu, quản lý tiến độ và chất lượng công trình; hạn chế tối đa việc điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư bằng nguồn vốn vay để đảm bảo khả năng trả nợ, tính bền vững của dự án và hạn chế sự gia tăng nợ công.

Hai là, tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay, đảm bảo hiệu quả và theo đúng quy định. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình sử dụng vốn vay của các chủ dự án, doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý của các Bộ, ngành, địa phương. Chú trọng hơn nữa công tác thanh tra, kiểm toán việc lập, thẩm định, phê duyệt, phân bổ và sử dụng nguồn vốn vay nợ công, đặc biệt là việc điều chỉnh tổng mức đầu tư, bố trí vốn chủ sở hữu, tình hình sử dụng vốn vay, thu hồi và trả nợ công. Ngoài ra, các đơn vị sử dụng nợ công phải thực hiện báo cáo đúng thời gian quy định về tình hình thực hiện, rút vốn, trả nợ và dư nợ vay; cung cấp số liệu và trao đổi thông tin kịp thời để có kế hoạch phối hợp chặt chẽ trong việc xử lý vướng mắc, kiến nghị giải pháp tăng cường hiệu quả đầu tư.

Ba là, khẩn trương cơ cấu lại nợ công theo hướng tăng nhanh tỷ trọng vay dài hạn với lãi suất thấp. Tiếp tục thực hiện tái cơ cấu nợ công, giảm áp lực trả nợ trong ngắn hạn và chi phí vay vốn. Tập trung triển khai thực hiện các phương án tái cơ cấu nợ chính phủ, các khoản vay lại/bảo lãnh chính phủ đang gặp khó khăn. Nghiên cứu, xây dựng và triển khai các phương án xử lý rủi ro về nợ công, tái cơ cấu nợ Chính phủ, để đảm bảo an toàn về nợ và an ninh tài chính quốc gia. Rà soát các khoản chi ngân sách, nhất là các khoản chi đầu tư, tiền lương, phụ cấp, an sinh xã hội, chương trình mục tiêu quốc gia để loại bỏ trùng lặp nhằm nâng cao hiệu quả chi ngân sách nhà nước; chủ động, ưu tiên bố trí trong cân đối ngân sách nhà nước và phần vượt thu theo dự toán hàng năm để trả nợ; triển khai xây dựng kế hoạch tài chính – ngân sách trung hạn để phân bổ, sử dụng có hiệu quả nguồn lực của ngân sách nhà nước.

Bốn là, kiểm soát chặt chẽ việc bảo đảm trả nợ đối với các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh và thu đủ nợ đối với các khoản vay về cho vay lại.

– Thực hiện điều chỉnh giảm bảo lãnh Chính phủ, thắt chặt điều kiện cấp bảo lãnh, không mở rộng diện, chọn lọc có mục tiêu ưu tiên và tiến tới thu hẹp, chuyển dần sang kênh bảo lãnh của các ngân hàng thương mại theo cơ chế thị trường.

– Tăng cường cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp/nhà đầu tư, giữa Chính phủ và chính quyền địa phương; tăng cơ chế cho vay lại và giảm dần cơ chế ngân sách nhà nước cấp phát, kể cả trường hợp cho vay lại chính quyền địa phương; đẩy mạnh phương thức cho vay lại theo hạn mức tín dụng thông qua các ngân hàng thương mại nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ quan cho vay lại và người vay lại, qua đó các ngân hàng thương mại được chủ động thẩm định, quyết định cho vay và tự chịu rủi ro tín dụng đối với các dự án cụ thể từ nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ.

– Sử dụng nguồn vốn cho vay lại có chọn lọc, tránh dàn trải, tập trung cho các công trình, chương trình, dự án ưu tiên cao; tiếp tục chú trọng vào tiêu chí hiệu quả, quy mô, thời điểm đầu tư phù hợp tiến độ dự án, khả năng huy động vốn và trả nợ của chủ đầu tư.

– Nâng cao trách nhiệm của các chủ dự án vay lại trong quản lý nguồn vốn, sử dụng có hiệu quả tài sản hình thành từ vốn vay; các chủ dự án là các Tập đoàn, Tổng công ty lớn đang có tình trạng đầu tư dàn trải cần sớm thực hiện dứt điểm việc tái cơ cấu tài chính, thoái vốn khỏi các hoạt động ngoài ngành nghề kinh doanh chính, ưu tiên sử dụng nguồn thu hồi từ thoái vốn để xử lý nợ.

Năm là, bố trí từ nguồn ngân sách nhà nước trong giới hạn theo quy định và sử dụng quỹ tích lũy trả nợ để trả nợ đúng hạn.

– Bố trí hợp lý từ nguồn ngân sách nhà nước để trả nợ theo hướng thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách phải đạt yêu cầu của Quốc hội, phấn đấu tăng thu 12%-14%/năm, dành khoảng 20% tổng thu ngân sách nhà nước để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, các khoản vay bù đắp bội chi cơ bản chỉ sử dụng cho đầu tư phát triển và thực hiện quản lý, sử dụng hiệu quả, giải ngân đúng tiến độ, đúng quy định.

– Cơ bản không vay thương mại nước ngoài, lãi suất cao, thời gian ngắn để sử dụng cho cân đối ngân sách nhà nước. Bội chi ngân sách nhà nước giảm dần, trong đó đến năm 2020 giảm xuống 4% GDP (tính cả TPCP). Trong quá trình thực hiện, trường hợp có tăng thu ngân sách, cố gắng ưu tiên bố trí ngân sách để trả nợ nhằm giảm bội chi, qua đó giảm dư nợ Chính phủ, dư nợ công. Nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, bố trí dự toán và điều hành quản lý chi ngân sách chặt chẽ, triệt để tiết kiệm, chống lãng phí, tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính.

– Tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, quyết liệt chống thất thu NSNN để thúc đẩy phục hồi tăng trưởng, tạo nguồn thu ngân sách nhà nước ổn định và bền vững.

Sáu là, rà soát, hoàn thiện thể chế, sửa đổi bổ sung Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Quản lý nợ công, Chiến lược và chương trình quản lý nợ trung hạn trên cơ sở đó xây dựng, triển khai và giám sát nợ công theo các chương trình quản lý nợ trung hạn, có tính đến xu hướng giảm dần huy động vốn ODA, tiến tới tăng vay ưu đãi và vay thương mại nhằm thực hiện tốt các mục tiêu quản lý nợ công, đó là: huy động vốn vay với chi phí và mức độ rủi ro phù hợp, đáp ứng nhu cầu cân đối ngân sách nhà nước và đầu tư phát triển triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ; phân bổ, sử dụng vốn vay phải đúng mục đích, có hiệu quả, đảm bảo khả năng trả nợ; và duy trì các chỉ số nợ công, nợ Chính phủ và nợ nước ngoài của quốc gia ở mức an toàn, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

Cơ Cấu Lại Ngân Sách Nhà Nước Để Đảm Bảo An Toàn Nợ Công

Từng bước kiểm soát tốc độ tăng nợ công

Trả lời chất vấn về nội dung này, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết, trong bối ảnh nợ công tăng cao và áp lực trả nợ lớn đúng như đại biểu Quốc hội nêu thì việc có lộ trình giảm bội chi là cần thiết để đảm bảo an toàn nợ công.

Bộ Tài chính đã tổng kết đánh giá và báo cáo với các cấp có thẩm quyền trình Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 07 về tái cơ cấu NSNN và đảm bảo an toàn nợ công bền vững. Quốc hội đã ra Nghị quyết 25 về kế hoạch tài chính trung hạn 5 năm, giai đoạn 2016 – 2020 và theo đó cũng đã có giới hạn cho các chỉ tiêu về an toàn nợ công. Đó là trần nợ công không quá 65%, nợ Chính phủ không quá 54% và nợ nước ngoài quốc gia không quá 50%.

Về các giải pháp trong thời gian tới, Bộ trưởng cho biết, nguồn vốn vay đầu tư công chỉ tập trung cho các dự án quan trọng, có tác động lan tỏa để từng bước phải kiểm soát tốc độ tăng nợ công.

Cùng với đó, cần xác định rõ mức bội chi NSNN và lộ trình cắt giảm bội chi. “Trong kế hoạch tài chính 3 năm, năm nay chúng ta bội chi 3,5%; năm 2018 là 3,7%; năm 2019 sẽ xuống 3,6% và năm 2020 xuống 3,4%. Kiểm soát được bội chi cực kỳ quan trọng để gia tăng kiểm soát được tốc độ gia tăng nợ công, cũng như kiểm soát trần nợ công, trong đó có giải pháp tiếp tục siết chặt bảo lãnh Chính phủ”- Bộ trưởng cho biết.

Việc giải ngân vốn ODA, vay ưu đãi hiện nay cũng kiên quyết trong giới hạn Quốc hội đã thông qua là 300.000 tỷ đồng cho cả giai đoạn; đảm bảo cân đối bố trí trả nợ đầy đủ và đúng hạn. Đặc biệt, sẽ tăng cường thanh tra, kiểm tra và minh bạch tài chính công, đặc biệt là kiểm soát chặt chẽ đầu tư công; hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về đầu tư, đấu thầu, thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán…

Khẳng định đã có rất nhiều giải pháp để kiểm soát nợ công, Bộ trưởng cho biết, tốc độ nợ tăng nợ công đang chậm lại (đến năm 2016 tăng 15% và năm 2017 là 9%).

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ khẳng định Chính phủ sẽ không nới trần nợ công

Chính phủ sẽ không nới trần nợ công

Bên cạnh phần trả lời chất vấn của Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng, tại phiên họp sáng nay, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ cũng đã báo cáo thêm một số nội dung thuộc về trách nhiệm của Chính phủ trong quản lý nợ công.

Giải trình trước Quốc hội, Phó Thủ tướng cho biết, đến năm 2015, nợ công đã đến sát trần là 65%, dư nợ Chính phủ là trên 53%, vượt trần cho phép. Tỷ lệ chi trả nợ vay là 27,3%, cao hơn mức tiêu chuẩn cho phép của quốc tế là 25%. Trước bối cảnh nợ công đang tăng cao, áp lực trả nợ lớn như vậy, Chính phủ đã xác định giữ an toàn nợ công là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cả giai đoạn 2016 – 2020.

“Chúng ta đang đứng trước nhiệm vụ kép của năm 2016 – 2020 – vừa đảm bảo phát triển nhanh và bền vững, vừa phải tập trung giải quyết những bất cập nội tại của nền kinh tế đã tích tụ nhiều năm và ngày càng bộc lộ rõ. Trong điều kiện dư địa, chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ còn rất chật hẹp, kinh tế thế giới và khu vực còn nhiều khó khăn, đây là vấn đề nan giải của hệ thống chính trị”, Phó Thủ tướng nói.

Theo Phó Thủ tướng, trong bối cảnh đó, câu hỏi đặt ra là vấn đề lựa chọn chính sách như thế nào. Nhiều thành viên Chính phủ, đại biểu Quốc hội và nhiều chuyên gia khuyến cáo Chính phủ nghiên cứu và trình Trung ương và Quốc hội xin nới trần nợ công để có vốn cho đầu tư phát triển và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao khi đất nước còn nghèo và nhu cầu phát triển còn rất lớn, đảm bảo quốc phòng an ninh, an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo.

Tuy nhiên, “Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã tính toán rất kỹ và thấy rằng, trần nợ công chỉ là một yếu tố, quan trọng là trả nợ. Trong khi đó, tổng trả nợ trực tiếp từ ngân sách và phần vay để đảo nợ đã quá 25% so với tổng thu ngân sách hàng năm. Vì vậy, Chính phủ nói không với việc xin tăng trần nợ công”- Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Thay vào đó, Chính phủ và Thủ tướng chỉ đạo Bộ Tài chính chủ trì Đề án cơ cấu lại thu, chi ngân sách, đảm bảo bền vững an toàn nợ công để trình Bộ Chính trị. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 07 ngày 18/11/2016 về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn và bền vững.

Trên cơ sở Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị và các Nghị quyết Trung ương khóa XII, Chính phủ đã ban hành các Nghị quyết về kế hoạch đầu tư công trung hạn, kế hoạch tài chính ngân sách trung hạn nhằm đảm bảo cân đối ngân sách một cách tích cực.

Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết 51 về chương trình hành động để thực hiện các chủ trương lớn. Trong đó, giải pháp đảm bảo an toàn nợ công được xác định đặt trong tổng thể các giải pháp tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đẩy mạnh tăng trưởng, đảm bảo phát triển toàn diện và cân bằng, bền vững.

“Giải pháp tiếp theo là phải thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Nghị quyết 07 Bộ Chính trị đặt ra việc coi tiết kiệm là quốc sách hàng đầu, chỉ chi tiêu trong khả năng của nền kinh tế, chỉ vay trong khả năng trả nợ”, Phó Thủ tướng khẳng định.

Cùng với đó là kết hợp hài hòa các vấn đề quan trọng, cấp bách trước mắt với các vấn đề căn cơ và lâu dài, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính, tăng cường công khai minh bạch và tăng cường trách nhiệm giải trình, nhất là đối với người đứng đầu. Trong vấn đề thu, chi ngân sách, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công, cần hạn chế và tiến tới xóa bỏ tình trạng xin – cho.

Đảm bảo các công cụ chính sách, các chỉ tiêu giám sát nợ công và hoàn thiện bộ máy quản lý nợ công; tập trung cơ cấu lại nợ công theo hướng tăng tỷ trọng nợ trong nước và giảm vay nước ngoài. Vấn đề này còn quan trọng là giảm được rủi ro về mặt tỷ giá; chuyển nợ ngắn hạn thành nợ dài hạn và chuyển nợ lãi suất cao thành nợ lãi suất thấp, giảm nợ Chính phủ bảo lãnh.

Các Biện Pháp Đảm Bảo An Toàn Pccc

Các biện pháp an toàn phòng cháy chữa cháy

Thời gian trước, trong và sau Tết, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, lượng hàng hóa lưu chuyển nhiều, nhu cầu sử dụng điện, xăng, dầu, gas, đốt vàng mã, thắp hương đều tăng cao ; thời tiết, khí hậu hanh khô, rét đậm, rét hại,…Tiềm ẩn nhiều nguy cơ cháy nổ.

Để đảm bảo an toàn phòng cháy chữa cháy (PCCC), hạn chế đến mức thấp nhất vụ cháy và thiệt hại do cháy gây ra, không để xảy ra các vụ cháy gây hậu quả nghiêm trọng, Cảnh sát PC&CC tỉnh Bình Dương khuyến cáo người đứng đầu cơ sở, chủ hộ gia đình và người dân như sau:

1. Không đốt vàng mã trong nhà ở, hành lang, cửa hàng kinh doanh, dịch vụ, trên vỉa hè các tuyến phố, nơi tập trung đông người và phương tiện tham gia giao thông qua lại.

2. Trước khi đốt vàng mã phải chọn nơi kín gió, có các biện pháp che chắn tránh gió cuốn tàn lửa sang xung quanh gây cháy hoặc sử dụng các thùng lư hương hoặc đỉnh bằng vật liệu không cháy để đốt vàng, mã và đặt cách xa hàng hóa dễ cháy ít nhất 2m.

3. Khi đốt vàng mã phải có người trông coi, bố trí bình chữa cháy hoặc xô chứa nước.

4. Đốt xong để nguội hẳn mới đổ tro.

5. Ban thờ phải cách xa vật liệu dễ cháy ít nhất 0,75m, chân đèn, nến, bát hương đặt chắc chắn trên vật liệu không cháy(tấm kính, tấm tôn, gỗ phíp) cách xa các đồ thờ (vàng mã, nến) ít nhất 0,2 m, không để nhiều chân hương trong bát hương.

6. Trước khi ra khỏi nhà, cửa hàng kinh doanh và trước khi đi ngủ, kiểm tra nơi đun nấu, thờ cúng và tắt các thiết bị tiêu thụ điện không cần thiết.

7. Khi xảy ra cháy, nhanh chóng cắt cầu dao điện hoặc aptomat, hô hoán cho mọi người biết, sử dụng các phương tiện chữa cháy (bình chữa cháy, xô, chậu, chăn chiên thấm ướt,…) để chữa cháy và thoát nạn, gọi điện thoại cho lực lượng chữa cháy chuyên nghiệp theo số 114, chính quyền, công an địa phương nơi gần nhất.

1. Từng hộ gia đình, cửa hàng kinh doanh tự kiểm tra an toàn hệ thống điện (đường dây dẫn điện từ hòm công tơ về đến nhà, đường dây điện trong nhà, các thiết bị tiêu thụ điện như: máy điều hòa, lò vi sóng, bình nóng lạnh, quạt, bếp điện, ấm điện, bàn là, nồi cơm điện, ti vi, tủ lạnh, lò sấy,…các thiết bị bảo vệ như aptomat, cầu dao, cầu chì,…); kịp thời thay thế đường dây dẫn điện, thiết bị bảo vệ phích cắm, ổ cắm, các thiết bị tiêu thụ điện không đảm bảo an toàn.

2. Sắp xếp vật tư, phương tiện, hàng hóa trong nhà, trong cửa hàng phải gọn gàng, không cản trở các lối ra vào; không để quần áo, gỗ, giấy, xốp cách nhiệt sát phía trên, dưới hoặc đè lên đường dây điện, các thiết bị bảo vệ và các thiết bị tiêu thụ điện.

3. Không được câu móc điện, không sử dụng giấy bạc hoặc dây kim loại thay thế cầu chì bị đứt, aptomat bị hỏng, không cắm nhiều phích cắm trên 1 ổ cắm. Các mối nối phải chắc, gọn, so le, quấn bằng vật liệu cách điện.

4. Trước khi ra khỏi nhà, cửa hàng phải cắt, tắt các thiết bị tiêu thụ điện không cần thiết.

6. Mỗi hộ gia đình, cửa hàng kinh doanh cần trang bị ít nhất 01 bình chữa cháy, 01 xô chứa nước (20 lít).

7. Khi xảy ra cháy, nhanh chóng cắt điện (cầu dao, aptomat) khu vực cháy, hô hoán cho mọi người biết, sử dụng bình chữa cháy, xô, chậu, khăn chiên thấm ướt để chữa cháy và thoát nạn, gọi điện thoại cho lực lượng chữa cháy chuyên nghiệp theo số 114, chính quyền, công an địa phương nơi gần nhất.

1. Bình/chai chứa gas đặt thẳng đứng, nơi thông thoáng, không đặt cạnh các nguồn khí nén khác và cách xa nguồn nhiệt 1m. Các mối nối giữa dây với van, bếp phải chặt và kín.

2. Không tự ý tháo dỡ các phụ kiện của bình/chai chứa gas, không dùng lực quá mạnh để đóng hoặc mở van bình/chai chứa gas.

3. Không để thiết bị sử dụng gas đè lên dây dẫn gas hoặc để dân dẫn gas gần nguồn nhiệt.

4. Luôn vệ sinh sạch sẽ bếp, dây dẫn gas, van bình nhằm loại bỏ điều kiện động vật gặm, cắn dây. Thường xuyên kiểm tra rò, rỉ bằng nước xà phòng, tuyệt đối không được dùng bật lửa, diêm soi dò chỗ hở.

5. Luôn khóa van cổ bình khi không sử dụng.

6. Biện pháp xử lý khi phát hiện rò, rỉ khí gas:

a. Tuyệt đối không làm phát sinh tia lửa như: Bật/tắt công tắt điện, quạt điện, sử dụng điện thoại di động. Ngay lập tức khóa van cấp gas.

b. Mở thông thoáng các cửa, dùng quạt thủ công để làm phát tán khí gas.

c. Nếu thấy chỗ rò, rỉ thì dùng vải ướt quấn quanh chỗ rò, rỉ hoặc dùng xà phòng bánh để bịt lỗ rò, rỉ tạm thời.

d. Nếu xảy ra sự cố khi đang sử dụng phải dùng chăn ướt phủ lên bếp hoặc bình cho tắt lửa hoặc dùng bình chữa cháy phun dập tắt đám cháy.

e. Báo ngay cho nhà cung cấp đến xử lý.

Công ty TNHH Song Thái Tùng chuyên cung cấp các sản phẩm thiết bị PCCC tại Bình Dương, thực hiện bảo trì, thi công lắp đặt PCCC.

Các sản phẩm có giá thành tốt, đúng chuẩn theo luật PCCC mới nhất. Đã được chứng nhận chất lượng sản phẩm từ Bộ Công an.

Mọi thông tin chi tiết xin liên hệ: Công ty TNHH Song Thái Tùng Điện thoại: 0274 3814 142 DĐ: 0988 488 818 – 0912 861 181 Địa chỉ: Số 4/21 KP Hòa Lân 1, P.Thuận Giao, TX.Thuận An, Bình Dương Email: Songthaitung.co@gmail.com

Sản phẩm – Dịch vụ của chúng tôi:

– Quần áo PCCC theo thông tư 48

– Lắp đặt chống sét Bình Dương

Bạn đang xem bài viết Đảm Bảo An Toàn Nợ Công: Kiểm Soát Chặt Các Chỉ Tiêu trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!