Xem Nhiều 2/2023 #️ Đề Tài Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ 5 # Top 9 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Đề Tài Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ 5 # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Đề Tài Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ 5 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Giáo viên chưa chủ động và chưa linh hoạt trong việc tổ chức giờ học môn khám phá khoa học Môi trường cho trẻ hoạt động ở lớp cũng chưa phong phú (chưa có nơi nuôi một số con vật cho trẻ được làm quen). Khám phá khoa học đòi hỏi độ chính xác cao nên trẻ cần được tham quan, trải nghiệm thực tế nhiều, trẻ cần được tri giác những con vật thật, đồ vật thật, cây cối, danh lam thắng cảnhnhưng nhà trường lại chưa có điều kiện để tổ chức cho trẻ đi tham quan, trải nghiệm thực tế còn ít. Các cháu phần đông gia đình làm nông nên việc nhận thức để giáo dục con cái một cách khoa học là chưa cao. * Nguyên nhân chủ quan Trình độ nhận thức của các cháu không đồng đều. Các cháu chưa có các kỹ năng cơ bản như kỹ năng quan sát, kỹ năng so sánh, phân tích, tổng hợpMột số trẻ chưa qua lớp mầm, lớp chồi nên vẫn còn tự do trong học tập và chơi, chưa mạnh dạn, tích cực trong các hoạt động. Trong lớp có một số trẻ cá biệt, cháu không chú ý, mặt nhận thức của cháu hạn chế hơn nhiều so với trẻ khác. Dẫn đến thời gian hoạt động dành cho những cháu yếu hơi nhiều Góc thiên nhiên còn nghèo, số cây ít, loại cây chưa phong phú, đồ chơi, đồ dùng còn ít, thiếu những hình ảnh đẹp, sinh động để trẻ quan sát Cơ sở vật chất chưa thật sự đầy đủ, đồ dùng phục vụ tiết dạy còn rất nghèo nàn như những vật mẫu, những con vật thật, đồ vật… Đồ dùng để trẻ thử nghiệm thực tế còn ít. Đồ dùng, đồ chơi, vật thật chưa đầy đủ, lớp học chưa có thiết bị để kết nối mạng phục vụ công tác giảng dạy trên máy tính. Bên cạnh đó việc sử dụng đồ dùng dạy học chưa khoa học, dẫn đến giờ học trẻ ít tập trung chú ý nên hiệu quả trên tiết học chưa cao. Vì vậy việc giúp trẻ khám phá khoa học rất quan trọng vì môn học này giúp trẻ tích luỹ một số vốn kiến thức sơ đẳng vận dụng trực tiếp vào cuộc sống hàng ngày của trẻ có cái nhìn về thế giới quan tươi đẹp và sinh động hơn cho tương lai trẻ sau này. * Nguyên nhân khách quan Khuông viên sân trường chật hẹp, chưa có nhiều khu vực để trẻ quan sát, trải nghiệm. Một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học của con mình, chiều chuộng con thái quá, luôn bao bọc không để con có cơ hội trải nghiệm. Dẫn đến một số cháu thụ động, ỉ lại vào người khác không biết cách tự mày mò, tìm tòi khám phá, giải quyết vấn đề. 3. Nội dung và hình thức của giải pháp a. Mục tiêu của giải pháp Giúp trẻ lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và chính xác, không mang tính trừu tượng và khô khan. Phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần. Trẻ được hòa mình vào với thiên nhiên, trẻ được hít thở không khí trong lành, vận động thoải mái giúp phát triển khả năng quan sát, ghi nhớ, chú ý. Quá trình đó giúp trẻ tri giác, tiếp cận, khám phá, cô giáo có thể vận dụng phối hợp nhiều phương pháp, biện pháp tùy theo mục đích sư phạm của những hoạt động dạy học. Phải thay đổi hình thức tổ chức hoạt động của trẻ để tránh tâm lí mệt mỏi thụ động và gây được ấn tượng mới hợp lí. Tìm ra các giải pháp, biện pháp giúp trẻ ham mê khám phá khoa học, từ đó nhằm phát triển tính sáng tạo và mở rộng vốn kiến thức cho trẻ, kích thích tính tò mò ham hiểu biết muốn khám phá và tìm hiểu thế giới xung quanh trẻ. Các biện pháp này sẽ hình thành xúc cảm, tình cảm tích cực và kinh nghiệm cũng như kỹ năng sống cho trẻ và trẻ mong muốn bảo về gìn giữ môi trường xung quanh trẻ. b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp Qua một thời gian tìm tòi, nghiên cứu tôi thấy rằng muốn gây được sự tập trung chú ý, sự hứng thú tham gia tích cực vào các hoạt động khám phá, khơi dậy được trí tò mò, ham hiểu biết của trẻ thì phải dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của trẻ để tìm ra những biện pháp phù hợp giúp trẻ học tốt môn khám phá khoa học và tôi đã đưa ra những biện pháp sau: Biện pháp 1: Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan để cho trẻ khám phá khoa học là một phương pháp rất phổ biến. Tuy nhiên nó cũng là phương pháp rất quan trọng trong việc giúp trẻ tiếp thu những kiến thức khoa học một cách dễ dàng nhất      Nhận thức rõ tầm quan trọng của đồ dùng trực quan đối với tiết khám phá khoa học cho nên ngay từ đầu năm học tôi mạnh dạn đề xuất với ban giám hiệu nhà trường trang bị thêm cho các lớp các thiết bị đồ dùng dạy học như ti vi, bảng, tranh ảnh lô tô, và một số các mô hình mô phỏng để phục vụ dạy học. Thông qua những bộ phim hoạt hình ngắn sinh động và đẹp mắt, các bé sẽ được tìm tòi, khám phá và trải nghiệm với những điều bé muốn biết về thế giới xung quanh kỳ thú.        Khi lập kế hoạch cho mỗi tiết học tôi đã rất chú ý tới cách thức truyền tải kiến thức với trẻ đặc biệt đồ dùng trực quan vừa phải mang tính thẩm mỹ, tính chính xác và sự sáng tạo từ đó kich thích được sự hứng thú, ham hiểu biết ở trẻ  Vì trẻ mẫu giáo thường tư duy trực quan hình ảnh, kinh nghiệm sống của trẻ còn ít nên tôi thường xuyên tận dụng các vật thật để dạy trẻ. Khi cho trẻ được tiếp xúc với vật thật thì tôi nhận thấy trẻ hứng thú và nắm bắt kiến thức một cách rõ ràng nhất. Ví dụ: Khi tìm hiểu về quả soài tôi dùng quả soài thật cho trẻ quan sát và trải nghiệm: nhìn, sờ, nếm, ngửi Đây là quả gì? nhìn xem quả soài có hình dạng gì? Màu gì? Hãy sờ xem vỏ của chúng có đặc điểm gì? muốn biết soài có mùi gì hãy đưa lên mũi ngửi xem nào Cuối cùng tôi cho trẻ nếm thử vị của soài sau đó hỏi trẻ về vị của soài (có trẻ nói chua, trẻ nói ngọt) từ đó tôi giải thích “Qủa soài chưa chín có vị chua, còn quả soài chín có vị ngọt” khi được trải nghiệm thực tế thì trẻ đã nắm vững những kiến thức tôi muốn truyền đạt. Qua bài về quả soài tôi không những đã cho trẻ tìm hiểu một cách tổng quát về quả soài mà còn dạy trẻ biết lợi ích của soài đối với sức khỏe con người. Việc sử dụng màn hình, máy chiếu cũng là một hình thức sử dụng trực quan vì vậy tôi thường xuyên sử dụng tạo điều kiện để cho trẻ nắm kiến thức. Thông qua những cảnh quay, đoạn băng được đưa lên màn hình sẽ tạo ra sự thay đổi, sự mới lạ cho trẻ vì tất cả những sự vật hiện tượng đều có thể chụp lại, quay lại để đưa lên màn hình cơ hội để trẻ khám phá những sự vật- hiện tượng, con vật mà trẻ khó có cơ hội tiếp xúc như: tìm hiểu động vật sống trong rừng, động vật sống dưới biển Phương tiện trực quan trong các hoạt động dạy và học rất đa dạng như: Đồ dùng trực quan bằng vật thật: các con vật, một số loại rau, Các loại mô hình: mô hình sân bay, nhà ga…Các loại tranh ảnh, lô tô.        Việc sử dụng đồ dùng trực quan phải được sử dụng một cách linh hoạt và sáng tạo. Trong tiết dạy tôi không sử dụng một loại đồ dùng từ đầu đến cuối cũng không sử dụng quá nhiều loại ôm đồm để trẻ khó hiều mà tôi phối hợp các loại đồ dùng trực quan sao cho phù hợp, linh hoạt từng phần sao cho trẻ không nhàm chán.   Ví dụ: Trong tiết dạy cho trẻ tìm hiểu về một số loại hoa tôi có thể sử dụng một số loại đồ dùng như: Tranh lô tô, hoa thật, đồ chơi, màn hình, mô hình kết hợp với nhau sao cho linh hoạt và phù hợp như phần đầu giới thiệu bài cho trẻ đi thăm mô hình vườn rau với nhiều loại hoa, phần cung cấp kiến thức cho trẻ quan sát các loại hoa thật, phần mở rộng cho trẻ xem trên màn hình một số loại hoa khác, phần luyện tập cho trẻ đi chơi trò chơi với hoa thật, tranh lô tô. Việc kết hợp sử dụng linh hoạt các loại đồ dùng trực quan trong tiết học tôi thấy trẻ hứng thú hơn mỗi khi học khám phá khoa học, kiến thức tôi truyền đạt vì thế mà dễ dàng và trẻ ghi nhớ hơn. Biện pháp 2: Sử dụng các trò chơi thực nghiệm : Trẻ mầm non rất thích tìm hiểu và khám phá môi trường xung quanh. Trẻ rất vui sướng khi được trực tiếp nhìn thấy hoặc tự tay mình làm các thí nghiệm rồi tự rút ra kết luận. Thông qua việc cho trẻ làm thí nghiệm, đòi hỏi trẻ phải sử dụng tích cực các giác quan. Chính vì vậy sẽ phát triển ở trẻ năng lực quan sát, khả năng phân tích, so sánh, tổng hợp, nhờ vậy khả năng cảm nhận của trẻ nhanh nhậy, chính xác, những biểu tượng kết quả trẻ thu nhận được trở nên cụ thể và sinh động hấp dẫn hơn. Ví dụ 1: Thí nghiệm về sự nảy mầm của hạt * Mục tiêu:        Trẻ biết được cây cũng cần thức ăn ,ánh sáng và nước mới sinh trưởng được. * Chuẩn bị:           Một vài hạt đậu tương, đậu đen2 Khay nhỏ, một ít đất, bình nước tưới. *Tiến hành: Ngâm hạt vào trong nước ấm từ 1 đến 2 tiếng sau đó lấy ra đặt hạt vào khay có sẵn đất. Đặt 1 khay nơi có ánh sáng mặt trời và cho trẻ tưới nước hàng ngày. Khay còn lại đặt trong bóng tối và không tưới nước. Quan sát sau 3 đến 4 ngày cây trong khay được tưới nước hàng ngày sẽ nảy mầm và lớn dần còn khay không tưới sẽ không nảy mầm. Lúc này hãy cho trẻ giải thích hiện tượng nảy mầm và không nảy mầm trên . Vì trẻ mẫu giáo lớn nên tôi cho trẻ tự làm và nêu kết quả thực nghiệm của bản thân . * Giải thích và kết luận:   Cây nảy mầm được nhờ được gieo xuống đất, có ánh sáng và tưới nước đầy đủ và ngược lại cây mà không được chăm sóc đầy đủ sẽ không nảy mầm được. Ví dụ 2:   * Mục tiêu:          Cho trẻ hiểu với cùng mọt đồ dùng nhưng chọn đơn vị đo khác nhau thì kết quả cũng khác nhau * Chuẩn bị: Một chai nhựa trong 1 lít, ba cốc nhựa to, nhỡ, nhỏ, thẻ số 4, 5, 6 Lần lượt cho trẻ đong nước bằng các cốc khác nhau rồi đổ vào chai nhựa( cốc to, nhỡ, nhỏ) Sau mỗi lần đong ghi kết quả lại, quan sát kết quả các chai bằng các thẻ số * Giải thích và kết luận:           Sử dụng cốc to đổ nước vào chai sẽ nhanh đầy hơn( 4 cốc), sử dụng cốc nhỡ phải đong 6 cốc, sử dụng cốc nhỏ sẽ lâu đầy hơn( 8 cốc). Ví dụ 3: Thí nghiệm về nước và các lớp chất lỏng * Chuẩn bị: dầu ăn, nước lọc, si rô, cốc thủy tinh Tiến hành: Cho trẻ chọn một chất đổ vào ly, tiếp theo chọn chất thứ hai, cuối cùng cho chất thứ ba vào Cho trẻ quan sát rút ra kết luận, lớp si rô nặng nhất nên ở dưới cùng, lớp dầu ăn nhẹ nhất nên ở trên cùng, và lớp nước ở giữa Khi quan sát trẻ hoạt động tôi thấy những biểu hiện trên trẻ rất tích cực, trẻ rất thích thú khi được quan sát hoặc thử nghiệm những hoạt động khám phá. Trong quá trình quan sát trẻ tỏ ra nhanh nhẹn linh hoạt và phát triển nhiều vốn kinh nghiệm, vốn từ của trẻ trở nên phong phú hơn khả năng diễn đạt tổt hơn. Vì vậy chúng ta những giáo viên mầm non có nhiệm vụ khuyến khích, tạo điều kiện giúp trẻ được khám phá, trải nghiệm Tuy nhiên, nội dung và đối tượng cho trẻ làm quen cần được chọn lọc, nội dung cho trẻ khám phá thử nghiệm đảm bảo cung cấp cho trẻ những kiến thức đơn giản, gần gũi và đặc biệt là phải an toàn về quy trình thực hiện Biện pháp 3: Tạo môi trường cho trẻ hoạt động Tôi xây dựng góc thiên nhiên có các cây xanh như trồng các loại hoa, cây cảnh… Góc thiên nhiên là nơi dành cho các hoạt động chăm sóc cây cối: Nhặt cỏ, bắt sâu, tưới nước, ngoài ra còn là nơi tìm đọc các loại sách về thiên nhiên, các tranh ảnh về thế giới tự nhiên tạo cho trẻ có góc chơi rộng rãi với các nguyên vật liệu khác nhau để trẻ được trải nghiệm . Tôi bố trí giá sách chủ yếu là sách về con vật, cây cối, hoa lá, quả hạt để cho trẻ tìm hiểu. Tranh ảnh vừa tầm với của trẻ để trẻ có thể xem và đọc sách (có que chỉ cho việc đọc sách). Đọc sách theo từng chữ, từng dòng, tôi sắp xếp các hộp đựng vỏ cây khô hoa lá ép khô, các loại hạt Có ngắn nhãn mác và hình ảnh rõ ràng để trẻ rễ nhận thấy, trẻ được chơi và làm được những sản phẩm từ những dồ chơi ấy. Ngoài ra tôi cũng dùng vỏ hến, ốc trai ,sò vỏ trứng vệ sinh sạch sẽ vừa làm đồ dùng, đồ chơi phong phú vừa rẻ tiền vừa dễ kiếm . Biện pháp 4: Phương pháp lồng ghép khám phá khoa học vào các tiết học. Trong dạy học không có môn nào học nào, không có phương pháp nào là duy nhất , bao quát các môn học, các phương pháp khác, mà để đạt được hiệu quả giáo dục cần phải phối hợp lồng ghép giữa các lĩnh vực, các phương pháp mới có được hiệu quả tốt nhất với người học. Hiểu được vấn đề ấy trong các tiết dạy tôi thường xuyên lồng ghép khám phá khoa học vào trong các môn học khác như toán, âm nhạc, văn học, Ví dụ: trong hoạt động làm quen văn học trẻ học bài thơ “Hoa đào hoa mai” Tôi cho trẻ quan sát hoa đào hoa mai thật đó hỏi trẻ:       + Đây hoa gì? Nêu các đặc điểm của hoa đào, hoa mai?       + Hoa đào, hoa mai nở vào mùa nào ?       + Nêu cảm nhận của các con về những hoa đào và hoa mai?      Sau khi trò chuyện, tìm hiểu về hoa đào hoa mai xong tôi giới thiệu với trẻ bài thơ nói về hai loại hoa này. Bài thơ “ Hoa đào, hoa mai”. Qua tiết học làm quen văn học tôi đã giúp trẻ có thêm những hiểu biết về đặc điểm và cảm nhận của trẻ về hoa đào hoa mai từ đó trẻ cảm thấy thích đọc thơ hơn, hứng thú hơn. Các hoạt động tô màu, cắt dán, nối hình, cũng có thể tạo hứng thú giúp trẻ khám phá khoa học. Nếu cho trẻ tự khám phá trẻ sẽ tăng thêm phần hứng thú, kiến thức đến với trẻ nhẹ nhàng mà khắc sâu phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. Những tiết khám phá khoa học thường được quan niệm khô khan thì tôi luôn khéo léo lồng ghép tích hợp các môn khác như : Toán, âm nnhạc, tạo hình ,văn học để trẻ thêm hứng thú, ghi nhớ tốt hơn, hiểu vấn đề sâu và rộng hơn. Câu đố cũng là một hình thức được tôi sử dụng để lôi cuốn trẻ vào hoạt động khám phá khoa học. Trẻ sẽ lắng nghe câu đố suy nghĩ và trả lời thật nhanh về câu đố đó Ví dụ : Trong tiết dạy làm quen với động vật sống trong gia đình. Tôi cho trẻ thi “ đố vui ” hai đội ra câu đố cho nhau và giải câu đố đội bạn. “ Đôi mắt long lanh Màu xanh trong vắt Chân có móng vuốt Vồ chuột rất tài” Là con gì ?                                ( con mèo ) “Thường nằm đầu hè Giữ nhà cho chủ Người lạ nó sủa Người quen nó mừng” ( con chó) Như vậy trẻ được đố những câu đố rất vui vẻ hào hứng, kích thích tư duy, làm phong phú vốn từ và ngôn ngữ mạch lạc… Trong tiết dạy tôi cũng lồng ghép toán sơ đẳng như khi làm quen với con cua, cô và trẻ cùng đếm số chân cua sau đó đọc câu đồng dao, bài hát về con cua, sự kết hợp ấy giúp tiết học không nhàm chán, khô khan mà còn giúp trẻ tìm hiểu được một cách tổng quát nhất về con cua .   Biện pháp 5: Ứng dụng công nghệ thông tin vào các tiết dạy khám phá khoa học: Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, sự phát triển của hệ thống mạng cùng với những tiện ích, ứng dụng phong phú đã tạo nên một cuộc cách mạng trong mọi người, mọi ngành và đặc biệt là giáo dục. Chính vì vậy ngay từ cấp học mầm non trẻ đã được làm quen với công nghệ thông tin như một phần của hoạt động giáo dục không thể thiếu. Không chỉ với người lớn mà đối với trẻ em mầm non thì công nghệ thông tin luôn mang lại nhiều điều kì thú và hữu ích trong việc tiếp thu kinh nghiệm sống. Hơn nữa trong việc giáo dục, truyền đạt kiết thức cho trẻ không phải sự vật hiện tượng nào cũng có sẵn để trẻ được trực tiếp tri giác, nhất là với hoạt động khám phá khoa học như tìm hiểu động vật sống dưới biển, quan sát máy bay, các hiện tượng tự nhiên, . , hay chúng ta không thể có thời gian để chứng kiến những hiện tượng trong tự nhiên xảy ra như tìm hiểu về cách sinh sản của một số loại vật nuôi, quá trình phát triển của câychính vì vậy để trẻ được tìm hiểu thế giới xung quanh một cách bao quát nhất thì ứng dụng công nghệ thông tin vào tiết học là một việc cần thiết. Được ưu thế là một giáo viên trẻ và có khả năng sử dụng công nghệ thông tin khá thành thạo tôi rất quan tâm và thường xuyên sử dụng công nghệ thông tin như các bài powerpoint vào các tiết học. Tôi nhận thấy khi sử dụng công nghệ thông tin vào các tiết khám phá khoa học trẻ tỏ ra rất hào hứng, thích thú và cũng giúp trẻ nhận biết sự vật- hiện tượng một cách rõ ràng hơn. Ví dụ 1: Tìm hiểu về “Mưa có từ đâu?” Tôi sử dụng bài powerpoint trình chiếu các quá trình tạo thành mưa (ánh nắng chiếu xuống mặt nước – Nước bốc hơi- Tạo thành mây – Gió thổi mây thành đám nặng rồi rơi xuống thành mưa) Sau khi tìm hiểu xong về quá trình tạo thành mưa tôi cho trẻ xem phim hoạt hình “Đám mây đen xấu xí” vừa là phim vừa đám ứng việc củng cố kiến thức về quá trình tạo thành mưa cho trẻ. Thông qua việc trình chiếu và xem phim hoạt hình trẻ vừa như được giải trí và cũng là khi lượng kiến thức cần cung cấp cho trẻ đảm bảo trọn vẹn với hình thức này. Cách chơi: Trên màn hình xuất hiện những hình ảnh về 1 số cành hoa bất kì sau đó biến mất chỉ xuất hiện hoa và lá riêng rẽ nhiệm vụ của trẻ di chuột sắp xếp hoa và lá lại thành một bông hoa có cành lá chính xác. Khi trẻ đã chơi thành thạo tôi nâng cao trí nhớ cũng như sự nhanh nhẹn của trẻ bằng cách chỉnh thời gian xuất hiện hoa ban đầu nhanh hơn hoặc cao hơn nữa là không có sự xuất hiện của cành hoa ban đầu mà đòi hỏi trẻ phải có trí nhớ, kĩ năng từ những lần chơi trước tự xếp lá cho hoa đúng theo yêu cầu. Qua công nghệ thông tin từ một trò chơi tôi đã giúp trẻ có thêm kĩ năng sử dụng máy tính, đồng thời giúp trẻ củng cố, ghi nhớ bài học cho trẻ Biện pháp 6: Nâng cao kỹ năng quan sát, so sánh và phân loại ở trẻ.   Một trong những phương pháp quan trọng và không thể thiếu đối với khám phá khoa học là quan sát, so sánh và phân loại. Hầu như ở tiết học khám phá nào trẻ cũng được rèn luyện các kỹ năng này. Ngoài giờ học hoạt động chung về môn khám phá khoa học ở trong lớp tôi còn kết hợp cho trẻ tham gia đi dạo chơi, tham quan, hoạt động ngoài trời. Trẻ được quan sát đối tượng trực tiếp và tôi sẽ đưa ra các câu hỏi đàm thoại để trẻ so sánh và phân loại đối tượng nhằm phát huy khả năng sáng tạo và tư duy cho trẻ. Ví dụ : Cô và trẻ quan sát vườn rau của trường có nhiều loại rau khác nhau như rau muốn, rau cải, cà chuatôi hướng cho trẻ nhận biết hình dạng lá của từng loại rau, xem đó là loại rau ăn gì? cho trẻ tìm ra điểm giống nhau và khác nhau của các loại rau. Lúc này trẻ đang được quan sát thực tế các loại rau trẻ sẽ dễ dàng nhìn thấy đặc điểm nổi bật của đối tượng nên trẻ so sánh và phân loại rất nhanh Dạo chơi thăm quan hoạt động ngoài trời, không những để trẻ khám phá thế giới xung quanh mình mà tôi còn giáo dục tình yêu thiên nhiên, ý thức bảo vệ môi trường. Tôi cũng luôn chú ý giáo dục bảo vệ môi trường. Với trẻ mặc d

Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Bảo Vệ Bản Thân Cho Trẻ 5

1.1. Lí do chọn đề tài Trẻ em là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của dân tộc. Việc bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em là trách nhiệm của nhà nước, của xã hội và của mỗi gia đình: “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”. Giáo dục trẻ ngay từ khi còn nhỏ là vô cùng quan trọng trong sự nghiệp giáo dục, nhằm hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ sau này. Bác Hồ nói: “Không có giáo dục thì không nói gì đến kinh tế văn hóa”. Sản phẩm của giáo dục là con người mà con người là  mục tiêu, động lực của sự phát triển đất nước trong  tương lai đó chính là thế hệ trẻ. Như chúng ta đã biết, Xã hội hiện đại mang đến cho cuộc sống con người nhiều tiện ích, sự thoải mái nhưng cũng tiềm ẩn nhiều mối nguy hiểm, đặc biệt là đối với con trẻ. Điều này đòi hỏi mỗi trẻ đều phải có những kỹ năng để xử lý cũng như bảo vệ chính bản thân mình. Ngay khi trẻ sinh ra, bố mẹ đã cố gắng tạo ra môi trường an toàn cho trẻ. Giai đoạn trẻ bước đi thành thạo và làm chủ được những hoạt động của mình: chạy, nhảy,.. việc hướng cho trẻ những việc an toàn và không an toàn bắt đầu hình thành. Theo thời gian, những kỹ năng ấy ngày càng nhiều thêm bởi tính tò mò và khả năng làm chủ hành động của trẻ. Bất cứ một sự vật nào hiện ra đều trở thành một đề tài thu hút đối với trẻ, đó được coi là cơ hội để mở rộng kiến thức nhưng đồng thời cũng có thể là mối nguy hại khôn lường đối với trẻ. Việc trang bị cho trẻ những kỹ năng bảo vệ bản thân sẽ giúp trẻ có thể an toàn hơn và tự tin hơn để khám phá cuộc sống muôn màu. Song trên thực tế hiện nay xã hội phát triển mạnh đồng nghĩa với việc trẻ em đứng trước nhiều mối nguy hiểm. Bởi vậy, cha mẹ thường sợ hãi tìm cách ngăn cấm con trước các rủi ro nhưng lại quên giải thích cho trẻ hiểu nguyên nhân và cách phòng vệ, hậu quả xảy ra. Điều này khiến trẻ dễ thành nạn nhân nếu như không được trang bị kiến thức tự bảo vệ bản thân. Mặt khác,Trẻ em luôn hiếu kỳ, tò mò và luôn muốn khám phá những điều mới lạ. Nhưng lại chưa có kỹ năng để thu thập thông tin, phán đoán những mối nguy hiểm có thể xảy ra với bản thân mình. Vì vậy, dạy trẻ kỹ năng bảo vệ bản thân giúp trẻ tư duy, phán đoán được những nguy hiểm có thể xảy ra và tìm các tránh xa. Hoặc trẻ tự vạch cho mình một khu vực đảm bảo an toàn để khám phá, tìm hiểu mọi thứ. Dạy trẻ những kỹ năng bảo vệ bản thân sẽ giúp trẻ có khả năng xử lí tình huống, biết lên tiếng kêu cứu và tìm đến những sự trợ giúp đúng khi cần. Trẻ được trang bị kỹ năng bảo vệ bản thân sẽ tự tin hơn và làm chủ được cuộc sống của mình. Là một người giáo viên mầm non, bản thân nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của việc giáo dục các kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ trước thực trạng xã hội hiện nay. Vì vậy tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi” để nghiên cứu nhằm góp phần vào việc hình thành và rèn luyện các kỹ năng bảo vệ cơ thể cho trẻ. 1.2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng bảo vệ cơ thể cho trẻ 5 – 6 tuổi. Nhằm góp phần vào việc hình thành và rèn luyện các kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ, nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non. 1.3. Đối tượng nghiên cứu Một số biện pháp giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi. 1.4. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện sáng kiến kinh nghiệm, tôi đã sử dụng các nhóm phương pháp đó là: Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát các hoạt động trong ngày của trẻ 5- 6 tuổi lớp mình và qua các giờ dự hoạt động của đồng nghiệp. Phương pháp thu thập thông tin: Tôi thực hiện cuộc phỏng vấn với giáo Phương pháp thống kê, toán học: Từ nhưng thông tin và số liệu thu thập được, tôi thống kê, chọn lọc những thông tin, phân loại rồi tính toán đưa ra những kết quả xác thực nhất phục vụ cho việc nghiên cứu. 2. NỘI DUNG 2.1. Cơ sở lí luận Kỹ năng bảo vệ bản thân là gì? Kỹ năng bảo vệ bản thân là những hiểu biết của một người về những sự việc xung quanh mình cũng như cách để hành động đúng, an toàn đối với sự vật đó. Trẻ có kỹ năng bảo vệ bản thân sẽ biết cách làm thế nào để tránh xa những mối nguy hiểm hoặc khám phá thế giới trong phạm vi an toàn. Hiện nay, cả nước có trên 4,8 triệu trẻ em (theo số liệu của Bộ GD&ĐT) được chăm sóc, giáo dục trong các cơ sở giáo dục mầm non (GDMN). Nhiệm vụ bảo vệ an toàn cả thể chất lẫn tinh thần cho trẻ nhỏ được cho là quan trọng hàng đầu, bên cạnh đó còn phải giáo dục trẻ biết cách bảo vệ bản thân trước những mối nguy hiểm ngoài xã hội. Ở độ tuổi mầm non, trẻ xuất hiện tình trạng thụ động, không biết ứng phó trong những hoàn cảnh nguy cấp, không biết cách tự bảo vệ bản thân trước nguy hiểm, tìm kiếm sự giúp đỡ… Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra tình trạng này, trong đó việc thiếu kỹ năng bảo vệ bản thân là nguyên nhân sâu xa nhất. Do đó, việc dạy kỹ năng bảo vệ bản thân (hay còn gọi là kỹ năng sống) cho trẻ là rất cần thiết. Kỹ năng bảo vệ bản thân là một trong những nhóm kỹ năng sống (KNS). Theo Bộ Giáo dục & Đào tạo, thống nhất quan điểm của UNICEF, kỹ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Trong quá trình phát triển nhân cách nếu trẻ được sớm hình thành và tôn vinh các giá trị đích thực của mình thì các em sẽ có một nhân cách phát triển toàn diện, bền vững, có khả năng thích ứng và chống chọi với mọi biến động xã hội, biết tự khẳng định mình trong cuộc sống… Bên cạnh, trẻ em đang ở trong giai đoạn học, tiếp thu, lĩnh hội những giá trị sống để phát triển nhân cách, do đó cần giáo dục KNS cho trẻ để trẻ có nhận thức đúng và có hành vi ứng xử phù hợp ngay từ khi còn nhỏ. Kỹ năng sống thay đổi theo nền văn hóa và hoàn cảnh xã hội. Vì vậy, trong quá trình dạy kỹ năng sống, phải xem xét các yếu tố văn hóa và xã hội có ảnh hưởng đến việc ra quyết định hay lựa chọn hành động. KNS được học tốt nhất thông qua các hoạt động tích cực của trẻ, đối với trẻ mầm non, trẻ thường học các hành vi thông qua việc bắt chước, nhập tâm, qua luyện tập thực hiện hàng ngày, lâu dần trở thành kỹ năng của trẻ. Để giáo dục KNS cho trẻ một cách hiệu quả, giáo viên có thể sử dụng các biện pháp như: Làm gương, trải nghiệm, trò chơi, trò chuyện, đàm thoại… Giáo dục KNS cho trẻ có thể tiến hành trong tất cả các hoạt động giáo dục hàng ngày vui chơi, học tập, chăm sóc sức khỏe, lễ hội, tham quan… Mỗi hoạt động có ưu thế riêng đối với việc dạy những KNS cần thiết với cuộc sống của trẻ. KNS cho trẻ mầm non giúp trẻ có kinh nghiệm trong cuộc sống, biết điều nên làm và không nên làm, giúp trẻ tự tin, chủ động và biết cách xử lý các tình huống trong cuộc sống, khơi gợi khả năng tư duy sáng tạo của trẻ, đặt nền tảng cho trẻ trở thành người có trách nhiệm và có cuộc sống hài hòa trong tương lai. Do đó, cần thiết phải giáo dục KNS cho trẻ mầm non. Kỹ năng sống còn thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Để có được KNS trẻ cần phải có thời gian, trong một quá trình tập luyện thường xuyên với sự hỗ trợ của người lớn và bạn bè. Những năm gần đây nhu cầu học kỹ năng sống, các chuẩn mực đạo đức của trẻ em đã “bùng nổ”. Điều đó thể hiện sự quan tâm của các bậc phụ huynh đối với việc giáo dục con em mình. Tuy nhiên, về mặt lý luận, cũng như thực tế cho thấy, kết quả của giáo dục kỹ năng sống, phẩm chất nhân cách, đạo đức cho trẻ em cần sự phối hợp của nhiều yếu tố (gia đình, nhà trường, xã hội). Đã từ lâu vấn đề này đã được đặt ra và đến nay nó vẫn là câu hỏi lớn! Sự “bùng nổ” nhu cầu học kỹ năng sống của trẻ được các bậc phụ huynh rất quan tâm,và cũng là nổi trăn trở của bản thân. 2.2. Thực trạng. Năm học 2016 – 2017, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi, với tổng số 30 trẻ. Trẻ nam là 18; trẻ nữ là 12. Trong quá trình thực hiện tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tôi đã gặp những thuận lợi và khó khăn sau: 2.2.1. Thuận lợi. Nhà trường được công nhận trường đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục cấp độ 2. Trường đạt chuẩn quốc gia, có khuôn viên rộng, khang trang, sạch sẽ, có đầy đủ trang thiết bị, đồ chơi cho trẻ. Lớp học đủ diện tích, có các góc chơi, đồ chơi phong phú hấp dẫn trẻ. Số trẻ trên lớp: 30 trẻ. Trong đó trẻ nam: 18; Trẻ nữ: 12. Trẻ đi học chuyên cần, tỷ lệ bé ngoan cao, hầu hết trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn thích tham gia hoạt động góc. Bản thân tôi là một giáo viên trẻ, có năng lực có trình độ chuyên môn trên chuẩn, luôn cố gắng trong quá trình tự học, tự rèn luyện và tổ chức tốt các hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ. 2.2.2. Khó khăn. Bên cạnh những điều kiện thuận lợi trên tôi đã gặp những khó khăn đó là: Trẻ 5 – 6 tuổi là độ tuổi hiếu động, khả năng tiếp nhận tiếp nhận thông tin nhanh, vì vậy trẻ dễ và nhanh tiếp nhận những kỹ năng xã hội không tốt. Hầu hết trẻ có cha mẹ làm nghề nông và công nhân nên thời gian dành chăm sóc con chưa nhiều. Một số trẻ khi ở nhà được bố mẹ nuông chiều và chưa quan tâm đến việc rèn kỹ năng cho trẻ nên các kĩ năng bảo vệ bản thân khi gặp nguy hiểm của trẻ còn hạn chế. Một số trẻ trong lớp còn có tính thụ động ít giao lưu trong các hoạt động. Trong lớp có trẻ còn nói ngọng, nói lắp, rối loạn hành vi, khả năng kiềm chế hành vi, cảm xúc kém. Từ khó khăn, thuận lợi nêu trên, trước khi áp dụng các biện pháp mới tôi đã tiến hành khảo sát thực tế các kỹ năng bảo vệ bản thân của trẻ 5 – 6 tuổi như sau: Bảng 1: Kết quả khảo các kỹ năng bảo vệ bản thân của trẻ 5 – 6 tuổi (Thời điểm tháng 9 năm 2016) TT Nội dung đánh giá Kết quả Đạt Chưa đạt Số trẻ Tỷ lệ % Số trẻ Tỷ lệ % 1 Kỹ năng an toàn khi chơi 20 67 10 33 2 Kỹ năng tránh bị xâm hại cơ thể 15 50 15 50 3 Kỹ năng ứng xử khi bị lạc 16 53 12 47 4 Kỹ năng an toàn khi tham gia giao thông 16 53 14 47 Qua kết quả khảo sát, tôi đã nghiên cứu và mạnh dạn đưa ra một số biện pháp tốt nhất để nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ. 2.3. Biện pháp. 2.3.1. Giáo viên xác định được những kỹ năng bảo vệ bản thân cơ bản cần giáo dục cho trẻ 5 – 6 tuổi. Đối với tâm sinh lý trẻ em 5 – 6 tuổi thì có nhiều kỹ năng quan trọng mà trẻ cần phải biết trước khi tập trung vào học văn hoá. Thực tế kết quả của nhiều nghiên cứu và thực trạng xã hội hiện nay cho thấy các kỹ năng quan trọng nhất trẻ phải học vào thời gian đầu của năm học chính là những kỹ năng sống như: Kỹ năng an toàn khi chơi; Kỹ năng tránh bị xâm hại cơ thể; Kỹ năng ứng xử khi bị lạc; Kỹ năng an toàn khi tham giao giao thông. Việc xác định được các kỹ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi sẽ giúp bản thân tôi cũng như các giáo viên khác lựa chọn đúng những nội dung trọng tâm để dạy trẻ . 2.3.2. Lồng ghép giáo dục kỹ năng sống vào các hoạt động học. + Kỹ năng an toàn khi chơi. Ví dụ: Trong giờ “làm quen đồ dùng, đồ chơi trong gia đình” sau khi cho trẻ làm quen, nhận biết các đồ dùng, đồ chơi như: phích nước, ổ điện, bếp ga, đồ dùng nhà bếp, cầu thang…; đồ chơi của bé trong gia đình: ô tô, máy bay, sách, ở, bút, tranh ảnh…. của trẻ tôi sẽ cho trẻ chơi trò chơi “Phân loại đồ dùng nguy hiểm, không nguy hiểm đối với trẻ”. Ví dụ: Chủ đề trường mầm non Hoạt động “Làm quen đồ dùng, đồ chơi trong trường mầm non”. Tôi cũng cho trẻ tìm hiểu, làm quen với các đồ dùng, đồ chơi trong lớp, ngoài trời. Sau đó cho trẻ chơi trò chơi phân loại đồ dùng, đồ chơi bé được chơi và không được chơi. Ví dụ: Hoạt động ngoài trời, trước khi trò chơi tự do trên sân trường giáo viên cần phải nhắc nhở trẻ nên chơi như thế nào cho an toàn. Ngoài ra, trong lớp tôi treo những bức tranh có nội dung giáo dục trẻ nên chơi ở chỗ nào, không nên chơi ở chỗ nào, không đụng vào các ổ điện, quạt trong lớp học và cũng như ở trong gia đinh trẻ. + Kỹ năng tránh bị xâm hại cơ thể Ở Việt Nam, vấn đề cho con tìm hiểu về vấn đề này chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Tuy nhiên, đây lại là vấn đề khá nhức nhối trong xã hội hiện nay. Để đảm bảo cho trẻ có những kiến thức cơ bản về vấn đề bảo vệ thân thể cũng như cách phòng tránh khi bị xâm hại cơ thể, giáo viên cần trang bị cho con những kiến thức cần thiết. Giáo viên hãy giúp con hiểu được thế nào là hành động xâm phạm thân thể, nếu bị xâm hại cơ thể các con nên ứng xử ra sao. Ví dụ: Chủ đề “Bản thân” tôi lồng ghép trẻ nhận biết các bộ phận trên cơ thể bé, giáo dục trẻ những bộ phận không được ai đụng đến ngoài bố mẹ, bà, dì và y tá hay bác sỹ khám bệnh cho trẻ khi có bố mẹ ở đấy. * Nếu một đứa trẻ bị ai đó chạm vào vùng kín một cách không phù hợp, bé có thể kể cho một người lớn đáng tin cậy của bé một cách chính xác. Từ đó, người lớn sẽ quan tâm và có biện pháp ngăn ngừa kịp thời. * Nếu một đứa trẻ nói với kẻ có ý định xấu: “Dừng lại ngay! Không được chạm vào âm đạo của tôi”, kẻ đó biết rằng bé đã được trang bị kiến thức về an toàn cơ thể. Một đứa trẻ như thế sẽ ít có nguy cơ trở thành mục tiêu của những kẻ xâm hại. Do đó, việc sử dụng thuật ngữ chuẩn xác gọi tên “các bộ phận riêng tư” sẽ giúp bảo vệ các em khỏi nạn xâm hại trẻ em. * Gọi tên chuẩn xác các bộ phận riêng tư trên cơ thể ngay từ đầu giúp bố mẹ dễ dàng giải thích cho trẻ hiểu sự thay đổi trên cơ thể chúng khi bước vào giai đoạn dậy thì. Sẽ không có sự e ngại hay lúng túng nào nữa. * Nếu bộ phận sinh dục của trẻ bị tổn thương hay xuất hiện dấu hiệu bệnh nào đó, sẽ dễ dàng hơn để trẻ mô tả triệu chứng cho giáo viên, người thân hoặc bác sĩ khi biết dùng thuật ngữ chính xác. * Nói tránh, gọi tên vùng kín bằng tên gọi khác dễ khiến trẻ suy nghĩ rằng có cái gì đó xấu xa đối với các bộ phận riêng tư đó…. Việc này có thể ẩn chứa hiểm họa vì chúng dẫn trẻ tới việc tin rằng, chúng phải giữ kín bất cứ động chạm thiếu phù hợp nào vào vùng kín của mình. Tranh: Minh họa các bộ phận nhạy cảm trên cơ thể trẻ. Ngoài ra, giáo viên cần phải dạy trẻ học cách tự bảo vệ bản thân theo “Quy tắc 5 ngón tay” vô cùng đơn giản và dễ thuộc. Ngón cái - gần mình nhất – tượng trưng cho những người thân ruột thịt trong gia đình như ông bà, bố mẹ, anh chị em ruột. Bé có thể ôm hôn những người này hoặc đồng ý đề các thành viên trong nhà ôm hôn, thể hiện tình yêu thương, tắm rửa khi bé còn nhỏ. Nhưng khi đã lớn, bé sẽ tự tắm và thay quần áo trong phòng kín. Ngón trỏ - tượng trưng cho thầy cô, bạn bè ở trường lớp hoặc họ hàng của gia đình. Những người này có thể nắm tay, khoác vai hoặc chơi đùa. Song chỉ dừng lại ở đó. Còn nếu ai chạm vào “vùng đồ bơi”, bé sẽ hét to và gọi mẹ. Ngón giữa - người quen biết nhưng ít khi gặp như hàng xóm, bạn bè của cha mẹ. Những người này, bé chỉ nên bắt tay, cười và chào hỏi. Ngón áp út – người quen của gia đình mà bé mới gặp lần đầu. Với những người này, bé chỉ nên dừng lại ở mức vẫy tay chào. Ngón út - ngón tay xa bé nhất – thể hiện cho những người hoàn toàn xa lạ hoặc người có cử chỉ thân mật, khiến bé thấy lo sợ, bất an.Với những người này, bé hoàn toàn có thể bỏ chạy, hét to để thông báo với mọi người xung quanh. + Kỹ năng ứng xử khi bị lạc Dạy trẻ biết tự bảo vệ mình cực kỳ quan trọng nên phải bắt tay ngay, thực hiện luôn từ khi trẻ con nhỏ, chứ không phải thụ động đến khi mọi sự xảy ra rồi mới lo lắng cuống cuồng. Để dạy được trẻ, cần kiên nhẫn từng ngày, rất kỳ công chứ không chỉ là dặn dò suông. Tạo tình huống, giáo viên và trẻ cùng trao đổi: *Không đi theo người lạ: + Đặt vấn đề: Nếu những người không quen biết nói đưa con đi mua kẹo bánh, bim bim, đồ chơi hay đưa con về nhàthì con sẽ làm gì? + Kỹ năng bé cần biết: Nói “không” với người lạ mặt. Người lạ mặt cố nài ép, dụ giỗ con thì con cần đến chỗ chú bảo vệ, chú công an, ghé vào đồn công an gần nhất hoặc chạy vào một cửa hàng ở gần đó nhờ giúp đỡ. Khi đang ở ngoài chỗ đông người mà bị ép đi theo, con hãy hô thật lớn, kẻ xấu sẽ tự đi. *Bị lạc + Đặt vấn đề: Khi đang đi chơi tại trung tâm thương mại, công viên, hay đi mua sắm, con bị lạc bố mẹ thì con sẽ làm gì? + Kỹ năng bé cần biết: Nếu vừa bị lạc bố mẹ khi đang mua sắm hoặc vui chơi thì con hãy đứng yên một chỗ, nơi mà bố mẹ con dễ dàng nhìn thấy, không chạy lung tung. Nhờ một người bên cạnh liên lạc vào số di động, điện thoại bànBất kỳ số nào mà con có thể nhớ. Nếu bị lạc bố mẹ từ lúc nào mà con cũng không biết thì con cần hỏi người xung quanh và tìm đến các phòng trung tâm của khu thương mại, công viênđể nhờ họ đọc loa tìm bố mẹ. Khi con bị lạc trên đường, nếu có thể, hãy tìm đến sự giúp đỡ của một chú công an và đến đồn cảnh sát để bố mẹ có thể tìm thấy con. * Không nhận bất cứ cái gì từ người lạ + Đặt vấn đề: Có người lạ đến cho con ăn kẹo, bánh, uống sữa hay đồ chơicon sẽ làm gì? + Kỹ năng bé cần biết: Tuyệt đối không được nhận/cầm/ăn. Không tiếp tục đứng gần, nói chuyện hay tiếp xúc với người đó nữa, hãy đi ra chỗ người thân, bạn bè, chỗ đông người Kể cho bố mẹ, người thân đang ở bên cạnh ngay. *Dạy trẻ thuộc số điện thoại của bố (mẹ) hoặc cả hai. Điều đầu tiên là giáo viên cần có số điện thoại của cha mẹ trẻ, đánh số điện thoại đó và dán vào cánh cửa tủ cá nhân của trẻ. Trong hoạt động làm quen chữ số hoặc ôn các chữ số đã học, giáo viên cho trẻ tìm những chữ số đó có trong số điện thoại của cha mẹ trẻ không, tiếp theo cho trẻ tự tìm hiểu xem số nào đứng trước, tiếp đến số nào. Có thể có những chữ số chưa được làm quen thì giáo viên cần giới thiệu cho trẻ biết. Như vậy, để dạy trẻ những kỹ năng ứng xử khi bị lạc giáo viên cần phải thường xuyên tạo tình huống cho trẻ được tham gia, trải nghiệm. + Kỹ năng an toàn khi tham gia giao thông Đây là một kỹ năng quan trọng đối với trẻ khi tham gia vào xã hội. Giáo viên nên giúp trẻ hiểu được một số loại biển báo cơ bản, một số loại đường cơ bản, một số người có vai trò trong việc điều hành giao thông, cách sang đường cũng như cách đi qua các ngã ba, ngã tư. Ví dụ: Chủ đề “Giao thông” Khi dạy bài “Luật lệ giao thông” cô nhấn mạnh cho trẻ biết đâu là vỉa hè, đâu là lòng đường, người đi bộ phải đi trên vỉa hè, người đi xe phải đi dưới lòng đường. Khi đến ngã tư người đi bộ phải qua đường đúng làn đường quy định. Khi qua ngã tư có tín hiệu đèn đỏ thì dừng lại, tín hiệu đèn xanh thì mới được qua đường. Khi dạy bài “Phương tiện giao thông” giáo viên cần dạy trẻ biết cách để an toàn khi đi trên các phương tiện giao thông như: Phải đội mũ bảo hiểm khi đi xe mô tô, khi đi xe ô tô không được đưa tay thò đầu ra ngoài cửa sổ, phải đợi xe dừng hẳn mới lên hoặc xuống xe, không đùa nghịch dưới lòng, lề đường. Nếu được đi máy bay phải thắt dây an toàn và chú ý làm theo hướng dẫn của nhân viên trên máy bay, khi đi tàu thuyền phải mặc áo phao cứu hộ. Ví dụ: Làm quen bài thơ “Cháu dắt tay ông”, truyện “Qua đường” Trong bài thơ, truyện muốn giáo dục trẻ khi đi qua ngã tư đường phố, qua bài thơ, câu truyện này giáo viên có thể cho trẻ chơi trò chơi “ngã tư đường phố”

Đề Tài Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc Cho Trẻ 5

đám đông. Từ những thực tế đó bản thân tôi luôn băn khoăn trăn trở để tìm ra những biện pháp giúp trẻ tham gia vào hoạt động một cách tích cực, hứng thú, không gò bó mà vẫn lĩnh hội được kiến thức một cách trọn vẹn. Hiểu được điều đó, tôi đã chọn đề tài "Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục âm nhạc cho trẻ 5- 6 tuổi", với mong muốn giúp trẻ phát triển một cách toàn diện về mọi mặt, đặc biệt là phát triển thẩm mĩ. ii. giải quyết vấn đề: 1.Thực trạng của địa phương và nhà trường: a. Thuận lợi: + Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Sở- Phòng Giáo Dục cũng như chính quyền địa phương trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ của nhà trường. + Ban giám hiệu luôn quan tâm đến công tác giảng dạy của giáo viên nên đã tham mưu, đầu tư mua sắm trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi như: Máy chiếu, đàn, đầu đĩa, ti vi, các loại đồ dùng âm nhạc, các trang phục dân tộc. Tạo được ấn tượng cho các cháu khi tham gia hoạt động âm nhạc. + Bản thân là một giáo viên luôn có lòng nhiệt huyết, yêu nghề mến trẻ, đã được dự nhiều chuyên đề nâng cao chất lượng giáo dục âm nhạc, dự giờ dạy mẫu cũng như tham gia học tập chương trình bồi dưỡng thường xuyên, tham gia dự thi giáo viên dạy giỏi các cấp nên đã có nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức các hoạt hoạt động giáo dục trẻ. + Các cháu thường được tham gia biểu diễn văn nghệ ở trường, ở xã trong các ngày hội, ngày lễ cũng như các cuộc thi nên đã tạo được lòng tin nơi phụ huynh, chính quyền địa phương, tạo cho trẻ có được sự hào hứng tham gia các hoạt động âm nhạc. b. Khó khăn: + Trường lớp tuy đã được xây mới nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu dạy và học của cô và trẻ, chưa có phòng hoạt động âm nhạc cho trẻ. + Số giáo viên biết sử dụng đàn piano còn rất ít, nếu biết thì cũng đang ở mức độ thấp, chưa thành thạo. + Mức độ cảm thụ âm nhạc của trẻ không đồng đều, một số trẻ còn nhút nhát, phát âm chưa chuẩn. + Một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học hành của trẻ, chưa có sự phối hợp với giáo viên trong công tác chăm sóc- giáo dục trẻ. 2. Các biện pháp thực hiện: Biện pháp 1: Khảo sát đầu năm: Bản thân tôi hiểu được tầm quan trọng của bộ môn âm nhạc đối với trẻ, hiểu được ý nghĩa của việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động âm nhạc trong việc nâng cao chất lượng giáo dục âm nhạc cho trẻ 5- 6 tuổi. Chính vì vậy, ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng trẻ, nắm được tâm sinh lí và khả năng cảm thụ âm nhạc của từng trẻ để từ đó xây dựng cho mình những biện pháp giáo dục phù hợp. Kết quả khảo sát đầu năm cho thấy: Tổng số trẻ: 30 cháu trong đó: Những kĩ năng hình thành ở trẻ Trước khi thực hiện Số trẻ tự tin, mạnh dạn trước mọi người 19 cháu chiếm tỉ lệ 63% Số trẻ yêu thích hoạt động âm nhạc 20 cháu chiếm tỉ lệ 67% Khả năng hát múa, vận động theo nhạc 17 cháu chiếm tỉ lệ 57% Từ kết quả trờn cho thấy khả năng cảm thụ õm nhạc cuả cỏc chỏu khụng đồng đều, rất nhiều chỏu chưa cú hứng thỳ khi đến với bộ mụn õm nhạc và cú những chỏu giọng hỏt chưa chuẩn, hỏt sai nhạc, khụng rừ lời. Nắm được tỡnh chung của lớp nờn tụi đó chịu khú suy nghĩ để tỡm ra biện phỏp hay, bổ ớch nhằm giỳp trẻ thấy được tầm quan trọng của bộ mụn õm nhạc. Biện pháp 2: Trau dồi chuyên môn nghiệp vụ: Ngoài việc đầu tư cho nghiên cứu tài liệu thì tôi còn tham mưu với ban giám hiệu nhà trường, tổ chuyên môn để tổ chức sinh hoạt tổ, trao đổi với nhau về các phương pháp dạy học tích cực và đổi mới, tổ chức dạy thể nghiệm bộ môn âm nhạc cho đồng nghiệp dự giờ, tham gia đóng góp ý kiến để xây dựng tiết dạy có hiệu quả. Biện pháp 3: Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động: * Đổi mới phương pháp: Quá trình đổi mới phương pháp dạy trẻ làm quen với bộ môn âm nhạc đòi hỏi người giáo viên phải biết linh hoạt, sáng tạo khi sữ dụng các nhóm phương pháp trong một tiết dạy để phù hợp với điều kiện thực tế của trường lớp và trình độ nhận thức cũng như mức độ hứng thú của trẻ. Trong khi dẫn dắt trẻ đến với hoạt động âm nhạc thì tôi chú ý phát hiện ra những cháu có năng khiếu âm nhạc như: hát đúng nhạc, biết thể hiện tình cảm điệu bộ qua bài hát để bồi dưỡng thêm cho cháu. Mặt khác tôi cũng chú ý đến những cháu rụt rè nhút nhát, hát sai nhạc để khuyến khích và luyện tập thêm cho cháu ở mọi lúc mọi nơi. Một phương pháp khá thành công và đã được tôi áp dụng đó là phương pháp dùng tình cảm khích lệ và nêu gương. Những trẻ được cô và các bạn khen, tuyên dương sẽ có thêm tự tin, mạnh dạn và có sự hào hứng mong chờ để được tham gia vào hoạt động âm nhạc ở những lần sau. Mặt khác với những trẻ yếu tôi cũng tìm cách động viên để trẻ không hụt hẩng mà sẽ cố gắng để được bằng các bạn khác bằng cách khuyến khích trẻ đó lên biểu diễn hát múa cho cả lớp xem hoặc hát riêng cho cô nghe... Trước khi tiến hành cho trẻ đến với hoạt động âm nhạc thì tôi suy nghĩ lựa chọn các dạng vận động minh họa phù hợp với nhịp điệu và nội dung của bài hát nhằm giúp trẻ cảm nhận hết giá trị nghệ thuật của bài hát. Ví dụ: Câu 1: Hai bàn tay của em đây em múa cho mẹ xem: Hai tay đưa sang phải, tay thấp tay cao cuộn cổ tay kết hợp nhún kí chân sau đó đổi bên Câu 2: Hai bàn tay của em như hai con bướm xinh xinh. Hai tay dang rộng bằng vai vẫy lên làm cánh bướm, nhún chân. Câu 3: Khi em giơ tay lên là bướm xinh bay múa. Tay phải từ từ đưa lên cao cuộn cổ tay sau đó đưa tay trái lên, nhún chân. Câu 4: Khi em đưa tay xuống là con bướm đậu trên cành hồng. Hai tay từ từ hạ xuống, bắt chéo nhau trước mặt sau đó uốn cong và đưa lên đầu kết hợp nhún chân. * Đổi mới hình thức: - Thường xuyên đổi mới hình thức để giúp trẻ thấy giờ học luôn mới lạ, hấp dẫn, điều đó rất quan trọng để kích thích sự tò mò, phấn khởi ở trẻ. Vì vậy mà các tiết học hình thức phải thay đổi thường xuyên. - Ngoài ra, việc lựa chọn đội hình cho trẻ hoạt động trong tiết dạy cũng rất quan trọng vì trẻ 5- 6 tuổi rất thích hoạt động nhưng cũng chóng mệt mỏi, nhàm chán. Chính vì vậy tôi đã suy nghĩ bố trí đội hình phù hợp với nội dung bài hát và cách vận động của bài đó, đảm bảo được sự nhịp nhàng giữa động và tĩnh Ví dụ: Khi trẻ đang chơi tự do, cô cho trẻ nghe nhạc bài "Cả nhà thương nhau" để lại gần gũi bên cô, cô và trẻ cùng trò chuyện về gia đình...sau đó trẻ đọc đồng dao "Đi cầu đi quán" về đội hình chữ u để hát múa bài "Múa cho mẹ xem". Tiếp theo trẻ đọc thơ "yêu mẹ" đi về 3 hàng ngang để nghe cô hát và chơi trò chơi... Biện pháp 4: Luyện giọng hát cho cô và trẻ. * Luyện giọng hát: Muốn tổ chức các hoạt động âm nhạc cho trẻ đạt kết quả cao thì đòi hỏi người giáo viên phải có sự rèn luyện, trước hết là luyện cho mình có một giọng hát nhẹ nhàng truyền cảm, hát đúng nhạc, đúng nhịp, đúng giai điệu, cao độ và trường độ. Nhưng để làm được điều đó thì rất cần sự chịu khó và phải luyện tập thường xuyên với nhiều hình thức khác nhau như: tự tập hát một mình, hát theo băng, hát tập thể, hát cho đồng nghiệp nghe và góp ý. Tôi đã lựa chọn và luyện tập những bài hát có nội dung phản ánh về trường lớp mầm non, gia đình của bé, các nghành nghề quen thuộc, thế giới thực vật, động vật, mùa xuân, tết cổ truyền, các loại phương tiện giao thông, về quê hương đất nước và Bác Hồ...đó là những bài hát có giai điệu vui tươi, trong sáng, ngộ nghĩnh, tình cảm tha thiết , tiết tấu phù hợp. Kết hợp với nét mặt, cử chỉ điệu bộ phù hợp nội dung bài hát để giúp trẻ cảm nhận hết giá trị nghệ thuật của bài hát đó. Mặt khác, tôi còn thường xuyên luyện tập các bài hát dân ca của các vùng miền, các bài hát ru trong và ngoài chương trình để có thể hát cho trẻ nghe. * Luyện giọng hát cho trẻ: Để luyện cho trẻ có giọng hát rõ ràng, đúng nhạc, truyền cảm cũng như khả năng biểu diễn tự tin mạnh dạn trước đám đông thì trong các tiết học tôi rất chú ý, quan sát để phát hiện ra những trẻ có năng khiếu để bồi dưỡng thêm cũng như phát hiện ra những trẻ chưa có năng khiếu để có kế hoạch rèn luyện thêm cho trẻ đó. Tôi đã rèn luyện cho các cháu bằng nhiều cách như: Cho trẻ hát theo cô, hát theo băng, tự hát một mình, hát đối đáp với bạn, hát theo tiếng đệm đàn của cô, hát xướng âm bài hát đó... * Luyện đàn: Mỗi tiết dạy hoạt động âm nhạc mà không có tiếng đàn thì tiết dạy chưa thành công. Vì vậy phần đệm đàn ở đây có vai trò hết sức quan trọng, nó góp phần vào việc tạo hứng thú, phát triển tai nghe và cảm xúc nghệ thuật cho trẻ. Chính vì lẽ đó mà tôi luôn quan tâm đến việc luyện đàn và sử dụng đàn piano bằng cách học thuộc các nốt nhạc của bài hát, nắm được bài hát đó viết ở nhịp nào, phách nào, nhanh hay chậm, từ đó sẽ luyện tập đánh nốt nhạc trên phím đàn. Nhờ chịu khó luyện tập nên bản thân tôi đã có thể tự mình đánh đàn cho trẻ nghe trong tiết dạy và ở mọi lúc mọi nơi, đa số các cháu rất thích và hào hứng khi được nghe đàn. Biện pháp 5: Dùng thủ thuật để gây hứng thú cho trẻ: + Trang phục cho cô và trẻ phù hợp nội dung bài hát. + Đồ dùng phục vụ giờ dạy: Máy chiếu, đầu đĩa, mũ múa, hoa múa, sân khấu, phách tre, trống lắc, đàn... + Phòng học rộng rãi, thoáng mát. + Lựa chon nội dung tích hợp và bài hát ngoài chương trình phù hợp.... * Sử dụng đồ dùng trực quan: Muốn nâng cao chất lượng giáo dục âm nhạc cho trẻ 5- 6 tuổi đạt kết quả cao và đưa các cháu vào tiết học một cách tự nhiên, không gượng ép thì tôi luôn tìm tòi sử dụng và sáng tạo ra các đồ dùng phục vụ bộ môn âm nhạc như: + Làm các loại mũ múa về các con vật, các loại hoa, hoa múa, xắc xô, trống, quạt...từ các nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương. + Làm các mô hình như: mô hình trường mầm non, lăng Bác Hồ...để phục vụ cho việc tham quan của trẻ. Biện pháp 6: ứng dụng công nghệ thông tin: Cùng với sự đổi mới, công nghiệp hóa- hiện đại hóa Đất nước đòi hỏi con người phải đa năng, phải sáng tạo. Ngày nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động chăm sóc- giáo dục trẻ cũng đã được phổ biến rộng rải, gây được sự chú ý, hào hứng của trẻ, làm cho trẻ thích khám phá những điều bí ẩn đang còn chờ đợi mình phía trước. Việc sữ dụng máy chiếu trong hoạt động giáo dục âm nhạc rất cần sự tinh tế và đan xen giữa các hoạt động dạy hát- vận động, nghe hát và trò chơi âm nhạc. Tôi đã phải nghiên cứu để làm sao đưa được những hình ảnh cho trẻ quan sát lúc nào cho phù hợp. Hoặc khi cho trẻ nghe hát bài "Màu áo chú bộ đội" thì tôi cho trẻ xem hình ảnh các chú Bộ đội hành quân ...để giới thiệu bài hát... Khi đến phần trò chơi âm nhạc: "Hát theo hình vẽ" thì tôi cho trẻ tự chọn hình ảnh, đoán tên bài hát trên màn hình và hát được bài hát đó... Qua nhiều lần sữ dụng máy chiếu vào trong hoạt động âm nhạc, tôi nhận thấy có sự tiến bộ rõ rệt trong việc gây được sự hứng thú và chú ý của trẻ, góp phần nâng cao khả năng cảm thụ âm nhạc đối với trẻ. Biện pháp 7: Dạy trẻ ở mọi lúc, mọi nơi: Muốn nâng cao chất lượng giáo dục âm nhạc cho trẻ thì dạy trẻ trên tiết học thôi chưa đủ mà phải dạy trẻ ở mọi lúc, mọi nơi khi đó mới giúp trẻ lĩnh hội kiến thức đầy đủ và bồi dưỡng được năng khiếu cho trẻ. * Giờ hoạt động ngoài trời: khi cho trẻ tham quan, hoạt động ngoài trời, tôi kết hợp cho trẻ nghe nhạc hoặc hát các bài hát có nội dung phù hợp và có tính giáo dục cao: Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát vườn hoa sân trường tôi cho trẻ hát bài "Hoa trường em", "Màu hoa"...để tăng thêm phần hứng thú cho trẻ khi quan sát và từ đó giáo dục trẻ biết yêu quý, bảo vệ và chăm sóc các loại hoa... Tôi cũng thường xuyên tổ chức các cuộc thi ở ngoài trời như :Bé hát dân ca, tiếng hát hoạ mi...để giúp trẻ tự tin trước đám đông và rèn luyện giọng hát cho trẻ. * Giờ hoạt động góc: Đây chính là khoảng thời gian trẻ được tự do thể hiện năng khiêú âm nhạc của mình. Chính vì thế tôi luôn tạo điều kiện cho trẻ phát huy năng khiếu như: Trẻ làm cô giáo dạy các bạn múa, trẻ biểu diễn văn nghệ, trẻ hát thi với nhau xem ai có giọng ca hay nhất...tôi cho trẻ tự do sữ dụng các loại nhạc cụ và trang phục để biểu diễn, làm cho trẻ cảm thấy mình đã chững chạc, thành công hơn. * Giờ ăn trưa: Trong khi trẻ ăn, tôi mở nhẹ các bản nhạc có lời ca du dương, tha thiết mang tính giáo dục với trẻ như "lòng mẹ", "chỉ có một trên đời", "ba ngọn nến lung linh" * Hoạt động chiều: Tôi thường tổ chức cho trẻ ôn lại các bài hát đã học hoặc làm quen với bài hát mới, qua đó rèn luyện cho trẻ có giọng hát hay hơn và giúp trẻ luyện các động tác múa dẻo dai, phù hợp nhịp điệu bài hát. Đây cũng là cơ hội để trẻ học hỏi lẫn nhau, làm cho tình đoàn kết của trẻ được nâng lên. Biện pháp 8: Công tác tuyên truyền: Âm nhạc đối với trẻ là nhu cầu không thể thiếu được hàng ngày, vì thế tôi đã trực tiếp trao đổi với phụ huynh đóng góp kinh phí mua đồ dùng, đồ chơi. Nhắc nhở nhụ huynh về nhà cho trẻ mạnh dạn hát múa cho cả nhà xem, hát ru cho trẻ nghe những bài hát có nội dung giáo dục tốt. Tuyền truyền phụ huynh sưu tầm băng đĩa, đóng góp các phế liệu để cô làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ... Trong các ngày hội ngày lễ nhà trường tổ chức liên hoan văn nghệ , tôi mạnh dạn mời phụ huynh tham gia cổ vũ cho trẻ, xem trẻ hát múa. Khi phụ huynh thấy con em mình biểu diễn trên sân khấu đẹp ra sao, hát hay, múa dẻo như thế nào thì lòng tin nơi phụ huynh đối với cô giáo sẽ được tăng lên. Từ đó phụ huynh sẽ có mối liện hệ mật thiết và có sự thống nhất với nhà trường trong công tác chăm sóc- giáo dục trẻ. 3. Kết quả đạt được: Với những biện pháp đã thực hiện ở trên, tôi đã thành công trong việc tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục âm nhạc cho trẻ 5- 6 tuổi. Khi lên lớp, tôi vững vàng tự tin hơn và gây được sự hào hứng nơi trẻ. Kết quả cho thấy Tổng số trẻ: 30 cháu. Trong đó: Những kĩ năng hình thành ở trẻ Sau khi thực hiện Số trẻ tự tin, mạnh dạn trước mọi người 29 cháu đạt tỷ lệ 97% Số trẻ yêu thích hoạt động âm nhạc 30 cháu đạt tỷ lệ 100% Khả năng hát múa, vận động theo nhạc 27 cháu đạt tỷ lệ 90% Từ kết quả trên cho thấy các cháu trong lớp đã có sự tiến bộ rõ rệt, đa số trẻ đã tự tin và mạnh dạn khi tham gia biểu diễn văn nghệ cũng như yêu thích các bài hát, điệu múa mà cô giáo đã tập cho. - Các cháu đã thuộc các bài hát trong và ngoài chương trình. Đồng thời khả năng cảm thụ âm nhạc của trẻ được nâng cao, thể hiện qua từng giai điệu, tiết tấu và cách sử dụng dụng cụ âm nhạc. - Trong quá trình dạy trẻ tôi đã phát hiện và bồi dưỡng được một số trẻ có n

Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ 5 6 Tuổi Học Tốt Môn Toán

A. Đặt vấn đề.I. Lý do chọn đề tài.“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”Trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, mỗi dân tộc, mỗi quốcgia. Muốn tồn tại và phát triển xã hội văn minh phồn thịnh thì phải chăm sóc,giáo dục trẻ. Đó là nhiệm vụ không chỉ đối với gia đình, nhà trường mà còncủa toàn xã hội. Chính sự nhận thức đó mà cần có sự phối hợp chặt chẽ, cómối liên kết giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Để có những biện pháp hữuích giúp trẻ phát triển một cỏch toàn diện (đức, trí, thể, mỹ …)Trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non và trong chươngtrình dạy trẻ mầm non thì hệ môn toán chiếm vị trí rất quan trọng, nó giúp trẻlàm quen với các khái niệm đơn giản ban đầu về toán học. Mặt khác môn toángiúp cho trẻ biết cách tư duy về các biểu tượng trong toán học, suy nghĩ vềtoán học, khuyến khích trẻ ham học hỏi tò mò và thích khám phá những điềumới lạ của trẻ thơ chuẩn bị tốt cho con đường bước vào tiểu học đó là điềuquan trọng nhất.Bản thân tôi là một giáo viên năm công tác cũng chưa nhiều với các bộmôn trong chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non. Bộ môn toán làbộ môn tôi gặp nhiều khó khăn và cũng là môn học tự nhiên khi dạy trẻ tụicảm thấy rất khó cứng. Do vậy tôi rất băn khoăn làm thế nào để truyền đạtcho trẻ những con số, phép tính, kích thước, định hướng trong không gian …

vốn mang tớnh nhàm chán khiến trẻ ít hứng thú trong học tập đó là câu hỏiđặt ra hàng ngày, hàng giờ học làm cho tôi phải suy nghĩ rất nhiều, tôi nhấtđịnh không chịu bó tay cũng không chịu thất bại, tôi tìm tòi mọi cách để cảitiến, khắc phục đưa môn toán vào tìm tòi và khám phá không những cho bảnthõn tôi mà con cho tất cả các cháu.Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong nền giáo dục quốc dân.Trong tất cả các môn học, các hoạt động thì việc hình thành các biểu tượng sơđẳng ban đầu về toán là một vấn đề cần thiết. Trẻ có khả năng làm quen với1

các sự vật, hiện tượng, trẻ thích nghi với các hoạt động khác nhau. Qua cáchình thức hoạt động dần dần trẻ có khái niệm về thế giới xung quanh, rồi cónhu cầu muốn hiểu biết đặc điểm, tính chất của các sự vật hiện tượng về hìnhdạng, kích thước, vị trí và cách sắp xếp của chúng. Tất cả những hiểu biết củatrẻ tích luỹ từ những kinh nghiệm của trẻ cùng với sự hướng dẫn của cô giáovà người lớn. Sự hiểu biết đó là cơ sở hình thành các biểu tượng về toán họcnhằm giúp trẻ hình thành và phát triển các năng lực trí tuệ: cảm giác, tư duy,ngôn ngữ, phát triển khả năng chú ý, khả năng ghi nhớ, trí tưởng tượng…Cho trẻ làm quen với toán tạo tiền đề cho trẻ vào lớp một. Nhiệm vụcủa cô mẫu giáo là chuẩn bị cơ sở và kiến thức sơ đẳng về các biểu tượngtoán. Giúp trẻ học tốt bộ môn toán ở lớp một. Góp phần to lớn trong việc pháttriển toàn diện và hình thành nhân cách cho trẻ. Hiểu rõ tầm quan trọng củabộ môn tôi thấy cần phải cung cấp và cho trẻ làm quen với các biểu tượngtoán học, làm thế nào để trẻ say mê học và nhận biết sâu rộng về bộ môn này.Nhưng trong thực tế ở các trường mầm non nói chung và lớp tôi nóiriêng trong những năm qua để thực hiện được những tiết dạy làm quen vớitoán tốt, đạt kết quả cao, đáp ứng được yêu cầu bộ môn là một vấn đề rất khókhăn. Trước hết là do điều kiện khách quan đó là đội ngũ giáo viên nhận thứccòn hạn chế về: trình độ chuyên môn, khả năng sáng tạo, linh hoạt … bản thânmỗi giáo viên chưa hiểu hết ý nghĩa và tầm quan trọng của bộ môn, còn xemnhẹ, ngại khó, chưa thực sự tìm tòi sáng tạo, chưa đi sâu soạn bài, nghiên cứutài liệu của bộ môn. Vì thế khả năng truyền thụ kiến thức cho trẻ còn nhiềuhạn chế, còn rập khuôn máy móc, chưa phát huy được tính tích cực sáng tạocủa trẻ. Mặt khác cơ sở vật chất chưa thật đầy đủ, đồng bộ và chưa đa dạngphong phú. Bên cạnh đó sự phối hợp với phụ huynh còn hạn chế, nhiều bậcphụ huynh quan điểm đưa con đến trường chỉ đơn thuần ăn,ngủ, học múa,họchát hoặc có quan điểm gửi con để rảnh tay, rảnh chân để làm ăn, còn học toánlên đến bậc tiểu học mới cần thiết.

Mặt khác nữa con trẻ khả năng chú ý chưa cao, dễ bị phân tán, hiểu biếtkinh nghiệm còn ít…Do những điều kiện trên nó đã có tác động đến khả năng nhận thức vàkết quả của trẻ. Trẻ nhận biết phân biệt chưa chính xác, còn mơ hồ. Vớinhững thực trạng trên bản thân tôi lựa chọn đề tài : ” Một số biện phỏp giỳptrẻ 5-6 tuổi học tốt môn toán ” để nghiên cứu nhằm tỡm ra những biện phỏpgiỳp trẻ học môn toán đạt hiệu quả cao nhất,tạo cho trẻ một nền tảng vữngchắc nhất để trẻ vững tin bước vào lớp một.II. Thực trạng vấn đề nghiên cứu.1. Thực trạng1.1. Cơ sở lí luậnViệc cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với các biểu tượng ban đầu về toánhọc là vô cùng quan trọng, bởi thông qua các bài tập về miêu tả sự vật , phânloại, xếp thứ tự . số lượng , định hướng trong không gian và thời gian … trẻsẽ có cơ hội phát triển óc quan sát , khả năng phát hiện đối tượng, biết sosánh, phán đoán, phân tích, tổng hợp, rèn luyện phát triển tư duy và một số kỹnăng khác.Bên cạnh đó, việc hình thành cho trẻ các biểu tượng toán sơ đẳng màgiáo viên đã làm chính xác hóa các biểu tượng, những kiến thức và kỹ năngcần thiết cho trẻ , đồng thời cũng cố tri thức đã biết ( hình dạng, kích thước,số lượng…) Qua đó, giúp trẻ phát triển về ngôn ngữ , hoàn thiện về mọi mặt ,vì trong giờ học toán trẻ phải thực hành, trẻ phải trả lời các câu hỏi cô giáođặt ra và được nêu lên những suy nghĩ của mình về vấn đề mà trẻ quan tâm.Ngoài ra việc sử dụng ngôn ngữ toán học thường xuyên sẽ giúp trẻ hiểu đượcchính xác các biểu tượng mà không bị nhầm lẫn hay sai lệch.Từ đó giúp trẻmạnh dạn tự tin hơn.Không chỉ dừng lại trong việc góp phần phát triển khẳ năng chú ý, ghinhớ, tưởng tượng có mục đích của trẻ, rèn luyện các khẳ năng phân tích, tổnghợp và tư duy logic góp phần hoàn thiện phát triển năng lực cảm giác, tri giác,3

thúc đẩy tính tò mò , sự ham hiểu biết ở trẻ. Mà thông qua việc tiếp xúc vớisự vật hiện tượng, đồ vật và các khái niệm về hình như hình tam giác, hìnhchữ nhật, hình vuông, hình tròn, trẻ hiểu được các khái niệm toán học ( hìnhdạng, màu sắc,…) đó là những khái niệm cơ bản để hình thành những tri thứcsau này cho trẻ. Đồng thời toán học còn đóng vai trò quan trọng trong cuộcsống hàng ngày cho trẻ mẫu giáo, giúp trẻ phát triển quá trình tâm lý như tưduy hành động, tư duy trừu tượng, tư duy sáng tạo. Tuy nhiên, để việc hìnhthành các biểu tượng toán học ban đầu cho trẻ mẫu giáo lớn đạt được kết quảcao, bên cạnh việc hướng dẫn của giáo viên, đồng thời giáo viên phải luôn tìmra cho trẻ những tình huống để trẻ tự tìm tòi , khám phá, giúp trẻ đúng lúc,đúng chỗ, không mang tính gò ép hay áp đặt trẻ.1.2. Thực trạnga. Về thuận lợi:Bản thân là một giáo viên trẻ đó tham gia học xong lớp đại học nhằmnâng cao chuyên môn,nghiệp vụ. Luôn có tinh thần học hỏi, nhiệt tình, tâmhuyết với nghề, tích cực tham khảo tài liệu, dự giờ dạy mẫu để rút kinh ngiệmcho bản thân. Và hơn thế nữa bản thân luôn được sự quan tâm của ban giámhiệu nhà trường, sự chỉ đạo sát sao của các cấp chuyên môn phòng giáo dục .Các cháu lớp tôi đang chủ nhiệm lớp 5 – 6 tuổi với số cháu là 32cháu. Các cháu đều khoẻ mạnh cùng độ tuổi ham hiểu biết và rất nhạy cảm .Lớp học ở khu trung tâm của trường nên phòng học rộng rãi, sạch sẽ,thoáng mát về mùa hè , ấm áp về mùa đông trường có khuôn viên rộng rải vớicác loại cây phong phú, không khí trong lành, đồ dùng đồ chơi tương đối đầyđủ.Bên cạnh đó trường tôi là trường công lập thực hiện dạy ngày 2 buổi,nờntôi có thời gian vào buổi chiểu để ôn luyện cho những trẻ còn kém.b.Về khó khăn:Bờn cạnh những thuận lợi cũn gặp khụng ớt khú khăn :Lớp tôi là một lớp đông cháu, dân chủ yếu là nông thôn. Do trình độdân trí thấp quan niệm của nhiều người phụ huynh còn nhiều hạn chế, khi đưa4

con đến lớp đa số phụ huynh chỉ nghĩ rằng con đến lớp mẫu giáo chủ yếu làhát hò dăm ba bài và chơi là chủ yếu. Hơn nữa cũng do điều kiện kinh tế giađình còn rất hạn hẹp cho nên việc đóng góp các khoản theo quy định của nhàtrường còn khó khăn. Việc mua thêm đồ dùng rất cần thiết để phục vụ họctập. Mặt khác cũng do đặc điểm của trẻ lứa tuổi này đang cũn ham chơi,chóng nhớ, chóng quên. Thấy vậy tôi rất lo lắng nếu kéo dài tình trạng trên thìkhi cháu ra học lớp 1 sẽ ra sao.Với trách nhiệm là một người giáo viên cùngvới tấm lòng của người mẹ thứ hai đối với các cháu tôi suy nghĩ tìm mọi cáchđể cung cấp cho trẻ những biểu tượng sơ đẳng về toán có hiệu quả cao hơn.Xuất phát từ những thuận lợi và khó khăn trên qua nghiên cứu tìm tòitôi đã đưa ra được những biện pháp tối ưu để có hướng giúp trẻ học môn toánđạt hiệu quả cao nhất.Trước khi đưa vào thực hiện ngay từ đầu năm học tôi đã khảo sát phânloại khả năng tiếp thu kiến thức của trẻ với môn : “Làm quen với toán” nhưsau:Kết quả khảo sát ban đầu:Qua khảo sát chất lượng lần 1 cho thấy:STT1

2

Mức độ, khả năngMức độ, hứng thú

%+ từ đầu đến cuối hoạt động 30-40%

+ 10 phút đầu: 60- 65 %Kết quả hiểu bài sau buổi + Đạt yêu cầu: 60 – 70 %học.+ 10 phút đầu: 35-40 %Qua kết quả trên khiến tôi rất trăn trở. Đặc biệt là chất lượng của trẻ độ

5-6 tuổi. Chính điêù đó đã thôi thúc, lôi cuốn tôi tìm tòi, suy nghĩ để tìm rabiện pháp giáo dục đạt kết quả .B. Giải quyết vấn đề.I. Cỏc giải phỏp thực hiện1. Tổ chức dạy kết hợp trong hoạt động vui chơi.2. Tổ chức dạy kết hợp với đi dạo , tham quan, hoạt động ngoài trời.5

3. Tổ chức ở mọi nơi trong sinh hoạt hàng ngày.4. Tổ chức trong các hoạt động học tập khác.5. Môi trường toán học.6. Cụng tỏc phối hợp với phụ huynh.II. Cỏc biện phỏp thực hiện.1. Tổ chức dạy kết hợp trong hoạt động vui chơi.Trong quá trình vui chơi trẻ được làm quen hoặc vận dụng những hiểubiết về “Toán” để tiến hành chơi.Ví dụ 1: Trong nhóm chơi lắp ghép, xây dựng: Trẻ biết sử dụng cáckhối tam giác, khối vuông, khối chữ nhật, khối trụ để lắp ghép hàng rào,đường đi, đoàn tàu, ngôi nhà và một số đồ dùng, đồ chơi như bàn ghế …Trong quá trình hướng dẫn trẻ hoạt động, tôi dùng những câu hỏi đểgợi ý dẫn dắt hoặc kiểm tra trẻ.Cháu xếp gì đây? (Xếp ngôi nhà)Xếp như thế nào?Dùng cái gì để xếp khung nhà? (Khối chữ nhật, khối vuông)Dùng cái gì để xếp mái nhà? (Khối tam giác)Ví dụ 2: Trong nhóm chơi bế em. Tập cho trẻ biết nhìn nhận sự khácnhau của đồ vật.Em búp bê này to hơn – Em búp bê kia nhỏ hơn.Cái giường này to hơn – Cái giường kia nhỏ hơn.Em búp bê to thì dùng bát to, thìa to – em búp bê nhỏ thì dùng bát nhỏ,thìa nhỏ.Trong các trò chơi học tập: Tìm đúng nhà, tìm bạn thân, đồ chơi gì biếnmất, cái túi ký lạ …tụi luụn tỡm cơ hội để trẻ được trải nghiệm cỏc biểu tượngsơ đẳng về toánNhững trò chơi giúp trẻ củng cố và ôn luyện các kiến thức, kỹ năng đãhọc về toán. Tôi cho trẻ chơi nhiều hơn.2. Tổ chức dạy kết hợp với đi dạo, tham quan, hoạt động ngoài trời6

Cô hướng dẫn trẻ quan sát nhận biết các vật có hình dạng, kích thước,số lượng, vị trí của chúng trong không gian.Cô cho trẻ quan sát nhận biết cây cao – cây thấp; lá này to hơn – lá kianhỏ hơn; là này dài hơn – lá kia ngắn hơn; lá này màu gì – hoa màu gì. Hoặccho trẻ nhận xét cô cao hơn hay cháu cao hơn, bạn A cao nhất – bạn B thấphơn – ban C thấp nhất.Hoặc có thể cho trẻ nhận biết được vị trí của các đồ vật,đồ chơi vớinhau,vị trí của các bạn với nhau…3. Tổ chức ở mọi nơi trong sinh hoạt hàng ngày.Cô giáo cần tận dụng linh hoạt ở mọi thời điểm trong sinh hoạt hàngngày để dạy trẻ. Cô có thể giới thiệu cho trẻ được làm quen hoặc vận dụngnhững điều đã biết. Tuỳ từng hoàn cảnh cụ thể để hướng dẫn trể sử dụngđúng từ: to nhất, nhỏ hơn, nhỏ nhất, rộng nhất – hẹp hơn, hẹp nhất, cao nhất thấp hơn, thấp nhất, dài nhất -ngắn hơn, ngắn nhất – nhiều hơn – ít hơn …, tậpđếm, so sánh 2 nhóm, thêm bớt.Ví dụ 1: Giờ đón trẻ. Cho trẻ chơi với đồ chơi tự chọn. Cho trẻ lắp ghéptheo ý thích hoặc theo yêu cầu: Xếp các đồ vật giường, tủ, nhà, bàn ghế ….Xếp theo mẫu: Xếp tạo nhóm theo dấu hiệu cho trước, tạo nhóm thêmbớt trong phạm vi 5.Ví dụ 2: Khi trẻ chơi xong hoặc khi cho trẻ lau chùi cất đồ chơi. Tậpcho trẻ biết xếp riêng từng loại đồ dùng, đồ chơi có hình dạng kích thướcgiống nhau, biết cất đồ dùng đúng nơi quy định theo yêu cầu (cất vào ngăntrên, để vào ngăn dưới, để phía sau, để phía trước …)Ví dụ 3: Khi ăn cơm cô có thể cho trẻ làm quen hoặc luyện nhận biếttay phải, tay trái. Tay phải làm gì? tay trái làm gì?Cháu cầm thìa tay phải, còn tay trái giữ bát.Bạn nào ngồi ở phía trái, phía phải, phía sau, phía trước của cháu hoặcxác định vị trí của đồ vật so với bạn khác.

7

Hoặc mỗi nhóm có 8 bạn ngồi với nhau vậy cô phải chia mấy bát cơmvà cần mấy cái thỡa tương ứng…4. Tổ chức trong các hoạt động học tập khác:Trong hoạt động học tập giáo viên cho trẻ nhận biết, phân biệt và tạonên các đồ vật khác nhau về hình dạng, kích thước, màu sắc.Ví dụ: Môn MTXQ: Quan sỏt một số loại hoa quả. Cho trẻ nhận biết sosánh quả về màu sắc, hình dạng, kích thước.Môn tạo hình: Cô hướng trẻ biết vẽ, nặn, xé, dán, quy về từ những hìnhcơ bản: Vuông, tròn, tam giác, chữ nhật để tạo thành các đồ vật …Ví dụ 1: Vẽ ô tô tải: Đầu xe có dạng hình chữ nhật đứng, thùng xe códạng hình chữ nhật nằm ngang, bánh xe có dạng hình tròn.Ví dụ 2: Xé dán đàn gà con: Trẻ biết xé dán con gà quy về các hình. Xédán hình tròn to làm mình, xe dán hình trũn nhỏ làm đầu, xe dán hình tamgiác làm mỏ, đuôi và các chi tiết phụ khác.Tóm lại: Hình thức tổ chức dạy trẻ kết hợp trong các hoạt động kháctrong ngày của trẻ là việc làm cần thiết trong quá trình hình thành các biểutượng toán ban đầu cho trẻ. Để thực hiện tốt biện pháp này, tôi phải lập kếhoạch thực hiện cho từng ngày, từng tuần, từng tháng sau cho biện pháp nàylà chỗ dựa tốt cho trẻ học tốt trên tiết học và vừa là chỗ trẻ được vận dụng,củng cố các kiến thức, các kỹ năng đã biết vào trong hoạt động sinh hoạt hàngngày.Để trẻ ghi nhớ sâu sắc và tạo điều kiện cho trẻ hoạt động. Trẻ cànghứng thú tích cực hoạt động bao nhiêu thì trẻ càng giàu biểu tượng toán bấynhiêu. Qua đó giúp trẻ phát triển thông minh, nhanh nhẹn …Để trẻ hứng thú tích cực tham gia vào hoạt động tôi thường chú trọngvào những việc làm sau:* Chuẩn bị phong phú các loại đồ dùng, đồ chơi đẹp mắt, hấp dẫn, sángtạo phù hợp, phục vụ cho trẻ làm quen với toán.

8

Thóc đây

Gieo 5 hạt thóc xuống đất

Trẻ gieo và đếm 5 hạt

Nhỏ 5 khóm mạ

Trẻ làm động tác nhổ mạ 5 lần

Cấy lúa 5 lần

Trẻ cấy lúa và đếm 5 lần

Cây lúa lớn cho 5 bông

Trẻ làm cây lúa trổ bông 5 lần

Gặt 5 khóm lúa

Trẻ gặt lúa 5 lần

Cho trẻ mang lúa về nhà

Trẻ chạy về chỗ ngồi.

Bác nông dân tặng cho cả lớp hộp quà. Trẻ quan sát và mở hộp quà.Cho trẻ đếm từng nhóm. Trẻ đếm nhóm ngô (5 bông ngô). Nhóm cà rốt(5 củ cà rốt), nhóm cà chua (5 quả cà chua).Phần 2: Tạo nhóm có số lượng là 6- đếm đến 6.Cho trẻ phơi lúa giúp bác nông dân.Cho trẻ đếm – nhận xét số rổ và số lúa…Phần 3: Luyện đếm đến 6Trò chơi biểu diễn thời trang (nhóm 6 trẻ tham gia)10

Cho trẻ xem chương trình “Nhà Nông đua tài”Trẻ biểu diễn thời trang mang các loại rau, quả, trang trí trên áo quần.Cho trẻ đếm số lượng rau, củ, quả trên người các bạn.Trò chơi tìm đúng các nhóm “Rau, củ, quả”Cô giới thiệu có rất nhiều hình tròn, hình vuông… Sau mỗi hình đều cógắn các sản phẩm các bác Nông dân: rau, củ, quả”Yêu cầu trẻ chia thành 4 đội để chơi. Mỗi đội chọn một nhóm sản phẩmgắn gắn lên bảng có đủ số lượng là 6.Khi trẻ chơi xong, cô mời cả lớp đến kiểm tra kết quả của mỗi đội.

* Với bộ môn văn học: Tôi dùng các câu chuyện, bài thơ, đồng dao,vè… để dẫn dắt vào nội dung bài học, để chuyển tiếp giữa các phần hay để ônluyện kiến thức cũ.Ví dụ 1: ở tiết học dạy trẻ đếm đến 6 – nhận biết nhómcó 6 đối tượngnhư đã giới thiệu ở phần trên, tôi sử dụng bài thơ “Hạt gạo làng ta” của tác giảTrần Đăng Khoa vào phần chuyển tiếp giữa phần ôn kỹ năng đếm đến 5 vàphần tạo nhóm có số lượng là 6 – đếm đến 6. Qua bài thơ đó lồng giáo dục trẻ.Phần chuyển tiếp giữa phần 2 và phần 3, tôi kể cho trẻ nghe câu chuyện “Bácnông dân và con khỉ” (kể tóm tắt). Yêu cầu trẻ đi vào rừng tìm giúp bác nôngnhân 6 củ cải trắng và 6 củ cà rốt. Sau đó cho cả lớp đếm và kiểm tra lại.Ví dụ 2: với bài: Dạy trẻ phân biệt hình vuông, hình tròn, hình tamgiác, hình chữ nhật, tụi sử dụng các câu đố về hình như:Tôi có 4 cạnhĐộ dài bằng nhauBạn hãy đoán xemTôi là hình gì?(hình vuông)Chẳng phải quả bóng11

12

13

Để dạy tốt bộ môn và nâng cao chất lượng cho trẻ làm quen với toán.Ngoài khả năng cố gắng của cô cần thiết phải có sự giúp đỡ của phụ huynh,có sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên, liên tục với phụ huynh, tuyên truyềnrộng rãi ở các cuộc họp phụ huynh hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng cuảbộ môn để phụ huynh cùng phối hợp, hỗ trợ, đầu tư về mọi mặt như trangthiết bị phục vụ cho việc giảng dạy và học tập. Vận động phụ huynh mua mộtsố đồ dùng phục vụ cho bộ môn toán để dạy trẻ ở nhà như bộ lắp ghép hình,bộ so hình, que tính để xếp hình, qua tính để tạo nhóm, vở bé làm quen vớitoán.Để làm một số đồ dùng phục vụ bộ môn, tôi sưu tầm các nguyên vậtliệu, phế liệu từ nguồn phụ huynh làm được: một số búp bê nhỏ, một số quạt,đồng hồ, làn, phích…Sau những buổi học tôi trao đổi với phụ huynh về việc học toán của trẻở lớp, cho phụ huynh xem quyển “bé làm quen với toán”, trao đổi kịp thời vềtình hình của trẻ. Nhờ phụ huynh về luyện tập thêm cho trẻ. Kết hợp giữa giađình và nhà trường để trẻ được luyện tập nhiều hơn. Cung cấp được một sốkiến thức cần thiết hơn.C. Kết luận.1. Kết quả nghiờn cứu.Với những biện pháp phù hợp, với khả năng và nhận thức của trẻ, cùngvới sự cố gắng nổ lực của bản thân trong quá trình tổ chức hướng dẫn trẻ. Kếtquả cho thấy rõ rệt:– Khi chưa áp dụng những biện pháp trên, tôi thấy giờ học quá thật khôkhan, trẻ không hứng thú học. Kết quả trên trẻ thấp, trẻ không có kỹ năng,vốn kinh nghiệm ít ỏi, sử dụng đồ dùng còn lúng túng, nhận biết phân biệtkhông chính xác…– Sau khi áp dụng những biện pháp cụ thể trên, kết quả cho thấy trẻ họchứng thú hơn, tích cực hoạt động hơn, trẻ tiếp thu kiến thức nhẹ nhàng, thoải

14

mái hơn và kết quả trên trẻ ngày càng tốt hơn, trẻ có vốn kinh nghiệm nhiềuhơn, nhận biết phân biệt tương đối chính xác…Thể hiện kết quả cụ thể:Tổng số trẻ: 32STT

Mức độ, khả năng

1

Mức độ hứng thú

%+ Từ đầu đến cuối: 94%+ Yếu tố tâm lý: 6%

2

Kết quả hiểu bài ngay sau buổi học

+ Đạt yêu cầu: 95%+ Chưa đạt yêu cầu: 5%

15

16

Người viết

17

Bạn đang xem bài viết Đề Tài Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ 5 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!