Xem Nhiều 2/2023 #️ Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số # Top 5 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn về công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số là một trong những khâu quan trọng giúp giáo viên thực hiện hiệu quả các biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh. Thông qua các hình thức sinh hoạt chuyên môn, nhà trường chú trọng bồi dưỡng cho giáo viên một số vấn đề cơ bản sau: – Bản chất của tăng cường tiếng Việt là giúp học sinh chưa biết hoặc biết nói ít tiếng Việt có thể học tập các môn học trong hệ thống giáo dục sử dụng tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức. Tăng cường tiếng Việt không có nghĩa là tăng thêm lượng kiến thức mà chúng ta có thể giảm bớt hay nói cách khác là điều chỉnh lượng kiến thức làm cho nó dễ hiểu hơn, phù hợp hơn với đối tượng học sinh. – Tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số có vai trò quan quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Bởi vì, đối với học sinh dân tộc thiểu số tiếng Việt là ngôn ngữ thứ 2. Học sinh học bằng ngôn ngữ 1 (NN1) so với ngôn ngữ 2 (NN2) có sự khác biệt, cụ thể: + Học sinh học bằng NN1 có vốn tiếng Việt khoảng 4000 từ (trước khi đi học), tư duy trực tiếp bằng TV (tiếp cận TV tự nhiên), tiếp thu ngôn ngữ hiệu quả từ nghe – nói – đọc – viết và có tác động tích cực của gia đình, cộng đồng. + Học sinh học bằng NN2 thường không biết hoặc biết ít tiếng Việt, tư duy gián tiếp (tiếp cận tiếng Việt áp đặt), tiếp thu tiếng Việt hạn chế do không hình thành ngay được mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết, giữa âm thanh và ngữ nghĩa – ngữ pháp. Các em ít nhận được tác động từ môi trường gia đình, cộng đồng và chịu sự ảnh hưởng tiêu cực của tiếng mẹ đẻ. – Khi thực hiện tăng cường tiếng Việt cho học sinh, giáo viên cần giúp các em tiếp cận với kiến thức, kĩ năng các môn học thông qua kinh nghiệm mà các em trích lũy được trước đó (có thể bằng tiếng mẹ đẻ), theo mức độ từ dễ đến khó. Chú ý đến học sinh, đến cuộc sống và môi trường học tập của các em, tạo điều kiện để học sinh được học tập theo đặc điểm cá nhân. Vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học khác nhau nhằm lôi cuốn học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động học tập. Sử dụng đồ dùng học tập đa dạng, thường xuyên trong các hoạt động học tập. Hiểu được sự khác biệt giữa học sinh kinh và học sinh dân tộc thiểu số khi học tiếng việt sẽ giúp giáo viên lựa chọn được những phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh dân tộc thiểu số ở địa phương; tạo điều kiện thuận lợi để giúp học sinh học bằng NN2 lấp được chỗ trống về sự chênh lệch khoảng 4000 từ (trước khi đến trường). b.2. Thực hiện hiệu quả công tác Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ trước tuổi đến trường Chuẩn bị tiếng Việt là bước đầu của tăng cường tiếng Việt. Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số trước khi học lớp một giúp các em có thể nghe hiểu một số câu, từ ngữ để giao tiếp với giáo viên, bạn bè; nhận diện được các chữ cái tiếng Việt, biết cách cầm bút, tư thế ngồi viết, thuộc một số bài hát, các nề nếp học tập…; có tâm thế sẵn sàng đi học, học các môn học và thực hiện các hoạt động giáo dục. Công tác chuẩn bị tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số thường được tổ chức trong dịp hè, trong khoảng thời gian một tháng vào trước năm học. Để thực hiện hiệu quả công tác này, trước hết, lãnh đạo nhà trường cần xây dựng kế hoạch Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số trước khi học lớp một; phân công nhiệm vụ cụ thể và triển khai kế hoạch kịp thời đến từng giáo viên trong trường; phối hợp tốt với thôn buôn và cha mẹ học sinh điều tra vận động học ra lớp. Chương trình học được thực hiện theo chương trình “Tập nói tiếng Việt cho học sinh dân tộc” theo tài liệu “Kế hoạch bài học Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ em trước tuổi đến trường” của Bộ (tài liệu  được cấp phát cho giáo viên tập huấn hè 2008), gồm 60 bài, 180 tiết. Căn cứ vào đối tượng HS cụ thể của từng lớp, lãnh đạo nhà trường chỉ đạo giáo viên lựa chọn một số nội dung ở tài liệu (phù hợp với đối tượng) để dạy cho trẻ. Ví dụ: – Căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị, giáo viên lựa chọn số lượng, thời lượng bài dạy cụ thể trong thời gian một tháng như sau: Tổng số bài dạy là 30 bài, mỗi bài học trong 03 tiết, mỗi tiết khoảng 30 phút, sau mỗi tiết học có 05 phút chuyển tiết, giữa mỗi buổi học có 15 phút để vui chơi. – Trong mỗi tiết học, ngoài thời gian tập nói, giáo viên dành từ 15 đến 20 phút để hướng dẫn học sinh tập nhận diện các chữ cái từ dễ đến khó, tập tô, tập viết các âm vần. Để đạt hiệu quả tốt, giáo viên cần tăng cường việc sử dụng đồ dùng dạy học (các thiết bị dạy học, tranh ảnh trực quan, đồ dùng dạy học tự làm…), tuyệt đối tránh dạy chay, hình thức. Cuối đợt học, giáo viên tổ chức khảo sát với từng học sinh để có kế hoạch phụ đạo, bồi dưỡng trong năm học. Đa số học sinh tham gia học tập là học sinh dân tộc thiểu số có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không thể vận động các em đóng góp để chi trả tiền bồi dưỡng cho giáo viên. Vì vậy, nhà trường có thể trích nguồn kinh phí chi thường xuyên của đơn vị để động viên, bồi dưỡng cho giáo viên trực tiếp giảng dạy. b.3. Tăng cường tiếng Việt trong các môn học Như chúng ta đã biết, trong điều kiện thực hiện một chương trình và một bộ sách giáo khoa, dù dạy học các môn học, bài học bằng tiếng Vệt cho học sinh Kinh hay học sinh dân tộc thiểu số thì giáo viên đều phải bám sát một chuẩn chung quốc gia về kiến thức và kĩ năng của các môn học. Để đáp ứng chuẩn này, khi dạy học các môn học cho học sinh dân tộc thiểu số, giáo viên cần tiến hành một số biện pháp tăng cường tiếng Việt nhằm giúp học sinh học bằng tiếng Việt có hiệu quả. – Chỉ đạo giáo viên chủ động điều chỉnh nội dung, thời lượng dạy học các môn học khác để tập trung vào dạy môn Tiếng Việt, Toán. – Thực hiện dạy học phân hóa đối tượng học sinh như: phân hóa theo sở thích, khả năng tiếp thu, đặc điểm cá nhân của học sinh,… – Sử dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; tăng cường tổ chức dạy học theo nhóm, trò chơi học tập; sử dụng đồ dùng dạy học thường xuyên, có hiệu quả; khuyến khích sử dụng các trò chơi học tập để tăng cường tiếng Việt và yêu thích tiếng Việt cho học sinh. – Tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích giáo viên tự học tiếng mẹ đẻ của học sinh để giúp các em vượt qua rào cản ngôn ngữ (có thể sử dụng song ngữ để giải nghĩa từ,) – Sử dụng hiệu quả đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh “Tài liệu bổ trợ tiếng Việt 1,2,3” để tăng cường tiếng Việt cho học sinh trong các buổi học thứ hai. – Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm phối hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn để tăng cường tiếng Việt cho học sinh trong tất cả các môn học (giáo viên chủ nhiệm lập danh sách những học sinh cần tăng cường tiếng Việt cho giáo viên bộ môn, giáo viên bộ môn dành thời gian trong mỗi tiết học để tăng cường tiếng Việt cho học sinh). – Riêng khối lớp một, chỉ đạo giáo viên thực hiện phương án tăng thời lượng tiếng Việt từ 350 tiết lên 500 tiết (3 tiết/ bài) đối với chương trình hiện hành ( trong những năm học trước và năm học 2016-2017). Bên cạnh việc thực hiện tăng cường tiếng Việt cho học sinh trong tất cả các môn học, việc tổ chức dạy học môn Tiếng Êđê cho học sinh dân tộc thiểu số trong nhà trường cũng rất cần thiết. Học tiếng mẹ đẻ không chỉ giúp học sinh biết giữ gìn những bản sắc văn hóa riêng, chữ viết của dân tộc mình mà còn hỗ trợ đắc lực cho các em trong việc học tập các môn học khác, đặc biệt là môn tiếng Việt. Để giúp giáo viên thực hiện hiệu quả các biện pháp tăng cường tiếng Việt trong các môn học, lãnh đạo nhà trường phải thực sự đồng hành cùng giáo viên. Thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, dự giờ thăm lớp, lãnh đạo nhà trường góp ý, chia sẻ và cùng giáo viên tháo gỡ những khó khăn trong quá trình thực hiện. b.4. Xây dựng môi trường học tiếng Việt cho học sinh b.4.1. Xây dựng môi trường học tiếng Việt trong nhà trường Những ấn tượng trực giác hết sức quan trọng đối với trẻ em, đặc biệt là giai đoạn đầu của bậc tiểu học. Nếu hằng ngày học sinh học sinh được tiếp xúc với một không gian lớp học và trường học tiếng Việt, thì chắc chắn tiếng Việt sẽ dần dần được khắc sâu vào trí nhớ của các em. Vì vậy, xây dựng môi trường học tiếng Việt trong nhà trường là một trong những yếu tố giúp giáo viên thực hiện hiệu quả công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Tùy vào tình hình thực tiễn, nhà trường định hướng cho giáo viên tạo cảnh quan tiếng Việt phù hợp. Ví dụ: – Đối với không gian trường học tiếng Việt có thể là: khẩu hiệu, áp phích, bản tin,; tên lớp, tên phòng chức năng, Bên cạnh đó, nhà trường cần thực hiện tốt việc xây dựng mô hình thư viện trường học thân thiện: thư viện xanh, thư viện lớp học, thư viện lưu động,Tăng cường các hoạt động giao tiếp trong trường học, lớp học thông qua hoạt động học tập, vui chơi,để thực hiện hiệu quả xây dựng môi trường học tiếng Việt trong nhà trường. b.4.2. Xây dựng môi trường học tiếng Việt trong gia đình – Khảo sát để nắm được điều kiện cụ thể của từng gia đình học sinh như: ti vi, sách báo, góc học tập, – Xây dựng kế hoạch vận động, hướng dẫn cha mẹ học sinh tạo môi trường tiếng Việt phù hợp với điều kiện từng gia đình, như: tạo góc học tập cho con em, đóng bàn ghế học tập, chọn vị trí đặt bàn học đủ ánh sáng, trang trí góc học tập (thời khóa biểu, giấy khen,); hướng dẫn cha mẹ học sinh tạo điều kiện về thời gian và nhắc nhở con em học bài, quan sát việc học của con em, nhắc nhở con em nghe radio, xem ti vi, đọc sách báo (nếu gia đình có), khuyến khích cha mẹ học sinh giao tiếp với con bằng tiếng Việt, b.4.3. Tổ chức hiệu quả các hoạt động ngoài giờ lên lớp Hoạt động ngoài giờ lên lớp đóng một vai trò quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, thực hiện mục tiêu giáo dục trong nhà trường. Chính từ những hoạt động như: hoạt động tập thể, hoạt động xã hội,…không chỉ trang bị cho các em những kiến thức cơ bản mà còn góp phần thực hiện hiệu quả việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, trau dồi cho các em những kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp, hình thành nhân cách học sinh, đem lại niềm vui cho các em khi đến trường. Để tổ chức hiệu quả các động ngoài giờ lên lớp, chúng tôi đã giao nhiệm vụ cho Tổng phụ trách đội phối hợp với Bí thư đoàn trường căn cứ hướng dẫn về hoạt động ngoài giờ lên lớp của Phòng Giáo dục và Đào tạo, nhiệm vụ năm học của nhà trường và đối tượng học sinh để xây dựng kế hoạch hoạt động ngoài giờ lên lớp ngay từ đầu năm. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc triển khai thực hiện kế hoạch, rút kinh nghiệm và có sự điều chỉnh phù hợp trong quá trình thực hiện. * Một số hình ảnh Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp H1: Hội thi Phụ trách đội giỏi H2: Tổ chức các trò chơi dân gian trong tiết Hoạt động tập thể đầu tuần Bên cạnh việc tổ chức các hội thi, xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp cũng là một trong những tiêu chí được nhà trường hết sức quan tâm. Trước hết, phải xác định mục tiêu rõ ràng để giáo viên và học sinh thực hiện: giữ vệ sinh khuôn viên trường, vệ sinh nguồn nước, hệ thống thoát nước; giữ gìn vệ sinh và cảnh quan môi trường, có nhiều cây xanh bóng mát trong sân trường,… Tổ chức cho học sinh chăm sóc cây thường xuyên; vệ sinh phòng học đủ ánh sáng, thoáng mát, bàn ghế đúng qui cách, đủ chỗ ngồi; trang trí lớp học thân thiện. Tổ chức hiệu quả các hoạt động tập thể lành mạnh giúp xây dựng mối quan hệ tốt giữa thầy và trò, trò và trò. Giúp học sinh có kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt, ứng xử hợp lí các tình huống trong cuộc sống, kĩ năng làm việc và học tập theo nhóm, có ý thức rèn luyện và bảo vệ sức khoẻ, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội vì vậy, trong những năm học gần đây, không có tai nạn đáng tiếc nào xẩy ra với học sinh. Các em tự tin hơn trong giao tiếp, tích cực, tự giác hơn trong việc chấp hành các nội quy của nhà trường. b.5. Tăng cường công tác vận động duy trì sĩ số, tăng tỉ lệ chuyên cần Duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh nói chung và công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số nói riêng. Nó là nền tảng giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ và mang lại kết quả học tập tốt nhất. Để làm tốt công tác duy trì sĩ số, tăng tỉ lệ chuyên cần, chúng tôi đã thực hiện một số biện pháp sau: b.5.1. Công tác phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Bác Hồ đã chỉ rõ: “ Giáo dục các em là việc chung của gia đình, nhà trường và xã hội. Bố mẹ, thầy giáo và người lớn phải cùng nhau phụ trách, trước hết là phải làm gương cho các em hết mọi việc”. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác giáo dục học sinh. Muốn công tác phối hợp đạt hiệu quả cao, trước hết nhà trường phải thực sự là trung tâm văn hóa giáo dục ở địa phương. Luôn gương mẫu trong việc gìn giữ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội ở địa phương. Từ đó, địa phương sẽ đồng thuận, đồng lòng, đồng sức tham gia xây dựng nhà trường, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai bên. Chuẩn bị cho năm học mới, ban giám hiệu nhà trường đã tổ chức thống kê số liệu học sinh đầu năm; tích cực tham mưu với cấp ủy, chính quyền phối hợp cùng các ban ngành đoàn thể địa phương tập trung truyên truyền lồng ghép trong các buổi họp thôn buôn, thông qua đài truyền thanh của xã về ngày toàn dân đưa trẻ đến trường. Làm tốt công tác tuyển sinh trẻ trong độ tuổi vào lớp 1. Đối với những gia đình ở xa thôn buôn, chúng tôi phân công giáo viên dân tộc tại chỗ đến tận nhà học sinh để vận động cha mẹ học sinh đưa trẻ đến trường nhập học. Sau ngày tựu trường, chỉ đạo giáo viên nắm tình hình sĩ số học sinh đến lớp, tìm hiểu nguyên nhân những học sinh chưa ra lớp, phối hợp với ban đại diện cha mẹ học sinh, chính quyền thôn buôn tìm biện pháp vận động phù hợp với từng đối tượng học sinh để huy động tối đa số học sinh trong độ tuổi đến trường. Thường xuyên kiểm tra việc đi học chuyên cần của học sinh nhằm phát hiện kịp thời những đối tượng học sinh có nguy cơ bỏ học để có giải pháp khắc phục, không để học sinh bỏ học lâu ngày rồi mới tìm hiểu nguyên nhân và vận động. Phối hợp với ban chỉ đạo xã tuyên truyền nâng cao nhận thức của gia đình và cộng đồng về vai trò của công tác giáo dục. Vận động các gia đình tạo điều kiện cho con em được đi học và thường xuyên quan tâm đến việc học của con em mình. Tham mưu với các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể cùng quan tâm chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo của địa phương. Từ đó, huy động các nguồn lực và các lực lượng tích cực vận động học sinh đi học, học sinh bỏ học trở lại trường, hỗ trợ kịp thời những gia đình khó khăn để con em họ được đến trường như: hỗ trợ quần áo, sách vở, đồ dùng học tập… b.5.2. Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm Giáo viên chủ nhiệm có vai trò quan trọng trong việc giúp nhà trường thực hiện tốt công tác giáo dục học sinh, trong đó có công tác duy trì sĩ số. Một giáo viên chủ nhiệm tốt không chỉ giúp lớp mình học tốt mà còn biết cách để giúp học sinh siêng năng học tập, yêu thích đến trường và làm tốt công tác duy trì sĩ số học sinh. Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong công tác duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần, ngay sau khi tổ chức bàn giao chất lượng học sinh, chúng tôi tổ chức giao nhiệm vụ, chỉ tiêu duy trì sĩ số học sinh cho từng giáo viên chủ nhiệm lớp, xem đó là một trong những tiêu chí quan trọng để xét thi đua cuối năm. Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm kiểm tra thường xuyên việc đi học chuyên cần của học sinh. Nếu học sinh nghỉ học không có lý do quá hai ngày, giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm đến nhà học sinh để vận động các em trở lại lớp. Trường hợp học sinh vẫn không ra lớp sau khi đã được vận động thì phải báo ngay cho ban giám hiệu nhà trường để kịp thời phối hợp ban đại diện cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương có biện pháp vận động học sinh đi học lại. Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên phối hợp chặt chẽ với gia đình để giáo dục học sinh. Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm cần hướng dẫn, khuyến khích học sinh tham gia tích cực các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Bằng việc tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp sẽ giúp các em được tiếp xúc với môi trưòng rộng lớn hơn, phong phú hơn. Từ đó, học sinh học hỏi được nhiều hơn, có kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt tốt hơn, yêu thích đến trường hơn và từng bước giúp các em hoàn thiện nhân cách của mình. b.5.3. Phối hợp tốt giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn Sự phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn có vai trò hết sức quan trọng trong công tác duy trì sĩ số học sinh, đặc biệt là tỉ lệ chuyên cần của học sinh trong các buổi học thứ hai. Vì vậy, bên cạnh việc giao trách nhiệm cho giáo viên chủ nhiệm, chúng tôi cũng gắn trách nhiệm cho giáo viên bộ môn trong công tác phối hợp vận động học sinh đi học đều, duy trì sĩ số học sinh. Học sinh thường vắng học vào buổi học thứ hai có thể vì do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên các em ở nhà phụ giúp gia đình tăng thêm thu nhập. Cũng có thể vì các em không thích môn học do giáo viên bộ môn dạy,…Vì vậy, giáo viên chủ nhiệm cần tìm hiểu nguyên nhân, phối hợp cùng giáo viên bộ môn đề ra các biện pháp thích hợp nhằm giúp các em có kết quả học tập tốt hơn ở các môn học, từ đó các em sẽ hứng thú học tập và đi học đều đặn. Hơn nữa, thông qua việc trao đổi với giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm sẽ nắm được

Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số

PHẦN MỞ ĐẦU I. Bối cảnh của giải pháp Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số. Sự nghiệp văn hoá giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc nói chung, dân tộc Dao, dân tộc Thái và dân tộc Mường ở xã Quy Hướng nói riêng đã có nhiều tiến bộ, góp phần tích cực vào sự ổn định xã hội và phát triển kinh tế địa phương. Tuy vậy, trình độ dân trí của đồng bào còn hạn chế nhất định, cộng với đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn nên hạn chế đến việc chăm lo học hành cho con em. Với nhiệm vụ chung của năm học: Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Mỗi thầy giáo cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Chỉ thị số 03 của Bộ Chính trị. Tập trung chỉ đạo việc quản lí, tổ chức dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng. Điều chỉnh nội dung dạy học và đánh giá, xếp loại theo TT 30/BGD&ĐT và TT 22/ TT – BGDĐT sửa đổi bổ sung một số điều của quy định đánh giá học sinh Tiểu học ban hành kèm theo TT30/2014/TTBGDĐT ngày 28/8/2014 của bộ giáo dục và đào tạo, sửa đổi bổ sung một số phù hợp đặc điểm tâm sinh lí học sinh tiểu học. Tăng cường giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng sống. Đổi mới phương pháp dạy học. Tăng cường cơ hội tiếp cận giáo dục cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Đổi mới mạnh mẽ công tác quản lí chỉ đạo, bồi dưỡng giáo viên, đề cao trách nhiệm, khuyến khích sự sáng tạo cũng như đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lí. II. Lý do chọn giải pháp Để góp phần thực hiện hiệu quả nhiệm vụ của năm học, cũng như góp phần từng bước nâng cao chất lượng giáo dục tại địa bàn xã mà dân tộc Thái, Mường và dân tộc Dao chiếm phần lớn dân số của xã Quy Hướng, đặc biệt Trường Tiểu học và THCS Quy Hướng thì học sinh dân tộc Thái chiếm 37,2%, dân tộc Dao 32,8%, dân tộc Mường 22%; Do vậy các em gặp không ít khó khăn khi phải học tập và tiếp nhận sự giáo dục bằng Tiếng Việt, bởi vì: + Hầu hết các em còn rất hạn chế về ngôn ngữ nói, như : Nói chưa chuẩn, chưa đúng về một số hoặc nhiều tiếng, từ Tiếng Việt, tuỳ theo khu vực khác nhau của xã (với khu vực bản ở gần với người dân tộc Kinh thì trẻ em nói được nhiều Tiếng Việt chuẩn hơn bản ở xa người kinh). + Kỹ năng giao tiếp, diễn đạt bằng ngôn ngữ Tiếng Việt còn hạn chế. Các em chỉ giao tiếp với nhau bằng Tiếng Việt trong các tiết học hoặc khi tiếp xúc với thầy, cô giáo. Mà chủ yếu giao tiếp với nhau bằng tiếng mẹ đẻ. Mặt khác do bản tính rụt rè, ít nói chuyện, ít giao tiếp với người khác, đặc biệt là người dân tộc Kinh nên vốn từ tiếp thu được rất hạn chế. Chính vì vậy mà đại bộ phận học sinh có khi hiểu nhưng lại diễn đạt sai dẫn đến hiểu sai nghĩa. Ví dụ: Cô đi đâu ? thì học sinh lại nói: Đâu đi cô? hoặc Em đi học chưa? thì các em nói: Chưa học đi em? Hoặc là nói lẫn với tiếng dân tộc, tiếng mẹ đẻ của các em, hay các em chua biết diễn đạt đầy đủ câu, đủ ý mà các em muốn nói ra. + Kỹ năng nghe – hiểu – viết của học sinh nhìn chung là chậm, khả năng hiểu và xác định nghĩa của từ Tiếng Việt còn hạn chế hay dùng sai từ trong khi nói và viết. + Do ảnh hưởng thói quen nói tiếng mẹ đẻ, khả năng nhận diện con chữ chậm. Dẫn đến khả năng đọc của các em chậm, việc đọc liền mạch từ, câu gặp rất nhiều khó khăn. Khả năng đọc diễn cảm còn hạn chế. + Khả năng tiếp nhận thông tin, tư duy để xử lý, tái tạo nội dung thông tin của học sinh còn chậm. Vậy làm thế nào để dạy tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3, làm giàu thêm vốn Tiếng Việt cho các em, giúp các em lĩnh hội và chiếm lĩnh tri thức một cách chủ động và đạt được chuẩn kiến thức kỹ năng các môn học theo yêu cầu, tôi là một giáo viên công tác 20 năm trên địa bàn xã khó khăn có đến 92% học sinh toàn trường là người dân tộc Dao

Skkn Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Trẻ Dân Tộc Thiểu Số 4

Trong thực tế chúng ta đã biết nhiệm vụ giáo dục mầm non là khâu đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo viên mầm non được xem là người thầy đầu tiên đặt nền móng cho việc đào tạo nhân cách con người mới cho xã hội chủ nghĩa tùy theo độ tuổi mà giáo dục khác nhau tuổi mầm non trẻ mới bắt đầu trong quá trình học nói chính vì vậy mà cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ đặc biệt là dân tộc thiểu số là vô cùng quan trọng bởi vì các cháu dân tộc thiểu số thường hay dùng tiếng mẹ đẻ, nên khó khăn trong việc tiếp nhận Tiếng Việt dẫn đến cháu khó tiếp thu lời giảng của cô bằng ngôn ngữ Tiếng Việt, hay còn gọi cách khác là tiếng phổ thông.

Chính vì vậy việc cung cấp Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vấn đề cần quan tâm nhằm hình thành kỹ năng cần thiết cho việc học Tiếng Việt ở các bậc học theo ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ngôn ngữ Tiếng Việt của trẻ dân tộc phát triển tốt sẽ giúp cho trẻ nhận thức và giao tiếp tốt. Việc phát triển ngôn ngữ Tiếng Việt cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ dễ dàng tiếp cận với các môn học hàng ngày trên lớp.

Như chúng ta đã biết ngôn ngữ là thứ công cụ thiết yếu để trẻ giao tiếp, để liên hệ với người khác qua giao lưu trao đổi ngôn ngữ, để diễn đạt ý kiến, bày tỏ tình cảm của mình .vv. Ngôn ngữ còn là công cụ, là sản phẩm của hoạt động trí óc khi suy nghĩ, tưởng tượng, sáng tạo. Ngoài những hình ảnh ” chụp ” được từ các sự vật hiện tượng xung quanh người ta còn phải tự nói thầm, trong những trường hợp đó ngôn ngữ được phát ra thành lời nói để diễn đạt những suy nghĩ của mình. Nhưng những âm, những tiếng của câu nói phát ra có chuẩn xác hay không ta còn phải rèn luyện kỹ năng nói chuẩn xác Tiếng Việt cho trẻ, ngay từ trường Mầm non để cung cấp thêm vốn từ cho trẻ.

Ngôn ngữ càng phong phú thì việc hoà nhập với cuộc sống xã hội cũng như việc học hành nghiên cứu diễn ra càng thuận lợi hơn. Việc sử dụng ngôn ngữ để trao đổi được thực hiện trong xuốt quá trình học tập và đời sống sinh hoạt hàng ngày.

MỤC LỤC STT NỘI DUNG TRANG 1 1.Mở đầu 1 2 1.1 .Lý do chon đề tài 1 3 1.2.Mục đích nghiên cứu 2 4 1.3.Đối tượng nghiên cứu 2 5 1.4. Phương pháp nghiên cứu 2 6 2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 3 7 2.1.Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 3 8 2.2. Thực trạng vấn đề 4 9 2.3. Các biện pháp thực hiện sáng kiến kinh nghiệm 7 10 2.4.Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm 16 11 3. Kết luận, kiến nghị 17 12 3.1.Kết luận 17 13 3.2. Kiến nghị 18 1.Mở đầu 1.1. Lý do chọn đề tài: Trong thực tế chúng ta đã biết nhiệm vụ giáo dục mầm non là khâu đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo viên mầm non được xem là người thầy đầu tiên đặt nền móng cho việc đào tạo nhân cách con người mới cho xã hội chủ nghĩa tùy theo độ tuổi mà giáo dục khác nhau tuổi mầm non trẻ mới bắt đầu trong quá trình học nói chính vì vậy mà cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ đặc biệt là dân tộc thiểu số là vô cùng quan trọng bởi vì các cháu dân tộc thiểu số thường hay dùng tiếng mẹ đẻ, nên khó khăn trong việc tiếp nhận Tiếng Việt dẫn đến cháu khó tiếp thu lời giảng của cô bằng ngôn ngữ Tiếng Việt, hay còn gọi cách khác là tiếng phổ thông. Chính vì vậy việc cung cấp Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vấn đề cần quan tâm nhằm hình thành kỹ năng cần thiết cho việc học Tiếng Việt ở các bậc học theo ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ngôn ngữ Tiếng Việt của trẻ dân tộc phát triển tốt sẽ giúp cho trẻ nhận thức và giao tiếp tốt. Việc phát triển ngôn ngữ Tiếng Việt cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ dễ dàng tiếp cận với các môn học hàng ngày trên lớp. Như chúng ta đã biết ngôn ngữ là thứ công cụ thiết yếu để trẻ giao tiếp, để liên hệ với người khác qua giao lưu trao đổi ngôn ngữ, để diễn đạt ý kiến, bày tỏ tình cảm của mình.vv. Ngôn ngữ còn là công cụ, là sản phẩm của hoạt động trí óc khi suy nghĩ, tưởng tượng, sáng tạo. Ngoài những hình ảnh " chụp " được từ các sự vật hiện tượng xung quanh người ta còn phải tự nói thầm, trong những trường hợp đó ngôn ngữ được phát ra thành lời nói để diễn đạt những suy nghĩ của mình. Nhưng những âm, những tiếng của câu nói phát ra có chuẩn xác hay không ta còn phải rèn luyện kỹ năng nói chuẩn xác Tiếng Việt cho trẻ, ngay từ trường Mầm non để cung cấp thêm vốn từ cho trẻ. Ngôn ngữ càng phong phú thì việc hoà nhập với cuộc sống xã hội cũng như việc học hành nghiên cứu diễn ra càng thuận lợi hơn. Việc sử dụng ngôn ngữ để trao đổi được thực hiện trong xuốt quá trình học tập và đời sống sinh hoạt hàng ngày. Năm học 2017-2018 nhà trường phân công tôi đứng lớp 4-5 tuổi với 100% trẻ là người dân tộc thiểu số (dân tộc mường). khả năng giao tiếp và sử dụng Tiếng Việt của trẻ còn hạn chế, môi trường Tiếng Việt của trẻ chỉ thu gọn trong trường lớp mầm non vì vậy để chuẩn bị tốt khả năng sử dụng Tiếng Việt cho trẻ giúp trẻ phát âm thành thạo lưu loát thì cần chuẩn bị tốt Tiếng Việt ban đầu cho trẻ bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo ở trẻ bằng các phương pháp giáo dục như: Qua trò chuyện, quan sát đàm thoại, kể chuyện, đọc cho trẻ nghe, qua dạo chơi ngoài, qua chơi hoạt động góc, qua hoạt động vui chơi mọi lúc mọi nơi giúp trẻ học tập có hiệu quả thông qua các thủ thuật lôi cuốn, gây hứng thú trẻ, lôi cuốn trẻ đảm bảo cho trẻ tự tin không lo lắng khi học Tiếng Việt. Chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số là một vấn đề rất thiết thực trong giảng dạy trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số hiện nay nói chung và lớp mẫu giáo 4-5 tuổi (Thôn Muốt) Trường Mầm Non Cẩm Thành nói riêng. Chính vì vậy muốn nâng cao khả năng nhận thức cho trẻ cần phải chuẩn bị tốt Tiếng Việt cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non. Nhận thức được tầm quan trọng của việc chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số 4-5 tuổi có nguồn Tiếng Việt tốt để bước vào lớp lớn và các lớp học sau này tôi đã lựa chọn đề tài: " Một số biện pháp tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số 4-5 tuổi" 1.2. Mục đích nghên cứu: Bởi việc dạy trẻ biết nói Tiếng Việt là nội dung hết sức quan trọng trong nội dung giáo dục mầm non. Phát triển ngôn ngữ là một trong 5 lĩnh vực của giáo dục: phát triển thể chất, phát triển quan hệ tình cảm xã hội, phát triển nhận thức, phát triển thẩm mỹ và phát triển ngôn ngữ. Vì vậy từ khi trẻ học ở trường mầm non giáo viên phải có nhiệm vụ xây dựng vốn ngôn ngữ ban đầu cho trẻ. Tôi nhận thức rõ sự khác nhau về khả năng diễn đạt ngôn ngữ giữa trẻ này với trẻ khác để khi rèn luyện ngôn ngữ cho trẻ dân tộc đạt kết quả tốt nhất, tập cho trẻ nói đúng Tiếng Việt giáo viên phải có những phương pháp phù hợp với từng độ tuổi, từng trường, từng vùng địa phương. Khi nghiên cứu đề tài này tôi thực sự muốn trao dồi về ngôn ngữ và khả năng nói Tiếng Việt thành thạo, lưu loát cho trẻ để giúp trẻ phát triển toàn diện. 1.3. Đối tượng nghiên cứu: Tổng hợp một số biện pháp tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số 4-5 tuổi. Nhằm tăng cường nguồn Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số, để trẻ có thể học tập và giao lưu, giao tiếp hằng ngày lưu loát bằng Tiếng Việt thứ tiếng chung của quốc gia. 1.4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Phương pháp này bản thân đã dựa vào tài liệu tham khảo để làm cơ sở lý thuyết để nghiên cứu. Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: Khi nghiên cứu đề tài này bản thân đã điều tra và khảo sát thực tế về đối tượng trẻ và thực tế lớp đang trực tiếp giảng dạy. Phương pháp thống kê: Từ những phương pháp trên tôi đã thống kê và mô tả lại thực trạng, đưa ra hướng giải quyết vấn đề trong qua trình nghiên cứu. 2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm Ngày 2 tháng 6 năm 2016, Thủ tướng chính phủ phê duyệt quyết định số 1008/QĐ-TTg về đề ắn tăng cường Tiếng Việt cho trẻ mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025". Thực hiện Quyết định số 1682/QĐ-UBND ngày 23/5/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt Kế hoạch thực hiện Đề án "Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025". Phòng Giáo dục đã tham mưu QĐ số 900 ngày 22 tháng 06 năm 2016 kèm theo kế hoạch thực hiện giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025" đến từng địa phương để thực hiện và nhà trường đã cụ thể hóa QĐ theo giai đoạn và từng năm học cụ thể tại nhà trường. Qua quá trình nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ dân tộc thiểu số, cho thấy việc làm quen Tiếng Việt và chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số có tác động rất lớn đối với sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ sau này. Muốn phát triển kỹ năng, hiểu và nói được ngôn ngữ Tiếng Việt theo cô, trước hết phải cuốn hút trẻ tham gia vào hoạt động phát triển ngôn ngữ qua trò chuyện, đàm thoại, kể chuyện, đọc cho trẻ nghe, qua chơi hoạt động góc, chơi ngoài trời, hoạt động vui chơi mọi lúc, mọi nơi ... Là vô cùng quan trọng nhưng hình thành như thế nào đây mới thật là điều không phải dễ. Trẻ em mẫu giáo dân tộc thiểu bắt đầu học Tiếng Việt trên cơ sở kinh nghiệm tiếng mẹ đẻ không phải là Tiếng Việt. Môi trường giáo tiếp Tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số thu hẹp cả về mặt không gian lẫn thời gian (trong phạm vi trường lớp mầm non). Việc học Tiếng Việt của trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ thứ nhất là sự giáo thoa ngôn ngữ giữa tiếng mẹ đẻ với Tiếng Việt. Sự khác biệt về văn hóa giữa các dân tộc, trong đó có khía cạnh ngôn ngữ cũng ảnh hưởng tới việc học Tiếng Việt của trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số. Sự khác biệt về điều kiện sống của các dân tộc thiểu số có tác động nhất định đối với việc học Tiếng Việt của trẻ em mẫu giáo dân tộc thiểu số. Một số dân tộc sống ở khu vực gần nơi có nhiều người Kinh sinh sống, Tiếng Việt trở thành ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc trong cộng đồng đó nên việc học Tiếng Việt của trẻ có nhiều thuận lợi. Một số dân tộc sống ở vùng sâu, điều kiện sống tách biệt, hoặc khu vực chỉ có một dân tộc thuần túy, không có nhu cầu giao tiếp giữa các dân tộc với nhau và Tiếng Việt không phải là ngôn ngữ giao tiếp chung trong cộng đồng, chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp nên trẻ em ở môi trường này chỉ có duy nhất kinh nghiệm ngôn ngữ trong phạm vi tiếng mẹ đẻ. Ngoài ra, do đời sống kinh tế còn khó khăn, đại bộ phận các gia đình đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa còn thiếu các phương tiện thông tin như máy thu thanh, vô tuyến truyền hình, sách báo... trình độ văn hóa của các bậc cha mẹ còn thấp, một bộ phận không biết đọc, biết viết nên khi ở nhà trẻ em ít có cơ hội giao tiếp với những người thân trong gia đình và cộng đồng bằng Tiếng Việt. Phần lớn trẻ em dân tộc thiểu số trước khi tới trường, lớp mầm non đều sống trong môi trường tiếng mẹ đẻ không phải là Tiếng Việt, ít có môi trường giao tiếp bằng Tiếng Việt. Khi đến trường, trẻ em thích trao đổi với nhau bằng tiếng mẹ đẻ và có thói quen giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ trong hoạt động chơi, trò chuyện hàng ngày và thậm chí ngay cả trong môi trường học tập. Do đó, trẻ em dân tộc thiểu số sẽ không có vốn Tiếng Việt ban đầu cần thiết để học tập bằng Tiếng Việt ở trường phổ thông nếu không được chuẩn bị Tiếng Việt Tiếng Việt rất qua trọng đối với người dân Việt Nam. Đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu số. Song thực tế hiện nay đa số trẻ vúng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, trước khi đến trường chỉ sống trong gia đình, ở trong thôn bản nhỏ trong môi trường tiếng mẹ đẻ do vậy trẻ chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ ở dạng khẩu ngữ, trẻ biết rất ít hoặc thậm chí không biết Tiếng Việt và cơ sở giáo dục khác. 2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. 2.2.1.Thuận lợi Được sự quan tâm của sở giáo dục và phòng giáo dục tổ chức lớp tập huấn chuyên đề " Hướng dẫn tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số trong cơ sở giáo dục mầm non" Dưới sự quan tâm giúp đỡ của ban giám hiệu nhà trường về chuyên môn, xây dựng phương pháp đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục mầm non tạo mọi điều kiện giúp tôi những tài liệu dạy học, nguyên vật liệu làm đồ dùng, đồ chơi dạy học. Được sự quan tâm của lãnh đạo địa phương đến giáo dục mầm non đã từng bước chăm lo cho cơ sở vật chất nhà trường, cho lớp học tai địa phương. Đặc điểm của lớp tôi được phân công phụ trách: Lớp mẫu giáo 4-5 tuổi của tôi phụ trách tại thôn Muốt xã Cẩm thành Thuộc điểm lẻ của trường mầm non Cẩm Thành. Lớp học ở tại khu trung tâm thôn Muốt nên thuận lợi cho việc đưa đón trẻ đến lớp . Bản thân luôn tâm huyết với nghề, yêu trẻ như con của mình . 2.2.2. Khó khăn Cẩm Thành là một xã vùng cao đời sống kinh tế xa hội còn gặp nhiều khó khăn và đặc biệt là lớp tôi trực tiếp giảng dạy là một lớp điểm lẻ. Địa bàn sinh sống của toàn người dân tộc Mường và đặc biệt lớp tôi phụ trách 100% trẻ là người dân tộc Mường vì vậy khả năng truyền thụ bài học bằng ngôn ngữ Tiếng Việt cho trẻ là một điều đặc biệt khó khăn. Ngay cả người lớn cũng vậy việc phát âm chuẩn tiếng phổ thông cũng gặp những khó khăn. Ví dụ: Cán bộ thôn, bản là người dân tộc mường trong các cuộc họp đang triển khai bằng tiếng phổ thông là tiếng kinh cho mọi người nghe nhưng có những đoạn khó diễn đạt thì ông cán bộ đó lại sử dụng bằng tiếng địa phương của mình là tiếng mường. Hay có những người dân tộc đang giao tiếp bằng tiếng phổ thông lại nói lẫn cả tiếng dân tộc. Vì đa số chưa phát âm chuẩn tiếng phổ thông dẫn đến phát âm lẫn lộn, chưa rõ ràng làm cho người nghe hiểu sai lệch về nội dung diễn đạt. Điều này làm ảnh hưởng đến cách diễn đạt ý của trẻ, vì thế cần rèn luyện khả năng phát âm chuẩn, nói đúng Tiếng Việt - tiếng phổ thông cho trẻ từ độ tuổi mẫu giáo là việc làm hết sức cần thiết. 2.2.3. Kết quả thực trạng như sau Từ những nguyên nhân hạn chế trên trên tôi thấy việc rèn luyện kỹ năng nói đúng Tiếng Việt - tiếng phổ thông cho trẻ còn hạn chế. Trẻ chưa thực sự hứng thú với hoạt động do giáo viên tổ chức vì trẻ còn ngại giao tiếp. Các Trẻ dân tộc mường chưa nói rõ tiếng kinh, khi đến trường đến lớp giao tiếp cùng cô giáo, cùng bạn bè bằng tiếng phổ thông vẫn bị lẫn những câu bằng tiếng mường. Trẻ giao tiếp bằng tiếng phổ thông chủ yếu bằng mấy câu xã giao còn những điều cần diễn đạt hơi khó một chút trẻ lại sử dụng bằng tiếng địa phương của mình. Ví dụ: Điện sáng trẻ nói "điện cháy". Thịt gà - trẻ gọi - "canh". Con Trâu- trẻ gọi con tru. Khi nói không những trẻ sử dụng tiếng địa phương mà khi phát âm trẻ còn phát âm ngọng, phát âm sai, ví dụ: Cô Thảo - trẻ gọi - Cô sảo; Cô Thơm - trẻ gọi - Cô Sơm. Bên cạnh đó trong quá trình học tập vui chơi và giao tiếp với mọi người trẻ thường nói lẫn dấu hỏi (?) sang dấu ngã (~), hoặc dấu (~) sang dấu (?), chữ S thành chữ Th, ví dụ: Con thỏ - trẻ gọi - Con sỏ; Con Lợn - trẻ gọi - Con cùnvv. Có nhiều cháu muốn nói lên ý kiến của mình cháu thường lúng túng trong khi diễn đạt ý của mình. Đấy chỉ là một trong một trong số rất nhiều ví dụ mà tôi muốn đưa ra. Cụ thể hơn tôi đã khảo sát thực trạng sử dụng Tiếng Việt và hiểu Tiếng Việt lớp tôi phụ trách như sau: Kết quả khảo sát TT Tiêu chí Tổng số trẻ kết quả khảo sát Tốt Khá TB Yếu 1 Trẻ nói chưa chuẩn Tiếng Việt 13 2 = 15,4% 4=30,8% 5=38,5% 3=23,1% 2 Trẻ có thể nói và nghe được các câu bằng Tiếng Việt 13 3 = 23,1% 3 =23,1% 5=38,5% 3=23,1% 3 Trẻ biết sử dụng Tiếng Việt thường xuyên trong giao tiếp 13 2 =15,4% 3= 23,1% 4=30,8% 4=30,8% Qua thực trạng khảo sát trên bản thân tôi thấy ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển toàn diện cho trẻ. Nó không chỉ ảnh hưởng trong học tập về nhận thức cho trẻ mà còn ảnh hưởng trong quan hệ xã hội tác động đến trẻ rất nhiều. Ngôn ngữ Tiếng Việt còn là phương tiện thể hiện tình cảm, thái độ ước mơ và nhu cầu giao tiếp của trẻ. Nhu cầu giao tiếp, mong muốn được nói chuyện với người xung quanh ở trẻ có từ rất sớm, vì vậy giáo viên phải khuyến khích trẻ thực hiện những mong muốn đó. Chỉ có ở trường mầm non trẻ mới được những chuẩn mực về ngôn ngữ mà cô giáo cũng là người trực tiếp cung cấp các vốn từ và uốn nắn cho trẻ chuẩn mực trong phát âm Tiếng Việt. Để khắc phục vấn đề còn vướng mắc trong thực hiện kỹ năng nói đúng Tiếng Việt trong hoạt động đạt hiệu quả tốt hơn tôi đã mạnh dạn trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp một số nội dung, phương pháp nói đúng Tiếng Việt cho trẻ. 2.3. Các biện pháp thực hiện. 2.3.1. Biện pháp 1: Xác định nội dung tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số. Qua nghiên cứu bản thân tôi đã căn cứ vào nội dung giáo giục phát triển ngôn ngữ trong chương trình GDMN Nội dung cụ thể theo độ tuổi trong chương trình GDMN và tùy thuộc vào khả năng cụ thể của trẻ lớp tôi đang trực tiếp phụ trách. Tôi dựa vào chuyên đề hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số. Tôi luôn chú ý đến khả năng nghe nói Tiếng Việt đối với nhóm lớp. Khả năng nghe của trẻ. Nghe các từ chỉ sự vật, hiện tượng, đặc điểm, tính chất, hoạt động các từ chỉ biểu cảm, từ chỉ khái quát. Nghe lời nói trong giao tiếp hằng ngày. Nghe kể chuyện, đọc thơ, ca dao, đồng dao phù hợp với độ tuổi. Khả năng Nói: Phát âm rõ các tiếng trong Tiếng Việt Bày tỏ nhu cầu, tình cảm và hiểu biết của bản thân bằng các kiểu câu khác nhau. Sử dụng đúng từ ngữ trong câu giao tiếp hằng ngày. Trả lời và đặt câu hỏi. Đọc thơ, ca dao, đồng dao và kể chuyện. Lễ phép và tự tin trong giao tiếp. Nội dung tăng cường Tiếng Việt được tích hợp phù hợp với các nội dung giáo dục của các lĩnh vực phát triển. 2.3.2. Biện pháp 2: Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số bằng cách trò chuyện với trẻ Nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng nói đúng Tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi, trẻ nói chưa chuẩn Tiếng Việt, diễn đạt câu còn vụng về, thiếu ý để chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp mẫu giáo lớn và các cấp học được tốt. Là người giáo viên chủ nhiệm trực tiếp đứng lớp 4-5 tuổi tôi luôn trăn trở suy nghĩ sau khi tìm hiểu thực trạng và trên cở sở lý thuyết tôi đã thử nghiệm một số thực trạng trên như sau: Cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ bằng cách trực tiếp trò chuyện với trẻ để tạo cho trẻ sự gần gũi thân thiết. Thực tế cho ta thấy rằng bất đồng ngôn ngữ là rất khó khăn trong giao tiếp, vì vậy ngay từ những buổi đầu trẻ đến lớp cô luôn ân cần gần gũi trò chuyện giao tiếp hỏi trẻ các câu hỏi hàng ngày trẻ thường va chạm hoặc cho trẻ quan sát các hình ảnh, đồ dùng, đồ chơi trong lớp để rèn Tiếng Việt cho trẻ. Như chúng ta đã biết khả năng tiếp thu của trẻ dân tộc thiểu số rất chậm, mau quên nhưng khi đã nhớ được thì lại nhớ rất lâu nên tôi tiến hành cho trẻ tiếp xúc với vốn Tiếng Việt bằng phương châm " Mưa dầm thấm lâu" cho nên việc cung cấp ngôn ngữ Tiếng Việt ở mọi lúc, mọi nơi vô cùng hiệu quả, Ví dụ: Giáo viên luôn vui vẻ, thương yêu trẻ, sửa sang quần áo, chải tóc cho trẻ và không quên kèm theo một số câu hỏi giao lưu như: Con mặc quần áo đẹp quá. Con ăn cơm chưa? Ăn bao nhiêu

Luận Văn Đề Tài Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số

Đất nước ta đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, xóa bỏ nghèo nàn lạc hậu để từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đây là con đường đúng đắn mà Đảng và Bác Hồ đã chọn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Muốn xây dựng CNXH trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa” nên chiến lược con người phải được đặt lên hàng đầu và giáo dục đóng vai trò quan trọng. Trong những năm qua sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ đã được các cấp, các ngành và toàn xã hội đặc biệt quan tâm. Nhiều nghị quyết quan trọng của Đảng đã xác định rõ vai trò, vị trí, trách nhiệm của nhà trường và xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, hướng tới mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Cùng chung với xu thế phát triển của đất nước Gia Lai vùng đất Tây Nguyên khô cằn thuở xưa giờ đã không ngừng thay da, đổi thịt. Đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số cũng đã từng bước đổi thay. Trong sự đổi thay của toàn tỉnh Chư Sê cũng có những đóng góp đáng kể. Đồng bào các dân tộc của huyện đã đoàn kết một lòng cùng nhau xây dựng Chư Sê trở thành huyện có tiềm năng phát triển kinh tế vững mạng của tỉnh. Song từ năm 2001 các thế lực thù địch đã không ngừng kích động đồng bào dân tộc, lôi kéo thanh thiếu niên gây nên tình hình phức tạp về an ninh. Trước tình hình thực tế về trình độ dân trí, nhận thức của người dân ở các làng đồng bào dân tộc thiểu số còn có nhiều hạn chế. Công tác tuyên truyền giáo dục của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể đã có nhiều cố gắng song vẫn còn những tiềm ẩn trong tư tưởng, nhận thức của đồng bào nhất là trong lứa tuổi thanh thiếu niên ở đây. Trường THCS Cao Bá Quát thị trấn Chư Sê mới được thành lập từ năm học 2003 – 2004. Năm học 2005 – 2006 trường có 22 lớp với tổng số 867 học sinh trong đó 146 em là người dân tộc thiểu số ở 3 làng Tốt Biếch, Hăng Ring, Glan về học. Đáng chú ý là số học sinh ở làng Tốt biếch một làng được gọi là “nóng” đối với công tác an ninh của thị trấn cũng như của Huyện và Tỉnh. Những năm học trước 2003 các em về học dưới trường THCS Chu Văn An đã có nhiều em nghỉ học và có em còn theo cha mẹ về thành phố Pleiku trong vụ gây rối ngày 2/2/2001. Mặc dù sau đó BGH nhà trường và giáo viên chủ nhiệm đã xuống từng gia đình để động viên các em đến trường song kết quả đạt được cũng không được như ý muốn. Là một cán bộ quản lí giáo dục tôi thật sự trăn trở và tìm mọi biện pháp giáo dục để tác động vào tư tưởng, nhận thức của các em, những tâm hồn còn quá ngây thơ trong trắng kia giúp các em có nhận thức đúng để dẫn đến hành động đúng theo mục tiêu giáo dục của nhà trường XHCN. Tôi mạnh dạn viết đề tài: “Giáo dục tư tưởng đạo đức, cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường THCS Cao Bá Quát thị trấn Chư Sê – Gia Lai trong tình hình hiện nay “. Trên cơ sở thực tiễn đã áp dụng có hiệu quả ở nhà trường. Kết quả của đề tài mong muốn được áp dụng ở một số đơn vị trường học có điều kiện tương tự, tôi rất mong nhận được sự góp ý của hội đồng giám khảo và đồng nghiệp.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Bạn đang xem bài viết Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!