Xem Nhiều 2/2023 #️ Đề Tài Một Số Giải Pháp Nhằm Thực Hiện Tốt Chương Trình Iso 9000 Tại Bộ Công Nghiệp Việt Nam # Top 5 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Đề Tài Một Số Giải Pháp Nhằm Thực Hiện Tốt Chương Trình Iso 9000 Tại Bộ Công Nghiệp Việt Nam # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Đề Tài Một Số Giải Pháp Nhằm Thực Hiện Tốt Chương Trình Iso 9000 Tại Bộ Công Nghiệp Việt Nam mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trong những năm qua nền kinh tế Việt Nam có sự chuyển biến rõ rệt. Tỷ trọng các ngành nông nghiệp giảm mạnh, tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh. Quá trình chuyển dịch kinh tế phải kể đến sự đóng góp rất lớn của ngành công nghiệp Việt Nam trong đó vai trò chủ đạo của sự phát triển ngành là Bộ Công nghiệp. Tính đến nay, Bộ Công nghiệp đã có trên 50 năm hình thành và phát triển. Đây là Bộ được đánh giá là trẻ, năng động, sáng tạo và tạo nên nhiều bước đột phá quan trọng. Năm 2005 dưới sự lãnh đạo của Bộ Công nghiệp, giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành đạt 416.863 tỉ đồng, tăng 17,2% so với năm 2004. Công tác quản lý của Bộ đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Nhiều đề tài nghiên cứu ở Bộ đã được chuyển sang trình dự án để triển khai. Bộ cũng đã đẩy mạnh các hoạt động xây dựng và rà soát, điều chỉnh chiến lược, quy hoạch các ngành công nghiệp; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; tăng cường công tác quản lý, công tác giám sát và đánh giá đầu tư trong hoạt động xây dựng; xây dựng và triển khai thực hiện chương trình tiết kiệm chống lãng phí có kết quả (năm 2005 các khối đơn vị sản xuất tiết kiệm được 1.230 tỷ đồng); đẩy mạnh việc hoàn thiện cơ chế quản lý, giám sát và hoạt động tài chính doanh nghiệp nhằm tháo gỡ kịp thời những vướng mắc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn; thực hiện công tác thanh tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư kịp thời. Bộ đã tập trung đẩy mạnh công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, đã có quyết định xác định gía trị doanh nghiệp cho 105 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp cổ phần hoá; tổ chức xét duyệt và chuyển sang công ty cổ phần cho 100 đơn vị đạt 149% kế hoạch năm 2005 và tăng 10% so với cùng kỳ năm trước. Đẩy mạnh công tác hợp tác quốc tế với các tổ chức quốc tế và các nước khác, tham gia tích cực vào các cuộc đàm phán gia nhập WTO; thực hiện tốt công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo. Có được những thành tích nổi bật đó là do kết quả thực hiện khá hiệu quả chương trình cải cách hành chính của Bộ đề ra. Mục tiêu của chương trình cải cách của Bộ là “thực hiện từng bước hiện đại hoá nền hành chính nhà nước phục vụ cho quá trình quản lý và phát triển sản xuất”. Để thực hiện được mục tiêu quan trọng đó Bộ đã có bước đột phá trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và cải tạo môi trường làm việc áp dụng theo chương trình 5S của Nhật Bản. Bên cạnh đó, ngày 27/02/2004 Bộ trưởng Bộ Công nghiệp đã ban hành QĐ 325/QĐ-TCCB thành lập Ban chỉ đạo triển khai chương trình xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn ISO 9000: 2000 tại cơ quan Bộ Công nghiệp. Sau hơn một năm triển khai và thực hiện việc áp dụng tiêu chuẩn ISO 9000: 2000, Bộ Công nghiệp đã có những thay đổi cơ bản trong công tác tổ chức, sắp xếp các chế độ làm việc và đạt nhiều thành tựu to lớn. Đây là Bộ đầu tiên của Việt Nam được cấp tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001. Tuy nhiên, chương trình ISO khi áp dụng vào Việt Nam còn là một điều mới mẻ, vì vậy khi triển khai thực hiện ở Bộ cũng gặp không ít khó khăn về năng lực, thói quen của đội ngũ cán bộ, công chức- những người trực tiếp thực thi chương trình này. Để tiếp tục phát huy những kết quả đạt được và đưa ra một số kiến nghị trong việc triển khai chương trình, trong bài viết của mình, em xin chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm thực hiện tốt quy trình ISO 9000 tại Bộ Công nghiệp Việt Nam”. Việc nghiên cứu đề tài sẽ giúp cho sinh viên thấy được những thành tựu quan trọng của việc triển khai áp dụng tiêu chuẩn ISO đồng thời phát huy trí sáng tạo của sinh viên trong việc tìm tòi những sáng kiến mới để thực hiện tốt quy trình này. Trong phạm vi của báo cáo, em xin chọn chương trình ISO 9000 là đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu là cơ quan Bộ Công nghiệp Việt Nam. Báo cáo được hoàn thành dựa trên những văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, của Bộ Công nghiệp, những báo cáo của Bộ và quan trọng hơn đó là sự tổng hợp những kiến thức được tìm tòi và trải nghiệm của bản thân em trong quá trình thực tập tại Bộ Công nghiệp. Ngoài phần mở đầu và kết luận, báo cáo được chia thành 4 chương: Chương I : Khái quát về Bộ Công nghiệp Việt Nam; Chương II : Lý luận chung về Bộ tiêu chuẩn ISO 9000; Chương III : Công tác triển khai thực hiện chương trình ISO 9000 tại Bộ Công nghiệp; Chương IV : Một số kiến nghị nhằm thực hiện tốt chương trình ISO 9000 tại Bộ Công nghiệp.

Một Số Giải Pháp Nhằm Phát Triển Nông Nghiệp Việt Nam

Trong những năm qua, ngành Nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những bước phát triển quan trọng, góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu cao hơn trong 10 năm tới, nông nghiệp Việt Nam cần phát huy những thế mạnh hiện có, đồng thời khắc phục những hạn chế cơ bản hiện nay. Trong bài viết, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế cơ bản của ngành Nông nghiệp Việt Nam để đạt được những mục tiêu đã đặt ra.

Từ khóa: Nông nghiệp Việt Nam, phát triển nông nghiệp, hạn chế, giải pháp.

1. Mục tiêu chủa ngành Nông nghiệp Việt Nam

Theo Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, ngành Nông nghiệp cần phấn đấu 10 năm nữa để Việt Nam phải lọt vào nhóm 15 quốc gia có nền nông nghiệp phát triển nhất thế giới; riêng lĩnh vực chế biến nông sản phải nằm ở nhóm 10 nước phát triển của thế giới. Việt Nam phấn đấu là trung tâm chế biến xuất khẩu đồ gỗ hàng đầu thế giới, nơi sản xuất tôm lớn của thế giới,… Mục tiêu trước mắt là năm 2019 phải đạt tỷ trọng xuất khẩu từ 42- 43 tỷ USD. Lý do mà chúng ta đặt ra mục tiêu như vậy là vì, năm 2018 ngành Nông nghiệp với kim ngạch xuất khẩu nông lâm sản đạt kỷ lục trên 40 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay, đã thể hiện là một trụ cột quan trọng của nền kinh tế, trở thành một động lực mạnh mẽ cho nền kinh tế Việt Nam. Năm 2018, nông nghiệp Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ với con số 3,76%, được xem là cao nhất trong 7 năm trở lại đây [5]. Có thể nói, đó là những thành tựu đáng ghi nhận của ngành Nông nghiệp Việt Nam trong năm 2018, tuy nhiên để đạt được mục tiêu cao hơn sau 10 năm nữa, Nông nghiệp Việt Nam cần phải có những giải pháp để phát huy thế mạnh và khắc phục những hạn chế cơ bản hiện nay.

2. Tập trung phát triển sản phẩm nông nghiệp có tính đặc trưng, đặc sản vùng miền

3. Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp là rất cần thiết trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay. Để thúc đẩy việc ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, cần có sự liên kết giữa nhà nông và nhà khoa học và nhà doanh nghiệp. Nhà nước cần có chính sách đầu tư cho các nhà khoa học nghiên cứu ra các sản phẩm mới phục vụ cho việc tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp; tăng cường nguồn vốn đầu tư cho các chương trình khuyến nông, chuyển giao ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật; khuyến khích, tạo điều kiện gắn kết giữa nông dân và doanh nghiệp, đảm bảo đầu ra cho sản phẩm… Mặt khác, mỗi địa phương nên có chiến lược đào tạo, nâng cao trình độ và phân bổ biên chế hợp lý cho cán bộ khuyến nông ở các địa phương, nhất là mạng lưới cán bộ khuyến nông ở các xã, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp. Đối với lĩnh vực trồng trọt, cần ứng dụng rộng rãi các giống cây trồng mới có năng suất cao, chất lượng tốt và khả năng chống chịu sâu bệnh, chống chọi được điều kiện thời tiết khắc nghiệt; từng bước sử dụng cây trồng biến đổi gen như ngô, bông, đậu tương…; mở rộng nhanh cơ giới hóa các khâu sản xuất. Trong lĩnh vực chăn nuôi, cần ứng dụng công nghệ di truyền để chọn lọc giống, tạo giống chất lượng tốt và bảo tồn nguồn gen, sản xuất giống mới có năng suất chất lượng cao. Ví dụ: Công ty TNHH Bò sữa Thống Nhất Thanh Hóa được Vinamilk quy hoạch là tổ hợp trang trại bò sữa công nghệ cao áp dụng các qui trình và công nghệ hiện đại nhất của thế giới và chăn nuôi bò sữa công nghiệp đáp ứng nhu cầu nguyên liệu sữa bò tươi cho sản xuất phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Vinamilk hiện có hệ thống 10 trang trại trải dài khắp Việt Nam đạt tiêu chuẩn Global GAP với toàn bộ bò giống nhập khẩu từ Úc, Mỹ và New Zealand. Tổng đàn bò cung cấp sữa cho Công ty (bao gồm các trang trại của Vinamilk và bà con nông dân có ký kết) lên tới hơn 120.000 con, với sản lượng khoảng 750 tấn sữa tươi nguyên liệu mỗi ngày. Dự kiến, tổng đàn bò sẽ được nâng lên khoảng 200.000 con vào năm 2020, với sản lượng sữa tươi nguyên liệu dự kiến đến năm 2020 sẽ tăng lên hơn gấp đôi. [6]. Ngoài ra, cần đẩy mạnh sản xuất nông sản an toàn, nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ sức khỏe, quyền lợi người tiêu dùng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Tập trung cải tạo cây trồng, vật nuôi, tạo và nhân nhanh các giống có năng suất, chất lượng và giá trị cao bằng tăng cường hơn nữa năng lực nghiên cứu trong nước, kết hợp với chuyển giao công nghệ từ nước ngoài để chọn được những giống có hiệu quả cao nhất. Đưa nhanh công nghệ mới vào tất cả các khâu: sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm. Xây dựng thí điểm một số khu công nghệ cao dựa vào công nghệ sinh học, công nghệ thông tin. Đây là nơi tập trung những tiến bộ khoa học – công nghệ mới, những sáng tạo mới, với cách thức tổ chức quản lý hiện đại dựa vào tri thức mới. Sau đó, nhân rộng để tạo bước chuyển biến đột phá trong sản xuất nông nghiệp theo hướng kinh tế tri thức.

4. Xóa bỏ mặt tiêu cực của tâm lý tiểu nông

Việt Nam là một quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời, phương thức canh tác nhỏ lẻ, manh mún và truyền thống định cư theo kiểu làng, xã đã hình thành tâm lý tiểu nông của người Việt Nam. Tâm lý tiểu nông là các hiện tượng ý thức như tình cảm, mong muốn, ý chí, thói quen, tâm trạng… Tâm lý tiểu nông có những mặt tích cực như yêu nước, gắn bó với làng, xã, quê hương, tinh thần đoàn kết, gắn kết cộng đồng. Nhưng tâm lý tiểu nông cũng có những biểu hiện tiêu cực, đó là: nghĩ và làm theo kinh nghiệm, bảo thủ, ngại thay đổi, có tầm nhìn thiển cận; coi trọng kinh nghiệm cũ, thói quen, cách làm cũ, bảo thủ, ngại thay đổi, nhất là những thay đổi đột ngột, không dám mạo hiểm thử nghiệm và sáng tạo cái mới,…

Tâm lý tiểu nông được hình thành và tồn tại dưới tác động của một loạt các nhân tố (kinh tế, xã hội, lịch sử và văn hóa…) gắn kết với nhau qua hàng ngàn năm lịch sử, do đó nó có tính kế thừa, trở thành tập quán, thói quen; vì vậy, nó có sức mạnh cũng như có tính bảo thủ và sức ỳ rất lớn. Việc xóa bỏ mặt tiêu cực này là vấn đề không hề đơn giản, nhưng dù khó vẫn cần phải thay đổi . Trong xu thế hội nhập, để nông nghiệp Việt Nam phát triển, cần phải xóa bỏ những mặt tiêu cực nêu trên thì mới xóa bỏ được tình trạng phá vỡ các hợp đồng kinh tế, tùy tiện hạ giá sản phẩm nông sản trên thị trường, không quan tâm đến lợi ích chung, không thích làm ăn lớn, duy trì lối sản xuất theo kinh nghiệm, không có đổi mới sáng tạo trong sản xuất dẫn đến năng suất, chất lượng, hiệu quả trong nông nghiệp còn rất thấp.

Để xóa bỏ được mặt tiêu cực của tâm lý tiểu nông cần có sự tuyên truyền vận động tích cực của các cơ quan chức năng, nhất là chính quyền địa phương; cần mở thường xuyên các lớp tập huấn cho nông dân tại các địa phương, làm cho nông dân thay đổi nhận thức và bỏ những ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông. Giáo dục ý thức chấp hành luật pháp cho nông dân, để xóa bỏ tư tưởng “phép vua thua lệ làng”, trọng tình hơn lý, xóa bỏ tâm lý trọng họ hàng, cục bộ, dẫn tới tư tưởng coi thường pháp luật. Chính quyền địa phương cần mở các lớp tham quan học tập kinh nghiệm cho nông dân, làm cho nông dân mở mang tầm nhìn, sáng tạo và dám nghĩ, dám làm lớn để thay đổi tư duy manh mún nhỏ lẻ. Lúc đầu có thể chỉ tổ chức lớp học cho một số nông dân tiêu biểu, sau đó nhân rộng ra, nếu thấy việc học tập đó mang lại hiệu quả tốt. Thêm nữa, phải hướng dẫn nông dân sản xuất theo hướng kinh tế thị trường, tức là sản xuất “cái thị trường cần” chứ không sản xuất “cái mình muốn có”, như vậy sản phẩm của người nông dân làm ra mới bán được và thu được lợi nhuận.

5. Hình thành những tập đoàn nông sản mạnh

Việc hình thành các tập đoàn nông sản mạnh là rất cần thiết trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế như hiện nay. Hình thành các tập đoàn nông sản mạnh giúp cho nông sản Việt Nam có thể ổn định và phát triển được thị trường trong nước cũng như đủ sức cạnh tranh với nông sản quốc tế. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, rất nhiều loại nông sản của các nước vào thị trường Việt Nam và cạnh tranh rất mạnh mẽ với nông sản của Việt Nam. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho nông nghiệp như Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/1013, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

Trên thực tế đã có một số doanh nghiệp đầu tư cho nông nghiệp, như: Công ty VinEco đã đầu tư 2.000 tỷ đồng vào lĩnh vực nông nghiệp tại nhiều địa phương, trong đó bước đầu tập trung vào lĩnh vực trồng trọt, áp dụng các công nghệ và kỹ thuật tiên tiến hàng đầu trên thế giới để cung cấp rau quả hữu cơ và rau quả sạch cho thị trường theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP. VinEco đã sản xuất các sản phẩm rau quả hữu cơ, đáp ứng các nhu cầu chuyên biệt; đồng thời đi sâu nghiên cứu và sản xuất một số loại nông sản thế mạnh của Việt Nam, hướng tới việc cạnh tranh và xuất khẩu ra thị trường quốc tế [9]. Ngoài VinEco, còn có một số công ty tư nhân tích cực đầu tư cho nông nghiệp, như Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk), Công ty Trách nhiệm hữu hạn Hoàng Phát Fruit… Tuy vậy, tính đến nay, mới có khoảng 1% doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, từng bước hình thành các tập đoàn nông sản mạnh, giúp tăng sức cạnh tranh cho nông sản Việt Nam; Cần thu hút vốn, khả năng quản lý, khả năng sáng tạo và thúc đẩy sự liên doanh liên kết, hợp tác đầu tư để mở rộng sản xuất, chế biến, kinh doanh, dịch vụ trong lĩnh vực nông nghiệp, huy động được nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp phần nào sẽ khắc phục được sự manh mún nhỏ lẻ trong sản xuất nông nghiệp, tăng quy mô và tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam; Thúc đẩy việc hình thành các vùng sản xuất hàng hóa nông sản quy mô lớn, nông dân liên kết để tham gia sản xuất tập trung, áp dụng quy trình sản xuất khép kín, an toàn sinh học, bảo vệ môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap, góp phần thúc đẩy việc thành lập các loại hình kinh tế tập thể hợp tác sản xuất, trang trại, gia trại hiệu quả kinh tế cao.

6. Kết luận

Trước xu hướng toàn cầu hóa về kinh tế như hiện nay, sự cạnh tranh trên các lĩnh vực ngày càng trở nên khốc liệt hơn, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. Việt Nam là một nước nông nghiệp, trình độ sản xuất còn chưa cao, nên càng phải đối diện với những nguy cơ mất thị trường ngay trên sân nhà. Để nắm được cơ hội và vượt qua những thách thức, cần phải có một số giải pháp hiệu quả để giúp nền nông nghiệp Việt Nam nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức mới có thể phát triển nhanh và bền vững.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Nguyễn Đình Luận, (7/2013), “Xuất khẩu gạo Việt Nam: Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 193, trang 9 – 14.

Nguyễn Thị Huyền (2019), Một số giải pháp phát triển sản xuất nông sản đặc sản ở các huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Công Thương, số 8, tháng 5 năm 2019.

Nguyễn Tiến Thư, Hà Thị Thùy Dương (2019), “Mối quan hệ giữa tâm lý tiểu nông và kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 1-2019.

Tổng cục Hải quan Việt Nam, (2011, 2012, 2013, 2014, 2015),”Niên giám thống kê Hải quan về hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam”, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội.

https://dantri.com.vn/chinh-tri/thu-tuong-viet-nam-phan-dau-lot-top-15-nuoc-co-nen-nong-nghiep-phat-trien-nhat-the-gioi-2019010313353543.htm

https://www.vinamilk.com.vn/vi/tin-tuc-su-kien/1699/to-hop-trang-trai-bo-sua-cong-nghe-cao-vinamilk-tai-thanh-hoa-mo-ra-buoc-phat-trien-moi-cho-nganh-nong-nghiep-chan-nuoi-bo-sua-tai-viet-nam

https://vaithieu.net/nam-2018-bac-giang-phan-dau-65-vai-thieu-tieu-thu-thi-truong-noi-dia/

http://hoangphatfruit.com/gioi-thieu-tong-quan-ve-cong-ty

https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/vingroup-dau-tu-2000-ti-dong-vao-nong-nghiep-544001.html.

SOME SOLUTIONS TO PROMOTE THE GROWTH OF VIETNAM’S AGRICULTURAL FIELD

NGUYEN THI HUYEN

Hanoi University of Science and Technology

ABSTRACT:

The agricultural sector has significantly contributed to the economic development of Vietnam. However, it is necessary for Vietnam’s agricultural field to exploit its strengths as well as tackle its current limitations in order to gain more great achievements. This article is to propose a number of solutions to overcome limitations of Vietnam’s agricultural sector in odder to achieve set goals.

Keywords: Agricultural field of Vietnam, agricultural development, limitation, solution.

Đề Tài Nckh Cấp Bộ “Hiện Trạng Và Một Số Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Du Lịch Việt Nam”

1. Mục tiêu, nội dung nghiên cứu của đề tài

2. Phạm vi nghiên cứu

3. Các quan điểm, phương pháp nghiên cứu

CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN

I. KHÁI NIỆM VỀ MÔI TRƯỜNG DU LỊCH

1. Khái niệm chung về môi trường

2. Khái niệm môi trường du lịch

II. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG DU LỊCH

CHƯƠNG II : HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG DU LỊCH

I. TỔNG QUAN CHUNG HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG DU LỊCH VIỆT

1. Hiện trạng môi trường du lịch tự nhiên

2. Môi trường du lịch nhân văn

3. Môi trường văn hóa – nhân văn

II. HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG Ở MỘT SỐ KHU DU LỊCH ĐIỂN HÌNH

1. Hiện trạng môi trường của các khu di sản thế giới

2. Hiện trạng môi trường các khu du lịch trên núi

3. Môi trường các khu du lịch biển

4. Hiện trạng môi trường các khu du lịch lễ hội

CHƯƠNG III : MỘT SỐ BIỆN PHÁP CẤP BÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG, ĐẢM BẢO PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

I. Xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường du lịch Việt

II. Biện pháp về quản lý

III. Biện pháp về đào tạo phát triển nguồn nhân lực

IV. Biện pháp nghiên cứu chuyển giao công nghệ bảo vệ môi trường du lịch

V. Biện pháp về tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã hội

VI. Một số giải pháp khác

KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO Tính cấp thiết của đề tài:

Du lịch là một ngành kinh tế mà sự tồn tại và phát triển của nó gắn liền với khả năng khai thác tài nguyên, khai thác đặc tính của môi trường xung quanh. Chính vì vậy hoạt động du lịch và môi trường có mối quan hệ qua lại hết sức gắn bó, mật thiết, tư­ơng hỗ lẫn nhau và nếu khai thác, phát triển hoạt động du lịch không hợp lý có thể sẽ là nguyên nhân làm suy giảm giá trị của các nguồn tài nguyên, suy giảm chất l­ượng môi trường và cũng có nghĩa là làm suy giảm hiệu quả của chính hoạt động du lịch.

Trải qua 40 năm xây dựng và phát triển, hoạt động du lịch đã đem lại nhiều kết quả to lớn, đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, trong thực tế do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, du lịch phát triển còn chư­a tư­ơng xứng với tiềm năng và yêu cầu đặt ra. Trong đó tài nguyên và môi trường du lịch – yếu tố tiền đề cho phát triển du lịch còn chư­a được bảo vệ, tôn tạo và khai thác hợp lý. Ở nhiều khu vực hoạt động du lịch phải đối mặt với những vấn đề môi trường khá nghiêm trọng do các hoạt động kinh tế – xã hội trong đó có du lịch gây ra. Để giải quyết vấn đề này, việc nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp đảm bảo cho môi trường du lịch Việt Nam là một việc làm hết sức cần thiết. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần tạo cơ sở để xây dựng quy hoạch, chiến lược phát triển du lịch thu hút đầu tư, đề xuất các giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch, giảm thiểu những tác động tiêu cực đến tài nguyên, môi trường, đảm bảo phát triển du lịch bền vững.

Mục tiêu:

Đánh giá hiện trạng môi trường du lịch của Việt Nam và đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm bảo vệ, cải thiện môi trường, phát triển du lịch bền vững.

Phạm vi nghiên cứu:

– Về không gian: giới hạn trong việc đánh giá tổng quan hiện trạng môi trường cho hoạt động du lịch trên phạm vi cả nước, trong đó chủ yếu tập trung nghiên cứu tại các trọng điểm du lịch.

– Về thời gian: nghiên cứu hiện trạng môi trường du lịch Việt Nam từ năm 1995 trở lại đây.

– Về nội dung: Một số thành phần môi trường du lịch chủ yếu nh­ư môi trường địa chất, môi trường nước, không khí, sinh học và kinh tế – xã hội.

Các phương pháp nghiên cứu :

– Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa

– Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích hệ thống tư liệu

– Phương pháp bản đồ

– Phương pháp dự báo

– Phương pháp chuyên gia

– Phương pháp khai thác phần mềm hệ thống thông tin Địa lý (GIS)

– Làm rõ khái niệm về môi trường nói chung và môi trường du lịch nói riêng.

– Các phương pháp đánh giá môi trường du lịch

– Nghiên cứu một số thành phần môi trường du lịch chủ yếu như môi trường địa chất, môi trường nước, không khí, sinh học và kinh tế – xã hội.

– Tổng quan chung về hiện trạng môi trường du lịch tự nhiên và môi trường du lịch nhân văn ở Việt Nam

– Hiện trạng môi trường ở một số khu du lịch điển hình

– Một số biện pháp cấp bách bảo vệ môi trường, đảm bảo phát triển du lịch bền vững như: xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường du lịch Việt Nam, biện pháp về quản lý, về đào tạo phát triển nguồn nhân lực, về nghiên cứu chuyển giao công nghệ bảo vệ môi trường du lịch, về tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã hội và một số giải pháp khác

Kết quả đạt được:

– Nhận biết được tầm quan trọng, ý nghĩa của việc đánh giá tác động môi trường du lịch

– Phân tích được hiện trạng môi trường du lịch Việt Nam nói chung và hiện trạng môi trường du lịch ở một số khu du lịch điển hình thông qua các chỉ tiêu về chất lượng môi trường nước, không khí, cảnh quan, các hệ sinh thái đặc trư­ng, chất thải rắn, vấn đề vệ sinh môi trường, các vấn đề xã hội, nhân văn, sức khoẻ cộng đồng… và các nguyên nhân gây ô nhiễm (nếu có). Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường và xu thế của môi trường.

– Đánh giá được hiện trạng môi trường trong mối quan hệ phát triển giữa du lịch với các ngành kinh tế khác tránh những kết luận chủ quan, thiếu cơ sở thực tiễn.

– Định hướng chiến lược, xác định các kịch bản phát triển trước mắt và lâu dài của hoạt động du lịch và tác động của nó tới môi trường

– Các giải pháp đưa ra đã góp phần giải quyết những mâu thuẫn tất yếu xảy ra giữa yêu cầu phát triển du lịch và bảo vệ môi trư­ờng, đảm bảo tính bền vững của môi trư­ờng và hoạt động kinh tế du lịch. Tuy nhiên các giải pháp này cần được thực hiện một cách đồng bộ với sự tham gia của các ban ngành. Đặc biệt các hoạt động kinh tế – xã hội khác trong quá trình phát triển của mình cần có kế hoạch cụ thể để tránh gây ra những tác động xấu tới môi trường, tạo nên những bất cập với hoạt động du lịch tại các địa phương.

Cơ quan ứng dụng :

Kết quả nghiên cứu của Đề tài đã được các cơ quan quản lý du lịch các cấp từ trung ương đến địa phương, cơ quan quản lý môi trường sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ quản lý môi trường du lịch.

Một Số Giải Pháp Thực Hiện Chương Trình Rèn Luyện Đoàn Viên Giai Đoạn 2022

Bài tham luận tọa đàm Chi đoàn Trường Chính trị Bến Tre

                                                      CN. Nguyễn Phước Bình

                                                      Tập sự giảng viên Khoa Xây dựng Đảng

Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017 – 2022, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: Xây dựng Đoàn là xây dựng đội quân xung kích của cách mạng, lực lượng nòng cốt của tuổi trẻ, xây dựng đội dự bị tin cậy của Đảng…Là tuổi trẻ, cán bộ đoàn phải có tinh thần ham học hỏi, cầu tiến bộ, không ngừng tu dưỡng bản thân về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và năng lực công tác; thực sự là người bạn gần gũi của thanh niên, không kiêu căng, tự mãn, xa rời thanh niên, xa rời thực tiễn; không để bị suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Cán bộ đoàn phải là người tiên phong, có tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, năng động và sáng tạo. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phải thực sự là tấm gương trong sáng, là môi trường thử thách, nghĩa tình để cán bộ đoàn rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, tác phong công tác, chuyên môn, nghiệp vụ, tạo nguồn cán bộ trẻ có chất lượng cho Đảng.

Quán triệt tinh thần chỉ đạo trên, Ban Bí Thư Trung ương Đoàn đã cụ thể hóa qua việc ban hành văn bản hướng dẫn số 13-HD/TWĐTN-BTC ngày 20/6/2018 về thực hiện Chương trình rèn luyện đoàn viên giai đoạn 2018-2022 và Đoàn Khối cũng đã cụ thể hóa triển khai nội dung này. Được sự cho phép của chủ trì tọa đàm, tôi tham gia phát biểu tham luận với nội dung: Một số giải pháp thực hiện Chương trình rèn luyện đoàn viên giai đoạn 2018-2020

Công tác Đoàn và phong trào thanh niên đang đứng trước những thuận lợi và thách thức trong tình hình hiện nay, đó là sự phát triển của khoa học công nghệ, bùng nổ của công nghệ thông tin và nhất là việc sử dụng các trang mạng xã hội ngày phát triển mạnh và không thể thiếu đối với thanh niên, điều đó đặt ra mỗi người đoàn viên phải có ý thức tự rèn luyện thông qua việc thực hiện Chương trình rèn luyện đoàn viên giai đoạn 2018-2022 với các nội dung:

Một là, rèn luyện về lý tưởng cách mạng, nhận thức chính trị.

Với các nội dung đoàn viên cần rèn luyện: Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; học tập 6 bài học lý luận chính trị của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; tham gia đầy đủ sinh hoạt Chi đoàn, sinh hoạt đoàn nơi cư trú và các hoạt động do Đoàn tổ chức; tích cực rèn luyện theo các tiêu chí xây dựng hình mẫu thanh niên Việt Nam thời kỳ mới “Tâm trong, trí sáng, hoài bão lớn”; thực hiện nói đi đôi với làm, nói thật, làm thật, trung thực với chính mình và mọi người; cụ thể bằng việc xây dựng hình mẫu Thanh niên Đồng Khởi mới “Yêu nước, Bản lĩnh, Hiếu thảo, Tình nguyện” và hình mẫu Thanh niên Đoàn Khối các cơ quan tỉnh “Tinh thông nghiệp vụ, liêm khiết trong thực thi công vụ, tận tuỵ phục vụ nhân dân”; thường xuyên theo dõi, nắm bắt thông tin thời sự, chính trị trên các phương tiện thông tin đại chúng; tham gia xây dựng Đảng, phấn đấu trở thành đảng viên; nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; đối với cán bộ Đoàn các cấp, thực hiện nghiệm túc Chỉ thị 01-CT/TWĐTN, ngày 17/5/2013 của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn “Về việc tăng cường rèn luyện tác phong, thực hiện lề lối công tác của cán bộ Đoàn”.

Hai là, rèn luyện về chuyên môn nghiệp vụ.

Các nội dung đoàn viên cần rèn luyện: Nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tụy với công việc; sẵn sàng đảm nhận và thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao; phát huy tốt chuyên môn trong các hoạt động tình nguyện cộng đồng; hăng hái thi đua học tập, lao động sáng tạo, làm chủ khoa học công nghệ; thường xuyên rèn luyện tác phong và đạo đức nghề nghiệp, xung kích tham gia cải cách hành chính, xây dựng văn hoá công sở. Tích cực tham gia phong trào “Ba trách nhiệm” và phong trào “Sáng tạo trẻ”.

Ba là, rèn luyện về sức khỏe, kỹ năng thực hành xã hội.

Các nội dung đoàn viên cần rèn luyện: Tích cực tập luyện ít nhất một môn thể thao; không sử dụng ma túy và các chất gây nghiện; hạn chế uống rượu, bia và không hút thuốc; tích cực học tập nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học; rèn luyện một số kỹ năng xã hội cần thiết như: Kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng quản lý, điều hành, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin, kỹ năng trình bày (nói, viết)…; tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện vì cộng đồng.

Đây là những nội dung rất quen với đoàn viên vì được kế thừa và phát triển Chương trình rèn luyện đoàn viên giai đoạn 2015-2017. Tuy nhiên để thực hiện tốt cần phải vận dụng cụ thể vào tính đặc thù của mỗi cơ quan, địa phương và sở trường công tác. Tôi xin đưa ra một số giải pháp như sau:

1.  Đổi mới phương thức trong triển khai và đánh giá

– Về công tác triển khai: Trên thực tế, vẫn còn không ít đoàn viên khi hỏi những nội dung cơ bản của Chương trình rèn luyện đoàn viên tỏ ra lúng túng, e dè, đây là vấn đề lớn chúng ta cần thẳng thắng nhìn nhận. Ngoài việc triển khai thông qua hội nghị hoặc văn bản hướng dẫn, có thể tuyên truyền bằng pano, áp phích, ngắn gọn nhưng trực quan, sinh động.

– Về công tác đánh giá: Thực hiện theo hướng dẫn của Ban bí thư Trung ương Đoàn định kỳ 6 tháng/lần, trong quá trình đánh giá cần thực hiện quyết liệt và thẳng thắng, Vì sao? Vì đăng ký thực hiện là do mỗi đoàn viên căn cứ theo khả năng và thực tế công tác đăng ký kèm theo giải pháp thực hiện. Đến cuối năm lại không hoàn thành hoặc hoàn thành chưa tốt mục tiêu của bản thân thì phải có sự đánh giá khách quan, sát với phân loại theo hướng dẫn để đoàn viên tự rút kinh nghiệm.

Ban chấp hành Chi đoàn cần mạnh dạn đề xuất cấp ủy, sử dụng đánh giá kết quả thực hiện Chương trình rèn luyện đoàn viên cuối năm làm một trong những cơ sở đánh giá, phân loại viên chức, đặc biệt là đảng viên tham gia sinh hoạt đoàn và đối tượng đảng lớp Đồng Khởi mới để mang tính nêu gương và hiệu ứng thực hiện, từng bước chấn chỉnh đối với từng đoàn viên trong việc thực hiện.

2. Thực hiện Chương trình rèn luyện đoàn viên gắn với việc thực hiện giá trị hình mẫu Người thanh niên Đồng Khởi mới “Yêu nước – Bản lĩnh – Hiếu thảo – Tình nguyện”

Có thể khi gắn hai nội dung này để thực hiện cùng một lúc, sẽ có ý kiến cho rằng quá nặng so với mỗi đoàn viên. Tuy nhiên, theo tôi, đối với công tác Đoàn và phong trào thanh niên tại Trường Chính trị Bến Tre cần và nên áp dụng vì chúng ta có đủ sức để thực hiện, mỗi đoàn viên của Chi đoàn đều có nhận thức, bản lĩnh về chính trị và lý tưởng cách mạng sâu sắc. Khi nghiên cứu xem xét các nội dung trong Chương trình rèn luyện đoàn viên và giá trị hình mẫu Người thanh niên Đồng Khởi mới rất sát và rất gần với nhau và đây cũng là cơ hội để mỗi đoàn viên Chi đoàn phấn đấu trong công tác, trong tham gia hoạt động để được xem xét giới thiệu kết nạp Đảng, đồng thời khi gắn hai nội dung này Chi đoàn sẽ có thêm cơ sở đánh giá khách quan hơn trong việc tạo nguồn giới thiệu kết nạp Đảng viên lớp Đồng Khởi mới.

3. Phát huy sức mạnh đoàn kết của Chi đoàn

Thực hiện Chương trình rèn luyện đoàn viên là một trong những cơ sở đánh giá xếp loại Chi đoàn của Đoàn cấp trên và cũng là cơ sở đánh giá từng đoàn viên trong quá trình hoạt động. Vì vậy, thực hiện tốt các nội dung đăng ký là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi đoàn viên. Tuy nhiên mỗi đoàn viên cần nhận định rõ: phải đoàn kết thực hiện nhiệm vụ, chia sẻ và giúp đỡ nhau tuyệt đối không ganh đua, hơn thua, hoặc chê bai, chỉ trích đồng chí mình khi hoàn thành chưa tốt hoặc thiếu sót trong đăng ký và thực hiện.

4. Nâng cao tính năng động, chủ động, tính kỷ luật của đoàn viên trong xây dựng tổ chức Đoàn

Mỗi đoàn viên cần phải định vị về ví trí, vai trò, trách nhiệm của mình đối với tổ chức Đoàn mình đang sinh hoạt, phải chủ động cập nhật thông tin, tìm các giải pháp, mô hình thực hiện hay để đề xuất với Chi đoàn thực hiện tốt hơn Chương trình rèn luyện đoàn viên. Một vài đoàn viên có tính chủ quan, chưa dành thời gian tìm hiểu kỹ từng nội dung đăng ký thực hiện, chỉ đăng ký mang tính đối phó từ đó dẫn đến việc thực hiện chưa có hiệu quả với bản thân và ảnh hưởng chung đến tổ chức đoàn. Do vậy, việc từng đoàn viên tự nâng cao tính chủ động và năng động của mình là hết sức cần thiết trong tình hình hiện nay.

Ngoài ra, trong ứng xử với đồng chí, đồng nghiệp phải tế nhị, hòa nhã, phát ngôn chuẩn mực, tuyệt đối không phát ngôn gây mất đoàn kết hoặc xem nhẹ đồng chí mình dù ở bất cứ cương vị nào và hoàn cảnh nào. Mỗi đoàn viên phải là tấm gương với “Tâm trong, trí sáng, hoài bão lớn,” để tạo sự lan tỏa trong Chi đoàn.

Bạn đang xem bài viết Đề Tài Một Số Giải Pháp Nhằm Thực Hiện Tốt Chương Trình Iso 9000 Tại Bộ Công Nghiệp Việt Nam trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!