Xem Nhiều 1/2023 #️ Đề Tài Một Số Kinh Nghiệm Trong Giảng Dạy Chương Trình Phần Mềm Đồ Họa Paint Môn Tin Học Lớp 3 # Top 3 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Đề Tài Một Số Kinh Nghiệm Trong Giảng Dạy Chương Trình Phần Mềm Đồ Họa Paint Môn Tin Học Lớp 3 # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Đề Tài Một Số Kinh Nghiệm Trong Giảng Dạy Chương Trình Phần Mềm Đồ Họa Paint Môn Tin Học Lớp 3 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Giới hạn của đề tài Nghiên cứu về cách tổ chức giảng dạy phần mềm đồ họa Paint của học sinh lớp 3A trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi xã Quảng Điền huyện Krông Ana tỉnh Đắk Lắk ( Năm học 2015-2016). Phương pháp nghiên cứu a. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận – Đọc các tài liệu, sách báo, truy cập internet nói về các phương pháp nghiên cứu, phương pháp dạy tin học tiểu học”. – Tham khảo các bài viết của các tác giả đăng trên tạp chí giáo dục, truy cập internet tham khảo các SKKN của các anh chị ở các trường bạn. b. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn – Phương pháp điều tra; Tìm hiểu thực trạng giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh trong việc lĩnh hội kiến thức mới nhằm phát hiện các vấn đề khó khăn cần giải quyết, xác định nguyên nhân, chuẩn bị cho các bước nghiên cứu tiếp theo. – Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;  Phương pháp này giúp tôi tổng kết những kinh nghiệm của bản thân và đánh giá rút ra những cái mới có giá trị, hỗ trợ thiết thực cho công tác giảng dạy trong môn này. – Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động; Thường xuyên theo dõi các hoạt động trong quá trình thực hiện để kịp thời nắm bắt, giải quyết các tình huống đặt ra sao cho có kết quả tốt nhất. – Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia; Phương pháp này giúp tôi có thêm nhiều phương pháp từ các ý kiến xây dựng, từ đó đúc kết cho mình một cách tích cực đạt kết quả cao nhất trong tổ chức và thực hiện. – Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm. Tổ chức triển khai thực hiện các giải pháp cải tiến để xem xét, đối chiếu với kết quả ban đầu có tiến bộ không? có phù hợp với ý đồ nghiên cứu của tác giả không? c. Phương pháp thống kê toán học Sử dụng phương pháp này để phân tích số liệu thống kê, kiểm tra và dự đoán ( dự đoán, điều tra, chọn mẫu). Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu đề tài này tôi còn sử dụng phối hợp nhiều phương pháp khác như: Tạo ra các trò chơi, các thủ thuật dạy thực hành chính xác. Phần nội dung Cơ sở lý luận Trong nhà trường, Tin học là một bộ môn mới áp dụng những năm gần đây, có đặc thù riêng, gây trí tò mò ham mê tìm hiểu với học sinh xong cũng không tránh khỏi gây ra những khó khăn cho người học. Do đó giáo viên cũng giống như một người nghệ sĩ, cần nhận biết một cách tinh tế, nhạy cảm để có thể tạo cho đối tượng học những hứng thú và niềm yêu thích đặc biệt với bộ môn mình phụ trách. + Nghị quyết Trung ương 2, khoá VII, đã quy định phương pháp dạy học thay đổi theo hướng “khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng những phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học”. Định hướng này đã được pháp chế hoá trong luật giáo dục điều 24, 25:” Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học. Bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh”. + Nghị quyết 40/2000/QH10 và chỉ thị 14/2001/CT-TTg ngày 9/12/2000 về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông: Nội dung chương trình là tích cực áp dụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, ứng dụng CNTT vào dạy và học. + Chỉ thị 29/CT của Trung Ương Đảng về việc đưa CNTT vào nhà trường. Theo Công văn 4323/BGDĐT-GDTH ngày 25/8/2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTH đưa ra nhiệm vụ cụ thể về môn Tin học như sau: “Tiếp tục thực hiện tổ chức dạy học môn Tin học theo Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ở những nơi có đủ điều kiện. Đẩy mạnh cách hoạt động giáo dục có nội dung Tin học – Công nghệ thông tin dưới hình thức các câu lạc bộ để học sinh được tiếp cận, hình thành các kĩ năng học tập, sử dụng sáng tạo”. Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra Công văn số 4983/BGDĐT-CNTT ngày 28/9/2015 về việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT với nhiều nhiệm vụ trọng tâm như: Công tác bồi dưỡng ứng dụng CNTT cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; Tập huấn, bồi dưỡng trực tuyến cho giáo viên, tổ chức họp trực tuyến; Triển khai chương trình công nghệ giáo dục và e-Learning; Hướng đến mô hình trực tuyến, phần mềm nguồn mở, học liệu mở cho giáo dục; Xây dựng mô hình giáo dục điện tử, trường học điện tử; Tăng cường đầu tư hạ tầng cơ sở CNTT Xuất phát từ quan điểm ” lấy người học làm trung tâm “, phương pháp dạy và học đã có những thay đổi căn bản. Người dạy không phải là người duy nhất nắm giữ kiến thức và truyền đạt kiến thức mà chỉ là người hướng dẫn, người hỗ trợ, người cố vấn, người kiểm tra… Người học không còn là người thụ động tiếp thu kiến thức mà là trung tâm của quá trình dạy học, chủ động sáng tạo trong quá trình học tập nhằm đạt được mục tiêu dạy học của mình. Dạy tin học thì việc đổi mới phương pháp dạy học là rất rõ ràng và quan trọng đặc biệt trong những tiết thực hành. Từ những luận điểm trên việc các em học sinh trực tiếp tham gia vào quá trình học tập, trực tiếp thực hành và sử dụng máy tính một cách tự nhiên và linh hoạt sẽ tạo được niềm vui, kích thích trí tò mò của các em. Thực trạng vấn đề nghiên cứu Qua công tác giảng dạy môn Tin học một số lớp chúng tôi được sự góp ý của các đồng nghiệp rút ra được một số nhận định sau: * Tiết 1: Bài dạy: Bài 5: Di chuyển hình Ngày dạy: 24/11/2015; Lớp: 3A; Giáo viên dạy: Đinh Ngọc Quốc. – Nội dung bài: hướng dẫn các em cách di chuyển hình Trong tiết này tôi thống kê được số liệu như sau: Tiết Lớp Sĩ số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành 1 3A 24 25 % 42 % 33 % Mức độ thao tác Trước khi thực hiện chuyên đề Số Hs Tỷ lệ Thao tác nhanh, đúng 4/24 25% Thao tác đúng 10/24 42% Thao tác chậm, chưa biết thao tác 10/24 33% Ưu điểm + Giáo viên – Dạy chuẩn kiến thức kỹ năng. – Chuẩn bị phương tiện dạy học, đầy đủ. – Dạy có kèm minh hoạ thực tiễn trên máy tính. + Học sinh – Tập trung theo dõi bài, lắng nghe khi giáo viên giảng. – Các em rất thích di chuyển hình ảnh để ghép hình. b. Khuyết điểm + Giáo viên – Phân bố thời gian chưa hợp lý giữa lý thuyết và thực hành. – Đa số tập trung hướng dẫn các em học sinh giỏi, khá. + Học sinh – Còn bỡ ngỡ khi tiếp xúc bài mới. – Một số em còn lo ra xem nhẹ môn Tin học. – Một số em không thích thú môn học. c. Nguyên nhân + Giáo viên – Do chú trọng phần giảng dạy lí thuyết hơn nên thời gian thực hành chưa nhiều gây nhàm chán cho học sinh. – Trong quá trình thực hành chưa quán xuyến hết các em học sinh. – Chưa khai thác tư duy, sáng tạo của học sinh. – Chưa làm cho học sinh say mê hứng thú với môn học. + Học sinh – Các em chưa được tiếp xúc với phần mềm Paint lần nào, về nhà các em không có máy tính. – Các em còn nhỏ nên hay mê chơi không chú ý vào bài học. – Chưa thấy được tầm quan trọng của môn học này nên còn lơ là trong việc học. – Đa số phụ huynh học sinh ít được học môn Tin học nên không thể hướng dẫn con em mình. Do môn Tin học là môn mới đưa vào chưong trình giảng dạy nên trong quá trình giảng dạy môn Tin học ở các lớp trong khối 3 luôn tồn tại những ưu điểm, khuyết điểm khác nhau. Do đó tôi luôn tự học hỏi, dự giờ rút kinh nghiệm để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, nâng cao chất lượng học sinh, giúp các em sử dụng phần mềm một các thành thạo hơn. Nội dung và hình thức của giải pháp Mục tiêu của giải pháp Giải pháp, biện pháp được nêu trong đề tài nhằm giúp học sinh học và thực hành trên phần mềm Paint một cách hiệu quả, hoàn thiện và thành thạo các thao tác khi tương tác với phần mềm, linh hoạt trong khi sử dụng các công cụ vẽ của phần mềm. Giúp học sinh tăng cường khả năng tư duy trong cách thực hiện các thao tác để thể hiện khả năng vận dụng kiến thức, hình thành cho học sinh kĩ năng thực hành các đề tài mở nhằm thúc đẩy sự sáng tạo của học sinh, từ đó học sinh tò mò, khám phá thế giới xung quanh, say mê, hứng thú, yêu thích môn học. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp Trong đề tài này, tôi sẽ chia sẻ những kinh nghiệm và giải pháp giúp học sinh học say mê hứng thú, yêu thích môn học, biết vận dụng kiến thức của mình vào cuộc sống, hoàn thiện và thành thạo các thao tác khi tương tác với phần mềm Paint, linh hoạt trong khi sử dụng các công cụ vẽ của phần mềm. + Giải pháp 1: Giáo viên có kế hoạch bài dạy, xây dựng ý tưởng, thiết kế bài dạy phù hợp, sử dụng các phần mềm, các thiết bị dạy học hợp lí. – Giáo viên biết kết hợp giữa giờ lý thuyết và thực hành sao cho phù hợp, không nên xem nhẹ giờ dạy lý thuyết thì mới thực hành tốt được cũng như khi học sinh thực hành tốt thì sẽ hiểu sâu hơn về lý thuyết. – Khi dạy thực hành, giáo viên giao bài tập cho học sinh một cách cụ thể, rõ ràng và kết hợp cả những kiến thức của bài học trước, hướng dẫn theo từng nhóm cho các em phân tích yêu cầu của bài và để đạt được bài như yêu cầu thì các em phải làm những công việc gì? trước khi học sinh làm để học sinh quan sát, thực hành chính xác và nhanh hơn. Ví dụ: Bài 14: Mẫu đồng hồ treo tường (phần mềm Paint), giáo viên giao bài tập thực hành cho từng nhóm, sau đó hướng dẫn (theo nhóm) phân tích, tiếp theo giáo viên hướng dẫn trực tiếp trên máy cho học sinh dựa trên phần mềm Netop School hoặc sử dụng máy chiếu để học sinh dễ quan sát thao tác của giáo viên. Trong khi thực hành, nếu em học sinh nào chưa thực hành được, giáo viên lại hướng dẫn cho em đó hoặc cầm tay em đó và hướng dẫn các thao tác. Sử dụng phần mềm Netop School để giảng dạy cho học sinh Bài 15: Thực hành vẽ ngôi nhà (phần mềm Paint) – Đầu tiên chia lớp thành 4-5 nhóm. – Yêu cầu các nhóm phân tích xem để hoàn tất ngôi nhà theo mẫu. + Các em cần vẽ những gì? + Sử dụng những công cụ nào để vẽ? + Có cần sao chép hình nào không? + Thực hiện phối màu như thế nào cho hợp lý hay em thích màu như hình mẫu. – Sau khi các nhóm xác định xong gọi một vài nhóm trình bày. – Nhận xét và bắt đầu cho các em bắt tay vào vẽ. * Giáo án minh họa Tuần 15: Thứ hai ngày 12 tháng 12 năm 2015 Tiết: 29, 30 PHẦN III. CÔNG CỤ VẼ PAINT BÀI 15. MẪU NGÔI NHÀ VÀ KHU VƯỜN I. MỤC TIÊU – Sử dụng các mẫu vẽ, sử dụng các công cụ trong phần mềm để vã một khu vườn. – Nắm được kỹ năng sao chép giữa hai tệp tin, thực hành các bức tranh vẽ. – Say mê, hứng thú, yêu thích môn học, biết bảo vệ máy tính của mình. II. CHUẨN BỊ – Giáo viên: Bài giảng điện tử, máy tính thực hành, máy chiếu, máy tính xách tay, phần mềm Paint. – Học sinh: SGK, tập, bút. III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH 1.Ổn định lớp. – Kiểm tra phần mềm Netop School. 2. Bài mới * Hoạt động 1: Khám phá – Giáo viên hướng dẫn học sinh khởi động phần mềm Paint, giới thiệu hình vẽ cho học sinh quan sát. Em sử dụng công cụ hay mẫu vẽ nào để thực hiện mẫu ngôi nhà như hình bên? Cho học sinh hoạt động nhóm Sau khi quan sát xong, học sinh điền dấu tích vào các ô trống trước các công cụ. Nhận xét – chốt ý *Hoạt động 2: Vẽ theo mẫu – Vẽ mái nhà. – Vẽ khung nhà. – Xoá chi tiết thừa. – Vẽ cửa cái – ráp cửa cái. – Sao chép và ráp cửa sổ – Vẽ ống khói, vẽ khói – ráp vào mái nhà. – Tô màu hoàn chỉnh. Em hãy sắp xếp lại đúng thứ tự các bước thực hiện bằng cách ghi số vào các ô tròn. – Kiểm tra kết quả. *Hoạt động 3: Sáng tạo – Học sinh tự thiết kế và trang trí ngôi nhà của mình với màu sắc riêng. – Giáo viên nhận xét *Hoạt động 4: Học sinh tự nhận xét 3. Củng cố – dặn dò: – Nhận xét tiết học. – Về nhà hãy thực hành phần mềm Paint và vẽ tranh tặng người thân. – Ổn định – Quan sát và lắng nghe. Báo cao kết quả – Kiểm tra chéo bài của bạn – Thực hành thiết kế và trang trí ngôi nhà của mình với màu sắc riêng. – Tự thực hành và trao đổi kết quả với bạn cùng lớp. * Qua tiết dạy tôi được sự góp ý của các đồng nghiệp rút ra được một số nhận định sau: – Nội dung bài: Hướng dẫn các em cách để vẽ một ngồi nhà đơn giản. Trong tiết này tôi thống kê được số liệu như sau: Tiết Lớp Sĩ số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành 1 3A 24 60 % 30 % 10% * Ưu điểm + Giáo viên – Dạy chuẩn kiến thức kỹ năng. – Chuẩn bị phương tiện dạy học, đầy đủ. – Phương pháp dạy phù hợp, Phân bố thời gian lý thuyết và thực hành hợp lí. – Khả năng quan sát lớp tốt, giao bài tập hợp lí cho đối tượng học sinh. + Học sinh – Tập trung theo dõi bài, lắng nghe khi giáo viên giảng. – Say mê hứng thú, yêu thích môn học. – Kỹ năng thực hành nhanh nhẹn. – Thao tác chuột và bàn phím tốt. * Khuyết điểm + Giáo viên Phần cũng cố nên tạo trò chơi để học sinh ôn lại kiến thức đã học. + Học sinh – Một số em thao tác còn chậm. Giải pháp 2: Giáo viên khai thác tất cả các công cụ trong phần mềm đồ họa Paint để hướng dẫn cho học sinh. Trong phần mềm đồ họa Paint có rất nhiều công cụ hỗ trợ cho việc vẽ, thiết kế các hình ảnh phong phú và đa dạng. Vậy làm thế nào để hướng dẫn cho học sinh dễ hiểu, dễ sử dụng là một khâu vô cùng quang trọng, yêu cầu giáo viên phải nắm chắc các bước tiến hành, hướng dẫn một cách chi tiết đặc biệt là học sinh yếu, vì các em mới đầu tiếp xúc với phần mềm. Ví Dụ: Bài Vẽ hình chữ nhật, hình vuông – Để vẽ được hình như trên cần sử dụng các công cụ nào trong họp công cụ? Hộp công cụ Hộp màu Để Vẽ hình chữ nhật, hình vuông như trên ta cần sử dụng các công cụ nào, các màu nào phù hợp? nêu cách thực hiện. Giải pháp 3. Giáo viên nên khai thác đề tài mở cho học sinh Trong quá trình giảng dạy giáo viên không nên áp đặt cho học sinh phải vẽ theo mẫu trong sách giáo khoa hoặc cho học sinh vẽ theo mẫu đã cho, mà nên khai thác các đề tài mở cho học sinh vận dụng kiến thức đã học trong chương trình đồ họa Paint. Nên khai thác tối đa sự tư duy sáng tạo của học sinh. Để làm được như vậy giáo viên phải nắm được khả năng vận dụng của học sinh, nắm được cách đặt vấn đề cho học sinh đễ nhớ dễ hiểu và dễ thực hiện. Ví dụ: Em hãy sử dụng tất cả các công cụ trong phần mềm đồ họa Paint hãy vẽ bức tranh tả cảnh cánh đồng quê hương em đang vào mùa thu hoạch lúa. Như yêu cầu trên thì sẽ khai thác tối ưu việc vận dụng khả năng tư duy một cách sáng tạo để giải quyết vấn đề học sinh không bị ràng buộc và đó cũng là căn cứ để giáo viên có thể ra đề kiểm tra theo Thông tư 22/2016/TT-BGĐT vấn đề này ở mức vận dụng cao (mức 4). Chẳng hạn: Ở địa phương có cánh đồng lúa thì yêu cầu học sinh vẽ bức tranh về cách đồng lúa, ở địa phương có vườn cà phê thì vẽ bức tranh về cà phê, hoặc có thể vẽ bức tranh mô tả cảnh giờ ra chơi trường em là hợp lí nhất. Tóm lại: Khai thác đề tài mở trong chương trình đồ họa Paint cho học sinh, phải gắn liền với sự hiểu biết của học sinh, tránh gây khó khăn cho học sinh. Giờ học thực hành phần mềm đồ họa Paint của học sinh lớp 3A Trường TH Nguyễn Văn Trỗi Giải pháp 4: Sử dụng một số phần mềm hỗ trợ soạn giảng và giảng dạy, tổ chức các trò chơi nhằm cũng cố cho học sinh. Qua quá trình công tác, tôi thường sử dụng các phần mềm sau để hỗ trợ việc giảng dạy của mình. Đây là các phần mềm hay, đơn giản, dễ sử dụng. Giáo viên không chuyên công nghệ thông tin vẫn có thể sử dụng thành thạo các phần mềm này. (Có file cài đặt của các phần mềm đính kèm). – Phần mềm CamStudio: Phần mềm Camstudio để làm các đoạn phim hướng dẫn. Đây là chương trình miễn phí cho phép ghi lại toàn bộ hoạt động đang diễn ra trên màn hình của mình và xuất ra thành một đoạn phim. Bên cạnh đó, phần mềm có thể ghi âm chèn vào đoạn phim được ghi. Tải phần mềm tại trang web – Phần mềm Audacity: Phần mềm Audacity thay thế cho việc ghi âm bằng điện thoại, máy ghi âm như một số trường vẫn sử dụng. Phần mềm giúp ghi âm, thu âm, cắt nhạc, chỉnh sửa âm thanh miễn phí. Khi sử dụng với máy tính xách tay (laptop) không cần hỗ trợ thêm công cụ dùng để ghi âm mà chỉ cần ghi âm trực tiếp bằng loa có sẵn trong máy tính. Tải phần mềm tại trang web – Phần mềm LectureMAKER Phần mềm LectureMAKER là phần mềm thiết kế bài giảng e-Learning dễ sử dụng với giao diện thân thiện và mang nhiều nét tương đồng của chương trình làm slide MS PowerPoint. LectureMAKER sở hữu nhiều tính năng soạn giáo án điện tử mạnh mẽ như cho phép chèn nhiều định dạng file từ PowerPoint, Flash, PDF, nhúng trang web, video, ảnh…, hỗ trợ xuất nội dung ra nhiều định dạng như exe, web, SCORM… và đặc biệt có khả năng tương tác cao. Nhiều giáo viên khi cài đặt xong phần mềm, chưa bẻ khóa phần mềm thì khi xuất ra nhiều định dạng sẽ bị lỗi. Vì vậy, để sử dụng được hết các tính năng của phần mềm nên bẻ khóa phần mềm sau khi cài đặt. Cách bẻ khóa phần mềm như sau: Sau khi cài đặt xong phần mềm, nên đóng tất cả phần mềm lại. Copy file LM chúng tôi vào thư mục LectureMAKER2 theo đường dẫn sau: C/ Program Files/ DaulsSoft/ LectureMAKER2 Chạy file LM chúng tôi đợi khoảng 30 giây nhấn Done. – Phần mềm quản lý học sinh NetOpSchool 6.0 NetOpSchool là một phần mềm hỗ trợ giảng dạy trong trường học có chức năng nối nhiều máy tính với nhau trong một lớp học để tạo nên sự tương tác qua lại giữa máy tính của học sinh, giáo viên. Đây là một công cụ giảng dạy hiệu quả, giúp việc truyền đạt trở nên sinh động, trực quan và dễ hiểu hơn. Tải phần mềm tại Phần cũng cố là một phần quan trọng trong giờ dạy, nhằm kiểm tra kết quả của các em học sinh sau tiết học. Do vậy khuyến khích tổ chức các trò chơi sinh động hấp dẫn để kiểm tra sự hiểu biết, nắm bài của các em, như trò chơi “ô chữ”, trò chơi “chiếc nón kỳ diệu”…. Củng cố kiến thức bằng trò chơi chiếc nón kỳ diệu cho học sinh lớp 3A Trường TH Nguyễn Văn Trỗi Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp Bên cạnh việc đưa ra các giải pháp thực hiện đề tài phải có một biện pháp thực hiện cụ thể, thực hiện thực tế trên lớp học, từ đó thâm nhập tìm hiểu tinh thần học tập của học sinh. Như vậy qua các biện pháp như đã nêu trên thì biện pháp nào cũng quan trọng tuy nhiên giáo viên phải nắm bắt trình độ học sinh để có những biện pháp phù hợp với đối tượng học sinh song biện pháp “khai thác đề tài mở cho học sinh” làm biện pháp hữu hiệu nhất. Biện pháp này giúp học sinh tự khám phá, tư duy một cách sáng tạo, các em có thể thiết kế riêng cho mình một đề tài được thể hiện trên bản vẽ một cách tự do theo phong cách riêng của mình mà không phải ràng buộc theo mẫu, từ đó khai thác tối đa sự sáng tạo của học sinh dẫn đến các em yêu thích môn học, say mê hứng thú với phần mềm Paint để các em có thể trở thành những nhà kiến trúc giỏi sau này. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi và hiệu quả ứng dụng. Tổng số học sinh lớp 3A là 24 em. + Khả năng ghi nhớ lý thuyết Đánh giá học sinh Trước khi sử dụng giải pháp Sau khi sử dụng giải pháp Các bước thực hiện Các bước thực hiện Số lượng Đạt tỉ lệ Số lượng Đạt tỉ lệ Hoàn thành tốt 4 17% 10 42% Hoàn thành 9 38% 12 50% Chưa hoàn thành 11 45% 2 8% + Kĩ năng thực hành (Kĩ năng sử dụng chuột, hoàn thành bài tập theo yêu cầu của giáo viên) Đánh giá học sinh Trước khi sử dụng giải pháp Sau khi sử dụng giải pháp Thao tác trên phần mềm Thao tác trên phần mềm Số lượng Đạt tỉ lệ Số lượng Đạt tỉ lệ Hoàn thành tốt 5 21% 14 59% Hoàn thành 8 34% 9 37% Chưa hoàn thành 11 45% 1 4% Từ bảng kết quả trên cho thấy các biện pháp áp dụng vào việc dạy học Tin học ở lớp 3A trường TH Nguyễn Văn Trỗi đã trình bày ở trên giúp các em không những nắm vững được kiến thức cơ bản về tin học mà còn giúp các em học tập phấn khởi hơn, tiếp thu bài nhanh hơn, mạnh dạn hơn, sáng tạo trong học tập, say mê hứng thú, yêu thích môn học hơn. Thông qua việc tha

Skkk Một Số Biện Pháp Dạy Tốt Môn Tin Học Lớp 3

SKKK: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY TỐT MÔN TIN HỌC LỚP 3Tác giả: Võ Thanh HùngĐơn vị công tác: Trường Tiểu Học Bồng Sơn A. MỞ ĐẦUI. Đặt vấn đề1. Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyếtNgày nay với sự phát triển nhảy vọt của khoa học công nghệ nói chung,của ngành tin học nói riêng, với những tính năng ưu việt của nó là một phầnkhông thể thiếu được của nhiều ngành trong cuộc sống xây dựng và phát triển xãhội. Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mởcửa và hội nhập, hướng tới nền kinh tế tri thức của nước ta nói riêng và thế giớinói chung.Chính vì xác định được tầm quan trọng như vậy, nên ngành giáo dục đãđưa môn tin học vào trong nhà trường và ngay từ bậc tiểu học, học sinh được tiếpxúc với môn tin học để làm quen dần với lĩnh vực công nghệ thông tin. Môn tinhọc ở bậc tiểu học bước đầu giúp học sinh làm quen với một số kiến thức ban đầuvề công nghệ thông tin như: Một số bộ phận của máy tính, một số thuật ngữthường dùng, rèn luyện một số kỹ năng sử dụng máy tính Tuy nhiên nội dung dạy học môn tin học ở tiểu học nói chung và nhất làlớp 3 nói riêng là rất mới mẻ đối với học sinh. Để hỗ trợ việc dạy học tốt các nộidung này, sách giáo khoa cũng có khá nhiều cách tập gõ bàn phím, vẽ tranh, tô

màu. Nhiều giáo viên tâm huyết cũng đã sưu tầm và sử dụng thêm các phươngtiện bổ trợ như tranh, ảnh, sơ đồ, phần mềm Giáo viên hướng dẫn học sinh quansát, kèm theo lời mô tả, giải thích, với mục đích giúp cho học sinh hiểu bài hơn.Tuy nhiên, đối với những nội dung khó, yêu cầu dài, vẽ những hình phức tạp Mà giáo viên chỉ dùng lời nói và các hình ảnh để minh họa thì học sinh vẫn rấtTrang 1khó hình dung, việc tiếp thu bài của các em vẫn hạn chế. Nhiều học sinh rất thuộcbài mà không hiểu được bản chất của các sự vật, hiện tượng, kĩ năng gõ bàmphím chưa nhanh nhạy, còn sai sót, vận dụng thực tế chưa tốt. Chính vì lẽ đó bảnthân tôi là giáo viên dạy bộ môn tin học, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Một sốbiện pháp dạy tốt môn tin học lớp 3 “2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mớiNâng tầm vận dụng kiến thức của học sinh rộng hơn, đồng thời nâng caotính hiệu quả, thiết thực trong soạn thảo văn bản phù hợp ở đối tượng học sinhlớp 3 mới bước đầu làm quen với máy tính.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tàiTrong 2 năm học 2011 – 2012 và 2012 – 2013, tại trường tiểu học Bồng Sơn.II. Phương pháp tiến hành1. Cơ sở lý luận và thực tiễn có tính định hướng cho việc nghiên cứu, tìm giải pháp của đề tài1.1. Cơ sở lý luận:Nghị quyết 40/2000/QH10 và chỉ thị 14/2001/CT-TTg ngày 9/12/2000 vềviệc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông: Nội dung chương trình là tích cựcáp dụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, ứng dụng CNTTvào dạy và học.Thông tư số 14/2002/TT-BGD&ĐT ngày 1/4/2002 về việc hướng dẫn quántriệt chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông.Chỉ thị 29/CT của Trung Ương Đảng về việc đưa CNTT vào nhà trường.Trang 2Công văn số: 4987/BGDĐT-CNTT ngày 02/8/2012 về việc Hướng dẫnthực hiện nhiệm vụ công nghệ thông tin năm học 2012- 2013. 1.2. Cơ sở thực tiễn:Nhà trường đã có một phòng máy vi tính để cho học sinh học nhưng vẫnhạn chế, số máy vi tính để các em thực hành còn ít. Vì vậy cũng gây một số khókhăn cho việc học tập của học sinh. Môn tin học mới chỉ là môn tự chọn trong chương trình bậc tiểu học nênchương trình và sự phân phối chương trình bước đầu có sự thống nhất và đanghoàn chỉnh. Hiện nay trên cùng một huyện nhưng nhiều trường vẫn chưa có đủđiều kiện để đưa môn học này vào chương trình nên việc học tập và rút kinh

nghiệm còn hạn chế.Đa số các em học sinh chỉ được tiếp xúc với máy tính ở trường là chủ yếu,do đó sự tìm tòi và khám phá máy vi tính với các em còn hạn chế, nên việc họctập của học sinh vẫn còn mang tính chậm chạp do chưa được thực hành nhiều.2. Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải phápBản thân tôi đã tìm tòi phần mềm luyện gõ bàn phím RapidTyping (NgoàiSGK) để các em tập gõ bàn phím. Phần mềm học vẽ ( Paint) để học sinh biết cáchtô màu và vẽ tranh. Tất cả nội dung trên được vận dụng vào trong giảng dạy hằngngày ở lớp, ở trường tiểu học Bồng Sơn.Trang 3B. NỘI DUNGI. Mục tiêu Hình thành cho học sinh một số phẩm chất và năng lực cần thiết cho học sinh như: + Góp phần hình thành và phát triển tư duy thuật giải.+ Bước đầu hình thành năng lực tổ chức và xử lý thông tin.+ Có ý thức thói quen sử dụng máy tính trong hoạt động học tập, lao động xã hội hiện đại.II. Mô tả giải pháp của đề tài1. Tính thuyết minh mới1.1. Sử dụng phần mềm luyện gõ bàn phím RapidTyping (Ngoài SGK)Trong giảng dạy và nghiên cứu tôi thấy ngoài việc hướng dẫn học sinh gõbàn phím như sách giáo khoa hiện hành còn nhiều bất cập, rất khó cho học sinhlớp 3, các em lúng túng, chậm chạp dẫn đến tiết dạy mất nhiều thời gian. Tôi đãhướng cho học sinh khi bắt đầu làm quen với với máy tính và muốn tập làm quenvới cách gõ 10 ngón trên bàn phím, bạn phải tận dụng hết 10 ngón tay của mìnhđể phối hợp với nhau trên bàn phím. Chính vì thế không cách nào khác hơn làluyện tập để các ngón tay hiểu nhau và không tranh giành vị trí với nhau. Đây làphần mềm mới và đưa vào thực hiện có hiệu quả cao do đó cần có các yêu cầusau:Giáo viên có kế hoạch bài dạy, xây dựng ý tưởng, thiết kế bài dạy phù hợp:Ngay từ bài học đầu tiên trong chương trình học tin học, giáo viên phải xácđịnh rõ cho học sinh nhận biết các bộ phận của máy tính và tác dụng của các bộphận đó bằng cách cho học sinh quan sát ngay trong giờ giảng lý thuyết và thựchành.Trang 4Phương pháp chung để luyện tập gõ bàn phím là qui định vị trí (các phím)cho các ngón tay của học sinh mới tiếp cận với bàn phím cần phải tuân theo quiđịnh sau: Bước 1: Đầu tiên phải giúp các em ghi nhớ các vị trí phím của cấu trúckeyboard tổng quát. Thông qua bài học: “Làm quen với bàn phím”

Bước 2: Ghi nhớ 8 vị trí đặt ngón tay quan trọng (quan trọng nhất) – Với bàn tay trái : Ngón út đặt lên phím A, ngón áp út đặt lên phím S, ngón giữa đặt lên phím D, ngón trỏ đặt lên phím có gai F.– Với bàn tay phải : Ngón trỏ đặt lên phím có gai J, ngón giữa đặt lên phím K, ngón áp út đặt lên phím L, ngón út đặt lên phím ; .Trang 5Hai ngón cái bàn tay trái và bàn tay phải đặt ở phím cách.* Lưu ý trên hai phím F & J có một gờ nhở nổi lên để dễ đặt vào đúng vị thế ban đầu của hai ngón trỏ (còn gọi là hai phím có gai F & J).Hình sau mô tả cách đặt tay lên bàn phím:Khi thực hiện, ngón trỏ trái – Út trái và trỏ phải – Út phải không đượcphép đồng thời rời vị trí nhằm để định vị bàn phím cho các ngón khác. Ví dụ: Nếu ngón út phải rời vị trí thì trỏ phải phải đặt hờ vào vị trí J vàngược lại. Dao diện màn hình luyện tập gõ bàn phím của phần mềm RapidTypingTrang 6Tương tự như phần mềm Mario, RapidTyping cũng cung cấp lần lượt cácmức độ khó dễ để dành cho người bắt đầu làm quen.Tương ứng với mỗi ký tự trên bàn phím, RapidType sẽ hiển thị cách thứcđể sử dụng ngón tay nào cho phù hợp và đặt tay sao cho hợp lý. Từ đây, các emcó thể dần học được cách để sử dụng đồng thời cả 10 ngón tay để gõ phím.Sau khi hoàn tất 1 bài tập, RapidType sẽ hiển thị chi tiết khả năng gõ phímcủa bạn (tốc độ gõ, số lần gõ sai…) và đánh giá trình độ của bạn là tốt, hoặc chỉ làmới bắt đầu.Trang 7Để thay đổi mức độ khó của bài tập, các em chọn từ menu bên trái, sẽ baogồm 3 cấp: Beginner (dành cho người bắt đầu), Intermediate (dành cho người đãdần làm quen) và Expert (dành cho ai đã thành thạo). Tùy thuộc vào cấp độ củamình, các em có thể thử sức xem tốc độ gõ phím của mình đang đạt đến mức nào.Với cách gõ như trên và vận dụng phần mềm soạn thảo văn bản (Word):Học sinh ứng dụng từ các môn học tập làm văn để trình bày đoạn văn bản sao chophù hợp, đúng cách. Ứng dụng soạn thảo văn bản để soạn thảo giải những bàitoán đã học ở bậc tiểu học có hiệu quả cao nhất.Tính mới của cách gõ bàn phím theo phần mềm RapidTyping nó ưu việt vàhiệu quả hơn cách luyện gõ theo chương trình sách giáo khoa hiện hành ở chỗ là: – Giao diện của RapidTyping đơn giản, dễ sử dụng. Ngoài ra khi các emtiến hành tập gõ thì phần mềm có hình ảnh hai bàn tay trái và phải đặt ngay tạibàn phím, khi gõ phím nào thì ngón táy ấy tự vươn ra gõ phím đó. Điều này giúpTrang 8các em mới tiếp súc với bàn phím có thể nhìn thấy và làm theo hướng dẫn gõphím một cách dễ dàng, tránh trường hợp các em gõ ngón tay sai phím.– Một ưu điểm thứ hai của phần mềm RapidTyping là: Trên giao diện luyệntập gõ của phần mềm, hình ảnh của bàn phím được hiện ra trực tiếp, giúp các emcó thể vừa luyện gõ, vừa nhớ vị trí các phím trên bàn phím dễ dàng.1.2. Cách thức tổ chức một cách khoa học khi hướng dẫn học sinh thựchành các bài tập vẽ:Giáo viên dạy tô màu nền bằng nháy nút phải chuột, và tô màu vẽ bằng núttrái chuột nhưng học sinh chưa hiểu được màu sẽ được tô như thế nào. Chỉ khithực hành học sinh mới thực sự hiểu rằng tô màu nền ta nhấn nút chuột phải, khitô màu vẽ ta nhấn nút chuột trái.Giáo viên nên tận dụng những phương tiện sẵn có của môn tin học áp dụngvào trong giảng dạy lý thuyết để học sinh dễ quan sát và nhận biết, giúp cho buổithực hành có hiệu quả hơn. Hệ thống các bài tập thực hành phù hợp với nội dungcủa bài giảng, liên hệ với một số môn học khác trong chương trình học của cácem.Các bài tập không quá dài, nâng dần từ mức đơn giản đến phức tạp, ngoàira giáo viên cũng phải kết hợp những bài đã học trước để học sinh ôn lại và vậndụng tô màu một cách có hệ thống.Phần mềm học vẽ ( Paint): Học sinh ứng dụng môn mỹ thuật, học được từmôn mỹ thuật để vẽ những hình ảnh sao cho sinh động, hài hoà thẩm mĩ.Trong chương trình tin học ở bậc tiểu học được phân bố xen kẽ giữa cácbài vừa học, vừa chơi. Giáo viên giao bài tập thực hành, sau đó hướng dẫn trực tiếp trên máy bằngphần mềm Netopshool thay cho đèn chiếu để học sinh dễ quan sát thao tác củagiáo viên trong thực hành, nếu em học sinh nào chưa thực hành được, giáo viênTrang 9lại hướng dẫn cho em đó hoặc bắt tay em đó và hướng dẫn các thao tác ( gọi làcầm tay chỉ việc cho từng em).Ví dụ 1: Trong bài thực hành “Tập tô màu”. Hình a Hình bỞ hình a là một chiếc xe chưa được tô màu, học sinh phải vận dụng kiếnthức đã học để tô màu hình a sao cho giống hình b bằng màu nền và màu vẽ. Lúcnày các em mới nhận ra được tô màu nền là nháy nút chuột nào, tô bằng màu vẽem phải nháy nút chuột nào. Ngoài kiến thức tô màu học sinh phải vận dụng cáchphóng to thu nhỏ để tô vào những chỗ nhỏ nhất.Ví dụ 2: Trong một giờ thực hành với bài vẽ hình chiếc lá trong bài học:“Vẽ đường cong”. Trang 10

Trang 17 Bồng Sơn, ngày … tháng … năm 2013

Hyip, Make Money Online, Crypto, Bitcoin,: Đề Tài Skkn Môn Toán Lớp 3 In Luôn: Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Phần Số Học Môn Toán Lớp 3

Đề tài SKKN môn toán lớp 3 in luôn: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT PHẦN SỐ HỌC MÔN TOÁN LỚP 3

Môn toán bao gồm những kiến thức về số học, đo lường, hình học và đại số. Đây là những kiến thức cơ bản mà học sinh cần nắm vững để tạo tiền đề cho các em học tốt hơn môn toán ở những lớp trên, học tốt môn toán còn làm cơ sở cho việc tính toán đúng, chính xác trong cuộc sống của các em sau này.

Việc học về cấu tạo số, ôn tập phép cộng, phép trừ trong phạm vi 1000, phép nhân, phép chia, cách tìm x, tìm y ;… sẽ tạo cho các em biết so sánh, tổng hợp, biết những thao tác tư duy cơ bản để hình thành trí tuệ và năng lực sáng tạo cho học sinh.

Trong môn toán nắm vững những kiến thức các em nắm chưa vững sẽ dẫn đến các em không học tốt được môn toán.

Quanhiều năm dạy lớp 3, tôi nhận thấy một số học sinh còn nhiều hạn chế về việc học phần số học và đại số trong môn toán từ đó dẫn đến các em học chưa tốt môn Toán.

Làm thế nào để giúp học sinh học tốt phần số học và đại số ở môn toán đối với tôi là rất cần thiết, rất được quan tâm. Tôi đã cố gắng suy nghĩ tìm cách giải quyết vấn đề trên. Nếu giải quyết được vấn đề trên sẽ giúp các em học tốt hơn môn toán ở những lớp trên nhất là cho các em vận dụng thực tế vào cuộc sống.

Đề tài tôi viết đã được nói nhiều trong sách giáo khoa chỉnh lí môn toán ở trường tiểu học và sách một số vấn đề về môn toán ở bậc Tiểu học đồng thời cũng được nhiều giáo viên nghiên cứu viết. Tuy nhiên với thời gian dạy lớp 3, tôi đã tùy theo đặc điểm tình hình cụ thể của lớp, của từng năm học mà có những giải pháp chung nhằm giúp cho các em học tốt hơn môn Toán lớp 3. Đó cũng chính là vấn đề tôi chọn đề tài “MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT PHẦN SỐ HỌC MÔN TOÁN LỚP 3” Đề tài có thể áp dụng cho học sinh khối lớp 3 trong việc dạy và học toán ở trường Tiểu học THTH.

Đề tài SKKN môn toán lớp 3 in luôn: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT PHẦN SỐ HỌC MÔN TOÁN LỚP 3

Áp dụng: Viết sáng kiến kinh nghiệm Toán lớp 3, viết đề tài NCKHSPUD Toán lớp 3, Viết tiểu luận PPGD Toán lớp 3

SKKN, SKKN Toán 3, NCKHSPUD, NCKHSPUD Toán 3, SKKN Tiểu học, NCKHSPUD Tiểu học, SKKN Toán 3

Đề Tài Một Số Kinh Nghiệm Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh Qua Cụm Văn Bản Nhật Dụng Trong Chương Trình Ngữ Văn 9

Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy của bản thân và việc dự giờ đồng nghiệp, qua nhiều năm, tôi thấy việc dạy – học các văn bản nhật dụng trong chương trình tại đơn vị chưa thật phát huy và khơi dậy tối đa các năng lực của học sinh. Điều đó, thể hiện ở những tồn tại sau: – Dạy học đọc – hiểu còn mang nặng tính truyền thụ một chiều những cảm nhận của giáo viên về văn bản. Nhìn chung vẫn là chú trọng dạy kiến thức hơn là hình thành kỹ năng. – Dạy học tích hợp đã được chú trọng, tuy nhiên, dạy học tích hợp vẫn mang tính khiên cưỡng, nội dung tích hợp vào bài học như bảo vệ môi trường, giáo dục kỹ năng sống một cách cứng nhắc. Chưa làm cho học sinh huy động kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực để giải quyết các nhiệm vụ học tập. Việc tích hợp nội môn và tích hợp liên môn chưa thực sự hiệu quả, chính vì vậy chưa giúp học sinh hình thành kiến thức, kỹ năng mới và tất nhiên các năng lực của học sinh chưa được phát triển. nhận quan điểm bất đồng để hình thành quan điểm cá nhân. – Phương pháp đóng vai thực sự là phương pháp chưa được giáo viên chú trọng. Nếu có thực hiện thì chỉ là dạng bài viết, việc xử lí tình huống giả định, trình bày một vấn đề chưa được quan tâm đúng mức. Vì vậy mà học sinh ít có cơ hội bày tỏ thái độ, chưa hững thú, chưa hình thành được các kỹ năng và năng lực của người học. Mặc dù đã có giáo viên thực hiện thay đổi phương pháp dạy học, thay đổi cách thức tổ chức giờ học song kết quả chưa đạt được như mong muốn mà nguyên nhân là: + Về phía giáo viên: Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng không được thực hiện một cách triệt để, vẫn còn nặng về phương pháp truyền thống truyền thụ một chiều. Bên cạnh đó việc ứng dụng CNTT trong dạy học cũng hạn chế – một phần là do kỹ năng sử dụng máy chiếu hay bảng thông minh của họ hạn chế, vì vậy họ ngại áp dụng vì mất thời gian. + Về phía học sinh: Học sinh ở trường THCS Lê Văn Tám chủ yếu là học sinh vùng nông thôn nên việc tiếp cận và tìm tòi những thông tin thời sự phục vụ cho bài học còn hạn chế. Một số học sinh chưa có phương pháp học tập phù hợp, chưa tích cực trong việc tìm tòi nghiên cứu bài học. + Cơ sở vật chất của nhà trường đặc biệt là CNTT bị xuống cấp dẫn đến không đáp ứng tốt cho việc đổi mới phương pháp dạy học. Yêu cầu đặt ra là phải thay đổi, thay đổi cả ở người dạy và ở người học để sau mỗi bài dạy – học học sinh không chỉ có được hiểu biết (kiến thức) mà còn phải phát triển được năng lực bản thân , có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu về đổi mới giáo dục. 2.1. Thuận lợi- khó khăn. * Thuận lợi: -Các hoạt động chuyên môn của nhà trường luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao từ phía lãnh đạo Phòng giáo dục và đào tạo huyện Krông Ana. -Việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá được lãnh đạo nhà trường quan tâm chỉ đạo thực hiện một cách tích cực, có hệ thống, bám sát chủ trương đổi mới nền giáo dục của Đảng và nhà nước. -Đội ngũ giáo viên trẻ khỏe và có trình độ chuyên môn vững, được đào tạo trên chuẩn và đã được tham gia các lớp tập huấn về chuyên môn do Phòng giáo dục và đào tạo tổ chức hàng năm. -Đa số học sinh học tập tích cực và có sự hợp tác chặt chẽ với giáo viên trong quá trình dạy – học. -Cơ sở vật chất được đầu tư: Mạng, máy tính, máy chiếu được trang bị phục vụ dạy học, học sinh được trang bị kiến thức về vi tính để khai thác thông tin trên mạng Internet. * Khó khăn: – Một số giáo viên chưa mạnh dạn thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, dạy học còn mang nặng cách dạy truyền thống truyền thụ kiến thức mà chưa chú ý đến phát triển năng lực ở học sinh. – Một số học sinh chưa chăm học, thời gian dành cho việc học còn ít. Một số phụ huynh cũng chưa thực sự quan tâm đến việc học của con cái. Họ còn có suy nghĩ phó mặc cho nhà trường, “tất cả nhờ thầy”. – Nhiều gia đình học sinh chưa có máy tính, một số học sinh việc khai thác nguồn thông tin trên mạng để phục vụ cho bài học còn hạn chế. – Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy học chưa đáp ứng tốt cho nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học. 2.2. Thành công- hạn chế. – Thành công: Dạy học phát triển năng lực học sinh sẽ tạo được nhiều cơ hội hơn cho học sinh thể hiện mình. Với mỗi hoạt động học sinh sẽ nhận thấy vai trò, vị trí của cá nhân trong tập thể, từ đó các em sẽ tự tin và cố gắng hơn trong quá trình học tập. Phương pháp này sẽ kích thích được mọi học sinh tích cực làm việc đặc biệt là những học sinh yếu bởi chính những học sinh này sẽ được giáo viên và các bạn cùng nhóm để ý đến nhiều hơn. Khi phát triển được các năng lực trong quá trình học tập tức là học sinh thấy rõ vai trò vị trí của mình, từ đó sẽ biết nỗ lực để hoàn thành nhiệm vụ, biết hành động vì người khác và đó chính là một cách để hoàn thiện nhân cách người học sinh – Hạn chế: Để thực hiện phương pháp dạy học này người giáo viên cần mất nhiều thời gian hơn để chuẩn bị cho một tiết học. Giáo viên phải sử dụng tốt một số phần mềm ứng dụng hỗ trợ trong dạy học (Kỹ năng ứng dụng CNTT) 2.3. Mặt mạnh, mặt yếu. Dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh có nhiều điểm mạnh sau đây: Thứ nhất là giáo viên dễ dàng hơn trong việc áp dụng những phương pháp dạy học tích cực, dễ dàng hơn trong việc triển khai các đơn vị kiến thức. Việc ứng dụng CNTT sẽ làm cho tiết học trở nên hấp dẫn, cuốn hút học sinh hơn. Thứ hai là học sinh được thực hành, luyện tập nhiều hơn. Việc luyện tập không chỉ thực hiện trên lớp mà còn có thể luyện tập áp dụng kiến thức, mở rộng liên hệ trong cuộc sống đời thường. Mặt khác việc luyện tập mang tính liên tục và có hệ thống. Thứ ba là qua cách thức tổ chức tiết học bằng các phương pháp làm việc nhóm thì học sinh sẽ tạo được mối liên hệ giữa các thành viên trong nhóm và trong lớp, đồng thời khả năng hợp tác giải quyết vấn đề sẽ được nâng cao. Mặt yếu: Việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực bắt buộc cả giáo viên và học sinh phải có sự chuẩn bị hết sức chu đáo, học sinh phải chủ động và tích cực hợp tác trong mọi hoạt động nếu không tiết học dễ dẫn đến nhàm chán. 2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động.. – Giáo viên chưa thực hiện đổi mới phương pháp dạy học một cách triệt để. – Một số phương tiện CNTT hỗ trợ dạy học đã bị xuống cấp, việc khai thác thông tin chưa hiệu quả. – Đối tượng học sinh là vùng nông thôn nên thời gian các em dành cho việc học ở nhà chưa được như yêu cầu vì còn phải đi làm giúp bố mẹ. 2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề thực trạng mà đề tài đặt ra. Trước yêu cầu đổi mới một cách căn bản và toàn diện của nền giáo dục để phù hợp với xu thế hội nhập, yêu cầu giáo viên phải có sự thay đổi về quan điểm, về cách tiếp cận trong việc lựa chọn phương pháp dạy học, hình thức tổ chức lớp học cũng như thay đổi cách đánh giá học sinh – dạy học gắn với phát triển năng lực. Muốn làm được điều đó trước hết người giáo viên phải có sự thay đổi trong cách tiếp cận, phải giúp cho học sinh làm chủ quá trình học tập. Đổi mới về phương pháp dạy học là yêu cầu quan trọng. Kết hợp tốt các phương pháp dạy học truyền thống với các phương pháp dạy học tích cực. Đổi mới về cách thức tổ chức giờ dạy, học sinh phải được hoạt động, được thể hiện mình chứ không phải là việc giáo viên cứ “ra rả” giảng, bình còn học sinh thì cứ như “đàn gảy tai trâu”. Một trong những mục đích cần hướng đến khi dạy học văn bản nhật dụng là học sinh phải nhận thức được vấn đề được nói đến nó đã và đang diễn ra như thế nào, mỗi người cần phải làm gì và làm như thế nào để giải quyết vấn đề đặt ra một cách phù hợp. Ứng dụng CNTT là điền kiện tốt để giáo viên thể hiện phương pháp dạy học tích cực nhằm đáp ứng yêu cầu đó. Học sinh không chỉ được nghe, được biết mà còn phải được thấy. Có như vậy học sinh mới có thể có những rung cảm, có cách nhìn cách đánh giá vấn đề mang tính nhân văn. Ví dụ: Khi dạy bài “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình”, giáo viên có thể cho học sinh quan sát bức ảnh của tác giả Nick Ut về người di cư và cậu bé 3 tuổi người Syria bị thiệt mạng trên bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ (năm 2015). Qua đó học sinh sẽ có quan điểm đánh giá thực tiễn hơn và chắc chắn sẽ là sự đồng cảm với những người là nạn nhân của chiến tranh, tố cáo tội ác của chiến tranh, bảo vệ hòa bình. Việc ứng dụng CNTT được xem là điều kiện tốt nhất để kích thích học sinh học tập. Mặt khác sẽ giúp cho giáo viên triển khai nội dung bài học một cách dễ dàng hơn. 3. Giải pháp, biện pháp. 3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp. – Các giải pháp được nêu ra nhằm giúp giáo viên có được cách tổ chức giờ học, lựa chọn những phương pháp dạy học cũng như việc ứng dụng CNTT phù hợp trong quá trình dạy học phần văn bản nhật dụng lớp 9 từ đó kích thích khả năng tư duy, tìm tòi và liên hệ vấn đề với thực tiễn cuộc sống. – Nâng cao hiệu quả trong công tác giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, góp phần hoàn thiện nhân cách ở học sinh. 3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp. Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống. Các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại luôn là những phương pháp quan trọng trong dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, chẳng hạn như kỹ thuật mở bài, kỹ thuật trình bày, giải thích  trong khi thuyết trình, kỹ thuật đặt câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập. Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, đặc biệt là những phương pháp và kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh . Giải pháp 1: Làm tốt khâu chuẩn bị cho bài dạy. + Chuẩn bị kiến thức dạy học: + Chuẩn bị phương tiện dạy học: + Xác định mục tiêu bài học: Trong kế hoạch bài dạy giáo viên cần xác định rõ các yêu cầu về Kiến thức, kỹ năng, thái độ và các năng lực hướng đến. Bằng việc xác định mục tiêu này trong quá trình dạy học giáo viên sẽ có thể lựa chọn được phương pháp giảng dạy phù hợp , cách thức tổ chức lớp học theo đúng mục tiêu đã định. + Xác định các phương pháp dạy học theo đặc thù bộ môn Bên canh những phương pháp dạy học truyền thống cần chú ý các phương pháp dạy học tích cực như: phương pháp trực quan, phương pháp làm việc theo nhóm, phương pháp đóng vai Giải pháp 2. Thực hiện giờ dạy học theo hướng mở, vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực: Tính chất của văn bản nhật dụng là tính thời sự do vậy việc dạy học văn bản này giáo viên không nên quá đặt nặng vấn đề về nghệ thuật mà cần làm cho học sinh hiểu được “vấn đề’ mà văn bản đề cập đã và đang diễn ra như thế nào? nó có tác động gì đến cuộc sống xã hội nói chung và đối với bản thân học sinh nói riêng từ đó học sinh có thể hình thành được những quan điểm đánh giá riêng của mình. Do vậy để thực hiện một giờ dạy học văn bản nhật dụng phát huy được tính tích cực cả học sinh và làm cho một tiết học trở nên sinh động, nhẹ nhàng giáo viên cần làm tốt các nội dung sau: + Mở đầu bài học một cách hấp dẫn. Muốn dạy tốt phần văn bản này, giáo viên phải luôn luôn tìm tòi qua thực tế, lịch sử, qua tin tức thời sự quốc tế, trong nước cập nhật, để từ đó áp dụng vào từng bài cụ thể qua cách giới thiệu bài (mở bài), cách liên hệ hợp lý ngay từng phần trong bài học mới có thể tạo và gây hứng thú cho học sinh khi học. mang ý nghĩa cập nhật mà còn mang ý nghĩa lâu dài, giáo viên có thể vào bài như sau: Ở Paris có 1 bức tường đặc biệt có hình ảnh của những con người đã làm nên thế kỉ 20, trong đó có Bác Hồ của chúng ta (giáo viên trình chiếu hình ảnh) Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng dân tộc vĩ đại mà còn danh nhân văn hóa thế giới. Bởi vậy phong cách sống và làm việc của Bác không chỉ là phong cách sống và làm việc của người anh hùng dân tộc vĩ đại mà còn là một nhà văn hóa lớn, một con người của nền văn hóa tương lai Bài viết của nhà giáo, nhà lý luận phê bình văn học Lê Anh Trà đem đến cho chúng ta cái nhìn đầy đủ hơn về phong cách của Người Bài 2: Văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” (G.G_MácKét) Có thể vào bài: Thế kỉ XX đánh đấu sự phát triển nhảy vọt tiến bộ về công nghệ khoa học với phát minh đầu tiên về nguyên tử hạt nhân, đồng thời là phát minh loại vũ khí hủy diệt loài người ghê gớm nhất. Bằng chứng cụ thể: Tháng 8/1945, 2 quả bom nguyên tử của Mĩ ném xuống 2 thành phố Hirôsima và Nagasaki đã hủy diệt 2 triệu người Nhật Bản mà đến bây giờ còn để lại nhiều di chứng thương tâm ( hình ảnh). Tiếng nói của nhà văn Nam Mĩ, G. Máckét giúp chúng ta thấy rõ nguy cơ về chiến tranh hạt nhân và chúng ta cần phải làm gì để đấu tranh cho một thế giới hòa bình + Tổ chức giờ dạy bằng sự kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp: Phương pháp thuyết trình: Ví dụ, với phương pháp thuyết trình của học sinh, ở văn bản “Phong cách Hồ Chí Minh”, giáo viên yêu cầu học sinh tìm hiểu ở nhà những mẫu chuyện kể về phong cách sống, làm việc giản dị của Bác. Trên lớp, học sinh chia sẻ những hiểu biết về đức tính giản dị của Bác, làm giờ học sinh động, sôi nổi hơn. Nếu phương thức lập luận kết hợp với biểu cảm là hình thức cuốn hút người đọc của văn bản: “Đấu tranh cho một thế giới hoà bình ” thì dạy học tương ứng sẽ theo hướng khám phá lí lẽ và chứng cớ thể hiện quan điểm được nêu ra trong văn bản và qua đó là thái độ nhiệt tình của tác giả. Phương pháp đàm thoại: Ví dụ : GV có thể sử dụng câu hỏi đàm thoại qua máy chiếu: – Em hiểu như thế nào về ” Bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hoà bình, công bằng”? – Ý tưởng của tác giả về việc mở “Một nhà băng lưu trữ trí nhớ có thể tồn tại được sau thảm hoạ hạt nhân” bao gồm những thông điệp gì? – Em hiểu gì về tác giả từ những thông điệp đó? + Học sinh trình bày quan điểm. + Giáo viên giảng tóm tắt qua máy chiếu: – Bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hoà bình, công bằng đó là tiếng nói của công luận thế giới chống chiến tranh, là tiếng nói yêu chuộng hoà bình của nhân dân thế giới. – Thông điệp về một cuộc sống đã từng tồn tại trên trái đất và về những kẻ đã xoá bỏ cuộc sống trên trái đất bằng vũ khí hạt nhân. – Tác giả là người yêu chuộng hoà bình, quan tâm sâu sắc đến vũ khí hạt nhân với niềm lo lắng và công phẫn cao độ. Dạy học văn bản nhật dụng chú ý các dấu hiệu cách thức biểu đạt này không chỉ vì sự cần thiết trong kiến thức đọc – hiểu mà còn vì yêu cầu của dạy học tích hợp trong mọi bài học Ngữ văn. Phương pháp hoạt động nhóm: Ví dụ, văn bản “Đấu tranh vì một thế giới hòa bình”, giáo viên cho học sinh làm việc nhóm trong 4 phút với câu hỏi: “Nếu được là đại diện cho trẻ em Việt Nam trình bày yêu cầu, nguyện vọng của tại hội nghị cấp cao thế giới vì hòa bình, em sẽ nói gì?” Sau đó, mời đại diện (bất kì một học sinh nào trong nhóm) lên trình bày trước lớp như một diễn giả thực thụ. Liên hệ mở rộng: Giáo viên sử dụng các tư liệu bằng tư liệu chữ viết, hình ảnh, đoạn phim để làm rõ vấn đề. Các nội dung liên hệ phải mạng tính thời sự để hướng học sinh đến việc nhận thức vấn đề trong thực tiễn. Giúp học sinh thấy được mối quan hệ từ kiến thức của bài học với cuộc sống. Ví dụ: văn bản “Đấu tranh vì một thế giới hòa bình”, trong luận điểm 1: Hiểm họa của chiến tranh hạt nhân, giáo viên đưa ra dẫn chứng: Trong cuộc chiến tranh phá hoại ở nước ta đế quốc Mĩ đã rải xuống Việt Nam 19 triệu gallon chất độc, trong đó 7 triệu gallon chất diệt cỏ, 12 triệu gallon chất độc màu da cam. Trong luận điểm 2: Đoàn kết ngăn chặn chiến tranh hạt nhân vì một thế giới hòa bình là nhiệm vụ của mọi người. Giáo viên đưa ra các dẫn chứng: Năm 2006 Liên hợp quốc, Nga và nhân dân thế giới phản đối kịch liệt vụ thử thành công hạt nhân của CH nhân dân Triều Tiên (sau 4 năm chuẩn bị dưới lòng đất) bất chấp mọi sức ép của cộng đồng thế giới. Tháng 4/2003, IRan đã từng bị thế giới trừng phạt vì sử dụng vũ khí hạt nhân. Tháng 11/2007, IRan vẫn sử dụng chất phóng xạ Uranium để phát triển vũ khí hạt nhân hiện đang bị lên án kịch liệt về vấn đề này. Rõ ràng hiện nay cả thế giới rất căm phẫn và lên án một số nước còn đang chạy đua sử dụng vũ khí hạt nhân để thực hiện mục đích lợi nhuận của mình làm ảnh hưởng đến hòa bình của nhân loại. Học sinh cần được hoạt động tích cực trong bài học, có cơ hội được trình bày hiểu biết của mình, nói lên tiếng nói suy nghĩ của cá nhân mình thì mới có thể hiểu được những ý nghĩa thiết thực mà các văn bản nhật dụng này mang lại. Cùng với đó, sử dụng các mẩu chuyện, dẫn chứng mang tính thực tế, lịch sử (áp dụng tùy vào nội dung từng bài), để kích thích gây tò mò, hứng thú, say mê cho học sinh. Giúp học sinh hiểu bài dễ hơn, nhanh hơn qua phần giới thiệu bài và liên hệ ngay từng phần của bài học. Để đạt được những yêu cầu, kết quả đó, giáo viên phải luôn luôn tìm tòi, lắng nghe, Để phát huy tối đa hiệu quả giờ học, có thể sử dụng những phương pháp tích cực, sau đây: Phương pháp đóng vai: Giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm, đóng vai nhân vật trong tác phẩm tự sự, kịch hoặc xử lý một tình huống giao tiếp giả định. Phương pháp này rất phù hợp khi học bài “Phong cách Hồ Chí Minh” và bài “Tuyên bố thế giới về sự sống còn quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em” Ví dụ: Đóng kịch về Bác Hồ: Đóng vai Bác Hồ giản dị trong bữa ăn; trong lúc làm việc; trong cách nói với bộ đội; với nhân dân… Để tổ chức hoạt động này giáo viên gợi ý cho học sinh chọn nội dung phù hợp, xây dựng một đoạn kịch bản và thực hiện đóng vai. Hoạt

Bạn đang xem bài viết Đề Tài Một Số Kinh Nghiệm Trong Giảng Dạy Chương Trình Phần Mềm Đồ Họa Paint Môn Tin Học Lớp 3 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!