Xem Nhiều 1/2023 #️ Đẩy Mạnh Phát Triển Ngành Dịch Vụ # Top 5 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Đẩy Mạnh Phát Triển Ngành Dịch Vụ # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Đẩy Mạnh Phát Triển Ngành Dịch Vụ mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Để ngành dịch vụ phát triển nhanh và bền vững, mới đây, UBND tỉnh Khánh Hòa có kế hoạch cơ cấu lại ngành này. Trong đó, các mục tiêu, nhiệm vụ và tổ chức thực hiện được vạch ra khá rõ ràng nhằm gắn dịch vụ với phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn.

Cơ cấu lại theo hướng hiện đại

Kế hoạch thực hiện cơ cấu lại ngành dịch vụ mà UBND tỉnh ban hành được xem là khung nhiệm vụ của các sở, ban, ngành và địa phương trong thực hiện mục tiêu phát triển ngành dịch vụ và phát triển kinh tế của tỉnh đến năm 2025. Trong đó, yêu cầu phát triển ngành dịch vụ nhanh, hiệu quả và bền vững, đảm bảo các dịch vụ cơ bản phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội, hướng tới hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại, đảm bảo khai thác tốt các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế. UBND tỉnh xác định cơ cấu lại ngành này phải có trọng tâm, trọng điểm, khả thi và tác động mạnh, kịp thời trên thực tiễn. Khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân là lực lượng quan trọng trong thực hiện quá trình cơ cấu lại ngành dịch vụ. Ngoài ra, việc cơ cấu phải tiếp cận với trình độ hiện đại, đảm bảo hội nhập quốc tế và khu vực; lồng ghép việc thực hiện các cam kết quốc tế về dịch vụ với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2045.

Logistics và vận tải được xem là lĩnh vực có nhiều lợi thế của tỉnh.

Mục tiêu của kế hoạch là tập trung nguồn lực phát triển một số lĩnh vực dịch vụ tiềm năng, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao như: tài chính, ngân hàng, logistics và vận tải, công nghệ thông tin và truyền thông, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế, du lịch…; thực hiện các chính sách phát triển ngành, tạo khuôn khổ chính sách đồng bộ hướng vào việc xây dựng ngành dịch vụ chất lượng, hiệu quả và cạnh tranh; xây dựng cơ sở hạ tầng của khu vực dịch vụ thông qua việc tập trung phát triển các lĩnh vực dịch vụ có thế mạnh. Trong tương lai, ngành dịch vụ phải được chuyển dịch cơ cấu theo hướng nâng cao tỷ trọng về ứng dụng công nghệ cao, công nghệ thông tin để tác động lan tỏa tới các lĩnh vực khác.

Các mục tiêu cụ thể

Theo UBND tỉnh, kế hoạch cơ cấu lại ngành dịch vụ phải đảm bảo tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ giai đoạn 2016 – 2020 đạt khoảng 6,6 đến 7,1%; tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GRDP (tổng sản phẩm trên địa bàn) chiếm 42% vào năm 2020. Giai đoạn 2021 – 2025, tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ đạt khoảng 7,5%; tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GRDP khoảng 44% vào năm 2025.

UBND tỉnh cũng đề ra mục tiêu đối với từng lĩnh vực cụ thể để phấn đấu. Trong đó, lĩnh vực tài chính – ngân hàng, huy động vốn có mục tiêu tăng bình quân 10%/năm; dư nợ tăng bình quân 14%/năm; tỷ lệ nợ xấu dưới 3% (không bao gồm các ngân hàng thương mại yếu kém đã được Chính phủ phê duyệt phương án xử lý). Đặc biệt, đẩy mạnh phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, tối ưu hóa mạng lưới ATM và POS. Với lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông, đến năm 2025, tốc độ tăng trưởng bình quân phải đạt từ 5 đến 7%/năm; phủ sóng thông tin di động 100% khu vực dân cư trên địa bàn tỉnh.

Trong kế hoạch, UBND tỉnh đặc biệt chú trọng đến lĩnh vực đào tạo lao động. Theo đánh giá, đến năm 2020, giáo dục nghề nghiệp đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo; bình quân hàng năm đào tạo nghề cho khoảng 26.500 người; trình độ trung cấp, cao đẳng chiếm khoảng 25 – 30%, khoảng 10 -15% được đào tạo theo các ngành, nghề trọng điểm và hơn 70% người có việc làm sau đào tạo. Để lĩnh vực này đáp ứng được nhu cầu phát triển, UBND tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2025, bình quân hàng năm đào tạo nghề nghiệp cho khoảng 28.500 người, ít nhất 85% người học có việc làm hoặc có năng suất, thu nhập cao hơn sau đào tạo… Hết năm 2020, tỷ trọng lao động các ngành dịch vụ qua đào tạo có chứng chỉ phải đạt khoảng 25%; tỷ trọng này được nâng lên khoảng 35% vào năm 2025.

Các lĩnh vực dịch vụ du lịch, logistics, thương mại cũng được đánh giá là những ngành có thế mạnh, cần có những mục tiêu để phát triển vượt bậc. Cụ thể, logistics và vận tải đặt mục tiêu có tốc độ tăng trưởng bình quân hơn 7%/năm; bước đầu xây dựng và hình thành dịch vụ logistic trên địa bàn tỉnh. Về phân phối, thương mại, đặt mục tiêu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giai đoạn 2021 – 2025 ước đạt khoảng 513.046 tỷ đồng; phát triển thương mại điện tử; xuất, nhập khẩu tăng trưởng bình quân 10%/năm. Trong lĩnh vực dịch vụ du lịch, phấn đấu đến năm 2025, toàn tỉnh thu hút được từ 9 đến 11 triệu lượt khách/năm; khách quốc tế đạt từ 4 đến 5 triệu lượt và 5 đến 6 triệu lượt khách du lịch nội địa. Đến năm 2025, phấn đấu có hơn 61.000 buồng lưu trú với 60 – 70% đạt chuẩn từ 3 đến 5 sao; tạo ra 254.000 việc làm, trong đó có 85.000 lao động trực tiếp.

Ông Trần Hòa Nam – Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư cho biết, kế hoạch cơ cấu lại ngành dịch vụ chính là cơ sở để các sở, ban, ngành và địa phương tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; đồng thời hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp trên địa bàn. Sở Kế hoạch và Đầu tư được giao chủ trì phối hợp với các đơn vị rà soát, đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí và thời gian cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, sở phối hợp với các đơn vị, địa phương thực hiện các giải pháp thu hút tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư phát triển nền kinh tế, đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội thiết yếu; tập trung các nguồn lực để triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ đối với các ngành dịch vụ tiềm năng của tỉnh; khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công nghệ; thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ; đặc biệt chú trọng các ngành dịch vụ ứng dụng công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, công nghệ thông tin…

Đình Lâm  

Tam Dân: Đẩy Mạnh Phát Triển Thương Mại Dịch Vụ

Bên cạnh thế mạnh về sản xuất nông nghiệp, những năm qua, xã Tam Dân đã phát huy tốt các tiềm năng, lợi thế của địa phương để phát triển TMDV. Qua đó, giải quyết được việc làm cho lực lượng lớn lao động nông thôn, góp phần không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế địa phương.

Để tạo thuận lợi cho TMDV phát triển, xã chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng, có cơ chế cho các tiểu thương, các thành phần kinh tế đầu tư phát triển, mở rộng dịch vụ. Đặc biệt, trong xây dựng nông thôn mới, Tam Dân đã đầu tư, cải tạo và mở rộng chợ Tam Dân, đáp ứng nhu cầu buôn bán, trao đổi hàng hóa của nhân dân trong xã và các xã lân cận. Qua khảo sát các tuyến đường trung tâm xã, dễ dàng nhận thấy, hệ thống cửa hàng kinh doanh, dịch vụ mọc lên ngày một nhiều, từ cửa hàng thời trang, văn phòng phẩm, đồ gia dụng, điện tử, cho đến dịch vụ khám chữa bệnh, viễn thông, xe máy…

Trụ sở HĐND, UBND xã Tam Dân.

Ông Bùi Hồng Long – Chủ tịch UBND xã khẳng định: “Quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng bộ và chính quyền xã là tập trung phát triển TMDV, coi đó là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương. Cùng với đó, duy trì giữ vững nhịp độ phát triển công nghiệp, TTCN và giảm dần tỉ trọng nông nghiệp. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn xã hoạt động có hiệu quả, sắp xếp lại sản xuất tăng nhanh giá trị, nhất là ngành gia công cơ khí, xây dựng dân dụng, sản xuất đồ gỗ, mộc dân dụng…; triển khai thực hiện dự án tại cụm công nghiệp đồi 30. Bên cạnh đó, hoạt động của Công ty CP Khoáng sản Roadco Quảng Nam đang trong giai đoạn hoàn thành trạm sản xuất bê tông nhựa nóng tại khu vực mỏ đá Thiên An Khương (cũ). Những tháng đầu năm 2019, TTCN trên địa bàn xã tăng trưởng khá, mạng lưới kinh doanh TMDV được mở rộng cả về quy mô và số lượng dọc theo tuyến QL40B và khu phố chợ Tam Dân, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động tại địa phương”.

Ông Bùi Hồng Long – Chủ tịch UBND xã Tam Dân.

Các dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin của xã cũng được mở rộng đa đạng về loại hình, quy mô. Dịch vụ vận tải tăng trưởng, các tuyến xe buýt liên xã được khai thác mở rộng, tăng cường, tạo thuận lợi cho việc đi lại của người dân. Dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin được đầu tư phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại, 100% được phủ sóng điện thoại di động và có dịch vụ Internet, đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của người dân….

Chợ Tam Dân – nơi giao thương buôn bán của người dân trong và ngoài xã.

Để có được những kết quả trên là do sự quan tâm, chỉ đạo, điều hành của Ban Chấp hành Đảng bộ và chính quyền xã đã có những cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các nhà đầu tư. “Trong thời gian tới, xã sẽ đôn đốc chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ các dự án phát triển hạ tầng thương mại đã được cấp phép; tiếp tục thu hút, huy động các nguồn lực đầu tư, nâng cao chất lượng hệ thống chợ… Tăng cường quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực TMDV, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi; đồng thời, đẩy mạnh phát triển TMDV tại các làng nghề truyền thống; khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân đủ năng lực có nhu cầu tham gia đầu tư phát triển các loại hình TMDV nhằm đáp ứng tốt nhu cầu phát triển của xã hội” – Chủ tịch UBND xã Tam Dân nhấn mạnh.

Đẩy Mạnh Phát Triển Sản Xuất Hàng Hóa, Cơ Cấu Lại Ngành Nông Nghiệp

Sản xuất nông nghiệp năm 2019 đối mặt với nhiều thách thức, từ dịch bệnh trong chăn nuôi, đến khó khăn trong trồng trọt khi diện tích một số cây trồng chính có xu hướng giảm. Phóng viên Báo Bắc Kạn có cuộc phỏng vấn Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nông Quang Nhất về những nỗ lực của ngành để hoàn thành mục tiêu sản xuất nông, lâm nghiệp và định hướng sản xuất trong năm 2020.

PV: Năm 2019 là năm khó khăn đối với ngành Nông nghiệp của tỉnh. Đồng chí có những đánh giá như thế nào về những khó khăn, thách thức ảnh hưởng đến kết quả sản xuất nông nghiệp trong năm qua?

Đồng chí Nông Quang Nhất- Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh: Năm 2019 là một năm được nhận định có nhiều khó khăn, thách thức, thời tiết diễn biến phức tạp, đã xảy ra các đợt mưa kèm theo tố lốc trên diện rộng, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân và sản xuất nông nghiệp, ước thiệt hại do thiên tai hơn 28 tỷ đồng. Đặc biệt là xảy ra bệnh dịch tả lợn châu Phi gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông nghiệp; tính đến ngày 18/12/2019 dịch đã xuất hiện tại 116 xã, 705 thôn, 4.283 hộ, ước tính thiệt hại trên 53 tỷ đồng.

Những hạn chế vốn có ảnh hưởng đến kết quả sản xuất như: Mô hình sản xuất trong nông nghiệp ở tỉnh ta chủ yếu vẫn là quy mô nhỏ bé, manh mún, phân tán, người dân chưa thực sự thích nghi được với yêu cầu sản xuất theo hướng hàng hóa. Phần lớn nông sản của tỉnh chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường về chất lượng, số lượng nên gặp khó khăn trong quá trình tiêu thụ. Lực lượng lao động trong ngành Nông nghiệp thiếu hụt do một lực lượng lớn lao động chuyển dịch sang ngành nghề khác; nhất là lực lượng lao động trẻ có khả năng tiếp thu với các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất tại các địa phương.

Dòng vốn đầu tư vào ngành Nông nghiệp còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Đơn cử như: Nguồn vốn trồng rừng và chi trả cho công tác bảo vệ và phát triển rừng còn thiếu và chưa kịp thời; vốn tự có của các hộ gia đình, cá nhân còn hạn chế; vốn vay để phát triển sản xuất cần tài sản thế chấp do đó cũng ảnh hưởng đến việc mở rộng quy mô sản xuất nông, lâm nghiệp… Đồng thời, hiệu quả đầu tư còn hạn chế, một số mô hình sản xuất đạt hiệu quả chưa cao; các cơ chế, chính sách thu hút vốn cho nông, lâm nghiệp còn hạn chế, chưa thực sự năng động.

PV: Vượt qua những thách thức đó, ngành nông nghiệp tỉnh đã có những kết quả quan trọng nào, thưa đồng chí?

Đồng chí Nông Quang Nhất- Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh: Với nhiều khó khăn thách thức, tuy nhiên ngành Nông nghiệp đã có những kết quả khá quan trọng trong năm 2019, cụ thể: Tốc độ tăng trưởng nông, lâm nghiệp dự ước đạt 2,06%; tổng sản lượng lương thực có hạt đạt trên 177.982 tấn, đạt 102% kế hoạch. Các chỉ tiêu đạt và vượt so với kế hoạch như: Diện tích trồng rừng tăng 1.024ha; sản lượng khai thác gỗ tăng 60.931m3; diện tích trồng rau được chứng nhận ATTP hoặc công nghệ cao tăng 22ha, diện tích sản xuất lúa chất lượng tăng 72ha…

Người dân từng bước thay đổi nhận thức chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát huy thế mạnh của địa phương, mở rộng quy mô phát triển thành vùng sản xuất hàng hoá. Các tiến bộ kỹ thuật và mô hình sản xuất tiên tiến tiếp tục được nhân rộng; hoạt động dịch vụ, phục vụ sản xuất được tăng cường; công tác quản lý, bảo vệ rừng ngày càng ổn định, giảm số vụ vi phạm và tính chất, mức độ vi phạm.

Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp của tỉnh, huyện tiếp tục được thực hiện và có vai trò tích cực trong hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất; nhiều huyện đã chủ động xây dựng các cơ chế, chính sách và hỗ trợ phù hợp với tình hình của địa phương tạo đà cho nông dân phát triển sản xuất.

Sản lượng lúa vụ đông xuân và vụ mùa 2019 đều vượt kế hoạch

(Trong ảnh: Nông dân huyện Chợ Đồn thu hoạch lúa vụ mùa).

PV: Để đạt được những kết quả đó, ngành đã có những nỗ lực và giải pháp gì để hoàn thành các chỉ tiêu đề ra?

Đồng chí Nông Quang Nhất- Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh: Với chức năng là đơn vị quản lý nhà nước, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo các địa phương tập trung mọi nguồn lực để thực hiện tốt các mục tiêu đề ra tại Quyết định số 2099/QĐ-UBND, ngày 10/12/2019; đồng thời tham mưu cho UBND tỉnh ban hành phương án tăng trưởng kinh tế 6 tháng cuối năm 2019 tại Quyết định số 1475/QĐ-UBND, ngày 26/8/2019; phương án phát triển chăn nuôi các tháng cuối năm 2019.

Trên cơ sở phương án, ngành đã có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương thực hiện các mục tiêu của phương án đề ra; tích cực chỉ đạo, phối hợp hướng triển khai có hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất; tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc bám sát cơ sở, nắm bắt những khó khăn vướng mắc tại cơ sở, để kịp thời tháo gỡ khó khăn. Tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn thâm canh tăng năng suất trên diện tích các cây trồng, chăn nuôi theo hướng an toàn đảm bảo kế hoạch đề ra.

PV: Xin đồng chí cho biết, để đạt được mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp trong năm 2020, ngành tập trung những giải pháp gì và có kế hoạch như thế nào?

Đồng chí Nông Quang Nhất- Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh: Để thúc đẩy tăng trưởng ngành Nông nghiệp đạt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI và đúng với vai trò là trọng tâm trong kinh tế địa phương, thời gian tới, ngành sẽ tập trung thực hiện các giải pháp sau:

Một là, tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 26/4/2016 của Tỉnh ủy về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo ra sản phẩm có thương hiệu, sức cạnh tranh trên thị trường giai đoạn 2016-2020 và đề án cơ cấu lại ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Hai là, chỉ đạo quyết liệt việc chuyển đổi diện tích cây lương thực sang cây trồng có giá trị kinh tế cao, cải tạo, thâm canh, thực hiện theo quy trình VietGAP đối với cây ăn quả. Hàng năm chuyển đổi đất trồng lúa 1 vụ sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao; thực hiện vùng chuyên canh lúa hàng hóa; cải tạo thâm canh cây chè; thực hiện sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP đối với các cây cam, quýt; phát triển dược liệu thành ngành sản xuất hàng hóa.

Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu giống vật nuôi; chuyển đổi phương thức sản xuất chăn nuôi hàng hóa tập trung theo hướng trang trại, gia trại đảm bảo an toàn dịch bệnh; hỗ trợ tạo điều kiện để phát triển chăn nuôi nông hộ đạt hiệu quả.

Bốn là, nâng cao hiệu quả kinh tế của rừng trồng; tập trung tuyên truyền vận động chuyển đổi sang chu kỳ kinh doanh trồng rừng gỗ lớn cung cấp cho công nghiệp chế biến; phấn đấu năm 2020 trồng cây gỗ lớn đạt 3.000ha.

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ. Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã, doanh nghiệp về lĩnh vực nông, lâm nghiệp trên địa bàn; hình thành mối liên kết giữa người sản xuất với các doanh nghiệp trong khâu tiêu thụ sản phẩm; xây dựng thương hiệu cho sản phẩm, xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm tiêu biểu của tỉnh.

Sáu là, tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới; thực hiện có hiệu quả Đề án “Mỗi xã, phường một sản phẩm” (OCOP); tập trung tuyên truyền để các hợp tác xã nông, lâm nghiệp tiếp cận đầy đủ với chính sách hỗ trợ của Nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động HTX kiểu mới. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn xây dựng nông thôn mới; tập trung, lồng ghép các nguồn lực cho các xã phấn đấu đạt chuẩn giai đoạn 2018-2020.

Bảy là, nâng cao hiệu quả công tác cảnh báo thiên tai, dịch bệnh. Chủ động, quyết liệt trong công tác chỉ đạo, thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh gây ra.

Tám là, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả công tác đào tạo lao động nông nghiệp; tổ chức đào tạo theo nhu cầu, đặc biệt là nhu cầu của doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác, thị trường để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn. Gắn đào tạo nghề với chuyển giao công nghệ và quy trình sản xuất mới cho nông dân.

Giải Pháp Phát Triển Nguồn Nhân Lực Ngành Dịch Vụ Logistics Việt Nam

Với lợi thế nằm trên trục giao lưu hàng hải, Việt Nam có các điều kiện thuận lợi để có thể trở thành trung tâm trung chuyển hàng hóa vận tải đường biển quốc tế. Bên cạnh đó, do phát triển nóng nên nguồn nhân lực cung cấp cho thị trường logistic tại Việt Nam hiện nay trở nên thiếu hụt trầm trọng.

Theo thông tin từ Viện Nghiên cứu & Phát triển logistics Việt Nam, trong 3 năm tới, trung bình các DN dịch vụ logistics cần thêm 18.000 lao động, các DN sản xuất, thương mại, dịch vụ cần trên một triệu nhân sự có chuyên môn về logistics.

Theo ước tính của Hiệp hội Giao nhận Kho vận Việt Nam (VIFFAS), khoảng 140 công ty hội viên hiện nay có tổng số khoảng 4.000 nhân viên. Đây là lực lượng chuyên nghiệp, chưa kể khoảng 4.000 – 5.000 người bán chuyên nghiệp. Cũng theo VIFFAS, nguồn cung cấp lao động cho ngành logistic chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu nhưng thực tế, hầu hết các công ty dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện nay đều khẳng định tình trạng thiếu nhân lực trình độ cao.

Nguồn nhân lực logistics hiện nay được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau. Đội ngũ quản lý thường là các cán bộ chủ chốt được điều động đến các công ty logistics. Đội ngũ này được đào tạo và tái đào tạo để đáp ứng nhu cầu quản lý. Phần lớn trong số họ thiếu kiến thức và kinh nghiệm kinh doanh, ít được cập nhật tri thức mới, phong cách lãnh đạo và quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu.

Đội ngũ nhân viên nghiệp vụ phần lớn tốt nghiệp đại học nhưng từ những chuyên ngành ngoài logistics, số còn trẻ chưa được tham gia hoạch định chính sách. Lực lượng lao động trực tiếp như bốc vác, xếp dỡ, lái xe, kiểm đếm hàng kho bãi thì đa số có trình độ học vấn thấp, chưa được đào tạo tác phong làm việc chuyên nghiệp, có khoảng 1-2% lực lượng nhân công này được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp.

Một khảo sát của Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh về chất lượng nhân lực logistics cho thấy, 53,3% DN thiếu đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn và kiến thức về logistics, 30% DN phải đào tạo lại nhân viên và chỉ có 6,7% DN hài lòng với chuyên môn của nhân viên.

Theo đánh giá của các chuyên gia, chương trình đào tạo về logistics ở Việt Nam hiện nay còn sơ lược và tổng quát. Từ năm học 2008, Trường Đại học Giao thông Vận tải TP. Hồ Chí Minh mới chiêu sinh ngành Quản trị Logistics và Vận tải đa phương thức. Đây là trường đại học đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam mở ngành này.

Các trường đại học, cao đẳng chuyên ngành ngoại thương, hàng hải, giao thông vận tải khác chỉ đưa vào giảng dạy môn học vận tải và bảo hiểm ngoại thương, chủ yếu đào tạo nghiêng về vận tải biển và giao nhận đường biển.

Một số trường đại học có chương trình đào tạo về logistics và quản lý chuỗi cung ứng thuộc các khoa quản trị kinh doanh, kinh tế vận tải, nghiệp vụ ngoại thương, thương mại và du lịch… nhưng chỉ cung cấp các kiến thức cơ bản về nghiệp vụ ngoại thương, vận tải. Sách giáo khoa, tài liệu tham khảo về loại hình dịch vụ này cũng chưa nhiều. Ngay cả các chuyên gia được đào tạo chuyên nghiệp trong lĩnh vực này vẫn còn quá ít so với yêu cầu phát triển.

Giải pháp phát triển nguồn nhân lực khu vực dịch vụ logistics

Nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ là tiền đề cho sự phát triển của các DN logistics Việt Nam trong điều kiện hội nhập trước và sau Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), góp phần thúc đẩy khu vực dịch vụ logistics Việt Nam vượt qua những khó khăn hiện tại, để có thể vững bước phát triển, đóng góp vào sự phát triển kinh tế Việt Nam, khẳng định vị trí Việt Nam trong khu vực và quốc tế. Để phát triển nguồn nhân lực cho ngành Dịch vụ logistics ở nước ta, cần triển khai một số giải pháp sau:

Thứ nhất, Chính phủ cần có một định hướng rõ ràng hơn cho sự phát triển của khu vực dịch vụ logistics. Trước hết cần xem xét đã hội tụ đủ các yếu tố để gọi khu vực dịch vụ logistics là một “ngành” độc lập hay chưa và liệu có nên phát triển thành một ngành độc lập hay không? Từ đó, có các định hướng thích hợp cho khu vực dịch vụ này trong đó có kế hoạch phát triển nguôn nhân lực; Bổ sung thêm các văn bản dưới luật nhằm hiện thực hóa khái niệm dịch vụ logistics trong Bộ Luật Thương mại.

Thứ ba, cần tiếp tục phát huy vai trò của các chương trình đào tạo trung và ngắn hạn được thực hiện bởi các viện, trung tâm, hiệp hội và các công ty đào tạo. Động viên các tổ chức này có kế hoạch hợp tác đào tạo với các chuyên gia hoặc tổ chức nước ngoài tại các quốc gia có dịch vụ logistics phát triển mạnh và hiệu quả.

Các khóa học ngắn hạn này nên tập trung vào các mảng nghiệp vụ hoặc tác nghiệp chuyên biệt phục vụ cho một nhiệm vụ cụ thể của công việc, hoặc đào tạo kiến thức tổng thể hoặc nâng cao cho các cán bộ quản lý cấp trung và cấp cao.

Các khóa học nghiệp vụ là các khóa có thể giúp học viên ứng dụng kiến thức ngay vào công việc đang đảm nhiệm cũng như giới thiệu tác phong làm việc có kỷ luật và tính hợp tác cao của logistics. Do vậy, các khóa học này có vai trò quan trọng trong quá trình bổ sung nhanh nguồn nhân lực cho khu vực dịch vụ logistics.

Các khóa học nâng cao giúp cán bộ quản lý có cái nhìn tổng quan toàn diện về chuỗi dịch vụ mà DN mình đang/hoặc mong muốn cung cấp, từ đó có các biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ của DN. Các hiệp hội có trách nhiệm tìm kiếm các nguồn kinh phí đào tạo thường xuyên, thu hút các đối tác nước ngoài tham gia đào tạo cho nhân viên của các công ty dịch vụ logistics Việt Nam nhằm đẩy nhanh số lượng nhân viên được đào tạo.

Thứ tư, các công ty, DN cần có kế hoạch nguồn lực cụ thể bắt đầu từ khâu xây dựng kế hoạch, cử người đi tham quan, học hỏi ở nước ngoài, có chính sách đãi ngộ tốt và xứng đáng với các nhân viên giỏi chuyên môn, kỹ thuật. Nên xây dựng kế hoạch tuyển dụng sớm và định kỳ nhằm tuyển dụng được người có năng lực (ví dụ nhận sinh viên năm cuối đúng chuyên ngành hoặc chuyên ngành gần vào thực tập tại công ty để có nhiều sự lựa chọn về nhân sự).

Thứ năm, muốn có nguồn nhân lực giỏi, các công ty dịch vụ logistics lớn cần có chương trình hỗ trợ sinh viên thực tập để hấp dẫn sinh viên vào công ty mình từ đó tăng cơ hội lựa chọn người giỏi. Tổ chức thuyết trình về thực tiễn hoạt động ngành hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới cho sinh viên để sinh viên có định hướng việc làm trước khi ra trường.

Các công ty nên liên kết với một số trường đại học có uy tín để tham gia vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng trình độ cũng như có quyền thuyết trình và quyền tuyển dụng tại các trường này. Muốn vậy các công ty cần xây dựng quỹ đào tạo tại trường, hỗ trợ chuyên môn cho các trường nếu muốn có sinh viên tốt nhất và được đào tạo bài bản nhất cho mình.

Thứ sáu, người lao động cũng nên có định hướng công việc ngay từ khi đang trong quá trình đào tạo. Sinh viên cần năng động hơn nữa trong quá trình tìm kiếm và tiếp cận các công ty dịch vụ logistics nếu muốn làm việc trong khu vực dịch vụ này, sau đó cần tích cực học hỏi trau dồi nghiệp vụ và kỹ năng làm việc để có thể bắt kịp với công việc ngay sau khi tốt nghiệp. Còn nhóm lao động trực tiếp cần được đào tạo không chỉ kỹ năng làm việc mà còn phải được đào tạo cả tinh thần, thái độ làm việc cũng như thái độ chấp hành kỷ luật lao động.

Bạn đang xem bài viết Đẩy Mạnh Phát Triển Ngành Dịch Vụ trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!