Xem Nhiều 2/2023 #️ Để Phát Triển Kinh Tế Số Ở Nước Ta Hiện Nay # Top 5 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Để Phát Triển Kinh Tế Số Ở Nước Ta Hiện Nay # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Để Phát Triển Kinh Tế Số Ở Nước Ta Hiện Nay mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phát triển kinh tế số được nhiều quốc gia xem như là một xu thế tất yếu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0). Trong bối cảnh đó, Chính phủ Việt Nam quyết tâm nắm bắt xu thế phát triển của thế giới, đồng thời thể hiện nỗ lực tập trung nguồn lực, tạo môi trường và điều kiện để thúc đẩy phát triển kinh tế số.

Nguồn nhân lực chất lượng cao là một yêu cầu quan trọng để phát triển kinh tế số ở Việt Nam_Ảnh: TTXVN

Thuận lợi cơ bản đối với sự phát triển kinh tế số ở Việt Nam

Thế giới đang bước vào thời đại CMCN 4.0 với bản chất là dựa trên cuộc cách mạng kỹ thuật số. Vì vậy, kinh tế số đang trở thành đặc trưng và xu hướng phát triển kinh tế – công nghệ quan trọng nhất hiện nay. Về mặt khái niệm, tuy có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau, nhưng đa số đều thống nhất cho rằng kinh tế số là nền kinh tế mà các mối quan hệ, các hoạt động kinh tế và tài chính được thực hiện trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), in-tơ-nét và công nghệ viễn thông trong hệ thống mạng lưới sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ trên thị trường toàn cầu. Nói một cách khái quát, kinh tế số là nền kinh tế ra đời và phát triển dựa trên việc ứng dụng công nghệ số.

Dù đi sau trong cuộc CMCN 4.0, Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên phát triển kinh tế số với nhiều lợi thế cơ bản sau đây:

Thứ nhất, Chính phủ Việt Nam thể hiện rõ quyết tâm, định hướng và nỗ lực hành động mạnh mẽ trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế số ở Việt Nam. Trong tầm nhìn chiến lược dài hạn, Báo cáo “Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ” đề ra nhiệm vụ tận dụng CMCN 4.0 và kinh tế số để đạt mục tiêu thoát “bẫy thu nhập trung bình”, phát triển bền vững, đưa Việt Nam vào nhóm hai mươi nền kinh tế lớn nhất thế giới. Nghị quyết số 01/NQ-CP, ngày 1-1-2019, của Chính phủ, về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2019 đã đề ra các nhiệm vụ thúc đẩy kinh tế số, như xây dựng giải pháp phát triển nhân lực quốc gia đáp ứng yêu cầu CMCN 4.0; thành lập Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia; xây dựng Chiến lược quốc gia về CMCN 4.0; phát triển bứt phá hạ tầng viễn thông, in-tơ-nét băng rộng và mạng di động 5G; xây dựng Đề án chuyển đổi số quốc gia, từng bước tạo môi trường pháp lý để triển khai kế hoạch chuyển đổi số; thay đổi mô hình quản trị, thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, y tế, giáo dục, nông nghiệp, du lịch, môi trường, đô thị thông minh… Trên thực tế, Chính phủ đang thúc đẩy mạnh mẽ việc xây dựng chính phủ điện tử, chính phủ số, hình thành cổng thông tin điện tử quốc gia, cải cách mạnh mẽ nền hành chính theo hướng số hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Khẩu hiệu “Made in Vietnam” cũng được xem như một cương lĩnh hành động trong phát triển kinh tế của Chính phủ Việt Nam trong thời đại CMCN 4.0.

Thứ hai, nguồn nhân lực là một lợi thế quan trọng cho việc phát triển kinh tế số ở Việt Nam. Dân số gần 100 triệu người, 40% dân số dưới 25 tuổi, dân trí khá cao, có nền tảng toán học và công nghệ thông tin tương đối tốt, người Việt Nam được xem là yêu thích và nhanh nhạy trong nắm bắt công nghệ cũng như thích ứng khá nhanh với cái mới, đây chính là một trong những chìa khóa quan trọng để thúc đẩy kinh tế số.

Thứ ba, Việt Nam đang có những nền tảng hạ tầng khá thuận lợi cho việc chuyển đổi và ứng dụng số. Việt Nam có mạng lưới hạ tầng mạng viễn thông, công nghệ thông tin và in-tơ-nét phát triển nhanh chóng, bao phủ rộng khắp và hiện đại không thua kém các nước tiên tiến trên thế giới. Việt Nam có số dân dùng in-tơ-nét, điện thoại thông minh cao và nằm trong tốp đầu các nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới.

Với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ như hiện nay, ngành thương mại điện tử của Việt Nam được dự báo có thể tăng mạnh lên tới 30% – 50%/năm và quy mô thị trường thương mại điện tử có thể đạt từ 13 đến 15 tỷ USD vào năm 2020.

Thứ năm, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất khu vực và thế giới. Kinh tế Việt Nam tăng trưởng liên tục trong vòng hơn 30 năm qua và những năm gần đây luôn duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 7%/năm. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế nhanh và một nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới, sự gia tăng thu nhập của người dân, sự lớn mạnh của tầng lớp trung lưu và một thị trường nội địa gần 100 triệu dân là nền tảng và sức hút lớn thúc đẩy kinh tế số nói chung và TMĐT nói riêng phát triển.

Những hạn chế, thách thức đối với sự phát triển kinh tế số ở Việt Nam

Một là, Việt Nam đi sau trong xu hướng kinh tế số, nhận thức, kiến thức của nhiều cán bộ, doanh nghiệp và người dân về kinh tế số, thời cơ và thách thức của nó đối với sự phát triển của đất nước còn chưa đồng đều ở các cấp, các ngành dẫn tới nhu cầu, kế hoạch và hành động nắm bắt xu thế kinh tế số còn chưa kịp thời, nhanh nhạy, sự chuyển đổi số ở một số cấp, ngành, địa phương và các doanh nghiệp còn hạn chế. Báo cáo kinh tế Việt Nam thường niên do Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) thuộc Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội công bố cuối tháng 5-2019 cho thấy có tới 85% doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam vẫn nằm ngoài nền kinh tế số, và chỉ có 13% ở cấp độ mới bắt đầu. Nhận thức về kinh tế số, nhu cầu và hành động theo xu thế kinh tế số còn chậm chạp, chưa đồng đều, thống nhất từ trên xuống dưới, từ chính quyền đến doanh nghiệp và người dân là một hạn chế góp phần làm chậm xu hướng số hóa nền kinh tế Việt Nam.

Hai là, môi trường pháp lý và thể chế cho phát triển kinh tế số ở nước ta vừa thiếu, vừa nhiều lỗ hổng, chưa chặt chẽ, đồng bộ, minh bạch và mang tính kiến tạo. Thời gian qua, do sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, kinh tế số cùng các phương thức kinh doanh và các ý tưởng sáng tạo mới xuất hiện và chưa có tiền lệ trước đây làm cho các cơ quan quản lý nhà nước tỏ ra khá lúng túng trong quản lý các hoạt động kinh tế số, như vấn đề quản lý và thu thuế đối với các hoạt động thương mại trực tuyến, nhất là kinh doanh qua các mạng xã hội và cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, vấn đề bảo đảm quyền lợi cho người lao động và người tiêu dùng qua thế giới mạng, việc xử lý, giải quyết những tranh chấp, xung đột về hoạt động cũng như lợi ích của các chủ thể tham gia các hoạt động kinh doanh, thương mại và dân sự trên môi trường số. Chúng ta cũng chưa có kế hoạch và phương án ứng xử với sự xuất hiện của các dạng đồng tiền số, thị trường Forex…

Ba là, thách thức về an ninh mạng, bảo mật, an toàn thông tin ở nước ta. Kinh tế số dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, in-tơ-nét chứa đựng nguy cơ lớn về bảo mật, an toàn thông tin, tài chính và tính riêng tư của dữ liệu, của các chủ thể kinh tế số. Việt Nam là một trong những quốc gia bị tấn công mạng nhiều nhất và cũng dễ bị tổn thương nhất khi bị tấn công mạng. Trong một thế giới ngày càng kết nối, khi kỹ thuật số trở nên phổ biến, việc ngăn chặn và giải quyết vấn đề tấn công qua mạng ngày càng trở nên cấp bách vì nó không chỉ là vấn đề an ninh, an toàn kinh tế, bảo mật thông tin cá nhân, doanh nghiệp mà còn là vấn đề an ninh quốc gia.

Bốn là, nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi sang kinh tế số. Việt Nam đang có sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực công nghệ thông tin và truyền thông. Giáo dục Việt Nam chưa theo kịp xu thế phát triển vũ bão của kinh tế số, kinh tế sáng tạo của CMCN 4.0 trên thế giới hiện nay. Vấn đề này nếu không được quan tâm đầu tư thích đáng trong thời gian tới thì sẽ là một điểm nghẽn lớn cho phát triển kinh tế số ở nước ta.

Năm là, thói quen mua sắm theo kiểu truyền thống, tâm lý và thị hiếu tiêu dùng, thói quen dùng tiền mặt của người Việt Nam vẫn chiếm ưu thế, chưa dễ thay đổi mạnh mẽ trong một sớm một chiều. Hành vi kinh doanh và tiêu dùng của người dân khu vực ngoài thành thị vẫn chưa có nhiều chuyển biến, kinh tế số nói chung và TMĐT nói riêng vẫn có một khoảng cách lớn giữa thành thị với các khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số của nước ta. Người tiêu dùng Việt Nam, nhất là thế hệ người tiêu dùng trẻ và tầng lớp trung lưu giàu có vẫn có tâm lý ưa chuộng mua sắm hàng hóa và dịch vụ trực tuyến từ các thương hiệu nước ngoài hơn so với các trang bán hàng trực tuyến từ Việt Nam. Điều này, một mặt, do tâm lý của người tiêu dùng; mặt khác, cũng do các doanh nghiệp Việt Nam chưa đầu tư đúng mức cho hoạt động nghiên cứu, tìm hiểu thị trường, thích ứng với thị hiếu khách hàng, quan tâm xây dựng ảnh hưởng và uy tín thương hiệu, chất lượng, mẫu mã sản phẩm, dịch vụ chăm sóc và bảo vệ người tiêu dùng sau bán hàng.

Việt Nam cần xác định chiến lược phát triển và hội nhập kinh tế số là xu thế của thời đại, là hướng đi quan trọng và tất yếu trong định hướng phát triển quốc gia_Ảnh: Tư liệu

Một số kiến nghị nhằm thúc đẩy kinh tế số ở Việt Nam

Một là, cần trang bị kiến thức, thống nhất về tư tưởng và hành động cho cán bộ, đảng viên về kinh tế số, cơ hội và thách thức của Việt Nam trong đối ngoại và hội nhập quốc tế trong môi trường kinh tế số, từ đó làm chuyển biến mạnh mẽ tư duy lãnh đạo quản lý và điều hành kinh tế – xã hội trong điều kiện kinh tế số. Việt Nam cần xác định chiến lược phát triển và hội nhập kinh tế số là xu thế của thời đại, là hướng đi quan trọng và cần thiết trong định hướng phát triển quốc gia và hội nhập quốc tế, là cơ hội cho Việt Nam bứt phá. Môi trường CMCN 4.0 và kinh tế số cần một cuộc cách mạng trong tư duy quản lý và xây dựng thể chế, chính sách để tạo môi trường và không gian cho đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và phát triển. Mọi biểu hiện của tư duy “xin – cho”, bảo vệ lợi ích nhóm hay mệnh lệnh hành chính gây phiền hà theo kiểu không quản hay không nắm được thì hạn chế, cấm đoán không còn phù hợp đối với quản trị quốc gia, quản lý kinh tế và doanh nghiệp trong kinh tế số. Cần sớm chuyển sang tư duy quản trị và điều hành theo hướng cái gì không quy định cấm thì người dân và doanh nghiệp được phép làm; những mô hình, phương thức kinh doanh mới mà chưa rõ, chưa quản được nhưng không gây hại thì thử nghiệm cho hoạt động, và từ yêu cầu thực tiễn nghiên cứu, tìm phương thức quản lý phù hợp, vừa tìm hiểu, học hỏi và thích ứng. Phải biết tiếp nhận những mô hình, ý tưởng kinh doanh mới, khuyến khích cái mới, tạo môi trường, điều kiện và cơ hội cho cái mới ra đời và phát triển.

Hai là, xây dựng chiến lược hội nhập quốc tế mới trong thời đại kinh tế số, thực hiện “đổi mới” và “hội nhập” vào thị trường kinh tế số toàn cầu, đi đôi với kích thích phát triển và hỗ trợ đúng mức để nuôi dưỡng và thúc đẩy các doanh nghiệp số trong nước không ngừng lớn mạnh. Chiến lược hội nhập quốc tế cần kết hợp vừa “mở cửa, hội nhập” thị trường kinh tế số, vừa phải có chiến lược thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam thông qua chính sách hỗ trợ và ưu đãi có chọn lọc, nhất là với những doanh nghiệp công nghệ nội địa tiềm năng vươn lên chiếm lĩnh thị trường trong nước và sớm đủ sức vươn ra cạnh tranh với bên ngoài.

Việt Nam có tiềm năng phát triển kinh tế số rất lớn nhưng quy mô thị trường, khả năng đổi mới sáng tạo còn hạn chế, trình độ phát triển công nghệ của Việt Nam mới ở những bước đi đầu tiên, còn khoảng cách không nhỏ so với thế giới và khu vực. Vì vậy, cần phải xác định lộ trình hội nhập hợp lý nhằm tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp số trong nước trưởng thành và vươn lên. Việt Nam cần tạo môi trường và hỗ trợ thúc đẩy các hoạt động khởi nghiệp (startup) công nghệ trong nước, chú trọng đầu tư cho khoa học – công nghệ, tạo môi trường cho việc vươn lên tự chủ và nội sinh hóa nền khoa học – công nghệ quốc gia thông qua hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và đặc biệt quan tâm đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) ở trong nước trước bối cảnh bảo vệ sở hữu trí tuệ và bí quyết công nghệ, nhất là công nghệ cao có xu hướng gia tăng.

Trước mắt có thể tạo thuận lợi và hỗ trợ phát triển một số tập đoàn, doanh nghiệp công nghệ và thương hiệu kinh tế số trong nước đã có chỗ đứng, như FPT, Viettel, Vin Group, Tiki, Sendo…, có chính sách ưu đãi với ngành công nghiệp phần mềm, các công viên phần mềm, các khu và dự án công nghệ cao. Với tiềm năng thị trường và xu thế phát triển nhanh chóng của kinh tế số ở Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp kinh tế số trong nước trước hết phải đặc biệt coi trọng phát triển và chiếm lĩnh thị trường nội địa như bàn đạp cho sự phát triển bền vững cả trước mắt và lâu dài.

Song song đó, hội nhập thị trường kinh tế số với bên ngoài, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp công nghệ có nguồn gốc nước ngoài vào Việt Nam khởi nghiệp, hoạt động kinh doanh để thúc đẩy cạnh tranh. Tuy nhiên, cần xây dựng quy hoạch và chiến lược hội nhập, thu hút đầu tư trong bối cảnh mới, theo đó cần chủ động nhắm tới các tập đoàn, doanh nghiệp lớn về công nghệ của thế giới, định hướng phát triển ngành, lĩnh vực và vùng một cách hợp lý, tránh cạnh tranh giữa các địa phương. Trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài đã tới lúc cần cơ cấu lại mạnh mẽ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, sàng lọc, lựa chọn và phân loại cơ cấu đầu tư theo hướng không dễ dãi trong thu hút đầu tư, hướng tới các dự án đầu tư có chất lượng, những ngành, lĩnh vực, doanh nghiệp công nghệ cao, cam kết lâu dài, mang lại giá trị gia tăng lớn gắn với định hướng vào R&D tại chỗ và chuyển giao công nghệ cho Việt Nam, tránh việc trở thành nơi chuyển giao các doanh nghiệp và công nghệ lạc hậu của các nước.

Ngoài ra, để thúc đẩy kinh tế số thì yếu tố nội lực, sức mạnh quốc gia và sự chuẩn bị các điều kiện trong nước có vai trò đặc biệt quan trọng. Trong khía cạnh này, các vấn đề sau đây cần được lưu ý:

Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện môi trường thể chế, pháp lý đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập quốc tế trong điều kiện kinh tế số. 

Thứ hai, tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng cứng và mềm cho chuyển đổi số và phát triển nền kinh tế số quốc gia.

Chính phủ đầu tư phát triển và phổ cập hóa kết cấu hạ tầng in-tơ-nét băng thông rộng toàn quốc, nhanh chóng triển khai các dịch vụ 5G, bảo đảm việc tiếp cận điện năng, chú trọng phát triển các lĩnh vực công nghệ cốt lõi của CMCN 4.0. Để tạo điều kiện cho phát triển thương mại điện tử thì hệ thống thanh toán điện tử quốc gia, hạ tầng chứng thực chứng từ điện tử và hỗ trợ xác thực thông tin giao dịch, các hệ thống quản lý, giám sát giao dịch điện tử, các cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong giao dịch điện tử… cần sớm được hoàn thiện. Cùng với nâng cấp và hoàn thiện hạ tầng cứng, Việt Nam cần tập trung đột phá về hạ tầng thể chế, đầu tư mạnh mẽ cho khoa học – công nghệ và giáo dục, coi trọng đổi mới giáo dục, đào tạo theo yêu cầu của CMCN 4.0 và kinh tế số. Điều này bao gồm xây dựng chiến lược đào tạo và thu hút tài năng công nghệ trong và ngoài nước, phát triển nguồn nhân lực công nghệ, nhất là công nghệ thông tin cả về lượng và chất, đổi mới và cập nhật chương trình, giáo trình đào tạo của thế giới gắn với xu thế phát triển kinh tế số, nhất là đào tạo nhân lực công nghệ thông tin, tài chính công nghệ trong thời đại số, tạo điều kiện để học sinh các cấp sớm tiếp cận tri thức về công nghệ thông tin và những lĩnh vực công nghệ lõi của CMCN 4.0.

Thứ ba, hỗ trợ nâng cao năng lực và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời chú trọng bồi dưỡng, phổ biến, trang bị kiến thức cho đội ngũ doanh nhân Việt Nam đáp ứng yêu cầu của kinh tế số và xu thế CMCN 4.0 cũng như thích ứng với hội nhập vào thị trường thế giới trong thời kỳ mới.

Có kiến thức và tư duy về kinh tế số là quan trọng nhưng có tư duy hội nhập, thích ứng với thị trường kinh tế số quốc tế và xu hướng CMCN 4.0 càng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ trước môi trường cạnh tranh ngày càng mang tính quốc tế qua không gian mạng. Tư duy quản trị và vận hành doanh nghiệp chuyên nghiệp, theo quy chuẩn quốc tế cũng cần được chú ý định hình trong mỗi doanh nghiệp và toàn nền kinh tế.

Thứ tư, tiếp tục khơi dậy tinh thần dân tộc, lý tưởng và khát vọng đưa dân tộc đi tới thịnh vượng, từ đó khơi dậy và tạo động lực cho văn hóa khởi nghiệp của người Việt Nam, nhất là trong tầng lớp thanh niên.

Để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và tinh thần dân tộc của thanh niên trong thời đại kinh tế số, Nhà nước cần coi trọng khu vực kinh tế tư nhân, coi đó là động lực hàng đầu cho phát triển của đất nước nói chung và phát triển kinh tế số nói riêng.

Thứ năm, Chính phủ cần đẩy mạnh cải cách tổ chức bộ máy đáp ứng yêu cầu nền kinh tế số và đi tiên phong trong quá trình số hóa bộ máy quản trị quốc gia.

Điều này bao gồm việc cải cách mạnh mẽ nền hành chính quốc gia, xây dựng một nền hành chính công vụ thông minh, gọn nhẹ, kỷ cương, liêm chính và kiến tạo, đột phá trong tinh giản hóa và nâng cao hiệu quả quản trị của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương, chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy quản trị điều hành, mạnh mẽ xóa bỏ các tổ chức quản lý trung gian, nhanh chóng và đồng bộ số hóa bộ máy quản lý nhà nước các cấp cũng như xây dựng và triển khai chiến lược, các chính sách thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia và doanh nghiệp.

Thứ sáu, coi trọng công tác bảo vệ an ninh kinh tế, an ninh thông tin, an ninh chính trị, an ninh văn hóa và an ninh quốc gia nói chung qua không gian mạng, giám sát và phòng, chống hiệu quả các loại tội phạm mạng, tội phạm công nghệ cao. Điều này cần được chú ý cả ở cấp quốc gia cũng như trong mỗi cơ quan, đơn vị các cấp và từng doanh nghiệp, nhất là hệ thống tài chính – tiền tệ và các cơ quan chính phủ được số hóa./.

Theo Tapchicongsan.org.vn

Giải Pháp Phát Triển Của Kinh Tế Tư Nhân Ở Nước Ta Hiện Nay

Lêi më ®Çu Xu thÕ toµn cÇu ho¸ kinh tÕ diÔn ra m¹nh mÏ trªn thÕ giíi ®ang buéc nhiÒu giíi chøc, ®Æc biÖt lµ ë c¸c n­íc míi chuyÓn sang nÒn kinh tÕ thÞ tr­êng ph©n tÝch ,®¸nh gi¸ l¹i mét c¸ch thËn träng , kh¸ch quan vµ c”ng b”ng h¬n vÒ vai trß ngµy cµng trë nªn quan träng cua khu vùc kinh tÕ t­ nh©n. Tõ nh÷ng n¨m 1980-1990 trë l¹i ®©y ,tÝnh hiÖu qu¶ cña kinh tÕ t­ nh©n trong sù ph¸t triÓn ®a d¹ng ,®a chiÒu cña nhiÒu nÒn kinh tÕ quèc gia nãi riªng vµ cña nÒn kinh tÕ thÕ giíi nãi chung ®· ®­îc c¸c häc gi¶ kh¼ng ®Þnh . ViÖt Nam còng kh”ng n”m ngoµi sè ®ã. Qu¸ ®é lªn CNXH lµ mét tÊt yÕu kh¸ch quan,vµ chÝnh tÊt yÕu kh¸ch quan nµy ®ßi hái chóng ta ph¶i x©y dùng vµ ph¸t triÓn kinh tÕ t­ nh©n trong nÒn kinh tÕ thÞ tr­êng ®Þnh h­íng XHCN. Do nh÷ng sai lÇm vÒ t­ t­ëng vµ nhËn thøc tr­íc ®æi míi, chóng ta ®· coi nhÑ tÇm quan träng cña c¸c thµnh phÇn kinh tÕ ngoµi quèc doanh, ®Æc biÖt lµ khu vùc kinh tÕ t­ nh©n. Thùc tÕ 20 n¨m ®æi míi ®Êt n­íc ®· chøng tá vai trß to lín cña thµnh phÇn kinh tÕ nµy. Tuy nhiªn hiÖn nay , KTTN vÉn ch­a cã mét néi hµm x¸c ®Þnh râ rµng vµ cßn g©y nhiÒu tranh c·i. ChÝnh v× vËy nghiªn cøu vÊn ®Ò nµy gióp chóng ta hiÓu s©u thªm vÒ b¶n chÊt còng nh­ thÊy ®­îc vai trß , vÞ trÝ cña nã trong nÒn kinh tÕ thÞ tr­êng ®Þnh h­íng XHCN mµ chóng ta ®ang x©y dùng. Ph©n tÝch , ®¸nh gi¸ thùc tr¹ng vÒ nh÷ng hiÖu qu¶ tÝch cùc mµ KTTN mang l¹i còng nh­ c¸c h¹n chÕ, tiªu cùc mµ nã g©y ra tõ ®ã kÞp thêi cã nh÷ng ph­¬ng h­íng, gi¶i ph¸p thóc ®Èy KTTN ph¸t triÓn trong nÒn kinh tÕ nhiÒu thµnh phÇn nãi riªng vµ héi nhËp nÒn kinh tÕ thÕ giíi nãi chung. §©y còng lµ lÝ do mµ em t©m ®¾c víi ®Ò tµi nµy nhÊt .Do trong qu¸ tr×nh lµm ®Ò ¸n vÉn cßn nhiÒu thiÕu sãt vµ h¹n chÕ c¶ vÒ kiÕn thøc , em rÊt mong nhËn ®­îc sù gióp ®ì cña thÇy vµ c¸c b¹n ®Ó ®Ò ¸n ®­îc hoµn thiÖn h¬n. Em xin ch©n thµnh c¶m ¬n. Ng­êi viÕt NguyÔn ThÞ H­¬ng I. Bản chất của kinh tế tư nhân. 1. Kh¸i niÖm , b¶n chÊt cña kinh tÕ t­ nh©n. HiÖn nay vÉn ch­a cã mét kh¸i niÖm cô thÓ, cã rÊt nhiÒu quan ®iÓm theo nhiÒu cÊp ®é vÒ KTTN: Kh¸i qu¸t nhÊt: KTTN lµ khu vùc kinh tÕ ngoµi quèc doanh bao gåm:doanh nghiÖp trong vµ ngoµi n­íc,trong ®ã t­ nh©n n¾m gi÷ trªn 50% vèn ®Çu t­. Do ®ã ,hiÓu theo nghÜa nµy th× khu vùc kinh tÕ t­ nh©n bao hµm c¶ c¸c doanh nghiÖp cã vèn ®Çu t­ n­íc ngoµi. NghÜa hÑp h¬n: Theo b¸o c¸o chÝnh trÞ tr×nh §¹i héi ®¹i biÓu toµn quèc lÇn thø 9 cña §¶ng Céng S¶n ViÖt Nam th× nÒn kinh tÕ thÞ tr­êng ®Þnh h­íng XHCN gåm 6 thµnh phÇn kinh tÕ: kinh tÕ nhµ n­íc; kinh tÕ tËp thÓ; kinh tÕ c¸ thÓ, tiÓu chñ ; kinh tÕ t­ b¶n t­ nh©n; kinh tÕ t­ b¶n nhµ n­íc vµ kinh tÕ cã vèn ®Çu t­ n­íc ngoµi ; trong ®ã KVTN bao gåm kinh tÕ c¸ thÓ ,tiÓu chñ vµ kinh tÕ t­ b¶n , t­ nh©n. §©y lµ hai thµnh phÇn kinh tÕ ®Òu cã nguån gèc chung lµ së h÷u t­ nh©n. C¸c chñ thÓ cña nã tiÕn hµnh s¶n xuÊt, kinh doanhv× lîi Ých trùc tiÕp cña c¸ nh©nhay tËp thÓ c¸ nh©n ho¹t ®éng d­íi nh÷ng h×nh thøc kh¸c nhau, dï cã thuª hay kh”ng thuª m­ín lao ®éng. Kinh tÕ c¸ thÓ, tiÓu chñ:®©y lµ thµnh phÇn kinh tÕ cña n”ng d©n , thî thñ c”ng , ng­êi lµm th­¬ng nghiÖp vµ dÞch vô c¸ thÓ:bao gåm nh÷ng ®¬n vÞ kinh tÕ dùa trªn së h÷u t­ nhan nhá vÒ t­ liÖu s¶n xuÊt vµ ho¹t ®éng chñ yÕu dùa vµo søc lao ®éng cña chÝnh hä .Nã tån t¹i ®éc lËp d­íi nhiÒu h×nh thøc nh­:x­ëng thî gia ®×nh ,hé kinh doanh th­¬ng m¹i dÞch vô, kinh tÕ trang tr¹i ,c”ng ty TNHH; cong ty cæ phÇn. Sù kh¸c nhau gi÷akinh tÕ c¸ thÓ vµ tiÓu chñ lµ ë chç:trong kinh tÕ c¸ thÓ nguån thu nhËp hoµn toµn dùa vµo lao ®éng vµ vèn cña b¶n th©n , gia ®×nh, cßn trong kinh tÕ tiÓu chñ , tuy nguån thu nhËp vÉn chñ yÕu dùa vµo lao ®éng vµ vèn cña b¶n th©n vµ gia ®×nh nh­ng cã thuª lao ®éng. Ở n­íc ta do tr×nh ®é cña LLSX cßn thÊp thµnh phÇn kinh tÕ nµy cã vai trß to lín trong nhiÒu ngµnh nghÒ vµ ë kh¾p c¸c ®Þa bµn c¶ n­íc. Nã cã kh¶ n¨ng sö dông vµ ph¸t huy cã hiÖu qu¶ c¸c tiÒm n¨ng vÒ vèn, søc lao ®éng,c¸c kinh nghiÖm s¶n xuÊt ,ngµnh nghÒ truyÒn thèng ë ®Þa ph­¬ng . Tuy nhiªn nã cã h¹n chÕ lµ tÝnh manh món, tù ph¸t vµ chËm øng dông c¸c tiÕn bé KHCN vµo s¶n xuÊt. V× vËy , mét mÆt cÇn cÇn t¹o ®iÒu kiÖn ®Ó thµnh phÇn kinh tÕ nµy ph¸t triÓn; mÆt kh¸c cÇn h­íng dÉn dÇn dÇn nã vµo kinh tÕ thÞ tr­êng mét c¸ch tù nguyÖn hoÆc lµm vÖ tinh cho c¸c doanh nghiÖp nhµ n­íc vµ c¸c HTX. Kinh tÕ TBTN :lµ nh÷ng ®¬n vÞ kinh tÕ mµ vèn do mét hoÆc mét sè nhµ t­ b¶n gãp l¹i ®Ó s¶n xuÊt , kinh doanh vµ cã thuª m­ín lao ®éng. Kinh tÕ TBTN dùa trªn së h÷u t­ nh©n TBCN vÒ TLSX vµ do thuª m­ín c”ng nh©n nªn cã sù bãc lét nh÷ng ng­êi lao ®éng lµm thuª . Nh­ vËy , t­ b¶n t­ nh©n lµ ng­êi s¶n xuÊt kinh doanh theo lèi TBCN ®Î thu lîi nhuËn , h×nh thøc biÓu hiÖn cña gi¸ trÞ thÆng d­ do nh÷ng ng­êi lao ®éng t¹o ra. §Ó trë thµnh nhµ t­ b¶n, mét ng­êi ph¶i lµ chñ cña mét sè tiÒn (hµng ho¸, vËt chÊt) nhÊt ®Þnh ®ñ ®Ó: Mua c¸c t­ liÖu s¶n xuÊt cÇn thiÕt. Thuª søc lao ®éng ®r tiÕn hµnh ho¹t ®éng s¶n xuÊt, kinh doanh vµ lîi nhuËn hä thu ®­îc ph¶i ®ñ ®Ó: §¶m b¶o cho gia ®×nh vµ b¶n th©n hä cã ®­îcmøc sèng cao trong x· héi. Cã tÜch luü ®Ó t¸i s¶n xuÊt më réng . Nh­ vËy nã kh¸c víi kinh tÕ c¸ thÓ, tiÓu chñ ë quy m” vèn ®Çu t­ ,sè lao ®éng thuª m­ín vµ quy m” thu nhËp cña hä lín h¬n nhiÒu. Chóng ta còng cÇn hiÓu thªm vÒ quan hÖ bãc lét trong thµnh phÇn kinh tÕ nµy. ChÕ ®é ng­êi bãc lét ng­êi nh­ng nã chØ tån t¹i trong c¸c ®iÒu kiÖn sau: VÒ mÆt kinh tÕ :giai cÊp bãc lét n¾m trong tay nh­ng t­ liÖu s¶n xuÊt c¬ b¶n , chñ yÕu vµ c¸c nguån lùc kh¸c quan träng cña x· héi. Về mặt chính trị : giai cấp bóc lột nắm bộ máy thống trị. Đối với nước ta hiện nay, khi xem xét vấn đề liệu có bóc lột hay không phải đặt trong mối quan hệ sau đây: Xem xét mối quan hệ giữa tư bản và người lao động làm thuê, trong điều kiện nước ta nhiều lao động, đại đa số lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, năng suất lao động thấp và đang thiếu việc làm nghiêm trọng . Tức là xem xét mối quan hệ đó với nền kinh tế “dư thừa lao động”, nên bất cứ ai bỏ vốn ra kinh doanh, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động đều được khuyến khích. Hơn nữa đối với nước ta hiện nay thì: + Quan hệ không phải là quan hệ chủ đạo của xã hội . + Các tư liệu sản xuất chủ yếu của xà hội thuộc về nhân dân lao động. + Nền kinh tế thị trường nói chung và khu vực kinh tế tư nhân đều được điều tiêt bởi nhà nước. Do vậy, để hiểu thế nào là bóc lột thì cần phải đặt trong điều kiện lịch sử cụ thể, không thể phán xét một cách cứng nhắc, phiến diện. 1.3. Phân định ranh giới giữa các thành phần của kinh tế tư nhân. Việc đưa ra các tiêu chí chính thức để phân định ranh giới giữa các loại hình kinh tế là rất cần thiết , nếu chúng ta chủ trương phải làm rõ các loại hình kinh tế trong chính sách của mình và đi đến những định nghĩa khoa học về chúng. Đây là một vấn đề rất khó cả về mặt lí luận và thực tiễn. Giả thiết 1 : Tạm thời lấy sự phân định ranh giới giữa các loại doanh nghiệp : nhỏ, vừa, lớn làm tiêu chí. Quy mô của nó lại phụ thuộc và số lao động thường xuyên; vốn sản xuất; doanh thu; lợi nhuận và giá trị gia tăng. Các tiêu chí này lại khác nhau giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển. Do đó, việc phân định này là rất phức tạp. Ở Việt Nam cũng vậy, theo công văn số 681/CP ban hành ngày 20.6.1998 thì doanh nghiệp vừa và nhỏ là doanh nghiệp có số công nhân dưới 200 người và vốn kinh doanh dưới 5 tỷ VND; doanh nghiệp nhỏ là DN có số vốn dưới 1 tỷ VND và sử dụng dưới 50 lao động. Theo nghị định 90/2001 NĐ-CP của Chính phủ thì DN vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng kí theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí không quá 10 tỷ VND hoặc có số lao động trung bình hàng năm dưới 300 người. Giả thiết 2: Theo quan điểm của Trung Quốc: Doanh nghiệp tư nhân là một tổ chức hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, do tư nhân sở hữu và có thuê trên 8 công nhân. Giả thiết 3: Chúng ta khó có thể tìm được một cơ sở khoa học nêu các tiêu chí một cách chính xác từng loại hình. Do đó cần phải có tư duy mới, khái niệm kinh tế mới phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH và công cuộc đổi mới đất nước ta hiện nay. Sở dĩ chúng ta thấy được sự phân định ranh giới giữa các thành phần của khu vưc kinh tế này là không khả thi vì những tiêu chí trên chỉ mang tính tương đối, chủ quan và luôn bị thực tiễn cuộc sống bỏ qua. Hiện nay, ở Trung Quốc người ta phân thành 2 khu vực: “khu vực kinh tế công hữu và phi công hữu”. Hơn nữa, cách phân chia các TPKT là dựa vào QHSX. Cách tiếp cận này chỉ mang tính định tính nên rất khó để có thể xác định các tiêu thức cụ thể và chính xác cho mỗi loại hình kinh tế. Thực tế cho thấy, cũng như kinh tế nhà nước kinh tế tư nhân tuy có nhiều trình độ phát triển khác nhau song cũng không nên chia cắt nó theo góc độ QHSH để có sự phân biệt đối xử khác nhau giữa chúng. Bản chất của KTTN là sở hữu tư nhân, mà SHTN lại luôn luôn là một khái niệm đồng nhất. Dù là kinh tế cá thể ,tiểu chủ hay kinh tế TBTN thì giữa chúng luôn có đặc điểm chung, là đều dựa trên chế độ SHTN về TLSX và các nguồn lực sản xuất khác trong xã hội. Vấn đề này rất phức tạp nên trong đề tài này em chỉ đề cập đến quan điểm về KTTN theo tinh thần của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 9 của Đảng để thống nhất và tiện theo dõi. 2. Tính tất yếu khách quan tồn tại và phát triển KTTN ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH. 2.1. Nhận thức lại về KTTN. KTTN là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên cho đến nay, người ta vẫn còn tỏ ra lúng túng trong việc lí giải những nhận thức đúng đắn về chế độ sở hữu tư nhân, đặc biệt là ở các nền kinh tế đang chuyển đổi sang kinh tế thị trường như ở Việt Nam. Bởi lẽ, trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản”, Mác đã chỉ ra rằng “Người cộng sản có thể khái quát lý luận của mịnh bằng một câu: xoá bỏ chế độ SHTN”. Song trên thực tế , kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường XHCN ở nhiều nước đã chỉ ra rằng: Trung Quốc cho thấy họ đã vận dụng linh hoạt nguyên lý này. Xoá bỏ chế độ SHTN là một quá trình lịch sử do quy luật khách quan quyết định, có thể áp dụng nhiều phương thức khác nhau để giải quyết, xoá bỏ chế độ SHTN là nhằm xoá bỏ hiện tượng lợi dụng quyền sở hữu tài sản(TLSX) để nô dịch, bóc lột người khác và xoá bỏ tất cả các quan hệ quyền sở hữu cản trở viẹc sử dụng tài sản để tạo ra của cải cho XH. Vì vậy việc Chính phủ nhiều nước XHCN thừa nhận sự tồn tại tất yếu của KTTT cùng các khái niệm như : Tư bản, tư bản nhà nước, tự do hoá thương mại,… là bước đột phá trong kinh tế học XHCN. Đối với những nước đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH như Việt Nam , người ta càng không thể xoá bỏ chế độ SHTN với chỉ lý do đó là thu nhập bóc lột. Bởi một khi đã chấp nhận sự tồn tại hợp pháp của chế độ tư hữu, tất yếu phải thừa nhận tính hợp pháp của thu nhập bóc lột. 2.2. Tất yếu tồn tại của KTTN ở nước ta. Lý luận này xuất phát từ tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Sẽ là sai lầm và phải trẻa giá nếu quan niệm “bỏ qua chế độ TBCN” theo kiểu phủ định sạch trơn, đem đối lập CNXH với CNTB, bỏ qua cả những cái “không thể bỏ qua” như đã từng xảy ra ở các nước XHCN như Liên Xô , Đông Âu và ở nước ta trước thời kỳ đổi mới trước đây. Vì vậy, Báo cáo chính trị của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 9 của Đảng đã nói rõ: “Bỏ qua chế độ TBCN là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của QHSX và kiến trúc thượng tầng TBCN, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN, để phát triển nhanh LLSX, xây dựng nền kinh tế hiện đại”. Xuất phát từ tính tất yếu khách quan của sự tồn tại kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH: Đó là QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX quy định. Trong thời kì quá độ ở nước ta,do trình độ của LLSX còn thấp , lạ phân bố không đều giữa các ngành, vùng nên tất yếu phải tồn tại nhiều loại hình, hình thức sở hữu,nhiều thành phần kinh tế. Chính V.I. Lê nin đã chỉ ra rằng trong thời kỳ quá độ (Kinh tế XHCN, Kinh tế của những người sản xuất hàng hoá nhỏ, Kinh tế TBTN), tuỳ hoàn cảnh kinh tế cụ thể mà xác định cơ cấu thành phần của từng giai đoạn cho phù hợp Qua thực tiễn của hơn 15 năm đổi mới, Đại hội 9 của Đảng đã xác định nền kinh tế nước ta có 6 thành phần. Đó là: – Kinh tế nhà nước. – Kinh tế tập thể. – Kinh tế cá thể, tiểu chủ. – Kinh tế tư bản tư nhân. – Kinh tế tư bản nhà nước. – Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Như vậy, sự tồn tại của thành phần kinh tế tư nhân là một tất yếu khách quan. II. Vai trò, vị trí và tác dụng của KTTN ở nước ta. 1. Vai trò của KTTN. KTTN là một bộ phận quan trọng hợp thành của nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN. Góp phần đảm bảo cân bằng ngân sách. Năm 2001 đóng góp 6370 tỷ VND. Góp phần giải quyết các vấn đề XH:việc làm, lao động, xoá đói giảm nghèo, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị vag nông thôn… Là lực lượng kinh tế của tuyệt đại đa số nhân dân. Là lực lượng tham gia tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô: Toàn dụng nhân lực. Góp phần vào tăng trưởng GDP :36,6%(2000) lên 41,7%(2003) và 42%(2004) 1.1. Trong lĩnh vực nông nghiệp. Theo tinh thần nghị quyết 10 của Bộ chính trị và điều tra về kinh tế trang trại của trương Đại học KTQD (4.1999) thì vốn bình quân của một trang trại là 291.43 triệu VND,giá trị hàng hoá trung bình là 91,449 triệu đồng, trong đó vốn của chủ trang trại là 91,03%. Đây là một bộ phận quan trọng mang ỹ nghĩa lớn là đã đưa và lối làm ăn mới mà cơ chế cũ của thời bao cấp đã không có điều kiện phát triển. 1.2 . Trong lĩnh vực công nghiệp. Năm 2000, giá trị sản lượng của KVTN tăng 22,7% , đến năm 2004 tăng lên 22,8% trong khi đó khu vực quốc doanh chỉ là 11,4% và khu vực có vố đầu tư nước ngoài là 18,7% . Như vậy đây là khu vực kinh tế có những bước tăng trưởng mạnh mẽ , chiếm tỷ trọng 27% giá trị sản xuất công nghiệp (2004). Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc khu vực chế tạo của loại này khoảng 5600 doanh nghiệp đã góp phần quan trọng trong quá trình CNH, HĐH nông thôn Hình thành loại hình hoạt động có tính chất chuyên nghiệp trên địa bàn nông thôn. Góp phần giải quyết việc làm tại chỗ và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn theo hướng : tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ , giảm dần khu vực nông nghiệp và công nghiệp xây dựng. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn. Phát triển CN, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn , góp phần xây dựng và phát triển nông thôn Việt Nam theo hướng hiện đại. 1.3 Trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ. Hiện nay cả n ư ớc có khoảng trên 2 triệu hộ kinh doanh cá thể thì chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ , thương mại. Khu vực kinh tế này chiếm 82% tổng mức bán lẻ của hàng hoá và dịch vụ của cả nước(2004). Với sự hoạt động và tự lập của rất nhiều các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, … hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ: xuất nhập khẩu,… 2. Tác dụng của KTTN đối với sự phát triển KT-XH. Làm cho cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế về giá cả , chất lượng dịch vụ ngày càng gia tăng(tạo môi trường kinh doanh). Có thể nói trong những năm qua, KTTN đã góp phần gia tăng tính cạnh tranh mạnh mẽ về giá trị về giá cả , nâng cao chất lượng hàng hoá và dịch vụ theo hướng có lợi cho người tiêu dùng, phá bỏ dần tính độc quyền của một số doanh nghiệp nhà nước. Đây cũng là một TPKT hết sức nhạy bén với thị trường, thích ứng với cơ chế kinh tế mới, thúc đẩy sự hình thành và phát triển các loại thị trường: thị trường lao động, thị trường TLSX, thị trường CNTT, thị trường chứng khoán,… 2.1. Huy động tiềm năng về nhân tài, vật lực. 2.1.1. Về vốn. Năm 1996 riêng doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 20.665 tỷ VND chiếm 5% tổng số vốn đầu tư của toàn XH và 6,9% vốn kinh doanh của các ngành , trong khi đó cả KVTN là 47.165 tỷ VND chiếm 15% . Số vốn đăng kí hàng năm từ 1998 đến 2004 là: Đơn vị: tỷ đồng Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 Số vốn ĐK 8520 9790 13780 35575 51284 54212 71788 Tỷ trọng đầu tư của các hộ kinh doanh cá thể và các doanh nghiệp tư nhân trong tổng số vốn đầu tư của toàn XH tăng từ 20% (2000) lên 23%(2001), 25,3% (2002) , 27%(2003) và 29% (2004). Tổng số vốn đầu tư của dân cư và tư nhân ước đạt 67.000 tỷ VND , chiếm 26,7% tổng số vốn đầu tư toàn XH, tăng lên 10,4% so với 2003. 2.1.2. Về lao động . Năm 2004, lao động trong KVTN xấp xỉ khu vực nhà nước . Ngoài quốc doanh giải quyết 1,6 – 2 triệu việc làm . Đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm 96%) thu hút 49% việc làm ở khu vực phi nông nghiệp ở nông thôn, chiếm 25- 26% lực lượng lao động của cả nước. Riêng kinh tế cá thể (phi nông nghiệp) chiếm 16% lao động , giải quyết việc làm cho trên 6 triệu người. Nếu tính cả khu vực sản xuất nông nghiệp thì vào năm 1998 , số người alo động làm việc trong KVTN là 34 triệu lao động; chiếm trên 90% lao động của toàn XH. Trong khi đó khu vực nhà nước chỉ chiếm có 9% ,và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 0,67%. Thêm vào đó, tính theo tỷ lệ thu hút lao động trên vốn đầu tư thì kinh tế cá thể thu hút 20 lao động trên 1 tỷ đồng vốn ; trong khi DNNN chỉ là 11,5 lao động trên 1 tỷ đồng vốn và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thì con số này là 1,7. Như vậy khu vực tư nhân đóng vai trò, vị trí then chốt trong việc giải quyết việc làm cũng như huy động các nguồn lực trong XH. 2.1.3. Thúc đẩy mọi thành viên trong XH từ bỏ cơ chế cũ, nỗ lực bỏ sức, bỏ của, nhạy bén và năng động khai thác các nguồn lực để làm ra của cải , đáp ứng nhu cầu của bản thân và làm giàu cho XH. 2.1.4. Tạo ra đội ngũ những nhà doanh nghiệp giỏi, nhạy bén với thị trường ,đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH,HĐH đất nước . 2.1.5 Tạo ra đòi hỏi cấp bách phải có sự thay đổi về mặt luật pháp, đặc biiệt là luật pháp kinh tế cho phù hợp với những yêu cầu mới. 2.1.6. Đặt bộ máy quản lý nhà nước vào tình thế phải thay đổi và thích nghi. III. Thực trạng KTTN ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. 1. Kết quả tích cực trong phát triển KTTN. Số lượng các doanh nghiệp tăng với tốc độ lớn so với các doanh nghiệpthuộc các khu vực kinh tế khác,đặc biệt là từ năm 2000 đến nay. Trong những năm qua, chúng ta đã chứng kiến sự lớn mạnh không ngừng của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế này cả về số lượng, quy mô,phạm vi và lĩnh vực hoạt động. Đến cuối năm 2004,cả nước có 150.000 doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN. trong đó các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ chiếm 96% tổng số doanh nghiệp,đóng góp khoảng 26% GDP, 31% tổng giá trsị sản lượng công nghiệp, 78% tổng mức bán lẻ và 49% việc làm trong khu vực phi nông nghiệp. Số lượng hộ kinh doanh trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, thương mạidịchvụtăng từ 0,84 triệu hộ (1990) lên 2,2 triệu hộ (1996) và 3 triệu hộ (2004). Cả nước có gần 130.000 trang trại và 10 triệu hộ sản xuất hàng hoá. Năm 1992 1994 1996 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 SốDN 5198 10881 1527 18894 26001 28700 41700 66780 120.000 150000 Tốc độ đầu tư của KTTN lơn hơn các doanh nghiệp khác. M ức vốn đăng kí trung bình của 1 doanh nghiệp tăng nhanh , từ 570 triệu VND (91-99) lên 2,015tỷ đồng (2004). Mức độ tăng trung bình 25 – 30% / năm. Tổng lượng vốn đầu tư cũng tăng liên tục ở các loại hình DN của khu vực này. Loại DN 91-98 1999 2000 2001 2002 2003 2004 DNTN 197 400 439 546 629 665 621 TNHH 1006 1360 1091 1276 1513 1577 1603 CP 11832 5316 4223 4923 6473 6675 5783 HD – – 550 88 – 300 981 Đơn vị tỷ đồng. Lao động trong khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng lớn và ngày càng tăng. Trong giai đoạn 1991-1998 đã giải quyết 8 triệu việc làm. Hiện nay lao động trong khu vực này xấp xỉ KVNN , giải quyết cho khoảng 34 triệu lao động. Riêng năm 2004 là 1,6- 2 triệu việc làm. Tỷ lệ tăng trưởng sản xuất CN và hàng hoá XH của KHTN là lớn nhất. Giai đoạn 1997 – 1999 tốc độ tăng trưởng đạt 72,5%. Đây là một con số khá ấn tượng. Tỷ lệ tăng trưởng nhập khẩu của khu vực KTTN tương đối ổn định: đạt 27 – 29% hàng năm. Chuyển dịch cơ cấu theo hướng có lợi và hiện đại. Về cơ cấu loại hình doanh nghiệp. Trước năm 2000: Doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ trọng cao. Nhưng sau thời điểm Luật Doanh nghiệp có hiệu lực từ 1.1.2000, tỷ lệ này đã giảm từ 64% (1991- 1999) xuống 34% (2003) và chỉ còn 30% (2004). Trong khi đó tỷ lệ các công ty TNHH và công ty cổ phần lại tăng từ 36%lên 66%(2003) và 67,3%(2004). Riêng công ty Cổ phần tăng từ 1,1% lên 10%(2003) và 13,6%(2004). Điều này đã phản ánh xu hướng phát triển hiện đại không hạn chế về quy mô và thời hạn hoạt động. Về phân bố theo lĩnh vực kinh doanh. Trước thời điểm 2000, các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế này chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực thương mại , chiếm 61%; công nghiệp chỉ chiếm 26%, xây dựng 3% còn lại là dịch vụ và kinh doanh tổng hợp. Nhưng đến năm 2004 thì các con số này đã thay đổi đáng kể: Thương mại là 42,7%; 31,4% bao gồm cả CN, XD, nông nghiệp 3,9% còn lại 21,9% dịch vụ và kinh doanh tổng hợp. Như vậy những con số này đã phản ánh xu hướng vận động tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng dịc vụ và kinh doanh tổng hợp theo hướng có lợi, phù hợp với xu thế toàn cầu hoá kinh tế thế giới hiện nay. 2. Những hạn chế của KTTN ở nước ta. 2.1. Bình quân vốn của doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN còn thấp. Quy mô hiện nay của đa số c ác doanh nghiệp còn nhỏ bé, có đến 82,7% số DN có mức vốn dưới 1 tỷ VND. Trong khi đó các DN thuộc KVNN là 3,1 tỷ (1993) và tăng lên 18,4 tỷ (2004); Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài con số này lớn hơn rất nhiều 3,5 triệu USD tương đương 50 tỷ VND. Nguyên nhân của hiện tượng trên là: Thứ nhất do các doanh nhân có ít vốn. Thứ hai là khó tiếp cận với nguồn vốn tín dụng. Thứ ba do sự yếu kém trong năng lực nội sinh. Do vậy, tình trạng thiếu vốn rất phổ biến dẫn đến không có vốn để đầu tư khiến KTCN lạc hậu, sản phẩm không đủ sức cạnh tranh trên thị trường; kinh doanh không ổn định, chưa được định hướng lâu dài. Thêm một nhược điểm nữa đó là việc loại hình DNTN được ưa chuộng phổ biến hơn cả. Do đó tồn tại tâm lý làm một ông chủ nhỏ hơn là đồng chủ một công ty lớn; triết lý “một mình , một xe, một ghe, một lò” vẫn còn ăn sâu trong tâm trí. 2.2. Đội ngũ những doanh nhân phần lớn đã qua môi trường kinh doanh(42% từ khu vực KTNN về hưu và nghỉ mất sức; 43,4% thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nhưng trình độ nhìn chung còn rất thấp( gần 50% không có bằng cấp chuyên môn). 2.3. Tăng trưởng GDP của khu vực KTTN còn thấp so với các khu vực khác. Tỷ trọng đóng góp GDP giảm từ 70,71 % (1990) xuống 53,51%(1995), 47,7%(2000) và chỉ còn 42%(2004). Nguyên nhân của hiện tượng trên xuất phát từ việc các DN thuộc khu vực KTTN không có năng lực mới; Do sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh té khu vực 1996,1997 và thứ ba là do những bất cập trong môi trường chính trị và pháp lý vẫn tồn tại dai dẳng bấy lâu nay cản trở thành phần này phát triển. 2.4. Tỷ trọng đóng góp của khu vực KTTN vào ngân sách Nhà nước giảm. N ăm 1990- 1994 t ỷ l ệ đ óng g óp 21-22%, đ ến n ăm 1995- 1998 l à 24- 26%; nh ưng đ ến n ăm 2000 ch ỉ c òn 17%. 2.5. Năng suất tổng hợp khu vực KTTN thấp hơn so với các khu vực khác. Do tình trạng thiếu vốn để đầu tư vào KHCN, sản xuất kinh doanh chủ yếu là gia công nhỏ lẻ ; lực lượng lao động phần lớn chưa qua đào tạo hoặc là đào tạo ở cấp thấp như đã nêu trên nên nhìn chung năng suất lao động ở khu vực này còn thấp hơn rất nhiều so với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài như các DN liên doanh. 2.6. Hoạt động của khu vực KTTN còn nhiều tiêu cực, gây khó khăn trong công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát. Hiện nay , vấn đề nổi cộm ở khu vực kinh tế này đó là tình trạng hoạt động phi pháp đang diễn biến hết sức phức tạp .Hiện tượng đầu tư chui , hoạt động kinh tế ngầm diễn ra phổ biến dẫn đến các cơ quan có thẩm quyền không thể kiểm tr, kiểm soát hoạt động của chúng. Nước ta hiện nay cũng được coi là một trong những nước có hoạt động kinh tế ngầm rát phổ biến gây nên những thất thoát lớn cho ngân sách Nhà nước và ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh. Gần đây, chúng ta liên tục chứng kiến các lực lượng công an kinh tế đưa ra ánh sáng hàng loạt các vụ lừa đảo, các công ty ma, núp bóng, trá hình dưới dạng các DN để làm ăn phi pháp: buôn lậu, lừa đảo, kinh doanh hàng cấm. Tình trạng phổ biến ở loại hình kinh tế này là trốn thuế, kê khai khống hoá đơn chứng từ VAT; gian lận thương mại, tranh chấp thương mại liên tục xảy ra và ngày càng phức tạp. Kinh tế tư nhân cũng là một bộ phận của nền KTTT do vậy nó cũng gây ra hiệu ứng tiêu cực đối với XH đó là sự phân hoá giàu nghèo và tình trạng bất bình đẳng trong XH ngày càng tăng “giàu càng giàu và nghèo càng nghèo”. Đây là một trong những bài toán nan giả nhất đòi hỏi phải có nhưng biện pháp kịp thời và đúng đắn. 2.7. Còn thiếu một tổ chức quán xuyến, chăm lo một cách toàn diện và có hệ thống đối với sự phát triển của KTTN. Môi trường pháp lý và môi trường vật chất , tinh thần cho kinh tế tư nhân vẫn chưa đồng bộ và hoàn thiện. Về đất đai: Mặc dù có Luật đất đai 2003 và nhiều Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2004được coi là bước ngoặt mang tính đột phá, đã dỡ bỏ nhiều rào cản , tạo sự bình đẳng cho khu vực KTTN phát triển. Tuy nhiên , hiện nay nổi cộm lên vẫn là những bất hợp lý trong : Cơ chế quản lý Nhà nước về đất đai: vừa thưa, vừa thiếu, chưa hình thành được một cơ chế đồng bộ vế vấn đề phân cấp, quy hoạch , chưa quy định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của từng cấp, ngành trong cong tác quản lý đất đai, gây nên sự chồng chéo , bất hợp lý. Vấn đề quy hoạch đất vẫn còn nhiều bất cập: Các địa phương quy hoạch ôồạt, theo phong trào, thiếu tính khoa học. Nhiều tỉnh, địa phương quy hoạch đất xong từ rất lâu mà vẫn không thấy các dự án được triển khai , trong khi đó người dân thì không có đất để sản xuất. Song nhức nhối hơn cả laàtình trạng tham ô, tham nhũng đất một cách trắng trợn của các vị quan chức cấp cao ở cả TƯ và địa phương gây dư luận xấu trong dân và ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Tình trạng sang nhượng, chuyển đổi vẫn còn rất mập mờ, thiếu minh bạch. Vẫn tồn tại sự bất bình đẳng DNNN và tư nhân trong việc thuê, mua mặt bằng sản xuất như việc DNNN thì được giao đất không thu tiền sử dụng đất trong khi đó các doanh nghiệp tư nhân lại găặpphải râấtnhiều khó khăn trong việc thuê, mua, sang nhượngđâấtđể sản xuất, kinh doanh, đặc biệt họ phải trả với giá rất cao để có đất sản xuất, kinh doanh. Vấn đề thuế và hải quan:còn rất nhiều thủ tục phiền hà:theo điều tra thì chiỉcó dưới 50% DN tỏ ra hiìalòng với thủ tục thuế hiện nay. Đặc biệt là việc xác định thuế GTGT đầu vào và hoàn thuế GTGT là hai vấn đề bức xúc nhất. Đối với những DN thuộc khu vực KTTN thì họ còn gặp phải rất nhiều nhũng nhiễu, phiền hà trong thủ tục hải quan. Đây là vấn đề hết sức cấp bách cần sớm được đưa ra giải quyết triệt để. Thủ tục hành chính rườm rà: Xét ngay đến thủ tục thành lập doanh nghiệp:sau khi nhận giấy ĐKKD trung bình môỗidoanh nghiệp phải mất từ 54- 63 ngày mơớihoàn tất thủ tục qua 6 bước: Đăng kí KD, Khắc dấu, Đăng kí mã số thuế, Đóng thuế môn bài, Mua hoá đơn lần đầu và cuối cùng là đăng báo.Trung bình 1 doanh nghiệp phaảimất 170 USD (1/3 GDP trên đầu người) để hoàn tâấtthủ tục thành lập. Trong khi đó, ở Australia chỉ có 2 thủ tục với chi phí bằng 2%GDP đầu người ,ở Singapo là 7 thủ tục và 8 ngày với mức chi phí 8% GDP. IV. Giải pháp cho sự phát triển của KTTN. KTTN là một bộ phận rộng lớn tronh cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, nó có vai trò đặc biệt quan trọng. Đồng thời cũng là một lực lượng kinh tế rất phức tạp, tiềm ẩn nhiều tiêu cực, khuyết tật, dễ vận động và phát triên đi ra ngoài quỹ đạo và sự phát triển đi ra ngoài quỹ đạo và định hướng XHCN của Nhà nước. Do vậy cần có các biện pháp kích thích các kết quả tích cực của thành phần kinh tế này phát triển đồng thời phải có biện pháp hạn chế những tiêu cực do bản thân nó gây ra .Trên cơ sở thiết lập những chính sách kinh tế vi mô và vĩ mô,tạo điều kiện cho KTTN phát triển nói riêng và nền kinh tế thị trường XHCN nói chung theo xu hướng toàn cầu hoá. 1. Tiếp tục đổi mới quan điểm phát triển KTTN phù hợp với tình hình và yêu cầu hiện nay. Hiện nay vẫn còn rất nhiều những cản trở,vướng mắc về quan điểm lý luận đối với KTTN vẫn chưa được tháo gỡ. Do vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đén định hướng,cơ chế,chính sách phát triển KTTN.Đảng và nhà nước cần phải có chính sách đẩy mạnh công tác nghiên cứu để làm sáng tỏ vấn đề trên cả về mặt lí luận và thực tiễn. Củng cố và lành mạnh hoá lực lượng KTNN để làm chỗ dựa và thúc đẩy KTTN phát triển đúng hướng và có hiệu quả. KTNN và KTTN không phải đối lập nhau, loại trừ nhau mà liên kết hợp tác và cạnh tranh nhau .Trong những năm đã qua do quan niệm sai lầm dẫn đến sự trì trệ của nền kinh tế . Quan niệm này hiện nay đang được tư duy mới ,có cách nhìn mới . Chúng ta đang tích cực đẩy mạnh việc đổi mới, sắp xếp lại KTNN không chỉ là một đòi hỏi cấp thiết để nâng cao vai trò và hiệu quả của KTNNmà còn góp phần thúc đẩy KTTN phát triển . Chủ trương cổ phần hoá ,giao, bán, khoán, cho thuê các doanh nghiệp nhỏ mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% để tạo điều kiện thu hút vốn từ nhiều nguồn trong XH.Điều này cũng thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa KTNN và KTTN. Việc CPH trong những năm qua nhất là từ năm 2000 trở lại đâyđã đạt được những thành tựu đáng kể, cả nước đã có trên 500.000 DNNN được CPH thu hút hàng trăm nghìn tỷ đồng. KTTN là một bộ phận quan trọng và rộng rãi nhất để thực hiện chiến lược thu hút vốn đầu tư, đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước. Trong giai đoạn 1995- 2000 vốn đầu tư của nhà nước là 17,8%; khu vực tư nhân và dân cư chiếm 21,3%, KV nước ngoài 24%. Mục tiêu trong giai đoạn 2005- 2010 đạt từ 24- 25%. KTTN thực chất là kinh tế của nhân dân hay kinh tế dân doanh. Sở dĩ nói như vậy là vì lực lượng lao động trong khu vực này chiếm tới trên 90%lao động của toàn XH(tính cả KV nông nghiệp). Do đó để phát triển KTTN thì phải hướng các chính sách và người dân chứ không phải ai khác. KTTN có quyền và có điều kiện để hợp tác và cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật với các thành phần kinh tế khác. Điều này cũng đã được khẳng định theo tinh thần của Đại hội 9 và trong các văn bản pháp luật hiện hành . Vấn đề bóc lột trong KTTN. Chúng ta cần phải có nhận thức đúng đắn và rõ ràng xét trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể. KTTN với định hướng XHCN. Đại hội IX của Đảng đã xác định: ” Đẩy mạnh CNH,HĐH, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên phát triển LLSX, đồng thời xây dựng QHSX phù hợp theo định hướng XHCN, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nội lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, bảo vệ và cải thiện môi trường. Đối với kinh tế cá t._.

Thực Tiễn Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Nước Ta

Tuy nhiên, các yếu tố XHCN hoặc xuất hiện nhưng không có hiệu quả, hoặc chưa rõ nét. Cụ thể là, thành phần kinh tế nhà nước tuy chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế nhưng hiệu quả thấp. Thậm chí một số tập đoàn kinh tế nhà nước lớn lâm vào tình trạng mất vốn, phá sản, nợ nần (nợ của doanh nghiệp nhà nước đến năm 2013 đạt con số hơn 1 triệu tỷ đồng). Hợp tác xã còn yếu kém hơn, đặc biệt là không hấp dẫn nông dân. Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu theo chính sách ngắn hạn, hiệu lực và hiệu quả thấp, các vấn đề về lũng đoạn thị trường, gian lận, hàng giả… diễn ra phổ biến. Nhà nước làm mất dần niềm tin ở nhân dân do quản lý nền kinh tế chưa thực sự hiệu quả và công bằng, do “lợi ích nhóm” chi phối nên nhiều chính sách kinh tế chưa thực sự xuất phát từ lợi ích chung của quảng đại nhân dân lao động. Sự phân hóa giàu – nghèo ngày càng gia tăng, tệ quan liêu, lãng phí và tham nhũng chưa được ngăn ngừa hiệu quả. Số đông người dân làm nông nghiệp có thu nhập thấp, hầu như rất khó thoát nghèo.

Tất cả những vấn đề đó một lần nữa lại đặt ra câu hỏi: tính XHCN của nền KTTT ở đâu? Mặc dù từ Đại hội XI đã nhấn mạnh, vấn đề đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, coi hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN là một trong ba đột phá chiến lược…, nhưng nhiều năm đã trôi qua mà chủ trương ấy vẫn chưa đem lại thành quả như mong muốn: Kinh tế vĩ mô tuy cơ bản ổn định nhưng chưa vững chắc, còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế phục hồi còn chậm, việc thực hiện tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng gặp nhiều khó khăn và chưa đáp ứng được yêu cầu. Những kết quả bước đầu của việc thực hiện ba đột phá chiến lược chưa đủ để tạo ra sự chuyển biến về chất trong đổi mới mô hình tăng trưởng. Chất lượng tăng trưởng chưa thật sự được nâng cao và duy trì một cách bền vững. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội còn nhiều hạn chế, yếu kém. Công tác quản lý tài nguyên, môi trường còn nhiều bất cập. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu, mục tiêu đề ra là ngăn chặn, từng bước đẩy lùi. An ninh chính trị vẫn còn tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định; bảo vệ chủ quyền quốc gia còn nhiều thách thức; trật tự, an toàn xã hội vẫn còn nhiều bức xúc(2).

Thực tiễn cũng cho thấy, nền KTTT định hướng XHCN có sự khác biệt với nền KTTT tư bản chủ nghĩa, thể hiện chính là ở chỗ ai làm chủ sức mạnh kinh tế và sức mạnh chính trị trong một nước. Trong nền KTTT tư bản chủ nghĩa: đó là giới chủ; trong nền KTTT định hướng XHCN: đó là đông đảo nhân dân lao động.Đó là sự khác biệt duy nhất. Các mặt kỹ thuật và tổ chức còn lại của KTTT như nguyên tắc trao đổi hàng hóa, kỹ thuật kiểm soát nền KTTT, kỹ thuật tổ chức quản lý để nền kinh tế quốc dân nói chung, mỗi tổ chức kinh tế nói riêng hoạt động ở trạng thái hiệu quả đều có thể chung nhau giữa hai loại nước (KKTT tư bản chủ nghĩa và KTTT định hướng XHCN) vì đó là thành quả tiến hóa mang tính nhận thức và khoa học của loài người.

Vì thế, muốn xây dựng nền KTTT định hướng XHCN trong điều kiện hiện nay, nhất thiết cần làm tốt một số công việc sau:

không ngừng nâng cao nhận thức về KTTT định hướng XHCN. Phải thấy rõ, KTTT là thành quả phát triển hàng nghìn năm của nhân loại và đạt được tốc độ phát triển đột biến khi chuyển sang nền kinh tế dựa trên nền tảng công nghiệp cơ khí sản xuất hàng loạt. Chỉ có phát triển KTTT ở trình độ cao, mới có thể hoàn thành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với một cơ cấu kinh tế chuyên môn hóa sâu dựa trên lợi thế cạnh tranh. Sự nỗ lực đó chính là nhằm tăng năng suất lao động và chuyên môn hóa sản xuất là con đường tất yếu khách quan. Vấn đề là phải tìm được các ngành có lợi thế cạnh tranh.

, không ngừng tạo ra các quy chế đảm bảo tính tổ chức và văn minh của các giao dịch trên thị trường, nhất là về phương diện giảm thiểu chi phí và rủi ro cho các chủ thể kinh tế, trong đó chú ý tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, cung cấp thông tin về sản phẩm, kỷ luật hợp đồng và thanh toán không dùng tiền mặt… Từng bước phát triển các phương thức giao dịch phái sinh và hỗ trợ (giao dịch tương tác, bảo hiểm…).

giảm thiểu can thiệp của Nhà nước vào giá cả để tăng cường điều tiết thông qua các công cụ thị trường như doanh nghiệp nhà nước cạnh tranh bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác; Nhà nước sử dụng chính sách tài chính, tiền tệ, thương mại quốc tế để điều tiết phân bổ nguồn lực và phân phối của cải xã hội…

tìm kiếm các mô hình kinh tế tập thể hấp dẫn hộ gia đình. Trong khi chưa thể có kết luận rõ ràng về chế độ sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất thì các doanh nghiệp nhà nước hiện tại cần thực hiện theo ba hướng: 1) Nếu là doanh nghiệp nhà nước sản xuất hàng hóa công cộng thì hoặc quản lý nó như một đơn vị sự nghiệp, hoặc cho đấu thầu đơn hàng sản xuất theo gói hỗ trợ của Nhà nước. 2) Các doanh nghiệp còn lại phải định hướng theo tiêu chí hiệu quả kinh tế cá biệt trong so sánh và cạnh tranh bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác cùng ngành. Có thể cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phù hợp; hoặc có thể cho giải thể, phá sản doanh nghiệp quá yếu kém đi đôi với xem xét trách nhiệm của cá nhân cán bộ quản lý. 3) Thiết lập cơ chế kiểm soát tài sản nhà nước trong các doanh nghiệp theo một cách chặt chẽ, phù hợp với thực tiễn.

kiên quyết cải cách hành chính để có các cơ quan quản lý nhà nước trong sạch, thủ tục quản lý đơn giản, dễ tiếp cận, công khai, đề cao trách nhiệm phục vụ và giải trình của công chức. Trọng trách của Đảng là phải lãnh đạo thành công công cuộc cải cách này và phải thu hút, đào tạo được các công chức trong sạch, tài năng, thích hợp với chức trách được giao. Tạo cơ chế để nhân dân tăng cường giám sát đảng viên, công chức (tổ chức các kênh thông tin cung cấp bằng chứng sai trái của công chức, tổ chức bảo vệ có hiệu quả nhân chứng, tăng cường trách nhiệm phản biện của công luận, nhất là báo chí, truyền thông,…).

Thứ sáu, tăng cường vị thế của đất nước trên thị trường thế giới bằng chính sách đối ngoại mềm dẻo, bảo vệ hiệu quả lợi ích quốc gia, dân tộc.

Những vấn đề còn lại, như xây dựng kết cấu hạ tầng; đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề; nâng cao nhận thức lý luận của Đảng; nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng; kiện toàn luật pháp và bộ máy quản lý nhà nước; hoàn thiện hệ thống chính sách… là những vấn đề lâu dài, cần thiết kế những bước đi ngắn hạn tích cực, nhưng biết lựa chọn mục tiêu đầu tư để đạt hiệu quả dài hạn lớn nhất. Không thể nóng vội làm một lần là xong.

Thực tiễn đã kiểm nghiệm rằng, xây dựng nền KTTT định hướng XHCN, một cách chuẩn tắc ở Việt Nam là một nhiệm vụ khó khăn, nặng nề, lâu dài xét ở góc độ điểm xuất phát từ một nước kém phát triển. Vì thế, cần và có thể xây dựng các kế hoạch đổi mới đất nước và kiên định thực hiện nó để nâng dần trình độ phát triển của KTTT nước ta.

Tuy nhiên, cũng không thể coi nhẹ việc cải cách để cho các quan hệ trao đổi hàng – tiền có điều kiện thuận lợi phát triển. Niềm tin của người dân vào tiền, với tư cách phương tiện lưu thông và việc dùng tiền để đo lường giá cả của các hàng hóa đem ra trao đổi là một thành quả của phát triển các quan hệ xã hội của con người. Nhờ trao đổi hàng hóa mà hình thành thị trường. Đến lượt mình, thị trường, thông qua giá cả, cung – cầu có thể điều tiết hành vi của hàng tỷ con người mà không cần một bộ máy đồ sộ với chi phí không nhỏ của ủy ban kế hoạch nhà nước. Hơn nữa, dưới sự điều tiết của cơ chế thị trường, mỗi người cảm nhận được quyền tự do lựa chọn của họ và tự nguyện nhận trách nhiệm về các hành vi của mình thông qua thưởng phạt của các quan hệ thị trường.

Nhà nước phải đặt ra và đảm bảo sự tuân thủ các quy chế phòng ngừa gian lận, nhất là gian lận trên thị trường tài chính, để duy trì cạnh tranh công bằng, để bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường sống chung, bảo vệ lợi ích quốc gia…

Các quan hệ thị trường, bao hàm cả là những cuộc cạnh tranh gay gắt để làm chủ nguồn nguyên liệu khan hiếm hoặc độc quyền gây ảnh hưởng đối với một lượng khách hàng nào đó, tiềm ẩn nguy cơ, vì vụ lợi, những người kinh doanh có thể làm hại lẫn nhau và làm hại cả người tiêu dùng lẫn người lao động. Vì thế, sự vào cuộc của Nhà nước là cần thiết để buộc các nhà kinh doanh phải hoạt động trong khuôn khổ có lợi cho quốc gia, cho xã hội, cho con người, nhất là người lao động.

Đảng lãnh đạo Nhà nước, nhưng không có nghĩa Đảng làm thay Nhà nước. Nhà nước là một thiết chế, một sản phẩm của nhân loại, có lẽ còn có lịch sử phát triển lâu đời hơn KTTT và Đảng Cộng sản. Đặc biệt, trong chế độ dân chủ cộng hòa, Nhà nước có những nguyên tắc và cơ chế vận hành của nó mà chúng ta phải tuân thủ. Nhưng nguyên tắc tối cao là nhân dân phải kiểm soát được quyền lực của Nhà nước. Các cơ quan của Nhà nước phải kiểm soát lẫn nhau. Trên hết, Nhà nước phải hoạt động có hiệu lực và hiệu quả vì lợi ích quốc gia, vì lợi ích của nhân dân lao động.

Phát triển nền KTTT định hướng XHCN là con đường hiện thực và tối ưu đối với dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, những thiết kế cụ thể để mô hình đó hoạt động hiệu quả còn là thách thức trước Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Song, trên giác độ nhận thức luận, không còn nghi ngờ gì về con đường đã chọn. Vấn đề là kiên định mục đích, linh hoạt trong phương thức thực hiện, coi mục tiêu phát triển bền vững và ưu tiên lợi ích của nhân dân lao động là những tiêu chuẩn tối cao cho các lựa chọn chính sách của Đảng./.

Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học các ban Đảng Trung ương

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia-Sự thật, H, 2016, tr. 16 -17.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, xem từ tr. 245-263.

Thực Trạng Và Giải Pháp Kinh Tế Tư Bản Tư Nhân Ở Nước Ta Hiện Nay

của nền kinh tế theo hướng tích cực. Cùng với chủ trương chuyển nền kinh tế Việt Nam sang nền kinh tế thị trường , Đảng và nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để khuyến khích sự phát triển của các thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư bản tư nhân. Tuy nhiên, kinh tế tư bản tư nhân, thành phần kinh tế non trẻ của nước ta đang phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức. Nhiều vấn đề bất cập trong xã hôi, trong chủ trương chính sách và tổ chức quản lý đang là trở ngại cho sự phát triển của thành phần kinh tế này. Nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới. Cơ hội phát triển rút ngắn, thực hiện thành công CNH, HĐH phấn đấu đưa Việt Nam về cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 là hiện thực. Tuy nhiên, để thực hiện được mục tiêu này đòi hỏi phải có vốn đầu tư lớn với sự giải phóng tối đa lực lượng sản xuất xã hội. Trong bối cảnh các nguồn lực kinh tế của Việt Nam còn đang hạn chế, xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần, còn kinh tế tư bản tư nhân như một động lực phát triển cơ bản là một hướng đi hoàn toàn đúng đắn. Trong những năm vừa qua mặc dù đã có bước phát triển tốt, kinh tế tư bản tư nhân Việt Nam vẫn chưa thực sự có được một vai trò tương xứng với tiềm năng của nó. Bài viết này sẽ tập trung làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản sau đây : Thực trạng và giải pháp kinh tế tư bản tư nhân ở nước ta hiện nay. Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn cùng các bạn đã giúp đỡ tôi trong quá trình làm đề án. Chương I khái quát chung về kinh tế tư bản tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa I. các thành phần kinh tế tư bản tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thành phần kinh tế cá thể ,tiểu chủ. Kinh tế cá thể là thành phần kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và khả năng lao động của bản thân người lao động. Kinh tế tiểu chủ cũng chính là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất nhưng có thuê mướn lao động, tuy nhiên thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào sức lao động và vốn của bản thân và gia đình. Kinh tế cá thể, tiểu chủ đang có vị trí rất quan trọng trong nhiều ngành nghề ở nông thôn và thành thị, có điều kiện phat huy nhanh tiềm năng về vốn sức lao động, tay nghề của từng gia đình, từng người lao động. Do đó, việc mở rộng sản xuất, kinh doanh của kinh tế cá thể và tiểu chủ cần được khuyến khích. Hiện nay, ở nước ta, thành phần kinh tế này phần lớn hoạt động dưới hình thức hộ gia đình, đang là một bộ phận đông đảo, có tiềm năng to lớn, có vị trí quan trọng ,lâu dài. Đối với nước ta, cần phát triển mạnh mẽ thành phần kinh tế này để vừa góp phần tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, vừa giải quyết nhiều việc làm cho người lao động – một vấn đề bức bách hiện nay của đời sống kinh tế xã hội. Trong những năm gần đây, thành phần kinh tế này phát triển nhanh chóng trong nông lâm ngư nghiệp và thương mại, dịch vụ. Nó đã góp phần quan trọng vào các thành tựu kinh tế xã hội. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, kinh tế cá thể tiểu chủ dù cố găngs đến bao nhiêu cũng không loại bỏ được những hạn chế vốn có như: tính tự phát , manh mún, hạn chế về kỹ thuật. Do đó Đảng ta chỉ rõ: cần giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ, giải quyết các vấn đề khó khăn về vốn, về khoa học kỹ thuật và công nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phẩm. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX viết: ” Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển, khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn”. Phát triển các loại hình thông tin với qui mô phù hợp trên từng địa bàn. 2. Thành phần kinh tế tư bản tư nhân . Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế mà xuất kinh doanh dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột sức lao động lam thuê. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, thành phần này có vai trò đáng kể xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất ,xã hội hoá sản xuất cũng như về phương diện giải quyết các vấn đề xã hội. Đây cũng là thành phần kinh tế rất năng động nhạy bén với kinh tế thị trường, do đó sẽ có những đóng góp không nhỏ vào quá trình tăng trưởng kinh tế của đất nước. Hiện nay, kinh tế tư bản tư nhân bước đầu có sự phát triển, nhưng phần lớn tập trung vào lĩnh vực thương mại, dịch vụ và kinh doanh bất động sản; đầu tư vào sản xuất con ít và chủ yếu quy mô vừa và nhỏ . Chính sách của Đảng và Nhà nước ta là khuyến khích tư bản tư nhân bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất, đáp ứng các nhu cầu của dân cư. Nhà nứoc bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của họ; xoá bỏ định kiến và tạo điều kiện thuận lợi về tín dụng, về khoa học công nghệ , về đào tạo cán bộ – cho thành phần kinh tế này. Tuy nhiên, đây là thành phần kinh tế có tính tự phát rất cao. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX có đoạn viết:” Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong các ngành nghề sản xuất , kinh doanh mà pháp luật không cấm . Tạo môi trưòng kinh doanh thuận lợi về chính sách pháp lý để kinh tế ư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tên của Nhà nước , kể cả đầu tư ra nước ngoài ; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần , bán cổ phiếu cho người lao động , liên doanh , liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước , xây dựng quan hệ tốt với chủ doanh nghiệp và người lao động . II . Các loại hình tổ chức kinh doanh cơ bản . 1. Doanh nghiệp tư nhân . Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân là một đơn vị kinh doanh do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập làm chủ. Cá nhân này vừa là chủ sở hữu, vừa là người sử dụng tài sản, đồng thời cũng là người quản lý hoạt động của doanh nghiệp. Thông thường chủ doanh nghiệp là giám đốc, trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng cũng có trường hợp vì những lí do cần thiết, chủ doanh nghiệp không trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh mà thuê người khác làm giám đốc. Nhưng dù trực tiếp hay gián tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân quản lý và tự chịu trách nhiệm không có sự phân chia rủi ro với ai Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiêm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu làm ăn phát đạt thu được nhiều lợi nhuận, chủ doanh nghiệp được hưởng toàn bộ số lợi đó. Ngược lại, nếu gặp rủi ro hay kinh doanh bị thua lỗ, họ phải chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của doanh nghiệp. 2. Công ty trách nhiệm hữu hạn. Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp có không quá 50 thành viên góp vốn thành lập công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của mình. Công ty trách nhiệm hữu hạn có thể chỉ có một thành viên. Công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụtài sản khác của công ty bằng tài sản của mình (trách nhiệm hữu hạn). Thành viên công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghiac vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thì chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty. Như vậy, trong công ty trách nhiệm hữu hạn có sự phân tách tài sản: tài sản của công ty và tài sản của thành viên. Nguyên tắc phân tách được áp dụng trong mọi quan hệ tài sản, nợ nần và trách nhiệm của công ty. Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu ra công chúng để công khai huy động vốn. Việc chuyển nhượng vốn góp của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn trước hết phải ưu tiên cho các thành viên khác của công ty. Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên công ty nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thì chủ sở hữu công ty ó quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác. Công ty cổ phần . Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, ngưòi sở hữu cổ phần gọi là cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu. Trong suốt quá trình hoạt động của công ty cổ phần ít nhất phải có 3 thành viên tham gia công ty cổ phần. Là loại công ty đặc trưng cho công ty đối vốn cho nên có sự liên kết của nhiều thành viên và vì vậy việc quy định số thành viên tôis thiểu phải có đã trở thành thông lệ quôcs tế trong mấy trăm năm tồn tại của công ty cổ phần. ở hầu hết các nước đều có quy định số thành viên tốithiểu của công ty cổ phần. Phần vốn góp (cổ phần ) của các thành viên được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu. Các cổ phiếu do công ty phát hành là một loại hàng hoá. Người có cổ phiếu có thể tự do chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Công ty cổ phần chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty. Các cổ đông chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Trong quá trình hoạt động công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán (như cổ phiếu, trái phiếu) ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán để huy động vốn. Điều này thể hiện khả năng huy động vốn lớn của công ty cổ phần. 4. Công ty hợp danh. Công ty hợp danh được pháp luật ghi nhận là một hình thức của công ty đối nhân, trong đó có ít nhất 2 thành viên (đều là cá nhân và là thương nhân) cung tiến hành hoạt động thương mại (theo nghĩa rộng) dưới một hãng chung (hay hội danh) và cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty. Ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Do tính an toàn pháp lý đối với công chúng cao, mặt khác các thành viên thường có quan hệ mật thiết về nhân thân, nên việc quản lý công ty hợp danh chịu rất ít sự ràng buộc của pháp luật. Về cơ bản, các thành viên có quyền tự thoả thuận về việc quản lý, điều hành công ty. Tuy nhiên cần lưu ý là quyền quản lý công ty hợp danh chỉ thuộc về các thành viên hợp danh, thành viên góp vốn không có quyền quản lý công ty Trong công ty hợp danh , Hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất của công ty bao gồm tất cả các thành viên hợp danh. Hội đồng thành viên có quyền quyết định mọi hoạt động của công ty. Khi họp Hội đồng thành viên, các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau trong biểu quyết (mỗi thành viên chỉ có một phiếu biểu quyết) mà không phụ thuộc vào giá trị phần vốn góp của họ trong công ty. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa quyền của các thành viên trong uản lý của công ty hợp danh với quyền của các thành viên trong quản lý công ty đối vốn (công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần). Trong quá trình hoạt động của công ty, các thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các trức trách quản lý và kiểm soat công ty, và cử một người (trong số thành viên hợp danh ) lam Giám đốc công ty. Giám đốc thực hiện nhiêm vụ điều hành công việc trong công ty, phân công, điều hoà, phối hợp công việc của các thành viên hợp danh và thực hiên các công việc khác theo uỷ quyền của các thành viên hợp danh. Chương II vai trò của kinh tế tư bản tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xhcn i. góp phần quan trọng để tăng trưởng kinh tế . Trên giác độ tổng cung . Kinh tế tư bản tư nhân cung cấp cho xã hội sản phẩm vật chất và dịch vụ để thoả mãn nhu cầu về đời sống , nhu cầu cho quá trình tái sản xuất của xã hội . Với ưu thế nổi trội của khu vực kinh tế tư bản tư nhân : suất đầu tư thấp , dễ chuyển đổi phương hướng sản xuất cho phù hợp với nhu cầu của thị trường , quy mô nhỏ phù hợp với năng lực quản lý của các hộ gia đình , nên đã thu hút được đông đảo các tầng lớp dân cư . Tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế tư bản tư nhân khá ổn định . Khu vực kinh tế tư bản tư nhân có tốc độ phát triển và tốc độ tăng của các năm từ 1995 đến 2000 thường cao hơn tốc độ tăng chung của nền kinh tế (trừ năm 1999).Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm thời kỳ 1995 – 2000 của cả nước 6,9% ; của khu vực kinh tế tư bản tư nhân là 7,2% . Năm 2000 , tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế tư bản tư nhân tăng nhanh hơn nhịp độ tăng GDPcủa toàn bộ nền kinh tế tới 1,5%(nếu tính theo giá hiện hành ) và năm 2003 tốc độ tăng trưởng GDP trong khu vực kinh tế ư nhân tăng so với năm 2002 là 7,24%. Tỷ trọng khu vực kinh tế tư bản tư nhân trong toàn nền kinh tế không những không được cải thiện mà còn suy giảm nhẹ , chủ yếu do trong những năm cuối thập kỷ 90 , nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đi vào hoạt động và làm thay đổi cơ cấu toàn bộ nền kinh tế . Số lượng doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân tăng nhanh, và chiwms số lượng lớn trong tổng số doanh nghiệp của cả nước thể hiên qua bảng sau: Số doanh nghiệp có tại thời điểm 1/1/2003 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 – Tổng số doanh nghiệp + Doanh nghiệp nhà nước + Doanh nghiệp ngoài quốc doanh, trong đó: Hợp tác xã Doanh nghiệp tư nhân + Công ty tư nhân + Công ty cổ phần + Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 39.762 5.531 32.702 3.187 18.226 10.489 800 1.529 51.057 5.067 43.993 3.614 22.554 16.189 1.636 1.997 62.892 5.033 55.555 4.112 24.818 23.587 3.038 2.304 Trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân , tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của các doanh nghiệp tư nhân khả dĩ hơn cả: chung khu vực kinh tế tư bản tư nhân 7,2% (trong đó doanh nghiệp tư nhân 8,5% ; Cty TNHH ; Cty cổ phần 6,1% ; hộ cá thể 7,2%). 2. Trên giác độ tổng cầu . Theo tính toán của các nhà thống kê , để tăng trưởng 1% GDP của Việt Nam cần tăng trưởng tiêu dùng 2,1 đến 2,2% (kể cả tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho đời sống ). Khu vực kinh tế tư bản tư nhân phát triển sẽ làm tổng cầu tăng nhanh , thực hiện được chủ trương kích cầu của Nhà nước do mở rộng sản xuất làm cho nhu cầu các yếu tố đầu vào gia tăng , đồng thời thu nhập của người lao động tăng do sản xuất phát triển và số lao động được huy động vào làm tăng thêm . Đây chủ yếu là tầng lớp có thu nhập thấp nên tỷ lệ tiêu dùng cận biên (MPC) lớn , tỷ lệ tiêt kiêm cận biên (MPS)nhỏ hơn so với tầng lớp có thu nhập cao . Trong những năm gần đây khu vực kinh tế tư bản tư nhân tăng rất nhanh về mặt số lượng , nhiều doanh nghiệp được hình thành vì thế việc sản xuất hàng hoá với nhiều mặt hàng trở nên rất đa dạng và phong phú . Việc tiêu dùng của người dân cũng như của các doanh nghiệp tăng nhanh rõ rệt , doanh nghiệp thì cần sử dụng nhiều nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất , người tiêu dùng do nhu cầu đời sống ngày càng cao , kèm theo mặt hàng trở nên phong phú đa dạng cho nên mức tiêu dùng của toàn xã hội tăng rất nhanh vì thế xét trên giác độ tổng cầu thì khu vực kinh té tư nhân đã đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. ii. Tạo việc làm và xoá đói gảm nghèo. Tạo việc làm. Từ năm 1996 đến nay , số lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân chỉ giảm trong năm 1997 , còn lại đều tăng . Thời điểm 31-12-2000 số lượng lao động trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân là 4.643.844 người , chiếm 12%tổng số lao động xã hội ,bằng 1,3 lần tổng số việc làm trong khu vực kinh tế nhà nước .Lao động của hộ kinh doanh cá thể là 3.802.057 người , của các doanh nghiệp tư nhân là 841.787 người . Sự gia tăng của các doanh nghiệp tỷ lệ thuận với sự gia tăng về số lượng lao động phù hợp với trình độ kỹ thuật của lao động , việc sử dụng lao động tại chỗ của khu vực kinh tế tư bản tư nhân đã giảm bớt khâu giải quyết nơi ăn ở , các điều kiện cơ sở hạ tầng khác như phương tiện giao thông , trường học trạm xá…. , tình trạng thất nghiệp dã giảm dần . Trong 5 năm 1996-2000 lao động trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân tăng thêm 778.681 người (tăng 20,4%). Trong đó số lao động trong các doang nghiệp tư nhân tăng thêm 487.459 người (tăng 237,57%); số lao động ở hộ kinh doanh cá thể tăng thêm 292.222 người (tăng 8,29%). Số lao động qua thực tế khảo sát ở hộ kinh doanh cá thể lớn hơn nhiều so với số đăng ký vì nhiều hộ gia đình chủ yếu sử dụng số lao động trong dòng họ , lao động mang tính thời vụ và lao động nông nhàn không thể hiện trong báo cáo thống kê. Tình hình thu hút lao động trong những năm qua thể hiện rất rõ rệt qua bảng : Tình hình thu hút lao động trongkhu vực kinh tế tư bản tư nhân trong những năm qua. (tính đến thời điểm 31-12 hàng năm) 1996 1997 1998 1999 2000 Lao động (người) 3.865.163 3.666.942 3.816.942 4.097.455 4.643.844 Tốc độ phát triển liên hoàn(%) 100 94,87 104,09 107,35 113,33 Tốc độ tăng liên hoàn(%) -5,13 4,09 7,35 13,33 % trong tổng lao động xã hội 11,2 10,3 10,3 10,9 12,0 Công nghệ kỹ thuật sản xuất ngày càng được cải thiên và nâng cao , dây truyền sản xuât ngày càng hiện đại , đòi hỏi ở công nhân một trình độ tay nghề phù hợp với điều kiện làm việc, chính vì thế quá trình đào tạo tay nghề được đưa lên vị trí hàng đầu .Hiện nay ,trình độ tay nghề của công nhân được nâng cao rõ rệt , bên cạnh đó việc xây dựng chiến lược và chương trình phát triển đào tạo nghề được hình thành ,như việc xây dựng chiến lược và chương trình phát triển đào tạo nghề đến năm 2005và 2010.Trong đó cần chú trọng đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề và công nhân trình độ cao cho khu vực KTTN. Mặt khác điều kiện để đào tạo tay nghề cho người lao động thuận lợi hơn so với cáckhu vực kinh tế khác, hầu hết được đào tạo tại chỗ, thông qua kèm cặp của người nhà đã có tay nghề. Chi phí cho đào tạo không đáng kể, đồng thời qua truyền nghề như vậy sẽ duy trì được những làng nghề truyền thống, góp phần cùng xã hội dạy nghề mà chi phí chung của xã hội (kể cả chi phí của tư nhân và nhà nước ) không đáng kể . Việc tạo ra hiều chỗ làm việcmới đã góp phần thu hút nhiều lao động trong xã hội, nhất là số người trẻ tuổi hàng năm đến tuổi lao động chưa có việc làm, giải quyết số dôi dư từ cơ quan, doanh nghiệp nhà nước do tinh giảm biên chế và giải thể. Xoá đói giảm nghèo. Khu vực kinh tế tư bản tư nhân đã góp phần đáng kể vào việc xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân ở khu vực thành thị và nông thôn . Theo thực tế khảo sát, thu nhập của người lao động trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân thường có mức tương hoặc cao hơn thu nhập của lao động trồng lúa ở nông thôn cùng địa bàn. Phát triển khu vực kinh tế tư bản tư nhân góp phần rất quan trọng để tạo ra việc làm tại chỗ cho gia đình và địa phương , đem lại thu nhập cho người lao động .Theo kết quả điều tra doanh nghiệp năm 2000 của Tổng cục Thống Kê , mức thu nhập trung bình 1tháng/ 1 lao động (1000 đ)của các doanh nghiệp nói chung là: 1041,1; DNNN là 1048,2; DNtư nhân là 651,1; Cty cổ phần là 993,0; Tập thể là 529,3; CtyTNHHlà 801,8; DN có vốn dầu tư nước ngoài là 1754,5.Mức thu nhập của khu vực kinh tế tư bản tư nhân tuy thấp hơn các DNNN nhưng cao hơn khu vực kinh tế tập thể . Thu nhập trung bình của 1 lao động trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân cao gấp 2đến 3 lần so với mức lương cơ bản của Nhà nước quy định . II. đóng góp và huy động các nguồn vốn trong xã hội nộp ngân sáh nhà nước . 1. Huy động các nguồn vốn trong xã hội sử dụng vào sản xuất kinh doanh . Trong 10 năm gần đây, vốn đầu tư của khu vực tư nhân tăng nhanh, chiếm tỷ lệ cao trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Năm 1999 tổng vốn đầu tư khu vực kinh tế tư bản tư nhân đạt 31.542 tỷ đồng chiếm 24,05%; năm 2000 đạt 35.894 tỷ đồng, tăng 13,8% so với năm 1999, chiếm 24,31% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Năm 2000 vốn đầu tư của hộ kinh doanh cá thể đạt 29.267 tỷ đồng, chiếm 19,82% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp tư nhân đạt 6.627 tỷ đồng, chiếm 4,49% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Tổng vốn sử dụng thực tế của khu vực kinh tế tư bản tư nhân tăng nhanh. Đối với các doanh nghiệp tư nhân năm 1999 là 79.493 tỷ đồng, năm 2000là 110.071 tỷ đồng, tăng 38,5%. Các địa phương tăng mạnh vốn sử dụng thực tế của doanh nghiệp là Hà Nội từ 10.164 tỷ đồng (năm1999) tăng lên 16.573 tỷ đồng (năm2000), tăng 63,05%; tương ứng ở thành phố Hồ Chí Minh từ 36.954 tỷ đồng tăng lên 52.353 tỷ đồng, tăng 41,67%… Trong hai năm 2001-2002, sau khi có luật doanh nghiệp ra đời, số doanh nghiệp tư nhân ra đời 35.440,với số vốn đăng ký đạt 40.455 tỷ đồng, nhiều hơn số doanh nghiệp tư nhân được thành lập trong 5 năm trước cộng lại . Năm 2003 , khu vực kinh tế tư bản tư nhân có bước phát triển mạnh mẽ. Khu vực kinh tế tư bản tư nhân chiếm 26,7% tổng vốn đầu tư phát triển, hầu hết giá trị nông nghiệp, chiếm 25,5% giá trị công nghiệp, phần lớn giá trị dịch vụ, 48% kim ngạch xuất khẩu. 2. Đóng góp phần lớn vào ngân sách nhà nước. Với sự phát triển nhanh chóng của khu vực kinh tế tư bản tư nhân đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển của đát nước, với số vốn huy động lớn trong toàn xã hội, khu vực kinh tế tư bản tư nhân đã đóng góp ngày càng tăng vào ngân sách nhà nước Năm 2000 nộp được 5.900 tỷ đồng, ước tính chiếm 7,3%tổng thu ngân sách tăng 12,5% so vơ2í năm 1999. Đến năm 2001, khu vực doanh nghiệp tư nhân Nộp ngân sách nhà nước đạt trên 11.075 tỷ đồng, chiếm 14,8%tổng thu ngân sách. Qua số liệu cho chúng ta thấy khu vực kinh tế tư bản tư nhân có vai trò rất lớn trong nguồn thu ngân sách của nhà nước .Trong năm 2001 chiếm 14,8% trong tổng ngân sách nhà nước với tốc độ phát triển nhanh chong thì chỉ trong một vài năm gần đây khu vực kinh tế này sẽ thể hiện một vị thế quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế và là chỗ dựa vững chắc trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước trở thành một nước công nghiệp hoá hiện đại hoá. IV. thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế. Sự phát triển của kinh tế tư bản tư nhân đã đặt ra những yêu cầu mới thúc đẩy hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đã xuất hiện nhiều doanh nhân kinh doanh thành đạt, đưa doanh nghiệp của mình phát triển, cải thiện được đời sống người lao động, đóng góp ngày càng nhiều cho xã hội, được xã hội tôn vinh. Trình độ sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế tư bản tư nhân ngày càng tiến bộ hơn, số lượng hàng hoá tham gia xuất khẩu ngày càng tăng. Nhiều sản phẩm của khu vực kinh tế tư bản tư nhân được xuất khẩu uỷ thác qua doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Khu vực kinh tế tư bản tư nhân còn tham gia nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất hàng xuất khẩu. Xuất khẩu trực tiếp của khu vực kinh tế tư bản tư nhân đến nay đã tăng khá, 9 tháng đầu năm 2001 đạt 2.189.330.000 USD, trong đó các công ty cổ phần đạt 1.606.489.900 USD, công ty trách nhiệm hữu hạn đạt 211.900.000 USD (số liệu của Tổng cục hải quan). Các doanh nghiệp tư nhân đã tham gia tích cực vào xuất nhập khẩu trực tiếp, đến năm 2000 số doanh nghiệp tư nhân tham gia xuất khẩu trực tiếp tăng lên 16.200 doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã xuất khẩu được những sản phẩm từ hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm chế biến (như cá khô đi Nhật Bản, cá kho tộ đi Mỹ…), đến cả rơm sạch là những mặt hàng mà các doanh nghiệp nhà nước chưa quan tâm đến. Vì thế khu vực ngoài quốc doanh trong nước từ chỗ chỉ chiếm 11% giá trị xuâts khẩu vào năm 1997 nhưng đến quýI-2002 đã tăng lên khoảng 31% (không tính giá trị xuất khẩu dầu thô). Gýa trị xuất khẩu từ mức khoảng 5% đã tăng lên 24% trong các thời điểm tương ứng (thời báo Kinh tế Việt Nam số 66 ngày 3-6-2002). Các doanh nghiệp , công ty đăng ký sản xuất kinh doanh theo pháp luật và được tự do sản xuất kinh doanh tự do chọn mặt hàng sản xuất hay kinh doanh. Thị trường Việt Nam với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế tư bản tư nhân đã tạo ra môi trường hợp tác trên cơ sở 2 bên cùng có lợi và cạnh tranh dưới sự quản lý của nhà nước tạo điều kiện phat triển nhanh chóng kinh tế Việt Nam , hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế . Sự phát triển của khu vực kinh tế tư bản tư nhân góp phần thu hút được nhiều lao động ở nông thôn vào các ngành phi nông nghiệp, nhất là công nghiệp đã giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế từng địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế đât nước. Khu vực kinh tế tư bản tư nhân tăng về số lượng và khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế . Nếu như trước đây , kinh tế tư bản tư nhân không được thừa nhận, bị coi là đối tượng của cách mạng XHCN, phải đựơc cải tạo xoá bỏ, với tư tưởng như thế trong giai đoạn đó kinh tế tư bản tư nhân vẫn chua được phát triển mà hầu như còn bị vùi dập , kinh tế đất nước với sự hiện diện toàn bộ bởi kinh tế tập thể với cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp. Từ đường lối đổi mới (Đại hội 6 của Đảng tháng 12.1986) khẳng định xây dựng phát triển nền kinh tế nước ta với cơ cấu nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế tồn tại lâu dài thì kinh tế tư bản tư nhân đựơc phát triển rất mạnh mẽ, tạo cho cơ cấu kinh tế có xu hướng chuyển dịch cân bằng giữa kinh tế tư bản tư nhân với kinh tế tập thể . Cơ cấu kinh tế có xu hướng chuyển dịch cân bằng không chỉ thể hiện về số lượng giữa kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tập thể , mà còn thể hiện rất rõ trong sự phát triển của các vùng lãnh thổ, và giữa các ngành. Các doanh nghiệp đăng ký hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh thương mại chiếm 42% tổng số doanh nghiệp, công nghiệp và xây dựng 31%, dịch vụ khác 22%, nông nghiệp chỉ chiếm 5%. Trình độ sản xuất của khu vực kinh tê tư nhân ngày càng tiến bộ , với máy móc trang thiết bị ngày càng hiện đại vì thế sản phẩm sản xuất ra ngày càng nhiều, mẫu mã phong phú và chất lượng dần được cải thiện.Tham gia tích cực vào xuất khẩu trực tiếp. Chương III Thực trạng phát triển kinh tế tư bản tư nhân hiện nay I. kinh tế tư bản tư nhân tăng về mặt số lượng. Thời kỳ trước năm 1986. Đất nước thống nhất, công cuộc phát triển kinh tế và cải tạo quan hệ sản xuất được thực hiện trên phạm vi cả nước. Kế hoạch 5 năm 1976-1980 ngoài nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, tiến hành cải tạo kinh tế miền Nam theo mô hình kinh tế miền Bắc. Tiếp tục cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với những người sản xuất nhỏ ở miền Bắc, đồng thời triển khai mạnh mẽ ở miền Nam. Nhưng kinh tế tư bản tư nhân vẫn tồn tại, trong công nghiệp vẫn có trên dưới 60 vạn người sản xuất cá thể năm 1980:50,3vạn; năm 1981: 55,1 vạn; năm 1983:66,6 vạn; năm 1984:64 vạn; năm 1985:59,3 vạn. Số lượng lao động hoạt động trong kinh tế tư bản tư nhân vẫn chiếm trên 20%tổng số lao động ngành công nghiệp; năm1980: 22,3%;năm1984: 26%; năm 1985:23%;năm 1986: 23,2%. Giá trị sản lượng công nghiệp do khu vực kinh tế tư bản tư nhân tạo ra hàng năm chiếm trên dưới 15% giá trị sản lượng toàn ngành công nghiệp. Những người kinh doanh thương nghiệp những năm 1980cũng ở mức 60 vạn. Năm 1980:63,7 vạn; năm 1985: 63,7 vạn; năm 1986: 56,8 vạn. Những số liệu trên cho thấy sức sống của kinh tế cá thể rất bền bỉ, sự hiện diện của thành phần kinh tế này trong suốt thời gian dà như một tất yếu khách quan, cần phải biết sử dụng mặt tích cực của nó làm cho dân giàu, nước mạnh. Thời kỳ sau năm 1986. Từ đường lối đổi mới (đại hội VI của Đảng 12-1986) khẳng định xây dựng, phát triển nền kinh tế nước ta với cơ cấu nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế tồn tại lâu dài. Nghị quyết trung ương khoá VI ghi rõ:”Chính sachs kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tinh quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớnXHXN và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế”, “Tư nhân được kinh doanh không hạn chế về quy mô địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Nhờ có chính sách đổi mới kinh tế tư bản tư nhân được thừa nhận và tạo điều kiện phát triển, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế của đất nước. Trong công nghiệp tư nhân đã đầu tư thêm vốn để mở rộng các cơ sở hiện có, hoặc xây dựng thêm các cơ sở mới. Năm 1988 khu vực này đầu tư thêm 80 tỷ đồng, thành lập thêm 17.000 cơ sở, trong đó cá 46 xí nghiệp tư nhân; 1.100 cơ sở tiểu thủ công nghiệp và hơn 15.000 hộ cá thể. Năm 1989 số vốn đầu tư tăng thêm 102 tỷ đồng, số xí nghiệp tư nhân tăng gấp 4 lần so với năm 1988(từ 318 xí nghiệp tăng lên 1.284 xí nghiệp); hộ tiểu thủ công nghiệp và cá thể từ 31,85 vạn lên 33,33 vạn, tăng 4,6%. Trong hai năm 1990-1991 số vốn tăng thêm mỗi năm khoảng 100 tỷ đồng. Năm 1989 thành phần kinh tế tư bản tư nhân thu hút thêm 39,5 nghìn lao dộng . Năm 1990 đã ban hành Luật công ty và luật doanh nghiệp, đã tạo động lực cho khu vực kinh tế tư bản tư nhân tiếp tục phát triển. Năm 1991 so với năm 1990 tăng thêm 4.000 cơ sở và lao động tăng thêm 10 nghìn người. Tỷ trọng giá trị sản lượng công nghiệp khu vực tư nhân, cá thể chiếm trong giá trị tổng sản lượng toàn ngành công nghiệp tăng khá nhanh năm 1986 là:15,6% thì đến năm 1990 là:26,5%. Trong giao thông vận tải, năm 1990 có 97.194 hộ tư nhân cá thể làm dịch vụ vận tải. Tổng số lao động vận tải 138,5 nghìn người. Năm 1990 thực hiện vận chuyển 16,6 triệu tấn hàng hoá chiếm 36,3%khối lượng vận chuyển hàng hoá của tất cả các thành phần kinh tế và 165,3 triệu lượt hành khách, chiếm 28,6% khối lượng vận chuyển hành khách toàn ngành. Trong thương nghiệp, lao động của thành phần kinh tế tư bản tư nhân phát triển nhanh chóng: năm 1986: 64 vạn người; thì đến năm 1990 đã tăng lên 81,1 vạn người. Ngoài ra còn có lực lượng thương nghiệp không chuyên tham gia hoạt động, năm 1990 có khoảng 16 vạn người. Tỷ trọng doanh số bán hàng hoá và dịch vụ của tư nhân trong tổng mức bán lẻ hàng hoá dịch vụ tiêu dùng xã hội ngày càng lớn : năm 1986:45,6%thì đến năm 1990:66,9%; và năm 1991 đạt:73,1%. Sự phát triển của khu vực kinh tế tư bản tư nhân vẫn tiếp tục trong những năm 1991-1996, nhưng trong 2 năm 1997- 1998 tốc độ phát triển của kinh tế tư bản tư nhân chậm lại do khủng hoảng tài chính khu vực , số hộ kinh doanh cá th._.

Bạn đang xem bài viết Để Phát Triển Kinh Tế Số Ở Nước Ta Hiện Nay trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!