Xem Nhiều 2/2023 #️ Đánh Giá Hệ Thống Ảo Hóa Vdi # Top 6 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Đánh Giá Hệ Thống Ảo Hóa Vdi # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Đánh Giá Hệ Thống Ảo Hóa Vdi mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đánh Giá Hệ Thống Ảo Hóa VDI

1.

LỢI ÍCH KHI TRIỂN KHAI HỆ THỐNG MÁY ÁO VDI

Ưu điểm đối với người dùng đầu cuối

Truy cập

Tính linh hoạt cao, mọi thiết bị mà người dùng đầu cuối đểu có thể kết nối đến hệ thống, trung tâm dữ liệu ( DataCenter ) như laptop, tablet, smartphone, máy tính để bàn..v.v. 

An toàn và bảo mật

Dữ liệu và kết nối an toàn, ổn định cao (các thiết bị sử dụng trong Datacenter có công suất động tốt, bền vững, và hoạt động liên tục 24/24), dữ liệu được cất giữ tập trung, dễ truy cập, quản lý (hệ điều hành, phần mềm, chương trình diệt virus..v.v ). Giúp cho việc sử dụng được thông suốt, không bị gián đoạn.

Ưu điểm đối với việc vận hành, quản lý

Quản lý hệ thống máy chủ tập trung với trình quản lý UCS Manager

Người quản trị đăng nhập vào một điểm để thâm nhập vào hệ thống máy chủ. Ở lớp Access người quản trị có thể cấu hình các thông số về Netword và SAN ( ổ cứng lưu trữ ) thay vì phải đăng nhập vào lớp Chassic, Server, Lan Switch, SAN Switch.

Các kết nối hợp nhất được tích hợp sẳn cổng FcoE cùng FC thông qua thiết bị Fabric Interconnect. Giúp việc triển khai, vận hành và sử dụng ban đầu được đơn giản hóa.

Quản lý hệ thống máy trạm đơn giản nhờ giải pháp công nghệ ảo hóa

  Triển khai máy trạm mới nhanh chóng: Chỉ mất 20 đến 30 phút, đã cấu hình xong một máy trạm cho người dùng với đầy đủ chức năng, phần mềm chuyên dụng.Chúng được quản lý ứng dụng chuẩn được tính theo ngày, tuần.

  Cấp phát linh hoạt: Theo nhu cầu thực tế sử dụng thay vì ước đoán. Cho phép một máy trạm có thể phục vụ nhiều người dùng vào các thời điểm khác nhau, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.

  Thu hồi và tái sử dụng: Tùy theo yêu cầu dùng tạm thời của máy trạm mà việc cấp phát và thu hồi nhanh chóng tài nguyên đã cấp dễ dàng, đơn giản bằng cách cho offiline hoặc online máy trạm đó trên hệ thống (ví dụ như bật tắt tài khoản user trong máy tính thông thường)

  Chuẩn hóa và cập nhật dễ dàng: Sử dụng bản mẫu ban đầu, đảm bảo các máy trạm đều có cấu hình giống nhau, khi cần thực hiện thay đổi, người quản trị chỉ cần thay đổi ban mẫu ban đầu, thì các máy trạm sẽ được thay đổi theo, tạo nên một sự đồng nhất.

  Khắc phục sự cố: Máy trạm tập trung tại trung tâm Datacenter, giúp người quản trị khắc phục sự cố dễ dàng, không cần thiết phải xuống tận nơi hỗ trợ, xử lý cho người dùng như trước đây nữa.

 Bảo mật dữ liệu: Dữ liệu người dùng được nằm tập trung trên hệ thống Datacenter, thay vì nằm rải rác trên hệ thống lưu trữ cục bộ (tiềm ẩn rủi ro và khó kiểm soát cho người quản trị)

2. NHƯỢC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG VDI và GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

Việc tập trung hóa các máy trạm tại trung tâm dữ liệu sẽ làm gia tăng sự phụ thuộc vào năng lực của DataCenter cũng như đặt ra những đòi hỏi cần đáp ứng.

Yếu tố thứ nhất: Sự phục thuộc đường truyền kết nối đến trung tâm dữ liệu

Người dùng kết nối linh hoạt hơn đến máy trạm với điều kiện là kết nối internet phải ổn định, đảm bảo cho phép người dùng nhiều lựa chọn, tính sẳn sang cao, cũng như yếu tố dự phòng.

Giải pháp cho sự phụ thuộc này là:

Sử dụng chế độ Local Mode của phần mềm Vmware View Client khi đường truyền kết nối đến trung tâm dữ liệu bị mất hoàn toàn, nhưng người dùng máy trạm vẫn có thể sử dụng được. Máy trạm ảo hóa sẽ được tải về trên máy người dùng, cho phép sử dụng khi không có kết nối. Sau khi kết nối được khắc phục, những thay đổi trên máy trạm sẽ được chuyển lên trung tâm dữ liệu để đồng bộ.

Yếu tố thứ 2: Phụ thuộc vào tốc độ đường truyền

Việc tối ưu hóa quá trình trao đổi dữ liệu trên đường truyền phục vụ người dùng từ xa kết nối đến trung tâm dữ liệu là một giải pháp cần thiết nhằm đảm bảo trải nghiệm sử dụng của người dùng đạt được chất lượng tốt trên đường truyền tốc độ có giới hạn, không có tính liên tục. Đặc biệt là các ứng dụng có sự thay đổi hình ảnh hay thao tác duy chuyển trên kết nối có băng thông và có độ trễ cao.

Để biết thêm chi tiết, xin vui lòng liên hệ:

– Hotline: 0906.707056

– Email: info@bbtel.com.vn

Ảo Hóa Hệ Thống Máy Chủ

Ảo hóa hệ thống máy chủ cho phép ta có thể chạy nhiều máy ảo trên một máy chủ vật lý, đem lại nhiều lợi ích như tăng tính di động, dễ dàng thiết lập với các máy chủ ảo, giúp việc quản lý, chia sẻ tài nguyên tốt hơn, quản lý luồng làm việc phù hợp với nhu cầu, tăng hiệu suất làm việc của một máy chủ vật lý.

Xét về kiến trúc hệ thống, các mô hình ảo hóa hệ thống máy chủ có thể ở hai dạng sau:

– Host-based: Kiến trúc này sử dụng một lớp hypervisor chạy trên nền tảng hệ điều hành, sử dụng các dịch vụ được hệ điều hành cung cấp để phân chia tài nguyên tới các máy ảo. Ta xem hypervisor này là một lớp phần mềm riêng biệt, do đó các hệ điều hành khách của máy ảo sẽ nằm trên lớp hypervisor rồi đến hệ điều hành của máy chủ và cuối cùng là hệ thống phần cứng… Một số hệ thống hypervisor dạng Hosted có thể kể đến như VMware Server, VMware Workstation, Microsoft Virtual Server…

– Hypervisor-based: hay còn gọi là bare-metal hypervisor. Trong kiến trúc này, lớp phần mềm hypervisor chạy trực tiếp trên nền tảng phần cứng của máy chủ, không thông qua bất kì một hệ điều hành hay một nền tảng nào khác. Qua đó, các hypervisor này có khả năng điều khiển, kiểm soát phần cứng của máy chủ. Đồng thời, nó cũng có khả năng quản lý các hệ điều hành chạy trên nó. Nói cách khác, các hệ điều hành sẽ nằm trên các hypervisor dạng bare-metal rồi đến hệ thống phần cứng. Một số ví dụ về các hệ thống Bare-metal hypervisor như là Oracle VM, VMware ESX Server, IBM’s POWER Hypervisor, Microsoft’s Hyper-V, Citrix XenServer…

Ảo hóa máy chủ là một công nghệ được ra đời nhằm khai thác triệt để khả năng làm việc của các phần cứng trong một hệ thống máy chủ. Nó hoạt động như một tầng trung gian giữa hệ thống phần cứng máy tính và phần mềm chạy trên nó. Ý tưởng của công nghệ ảo hóa máy chủ là từ một máy vật lý đơn lẻ có thể tạo thành nhiều máy ảo độc lập. Mỗi một máy ảo đều có một thiết lập nguồn hệ thống riêng rẽ, hệ điều hành riêng và các ứng dụng riêng. Có 2 hình thức ảo hóa máy chủ:

· Virtualization Management layer: đây là hình thức ảo hóa ban đầu của máy chủ. Chúng ta thường gọi là “hosted”. Như hình bên dưới thể hiện, chức năng ảo hóa được xây dựng trên một nền OS thông dụng. Một số sản phẩm thông dụng: Microsoft´s Virtual PC, and VMWare´s Workstation.

· Dedicated Virtualization: Hình thức ảo hóa này thường được gọi là “bare-metal”, được chạy trực tiếp trên phần cứng của máy chủ. Vì vậy sẽ giúp sử dụng tài nguyên máy chủ tối ưu hơn là hình thức “hosted”, tốc độ xử lý nhanh hơn. Các sản phẩm thông dụng: ESX, Xen, and Hyper-V.

Lợi ích của việc ảo hóa máy chủ (Server Virtualization)

Các thành phần của một hệ thống ảo hóa:

Các tài nguyên vật lý trong môi trường ảo hóa cung cấp tài nguyên mà các máy ảo sẽ sử dụng tới. Một môi trường tài nguyên lớn có thể cung cấp được cho nhiều máy ảo chạy trên nó và nâng cao hiệu quả làm việc của các máy ảo .Các tài nguyên vật lý có thể kể đến là là ổ đĩa cứng, ram, card mạng….

Lớp phần mềm ảo hóa này cung cấp sự truy cập cho mỗi máy ảo đến tài nguyên hệ thống. Nó cũng chịu trách nhiệm lập kế hoạch và phân chia tài nguyên vật lý cho các máy ảo. Phần mềm ảo hóa là nền tảng của một môi trường ảo hóa. Nó cho phép tạo ra các máy ảo cho người sử dụng, quản lý các tài nguyên và cung cấp các tài nguyên này đến các máy ảo.. Ngoài ra phần mềm ảo hóa còn cung cấp giao diện quản lý và cấu hình cho các máy ảo.

Thuật ngữ máy ảo được dùng chung khi miêu tả cả máy ảo (lớp 3) và hệ điều hành ảo (lớp 4). Máy ảo thực chất là một phần cứng ảo, một môi trường hay một phân vùng trên ổ đĩa. Trong môi trường này có đầy đủ thiết bị phần cứng như một máy thật . Đây là một kiểu phần mềm ảo hóa dựa trên phần cứng vật lý. Các hệ điều hành khách mà chúng ta cài trên các máy ảo này không biết phần cứng mà nó nhìn thấy là phần cứng ảo.

4. Hệ điều hành khách(guest operating system)

Hệ điều hành khách được xem như một phần mềm (lớp 4) được cài đặt trên một máy ảo (lớp 3) giúp ta có thể sử dụng dễ dàng và xử lý các sự cố trong môi trường ảo hóa. Nó giúp người dùng có những thao tác giống như đang thao tác trên một lớp phần cứng vật lý thực sự.

Khi có đủ các thành phần trên, người dùng có thể xây dựng cho mình một hệ thống ứng dụng ảo hóa. Ngoài việc lựa chọn phần cứng cho thích hợp, người dùng còn cần cân nhắc xem phải sử dụng phần mềm ảo hóa gì hoặc loại ảo hóa nào. Điều này rất quan trọng trong việc tối ưu hóa hiệu suất làm việc cho hệ thống.

Hệ Thống Văn Hóa Xã Hội

Nhấn mạnh lại sự khẳng định trước đó của chúng tôi, có lẽ chức năng quan trọng nhất của văn hóa là phục vụ như một bản thiết kế để tạo ra một trật tự tiền định. Chức năng này tương tự như một hệ điều hành của máy vi tính. Không có một hệ điều hành máy vi tính chỉ đơn giản như một cái hộp vô dụng. Không có một văn hóa khả tồn và năng động một hệ thống xã hội sẽ sụp đổ. Như các hệ sống, hệ văn hóa xã hội cần phải có được một hình ảnh về cái chúng phải là. Điều này là cần thiết để tái định vị liên lục các hệ thống dịch chuyển tới gần hơn trật tự tiền định của chúng. Các hệ không chỉ dịch chuyển hướng tới một trật tự tiền định, mà còn ngăn chặn sự ganh tị giữa các cá nhân của hệ. Trừ khi hình ảnh được lưu trữ của chúng bị thay đổi, các hệ thống xã hội tiếp tục nhân bản gần như vô hạn.

Hình ảnh được chia sẻ, do vậy, đứng ở trung tâm của tiến trình thay đổi. Thành công của bất kỳ hành động nào luôn phụ thuộc vào mức độ mà nó thâm nhập và điều chỉnh “hình ảnh được chia sẻ”. Đó là lý do tại sao việc cố gắng tác động đến sự chuyển đổi xã hội đầy thất vọng. Sự trỗi dậy thắng lợi của những khung khổ cũ về hành vi bất chấp những nỗ lực phối hợp của các tác nhân thay đổi nguồn khởi liên tục của sự thất vọng. Cái dường như tạo ra sự nổi loạn ngoan cường này đến mức không cưỡng lại được là thực tế rằng một tập hợp các nguyên tắc của tổ chức (các chuẩn mực văn hóa) tạo nên hệ thống là gì và hành xử theo cách nó đang ngầm ẩn, và thường được xem như là bất khả xâm phạm.

Tập con của những chuẩn mực văn hóa ngầm ẩn chịu trách nhiệm tái tạo lại trật tự hiện tồn là cái chúng ta xem như phép ẩn dụ của “trật tự cơ học bậc hai”. Trật tự cơ học bậc hai tương đương với khái niệm về một tập hút trong lý thuyết hỗn độn. Tạo ra một sự thay đổi trong khung khổ hành vi của một hệ thống xã hội, những giả định căn bản của nó cần phải được thách thức. Một tập hợp mới của những lựa chọn thay thế cần được tạo ra và tập hút trong hành động cần được điều chỉnh. Do vậy, làm thế nào sự thay đổi thâm nhập được một hệ thống xã hội?

Với các hệ mở, entrôpi âm thay đổi không xảy ra một cách ngẫu nhiên. Chúng luôn nhất quán với cái đã đi vào trước đó cùng với lịch sử và đặc tính của hệ thống. Hiện tượng này, được biết như sự tự tham khảo, là cái tạo điều kiện cho sự thay đổi một cách trật tự hướng tới phức hợp có tổ chức. Sự tự tham khảo và các tiến trình lặp lại cùng với đột biến ngẫu nhiên và chọn lọc tự nhiên cùng nhau đã cung cấp một lời giải thích đầy đủ hơn về cái đẹp và kỳ diệu của tiến trình tiến hóa.

Như đã nói rằng khả năng sống sót quan trọng nhất của chúng ta chỉ có thể bằng việc học tập có tính chất xã hội; khả năng học tập có tính chất xã hội này – văn hóa – có hai chiều kích:

Nhận thức: Tiến trình hiểu biết, ngôn ngữ, ý nghĩa và lập luận.

Tiêu chuẩn viện diễn: Các giá trị, niềm tin và các khế ước xã hội.

Tự tổ chức, có mục đích, các hệ văn hóa xã hội tự tiến hóa để tồn tại. Chúng không thể thích nghi thụ động với môi trường của mình mà cần phải cùng tiến hóa với chúng. Các hệ cũng có thể thay đổi các quy tắc của sự tương tác khi họ tiến hóa theo thời gian.

Để sống còn, văn hóa cần phải có khả năng chủ động thích nghi với sự xuất hiện các thực tế. Hành động thích nghi là một tiến trình học tập lặp đi lặp lại của trật tự bậc hai mà nó đòi hỏi quyền tự do đặt với đề với những giả định bất khả xâm phạm. Thật không may, đây chính là những trở ngại chính cho sự phát triển của các hệ văn hóa xã hội được nhận thấy. Các thành viên của nhiều xã hội truyền thống thiếu quyền tự do đặt vấn đề với bất kỳ một trong các chuẩn mực văn hóa bất khả xâm phạm. Thay vì, hầu hết là đối tượng bị đe dọa to lớn bởi các sức mạnh truyền thống. Đặt vấn đề với một thực tiễn bất khả xâm phạm thường bị cho là một sự xúc phạm và có thể bị trừng phạt bởi cái chế trong những hệ thống trên. Nhưng khả năng đặt vấn đề với những giả định bất khả xâm phạm, mà không sợ hậu quả, không chỉ là một quyền cá nhân mà còn là điều tốt cần thiết cho xã hội cần được bảo vệ bằng mọi giá. Đôi khi những quyền lực đáng sợ đưa ra trở ngại rất lớn cho sự phát triển mà bằng bất kỳ giá nào phải trả để xóa bỏ chúng cần là một điều chính đáng. Điều này là rất đúng đắn ngay cả khi cần những sự can thiệp bi thảm của quyền lực bên ngoài, nếu nó đưa đến việc hóa giải những quyền lực đáng sợ khó thay đổi, có thể chứng minh là một điểm bùng phát của sự tiến hóa văn hóa có uy lực (Nhật Bản và Thổ Nhĩ Kỳ cho những ví dụ đáng giá cho tranh luận này).

Mặt khác, các trật tự hỗn độn, đại diện cho một hình thức dường như ổn định nhưng đã làm nản lòng các hệ thống xã hội, có thể trải qua một sự thay đổi bất ngờ, không định trước. Hiện tượng này được tạo ra khi một sự rối loạn nhỏ tự tác động lên chính mình tạo ra một tác động rất lớn. Sự rối loạn đối với bất kỳ hệ thống nào sẽ bị chống lại khi nó xuất hiện lần đầu, nhưng nếu nó vẫn tồn tại trước hết tạo ra sự kìm nén và cộng hưởng với những sự thất vọng tồn tại trước đó trong hệ thống, một tiến trình lặp đi lặp lại của sự khuyếch đại trệch hướng bắt đầu. Đây là cái mà làm thế nào một đám động thất vọng được thúc đẩy bởi lòng thù ghét và được lãnh đạo bởi những lãnh đạo gia trưởng/có sức lôi cuốn có thể tạo ra một thay đổi phi thường trong cấu trúc của một hệ thống xã hội chưa phát triển. Thật không may, không có sự hình thành của một hình ảnh được chia sẻ toàn diện về một tương lai được kỳ vọng, các cuộc đấu tranh hỗn độn có thể không đưa đến một sự chuyển đổi tới sự tự tiến hóa, tính có mục đích, và một hệ thống văn hóa xã hội. Hiện thực của các hệ văn hóa xã hội đã phát triển cao mà chúng đã phát triển vượt quá mạng lưới an toàn của một văn hóa gia trưởng là sự khác biệt căn bản với những hệ thống mà nó vẫn còn bị mắc kẹt trong những giới hạn của loại hình văn hóa này. Trừ khi các chuẩn mực văn hóa gia trưởng bị thách thức và được điều chỉnh một cách đúng đắn, khung mẫu lặp lại của nguyên tắc độc tài và những tâm thần sẽ tiếp tục xuất hiện. (Cuộc cách mạng Iran và sự sụp đổ của Liên Xô là những bằng chứng mang tính giai thoại nhất hiện nay).

Sự giải phóng, theo Habermas, diễn ra bất cứ khi nào con người có thể vượt qua những giới hạn quá khứ mà nó bắt nguồn từ những sự biến dạng của ý thức hệ.

Thật không may, ý thức hệ trong bất kỳ hình thức hay dạng thức nào đã được chứng minh là những trở ngại chính cho sự sống còn của một hệ thống xã hội. Đặc trưng quan trọng và phổ biến của tất cả các hệ tư tưởng là tuyên bố một chân lý tối tượng với một tập hợp những cứu cánh và phương tiện tiền định. Những giả định căn bản không được đặt vấn đề bởi những tín đồ thực sự. Đây là một điều không phù hợp với học tập bậc hai, mà nó đòi hỏi đặt vấn đề với những giả định bất khả xâm phạm và thách thức những tập hợp những giá trị mặc định ẩn ngầm.

Thật không may, nhiều thế hệ trong thời đại của chúng ta đã chứng kiến nỗi tuyệt vọng các ý thức hệ cạnh tranh đã phát hủy hàng triệu sinh kế và làm suy yếu khả năng sinh tồn của rất nhiều xã hội rực rỡ. Trong phản ứng sau tuyên bố đầy khiêu khích của hai nhà khoa học xã hội hiện đại nhấn mạnh mức độ bận tâm của chúng ta đối với tính chất đe dọa của các hệ tư tưởng.

Francis Fukuyama, trong một bài báo nổi tiếng xuất bản trên tờ Foreign Affairs (1992) với nhan đề “Sự kết thúc của lịch sử”, đã tuyên bố: “Những gì chúng ta đang chứng kiến không chỉ là sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh mà là sự kết thúc của lịch sử. Thời đại của những trận chiến tư tưởng đã kết thúc. Thế giới giờ sẽ hướng tới một nền kinh tế thị trường toàn cầu và chủ nghĩa tư bản, dân chủ và quyền con người sẽ được lan rộng trên khắp toàn cầu”. Một năm sau, Samuel P. Huntington, trong một bác bỏ sâu rộng trên cùng tờ báo (mùa Hè 1993), đã dự đoán rằng sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh sẽ được tiếp nối bởi “sự va chạm giữa các nền văn minh” giữa những cái được gọi là “Văn minh Hồi giáo” và “Văn minh phương Tây hay Thiên chúa giáo”.

Không cần phải nói, dự đoán về hành vi phản trực giác của các hệ thống xã hội phức hợp từ một quan điểm ý thức hệ duy nhất là một sự đơn giản hóa quá mức. Theo Kenneth Boulding (1981, tr. 18):

Tầm nhìn hệ thống của các động thái xã hội thì không thân thiện với bất kỳ cái nhìn nhất nguyên về lịch sử con người mà tìm kiếm cách giải thích nó bởi một nhân tố duy nhất, cho dù điều này là một sự giải thích duy vật như trong trường hợp chủ nghĩa Marx [cổ điển], một cách giải thích hữu thần đơn giản, như trong Kinh thánh Do thái giáo, hay một cách giải thích của thuyết mạt thế theo nghĩa của một kết cục giản đơn. Những lời lẽ đơn giản về cuộc cách mạng cũng cần được xem như một yếu tố phụ mang tính căn bản trong tiến trình tiến hóa liên tục của xã hội và loài người, mặc dầu nó đôi khi quan trọng như một trường hợp đặc biệt trong những hoàn cảnh cụ thể.

Đối với một nền văn minh tư duy hệ thống là kết quả rõ nét của sự tương tác giữa văn hóa (phần mềm) và công nghệ (phần cứng; hình 3.3). Công nghệ là phổ quát, phát triển nhanh chóng không gì cưỡng lại được, trong khi văn hóa mang tính địa phương, chống lại sự thay đổi với sự ngoan cường. Trong một xã hội mở văn hóa tiến hóa với những tiến bộ công nghệ, nhưng trong các xã hội đóng sự không tương thích giữa công nghệ và văn hóa dẫn đến những cuộc đấu tranh phản động. Vấn đề được khuếch đại bởi thực tế không may mắn rằng một vài nền văn hóa là những người tạo ra công nghệ trong khi một số khác chỉ là những người sử dụng của nó. Các công nghệ được nhập khẩu mà nó cùng tạo ra những thay đổi không mong đợi theo những cách truyền thống của đời sống thường được xem như một “sự xâm lược từ bên ngoài” bởi những lực lượng phản động. Điều này dẫn đến những chiến dịch bổ sung để cô tập và tạo ra tâm lý “chúng ta đối lập với họ”.

Như Wheatlwy chỉ ra, hình ảnh về trường của một thế giới đi vào một vài phương tiện truyền thông đại chúng hiện thực đã thay thế hình ảnh của Newton về một thế giới phổ biến bởi nhiều phần tử, tồn tại độc lập với nhau. Không gian được sử dụng làm thành phần cơ bản của vũ trụ. Một nguyên tử thì 99.999% là trống rỗng. Nhưng một điều gì đó kỳ lạ đã xảy ra với không gian của thế giới lượng tử. Không còn có khoảng trống đơn độc. Không gian, ở mọi nơi, với tư duy hiện tại được lấp đầy bởi các trường. Vô hình, không thể sờ thấy được, không nghe thấy được, không ngửi thấy được, không mùi các trường không thể tiếp cận được thông qua năm giác quan của chúng ta cũng như thực sư như các phần tử trong chúng. Tham khảo lý thuyết về trường, Wheatley (1994) cũng đã cung cấp những trích dẫn sau từ Rupert Sheldrake, mà nhấn mạnh thông điệp chủ chốt được chứa đựng trong khái niệm về cái đẹp của nó.

“Một số điều mà chúng ta biết làm thế nào để thực hiện những điều không đến từ việc học tập chúng ta đạt được, mà từ tri thức được tích lũy trong lĩnh vực hình thái của loài người mà chúng ta đã sử dụng thông tin”.

Dân số tổng thể của loài có thể thay đổi hình vi của họ bởi vì nội dung của lĩnh vực đó đã thay đổi, chứ không bởi vì họ đã từng có thời gian cá nhân để học hành vi mới.

Để tái tạo tương lai bằng cách ảnh hưởng đến hình ảnh được chia sẻ, trường văn hóa, do vậy mang lại một khung mẫu hành vi được kỳ vọng hơn, là những gì thiết kế tương tác thực sự. Chúng sẽ bàn luận thiết kế tương tác này trong một bài sau.

Dịch và hiệu đính: T.Giang – SCDRC

Nguồn: Jamshid Gharajedaghi – System thinking: Managing Chaos and Complexity – Elsevier 2011.

Hạ Tầng Ảo Hóa Máy Trạm

Các doanh nghiệp ngày nay không tiến hành mua sắm máy trạm theo cách đã làm như trước đây mà hướng tới ảo hoá hệ thống máy trạm. Thông qua quá trình ảo hoá hệ thống máy trạm, bộ phận IT sẽ cho phép người dùng cuối có thể truy cập tới máy trạm một cách linh hoạt từ nhiều loại thiết bị khác nhau. Xu hướng tiến hành ảo hoá máy trạm và cho phép người dùng cuối sử dụng một cách linh hoạt các thiết bị được gọi là xu hướng triển khai Điện Toán Người Dùng Cuối (End User Computing – EUC).

VMware cung cấp giải pháp cho Điện Toán Người Dùng Cuối (EUC) theo hướng tách hệ điều hành, ứng dụng và dữ liệu của người dùng cuối ra khỏi phần cứng máy trạm truyền thống, và cung cấp các thành phần này tới người sử dụng như là một dịch vụ IT. Thông qua cách tiếp cận này, quá trình vận hành hệ thống Điện Toán Người Dùng Cuối sẽ đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp:

– Nâng cao thời gian sử dụng và tuổi thọ của thiết bị.

– Giảm tối đa công sức quản trị hệ thống và rút ngắn thời gian triển khai máy trạm.

– Nâng cao khả năng bảo mật, khả năng sẵn sàng cao của hệ thống máy trạm

VMware Horizon View là một giải pháp tích hợp cho VDI, cung cấp khả năng quản trị và vận hành tập trung ở phạm vi doanh nghiệp hướng tới cung cấp giải pháp máy trạm ảo như một dịch vụ của doanh nghiệp. Với công nghệ Horizon View của VMware, kết hợp với giải pháp hệ điều hành đám mây VMware vSphere đem lại cho người sử dụng một hệ thống VDI nằm trong trung tâm dữ liệu với độ bảo mật cao và khả năng quản trị tập trung toàn diện. Sự kết hợp này đem lại cho người sử dụng một giải pháp máy trạm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh liên tục, khả năng sẵn sàng cao và khả năng khôi phục nhanh khi có thảm họa xảy ra, những giá trị này có thể so sánh với khả năng bảo vệ chỉ có được ở những ứng dụng máy chủ nghiệp vụ quan trọng của doanh nghiệp.

Đơn giản hóa quá trình quản trị, tăng độ bảo mật và giảm chi phí quản trị

– Quản trị truy cập máy trạm ảo

– Triển khai linh hoạt

– Bảo mật mạng mạnh

– Tích hợp toàn diện với Microsoft Active Directory

– Dự phòng khi có sự cố

– Hỗ trợ cơ chế đăng nhập hai lớp

Giải pháp máy trạm ảo hoàn chỉnh cho người dùng với trải nghiệm không đổi

– Ứng dụng tương thích

– Không yêu cầu đào tạo

– Linh hoạt

– Truy cập các thiết bị nội bộ

Tích hợp với phần mềm ảo hoá hạ tầng VMware vSphere

– Quản trị tập trung máy chủ và máy trạm

– Sao lưu dữ liệu tập trung

– Tự động chuyển sang hệ thống dự phòng và phục hồi khi có sự cố xảy ra

– Tự động cân bằng tải trong hệ thống

Nguồn: https://www.ntccloud.vn/private-cloud/vdi

Bạn đang xem bài viết Đánh Giá Hệ Thống Ảo Hóa Vdi trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!