Xem Nhiều 6/2023 #️ Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Nền Nông Nghiệp Bền Vững Của Việt Nam # Top 9 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 6/2023 # Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Nền Nông Nghiệp Bền Vững Của Việt Nam # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Nền Nông Nghiệp Bền Vững Của Việt Nam mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nông nghiệp Việt Nam đóng vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt góp phần xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn. Nông nghiệp đã trở thành ngành sản xuất hàng hoá quan trọng, tham gia ngày càng sâu sắc vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nền nông nghiệp của Việt Nam đã và đang chuyển mạnh từ sản xuất theo mục tiêu số lượng sang hiệu quả và chất lượng, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và bền vững. Phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn luôn là vấn đề trọng tâm mà Đảng và Chính phủ quan tâm và đã được thể hiện bằng nhiều chủ trương, chính sách như Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (khoá IV), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khoá VI) được triển khai cùng các chỉ thị, nghị quyết khác của các Đại hội và Hội nghị Trung ương của các khoá V, VI, VII đã đưa đến những thành tựu to lớn trong nông nghiệp, nông thôn nước ta. Đại hội X của đảng đã nhấn mạnh Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng; Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân.

Thực trạng và giải pháp phát triển nền nông nghiệp bền vững của Việt Nam MỤC LỤC PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua kinh tế Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu to lớn, tốc độ tăng trưởng GDP cao và ổn định vào tốp những nước đầu của thế giới. Đời sống của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Đến năm 2009 chúng ta đã thoát khỏi tình trạng là nước nghèo. Có được những thành tựu to lớn này là có sự đóng góp công sức của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và của tất cả các ngành các cấp trong đó có sự đóng góp to lớn của ngành nông nghiệp. Việt Nam vẫn được coi là nước nông nghiệp với khoảng trên 80% dân số sống ở nông thôn và khoảng 74,6% lực lượng lao động làm nông nghiệp. Có thể nói nông nghiệp, nông thôn là bộ phận quan trọng trong nên kinh tế quốc dân của Việt Nam. Nông nghiệp đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp; xuất khẩu nông sản đem lại nguồn ngoại tệ quan trọng cho nền kinh tế; tạo việc làm và thu nhập cho đa số người dân. Nông thôn là môi trường sống của đa số nhân dân, nơi bảo tồn và phát triển các truyền thống văn hoá dân tộc. Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tới vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, và coi đó nhiệm vụ chiến lược, là cơ sở để đảm bảo ổn định tình hình chính trị – xã hội, sự phát triển hài hoà và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước. Chính nhờ được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước mà trong những năm qua ngành nông nghiệp và nông thôn đã gặt hái được nhiều thành tựu hết sức đáng mừng. Nông nghiệp Việt Nam không những đảm bảo tự cung tự cấp mà còn trở thành một cường quốc trên thế giới trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đó ngành nông nghiệp Việt Nam cũng còn có một số mặt hạn chế cần phải khắc phục như vấn đề phát triển nông nghiệp kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chưa thức sự xử dụng hiệu quả và phát huy hết các nguồn lực ……… Do dó với mong muốn tìm hiểu thực trạng nền nông nghiệp nước nhà và đề xuất một số giải pháp để phát triển tốt hơn ngành nông nghiệp, em mạnh dạn chọn tiến hành nghiên cứu đề tài tiểu luận: ”Thực trạng và giải pháp phát triển nền nông nghiệp bền vững của Việt Nam”. Do điều kiện hạn chế về trình độ, thời gian nên trong tiểu luận sẽ có nhiều hạn chế và thiếu sót, rất mong được sự đóng góp thêm của thầy cô giáo và các bạn đọc quan tâm để em có thể hoàn thiện thêm hiểu biết của mình. 1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài – Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp bền vững – Đánh giá thực trạng ngành nông nghiệp Việt Nam – Đề ra một số giải pháp để phát triển nền nông nghiệp bền vững 1.3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài * Phương pháp thu thập số liệu Do điều kiện hạn chế, nên chúng tôi chủ yếu tiến hành thu thập số liệu thứ cấp từ các nguồn: * Phương pháp xử lý số liệu Căn cứ vào mục đích của đề tài, tôi tiến hành thu thập những số liệu cần có bên trên và phân tích các số liệu đó. Tuy nhiên, để phân tích được, tôi sẽ phân tích các số liệu đó ra theo thời gian, sau đó sắp xếp chúng lại để tạo thành một chuỗi thời gian nhằm cho thấy sự thay đổi qua từng năm trong lĩnh vực Nông nghiệp nông thôn Việt Nam. Từ đó có thể nhận biết được những thành tựu đã đạt được và những hạn chế cần khắc phục để đưa Nông nghiệp nông thôn Việt Nam phát triển theo hướng Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá. Tuy nhiên, để định lượng chính xác được một số những thành tựu và hạn chế, tôi sử dụng các chương trình (tính toán, xếp hạng,…) trong phần mềm Excel. Một phương pháp nữa phục vụ tôi trong quá trình phân tích và xử lý số liệu là phương pháp so sánh, nhằm so sánh giữa các năm với nhau và so sánh giữa Nông nghiệp với các ngành khác cũng như giữa Nông nghiệp với tổng thể nền kinh tế. PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU – Phát triển bền vững là sự phát triển trong đó lồng ghép các quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và làm tốt hơn về môi trường, đảm bảo thỏa mãn những nhu cầu hiện tại mà không làm phương hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của tương lai. – Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. (Hội đồng thế giới về môi trường và Phát triẻn của Liên hợp quốc – WCED) – Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển gồm: phát triển kinh tế (đặc biệt là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (đặc biệt là tiến bộ xã hội, công bằng xã hội, giảm nghèo và giải quyết công ăn việc làm) và bảo vệ môi trường (đặc biệt là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, phòng chống cháy và chặt phá rừng, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên). – Nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thỏa mãn được yêu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm giảm khả năng thỏa mãn yêu cầu của thế hệ mai sau (Tổ chức sinh thái và môi trường Thế giới – WORD) – Nền nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp phải đáp ứng được 2 yêu cầu cơ bản: Đảm bảo đáp ứng cầu nông sản hiện tại và duy trì được tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ mai sau (bao gồm: gìn giữ quỹ đất, nước, rừng, không khí, khí quyển và tính đa dạng sinh học….. – Nông nghiệp bền vững là phạm trù tổng hợp, vừa đảm bảo các yêu cầu về sinh thái, kỹ thuật vừa thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. PHẦN III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Vai trò của Nông nghiệp nông thôn trong nền kinh tế Việt Nam. Về nông nghiệp: “phát triển nền nông nghiệp toàn diện”, trên cơ sở “bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống”, “chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng nhanh khối lượng sản phẩm hàng hóa, nhất là hàng nông, lâm, thủy sản qua chế biến; tăng kim ngạch xuất khẩu”; và tiến tới “Xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao”. Về nông thôn: “Phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hợp tác hóa, dân chủ hóa”; “chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lại lao động ở nông thôn”; và “Xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội phát triển ngày càng hiện đại”, trên cơ sở thực hiện các biện pháp:“Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn, chú trọng phát triển hệ thống thủy lợi, bảo đảm đường giao thông thông suốt đến trung tâm xã, có đủ trường học, trạm y tế và nước sạch cho sinh hoạt. Bảo vệ môi trường sinh thái”; “Giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nông thôn”. Nền kinh tế Việt Nam trong hơn 20 năm Đổi mới vừa qua (1986-2008) đã đạt được nhiều thành tựu phát triển khả quan. Trong lĩnh vực nông nghiệp, sản lượng các loại nông sản đều tăng, nổi bật nhất là sản lượng lương thực đều tăng với tốc độ cao từ năm 1989 đến nay.  Năm 1989 là năm đầu tiên sản lượng lương thực vượt qua con số 20 triệu tấn, xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 310 triệu USD. Đến năm 2008 vừa qua sản lượng lương thực đã đạt đến con số kỷ lục 39 triệu tấn và đã xuất khẩu 4,5 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 1,7 tỷ USD. Từ một nước thường xuyên thiếu và đói, hàng năm phải nhập hàng triệu tấn lương thực của nước ngoài, hơn thập niên qua đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan). GDP trong lĩnh vực nông nghiệp bình quân hàng năm tăng 3,3%. Thu nhập và đời sống nhân dân ngày càng cải thiện hơn, tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn giảm bình quân 1,5% năm; bộ mặt nông thôn thay đổi theo hướng văn minh; trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật của nhiều nông dân được nâng lên cao hơn trước. Nông nghiệp ngày càng có nhiều đóng góp tích cực hơn vào tiến trình phát triển, hội nhập của kinh tế cả nước vào nền kinh tế toàn cầu. Năm 1986, kim ngạch xuất khẩu nông-lâm-thuỷ sản mới đạt 400 triệu USD. Đến năm 2007 đã đạt tới 12 tỷ USD, tăng gấp 30 lần. Nhờ có những thành tựu, kết quả đó, nông nghiệp không chỉ đã góp phần quan trọng vào việc ổn định chính trị-xã hội nông thôn và nâng cao đời sống nông dân trên phạm vi cả nước, mà nông nghiệp đã ngày càng tạo ra nhiều hơn nữa những tiền đề vật chất cần thiết, góp phần tích cực vào sự đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong những năm qua. Thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cũng như quá trình CNH-HĐH đất  nước theo định hướng XHCN đều khẳng định tầm vóc chiến lược của vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Chính vì vậy, Đảng ta luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược quan trọng, coi đó là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế-xã hội bền vững, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái. 3.2 Tình hình phát triển nông nghiệp – nông thôn trong thời gian vừa qua. 3.2.1 Một số thành tựu đạt được Về đánh giá thực trạng, kết quả đạt được trong phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân nước ta trong những năm vừa qua là khá toàn diện và to lớn, khái quát thành năm thành tựu: Một là, nông nghiệp tiếp tục phát triển với nhịp độ khá cao theo hướng tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia; xuất khẩu nông, lâm thủy sản tăng nhanh; trình độ khoa học – công nghệ được nâng cao hơn. Ðáng chú ý là giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản tăng bình quân 16,8%/năm, năm 2009 tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 15,4 tỷ USD chiếm 27,2% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, một số sản phẩm có vị thế cao trên thị trường thế giới, như gạo, cao-su, cà-phê, hồ tiêu, hạt điều, đồ gỗ, thủy sản. Hai là, Tiến bộ kỹ thuật được áp dụng rộng rãi, công nghiệp chế biến được tiếp tục phát triển góp phần thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Chúng ta đã có những bước tiến đáng mừng trong việc ứng dụng các biện pháp kỹ thuật mới trong lai tạo giống, cơ khí hóa nông nghiệp và đẩy mạnh được công nghệ chế biến. Bai là, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn được tăng cường, nhất là thủy lợi, giao thông, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn. Nổi bật là sự quan tâm đầu tư phát triển thủy lợi theo hướng đa mục tiêu. Từ năm 2000 đến nay đã tăng nhanh cả năng lực tưới và năng lực tiêu, bảo đảm tưới tiêu chủ động cho 83% diện tích gieo trồng lúa, một số cây trồng khác và cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ. Hệ thống đê sông, đê biển được củng cố, nâng cấp một bước, nhiều công trình tiêu thoát lũ và trên 1.100 cụm tuyến dân cư ở đồng bằng sông Cửu Long được xây dựng và phát huy tác dụng… Bốn là, các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn tiếp tục được đổi mới; kinh tế nông thôn phát triển theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho cư dân nông thôn. Kinh tế hộ tiếp tục phát triển theo hướng mở rộng số lượng và quy mô. Đến nay cả nước đã có khoảng trên 12 triệu hộ nông dân hoạt động trong các lĩnh vực trồng trọt, nuôi trồng thủy sản …. Nhờ chính sách dồn điền đổi thửa mà quy mô diện tích của các hộ được tập trung hơn. Kinh tế trang trại phát triển mạnh đa dạng và hiệu quả hơn. Đến 2007 cả nước đã có 113,7 nghìn trang trại, tăng so với năm 2001(52.682 trang trại) là 85,4%. Quy mô trang trại ngày càng mở rộng, góp phần tích cực vào chuyển đổi cơ cấu sản suất; là mô hình sản xuất hàng hoá có hiệu quả, góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn. Năm là, đời sống vật chất, tinh thần của cư dân các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện; xóa đói giảm nghèo đạt thành tựu to lớn. Năm 2007 thu nhập bình quân đầu người ở khu vực này tăng 2,7 lần so với năm 2000, đặc biệt là về cơ bản đã xóa được đói, tỷ lệ hộ nghèo hạ xuống còn 18%, thành tựu này được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Ðồng thời, các công tác chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh, phổ cập giáo dục, văn hóa, thông tin, thể thao cũng được quan tâm và đẩy mạnh hơn. Biểu đồ 3.1: một số thành tựu trong tăng trưởng ngành nông nghiệp Việt Nam 3.3 Những thách thức trong phát triển bền vững nền nông nghiệp Việt Nam Bên cạnh những thành tựu đã đạt được như trên thì sự phát triển bền vững trong nông nghiệp nông thôn nước ta còn gặp rất nhiều thách thức: – Ruộng đất manh mún, không phù hợp với việc sản xuất hàng hóa lớn, tập trung. Khi mà nền nông nghiệp đã lớn mạnh đảm bảo an ninh lương thực trong nước thì mục tiêu là phải xuất khẩu nông sản phẩm, mang lại hiệu quả cao hơn cho người nông dân. Tuy nhiên, điều này cần có khu sản xuất hàng hóa tập trung, sản xuất đồng loạt theo quy trình kỹ thuật nhất định. Tuy nhiên, Việt nam có dân số làm nông nghiệp đông, đất sản xuất nông nghiệp chật hẹp. Do đó, ruộng đất manh mún nhất là ở vùng đồng bằng Sông Hồng diện tích đất nông nghiệp trung bình của mỗi hộ nông dân chỉ khoảng 0,3hecta. Vì vậy, khó khăn để áp dụng máy móc, cơ giới hóa vào sản xuất, năng suất lao động thấp. – Quá trình cơ giới hóa nông nghiệp và việc áp dụng các quy trình kỹ thuật sản xuất tiên tiến diễn ra chậm. Đa số các khâu sản xuất trong nông nghiệp đều làm thủ công nên năng suất lao động trong nông nghiệp rất thấp. Điều này là do tình trạng ruộng đất manh mún gây nên, diện tích nhỏ hẹp khó có thể đưa các máy móc lớn vào sử dụng, chủ yếu chỉ có thể sử dụng các máy nhỏ gọn công suất thấp. Ngoài ra, còn do người nông dân còn thiếu vốn để đầu tư mua sắm máy móc trang thiết bị cho quá trình sản xuất. Họ chủ yếu sử dụng sức lao động của gia đình và đổi công theo phương châm “lấy công làm lãi” nên năng suất lao động chưa được cao. – Sự kết hợp giữa công nghiệp và nông nghiệp còn chưa tốt, nhất là công nghiệp chế biến sau thu hoạch. Chúng ta còn rất thiếu các sản phẩm công nghiệp, máy móc hiện đại phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, các loại thiết bị này chủ yếu vẫn là đi nhập khẩu, giá thành cao cản trở việc đầu tư của người nông dân. Đặc biệt công nghệ chế biến nông sản sau khi thu hoạch của chúng ta còn rất thiếu. Người nông dân chủ yếu bán các sản phẩm thô, tươi sống có giá trị thấp. Khi vào thời vụ do không có các cơ sở chế biến nên các sản phẩm của người dân bị giảm phẩm cấp nhanh, bị những người thu mua ép giá hoặc không thể tiêu thụ được. Điển hình như: Vải thiều xuất khẩu sang Trung Quốc bị ép thời gian nên đã bị hỏng rất nhiều ở cửa khẩu; lúa gạo bị rớt giá vào mùa thu hoạch …… – Thị trường nông sản bấp bênh thiếu ổn định, giá cả biến động theo hướng bất lợi cho người nông dân. Người nông dân do trình độ còn hạn chế nên vấn đề nắm bắt thông tin thị trường còn yếu, khó có khả năng bán sản phẩm của mình với giá cao. Hơn nữa, ngay cả các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản thì sự nắm bắt thông tin thị trường, luật thương mại quốc tế cũng còn yếu, do đó các sản phẩm nông sản của Việt Nam có thị trường không ổn định. Chúng ta thường bị bất lợi trong các thương vụ cạnh tranh xuất khẩu nông sản hoặc bị ép giá. Tiêu biểu như thị trường tiêu thụ cá Da trơn, cà phê, gạo …… thường xuyên xảy ra những vụ khiếu kiện, ép giá của bạn hàng. Người nông dân chính là người thiệt thòi nhất khi phải chịu nghịch lý được mùa thì nông sản rớt giá, khi mất mùa giá cao thì lại không có nông sản để bán. Điều này làm cho lợi nhuận của người nông dân thấp, đời sống gặp nhiều khó khăn. – Áp dụng ngày càng nhiều các giống cây trồng vật nuôi mới thay thế các giống truyền thống đã làm cho dịch bệnh, sâu bệnh ngày càng nhiều và khó khăn cho công tác phòng chống dịch. Điều này đã làm cho việc sử dụng lạm dụng các sản phẩm hóa học, thuốc trừ sâu ngày càng nhiều gây ô nhiễm môi trường, suy thoái đất, nguồn nước và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người. Người nông dân có trình độ còn hạn chế, chưa ý thức được việc bảo vệ môi trường nên đã sử dụng bừa bãi các sản phẩm thuốc hóa học gây ra ô nhiễm nặng nề về môi trường nông thôn. Điển hình vào các đợt sâu bệnh nở rộ thì nhà nhà đi phun thuốc trừ sâu, gây ra ô nhiêm không hhí nặng nề trên đồng ruộng. Tác hại lâu dài là các hóa chất này ngấm xuống đất, nước ngầm, người dân bị đe dọa nghiêm trọng về sức khỏe. Ngày càng có nhiều căn bệnh lạ nguy hiểm xuất hiện, có những nơi đã xuất hiện “làng ung thư” …… một phần là do môi trường sống bị ô nhiễm từ hoạt động sản xuất nông nghiệp. – Tình trạng sử dụng lãng phí nguồn tài nguyên vẫn diễn ra phổ biến ở các vùng nông thôn. Người nông dân vì lợi trước mắt mà đã khai thác một cách quyệt quệ các nguồn tài nguyên quý như rừng, động thực vật ….. làm mất khả năng tái tạo tự nhiên của chúng gây mất cân bằng sinh thái. Đất đai ngày càng bị sói mòn, thoái hóa, ô nhiễm mà không được quan tâm cải tạo phục hồi một cách thỏa đáng. 3.4 Một số đề xuất giải pháp để phát triển nền nông nghiệp nước nhà bền vững – Thực hiện tốt chủ trương dồn điền đổi thửa của Đảng, Nhà nước đã đề ra. Đây là chủ trương đúng đắn để tạo ra khả năng tích tụ ruộng đất có thể áp dụng công nghệ, máy móc hiện đại vào sản xuất, nâng cao năng suất lao động. Đồng thời có thể hình thành các vùng sản xuất hàng hóa lớn phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Để làm được điều này, đòi hỏi các cấp các ngành cần tuyên truyền vận động nông dân hiểu được chủ trương, nâng cao ý thức cộng đồng mới có thể thực hiện được. Việc dồn điền đổi thửa phải được áp dụng linh hoạt phù hợp với từng địa phương, chuyển đổi mục đích sử dụng đất phải thực hiện đúng luật định. – Đầu tư xây dựng hoàn thiện cơ sở hạ tầng nông thôn như đường giao thông, hệ thống thủy lợi ….. phục vụ tốt cho công tác tưới tiêu, áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất và vận chuyển giao lưu bán các nông sản phẩm. Như vậy sẽ làm nâng cao được năng suất và giá trị sản phẩm. – Đầu tư phát triển các ngành công nghiệp phục vụ sản xuất nông nghiệp như sản xuất máy nông nghiệp. Phát triển các cơ sở chế biến nông sản phẩm ngay tại các địa phương để chế biến, bảo quản sau thu hoạch. Như vậy mới có thể nâng cao được giá trị hàng nông sản, tránh tình trạng ép giá khi được mùa. – Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao, phù hợp với thực tế của địa phương vào sản xuất. Nếu đưa được các loại giống cây trồng, vật nuôi thích hợp vào sản xuất sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho bà con nông dân. Những năm qua nhờ thực hiện tốt chủ trương này mà nhiều vùng canh tác lúa kém hiệu quả đã được chuyển sang nuôi troòng thủy sản mang lại lợi nhuận cao cho người nông dân. Một số vùng ven đô đã chuyển từ trồng thuần lúa sang trồng rau mầu, hoa, cây cảnh cung cấp cho nội đô thành phố. Nhờ đó mà có rất nhiều tấm gương nông dân làm giầu lên nhanh chóng. – Sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn lao động tại địa phương. Cần có biện pháp đào tạo nâng cao trình độ và sử dụng hợp lý nguồn lao động nông thôn. Đa dạng hóa cơ cấu sản xuất kinh doanh để tạo việc làm tại chỗ vừa tạo thêm thu nhập, phân công lao động nông thôn làm cho dân cư nông thôn ổn định, giảm bớt sức ép di dân ra thành phố. Thực hiện chủ trương ”ly nông bất ly hương” bằng cách phát triển thêm các ngành nghề phụ ở nông thôn như: hàng mây tre đan, gốm sứ, đúc đồng …… vừa giữ được bản sắc làng nghề vừa thu hút đượng lao động nông nhàn tăng thêm thu nhập cho người dân. – Đẩy mạnh công tác nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học trong phát triển các giống cây trồng vật nuôi mới có năng suất, chất lượng và sức chống chịu sâu bệnh cao, không thoái hóa, không làm tổn hại đến đa dạng sinh học. Những năm vừa qua, chúng ta cũng đã nghiên cứu được nhiều loại giống cây trồng vật nuôi có giá trị tốt theo hướng này như: giống lúa chịu khô hạn cho đồng bào dân tộc vùng cao, giống lua kháng rầy (CR203) …… nhưng số lượng còn ít. Chúng ta chủ yếu vẫn phải nhập khẩu các giống chất lượng cao từ nước ngoài như: Xoài Thái Lan, các giống lúa của Trung Quốc như Khang Dân, Syngenta …… Trong thời gian tới cần có chính sách đầu tư cho các Viện nghiên cứu, các trung tâm sản xuất giống chất lượng cao để lai tạo các giống mới bản địa sẽ có khả năng thích nghi tốt hơn các giống nhập ngoại. Đồng thời cần có biện pháp thẩm định, chọn lọc kỹ các giống cây trồng, vật nuôi nhập ngoại tránh hiện tượng nhập khẩu tràn lan như thời gian qua đã làm cho ”lợi bất gặp hại” như: Ốc bươu vàng, rùa tai đỏ ……. – Phát triển ngành sản xuất phân bón hữu cơ, phân sinh học, thuốc trừ sâu sinh học để thay thế cho các loại phân bón hóa học vô cơ, thuốc trừ sâu độc hại đang bị sử dụng lạm dụng như hiện nay. Việc lạm dụng các chế phẩm hóa học thời gian qua trong sản xuất nông nghiệp đã làm cho môi trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đất đai bị thoái hóa, mất cân bằng sinh thái. Do đó, việc sử dụng các chế phẩm sinh học hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên sẽ là giải pháp đúng đắn để cải thiện môi trường đất, làm tăng độ phì, giảm thiểu ô nhiễm mà vẫn làm tăng năng suất và hiệu quả sử dụng. – Tổ chức tập huấn nâng cao hiểu biết, tuyên truyền cho người nông dân hiểu và áp dụng thép hướng sản xuất nông nghiệp hữu cơ, sử dụng biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp IPM. Làm tốt được điều này sẽ nâng cao được ý thức của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường, góp phần làm cân bằng sinh thái trở lại. Nhiều địa phương đã áp dụng sử dụng các con thiên địch thay cho việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật như: nuôi kiến trong vườn cam để trừ sâu đục thân, hay nuôi ong mắt đỏ để trừ rệp ……. – Cần có biện pháp để bảo tồn nguồn gen quý của những giống cây trồng, vật nuôi tại địa phương. Chúng ta có rất nhiều giống cây con quý như: Lợn móng cái mắn đẻ, gà di có chất lượng thịt ngon, các giống cây ăn quả quý như Bưởi Đoan Hùng, Phúc Trạch ……. Những năm qua chúng ta đã không bảo vệ và lưu trữ tốt những gen quý này nên nhiều giống quý đã dần bị tuyệt chủng. Do đó cần có biện pháp để lưu trữ chúng, phục vụ cho việc lai tạo giống mới chất lượng cao sau này. PHẦN IV: KẾT LUẬN Nông nghiệp Việt Nam đóng vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt góp phần xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn. Nông nghiệp đã trở thành ngành sản xuất hàng hoá quan trọng, tham gia ngày càng sâu sắc vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nền nông nghiệp của Việt Nam đã và đang chuyển mạnh từ sản xuất theo mục tiêu số lượng sang hiệu quả và chất lượng, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và bền vững. Phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn luôn là vấn đề trọng tâm mà Đảng và Chính phủ quan tâm và đã được thể hiện bằng nhiều chủ trương, chính sách như Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (khoá IV), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khoá VI) được triển khai cùng các chỉ thị, nghị quyết khác của các Đại hội và Hội nghị Trung ương của các khoá V, VI, VII đã đưa đến những thành tựu to lớn trong nông nghiệp, nông thôn nước ta. Đại hội X của đảng đã nhấn mạnh Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng; Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Cũng là vấn đề “Tam nông” trong giai đoạn hiện nay có nhiều Hội thảo quy tụ rất nhiều các nhà khoa học, các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Nông nghiệp-Nông thôn chúng ta có quyền hy vọng sẽ có những chính sách và giải pháp thiết thực và phù hợp nhằm đưa Nông nghiệp-nông thôn Việt Nam phát triển hài hoà và phù hợp với yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế. Đứng trên những thành công to lớn đã đạt được và đứng trước những thách thức đang gặp phải của việc phát triển nông nghiệp bền vững nền nông nghiệp nước nhà thì cần có những biện pháp, đường lối phát triển phù hợp để cân đối giữa phát triển và tính bền vững. Có như vậy mới làm cho nông nghiệp phát triển ổn định lâu dài, thực hiện thành công xây dựng bộ mặt nông thôn mới theo tinh thần Nghị quyết 26 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã đề ra. Tài liệu tham khảo 1. Giáo trình Nguyên lý kinh tế nông nghiệp, Đỗ Kim Chung, NXB nông nghiệp 2009 2. Đề án “Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn” 3. Phát triển và hội nhập: Phát triển Nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ đổi mới, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp nông thôn, Báo Nông nghiệp 4. Website của Bộ Nông nghiệp và PTNT: www.mard.gov.vn 5. Website của Tổng cục thống kê: 6. Theo vneconomy, chính sách nào để phát triển Nông thôn, nâng cao thu nhập nông dân, Châu Văn Ly

Các file đính kèm theo tài liệu này:

tieu_luan_phat_trien_ben_vung_non_nghiep_8024.docx

Luận Văn Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Nền Nông Nghiệp Bền Vững Của Việt Nam

Trong những năm qua kinh tế Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu to lớn, tốc độ tăng trưởng GDP cao và ổn định vào tốp những nước đầu của thế giới. Đời sống của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Đến năm 2009 chúng ta đã thoát khỏi tình trạng là nước nghèo. Có được những thành tựu to lớn này là có sự đóng góp công sức của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và của tất cả các ngành các cấp trong đó có sự đóng góp to lớn của ngành nông nghiệp. Việt Nam vẫn được coi là nước nông nghiệp với khoảng trên 80% dân số sống ở nông thôn và khoảng 74,6% lực lượng lao động làm nông nghiệp. Có thể nói nông nghiệp, nông thôn là bộ phận quan trọng trong nên kinh tế quốc dân của Việt Nam. Nông nghiệp đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp; xuất khẩu nông sản đem lại nguồn ngoại tệ quan trọng cho nền kinh tế; tạo việc làm và thu nhập cho đa số người dân. Nông thôn là môi trường sống của đa số nhân dân, nơi bảo tồn và phát triển các truyền thống văn hoá dân tộc. Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tới vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, và coi đó nhiệm vụ chiến lược, là cơ sở để đảm bảo ổn định tình hình chính trị – xã hội, sự phát triển hài hoà và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước. Chính nhờ được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước mà trong những năm qua ngành nông nghiệp và nông thôn đã gặt hái được nhiều thành tựu hết sức đáng mừng. Nông nghiệp Việt Nam không những đảm bảo tự cung tự cấp mà còn trở thành một cường quốc trên thế giới trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đó ngành nông nghiệp Việt Nam cũng còn có một số mặt hạn chế cần phải khắc phục như vấn đề phát triển nông nghiệp kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chưa thức sự xử dụng hiệu quả và phát huy hết các nguồn lực . Do dó với mong muốn tìm hiểu thực trạng nền nông nghiệp nước nhà và đề xuất một số giải pháp để phát triển tốt hơn ngành nông nghiệp, em mạnh dạn chọn tiến hành nghiên cứu đề tài tiểu luận: “Thực trạng và giải pháp phát triển nền nông nghiệp bền vững của Việt Nam”. Do điều kiện hạn chế về trình độ, thời gian nên trong tiểu luận sẽ có nhiều hạn chế và thiếu sót, rất mong được sự đóng góp thêm của thầy cô giáo và các bạn đọc quan tâm để em có thể hoàn thiện thêm hiểu biết của mình.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Phát Triển Du Lịch Gắn Với Nông Nghiệp Bền Vững Của Tỉnh Vĩnh Long: Thực Trạng Và Giải Pháp

CỦA TỈNH VĨNH LONG: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THƯỜNG TRỰC TỈNH ỦY VĨNH LONG

Loại hình du lịch gắn với nông nghiệp từ lâu đã được các nước trên thế giới áp dụng, các nước Châu âu đã quan tâm đẩy mạnh phát triển loại hình du lịch nông nghiệp từ thập niên 80 thế kỷ trước. Thực tiễn đã chứng minh việc phát triển loại hình du lịch nông nghiệp vừa đem lại hiệu quả tích cực về kinh tế, vừa bảo vệ nguồn tài nguyên, môi trường tự nhiên, ít xáo trộn đến đời sống xã hội, nhất là ở khu vực nông thôn, đồng thời góp phần bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của dân tộc.

Việt Nam đang phát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng với xuất phát điểm là một nước nông nghiệp. Sản phẩm và dịch vụ từ hoạt động nông nghiệp đã in sâu vào cuộc sống của người dân. Từ xa xưa, hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa giữa du khách và người nông dân địa phương được xem là hoạt động thương mại đơn giản của cuộc sống thường nhật nhưng cũng có thể xem đó như là khởi điểm của du lịch nông nghiệp. Trong những năm gần đây, du lịch nông nghiệp, du lịch sinh thái đang dần trở thành xu hướng phát triển chung đối với ngành du lịch Việt Nam, đặc biệt là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long trong đó có tỉnh Vĩnh Long,với đặc điểm là một tỉnh thuần nông hội tụ những đặc điểm tiềm năng và lợi thế “sông, nước” để phát triển loại hình du lịch nông nghiệp.

Phát triển du lịch canh nông vẫn còn nhiều khó khăn

Tỉnh Vĩnh Long nằm ở hạ lưu sông MêKông, giữa hai dòng sông Tiền và sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh 136 km về hướng Nam, cách thành phố Cần Thơ 33 km về hướng Bắc, tiếp giáp 06 tỉnh và thành phố Cần Thơ. Có 05 quốc lộ đi qua và nối liền hai bờ sông Tiền là cầu Mỹ Thuận và sông Hậu là cầu Cần Thơ, cùng với mạng lưới sông ngòi chằng chịt, phân bố tương đối đồng đều đã tạo điều kiện cho Vĩnh Long trở thành đầu mối giao thông nối liền giữa các vùng trong khu vực và lưu thông quốc tế thông qua các cửa biển: Tiểu, Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên, Định An,… Hầu hết diện tích của tỉnh đều có nước ngọt quanh năm và hàng năm được bồi đắp một lượng phù sa của sông Tiền và sông Hậu, đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa, đã tạo nên những cánh đồng lúa vùng cây ăn trái đặc sản, như bưởi 5 roi, cam sành, quýt đường, nhãn, xoài cát Hòa Lộc, chôm chôm,… cùng những loài thủy sản nước ngọt như tôm càng xanh, cá tra, cá ngát, cá cóc, cá điêu hồng,…

Vĩnh Long có nhiều di tích văn hóa, lịch sử như: Nhà thờ Quốc Tổ Hùng Vương và các bậc tiền hiền thời vua Hùng, Văn Thánh Miếu, Văn Xương Các, chùa Tiên Châu, miếu Công Thần, đình Tân Giai, đình Tân Hoa, khu tưởng niệm cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng, khu tưởng niệm cố Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, khu lưu niệm cố giáo sư, viện sĩ, Anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa,… và với vẻ đẹp đặc trưng của vùng đồng bằng sông nước, môi trường sinh thái còn khá tốt, Vĩnh Long rất hấp dẫn du khách bởi nét đặc trưng vốn có của tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn.

Từ những năm 1990, tỉnh đã quan tâm tập trung phát triển loại hình du lịch sinh thái gắn với nông nghiệp, với hai tuyến du lịch chính theo dòng sông Tiền và sông Hậu. Các doanh nghiệp hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh đã hình thành và phát triển các điểm du lịch ở cù lao An Bình (huyện Long Hồ) phục vụ khách du lịch với mô hình “Tây ngủ nhà ta” với nhiều khẩu hiệu quảng bá như: Du lịch trong màu xanh đồng bằng sông Cửu Long, Du lịch sinh thái miệt vườn, Du lịch làng quê, Du lịch cộng đồng,…

Trong quá trình phát triển, hoạt động du lịch ở Vĩnh Long luôn gắn với nông nghiệp – lấy sản phẩm nông nghiệp làm nền tảng phát triển sản phẩm du lịch tại địa phương. Người nông dân sản xuất với quy mô hộ gia đình, sản phẩm nông nghiệp gồm các vật nuôi, cây trồng, thực phẩm dinh dưỡng, cây dược liệu, sinh vật cảnh, nuôi trồng thủy sản và các sản phẩm chế biến phục vụ nhu cầu ẩm thực, hàng thủ công mỹ nghệ, đồ gốm,… đều mang tính đơn lẻ, chưa liên kết chặt chẽ với nhau và chưa có khả năng tạo ra chuỗi giá trị bền vững cho các sản phẩm du lịch, các nông hộ chỉ thực hiện theo yêu cầu của các doanh nghiệp lữ hành, chưa có khả năng tạo sản phẩm mới chất lượng phục vụ du khách. Theo thời gian, việc trao đổi, mua bán hàng hóa dần trở nên chuyên nghiệp, chất lượng sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ ngày càng được quan tâm theo hướng phục vụ du khách, hình thành nên những nông trang, vùng sản xuất chuyên canh gắn với du lịch như: vùng sản xuất cải xà lách xoong ở thị xã Bình Minh, khoai lang Bình Tân, các vườn chuyên canh cây ăn trái phục vụ du khách như vườn bưởi Mỹ Hòa (thị xã Bình Minh), vườn cây trái bốn mùa ở cù lao An Bình (huyện Long Hồ), các điểm du lịch homestay (Út Trinh, Phương Thảo,….), khu du lịch Vinh Sang,… Nhìn chung, du lịch gắn với nông nghiệp đã từng bước đáp ứng nhu cầu của du khách khi đến Vĩnh Long.

Thu hoạch chôm chôm ở cù lao An Bình, huyện Long Hồ

Ngày nay, với cường độ công nghiệp hóa, đô thị hóa, con người luôn bị áp lực với công việc, môi trường làm việc căng thẳng cùng với ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng ở các khu vực đô thị, du lịch để hưởng thụ không gian xanh, sạch, đẹp, an toàn và yên bình là nhu cầu lớn của cư dân đô thị. Nắm bắt được nhu cầu này, đối với những người làm du lịch, nhất là đối với các đơn vị kinh doanh lữ hành xem du lịch nông nghiệp không chỉ đơn thuần là việc sử dụng những sản phẩm được tạo ra từ hoạt động nông nghiệp, mà còn tạo cho khách có những trải nghiệm với những hoạt động thường nhật của người dân địa phương như tham gia một ngày làm nông dân trên đồng ruộng, tát mương bắt cá, trồng, chăm sóc cây trồng, một ngày làm địa chủ,… Thông qua các doanh nghiệp lữ hành, du lịch nông nghiệp được phát triển rộng hơn đó là du lịch nông nghiệp – nông thôn. Song song với việc sử dụng những sản phẩm nông nghiệp là việc tham quan cảnh quan vùng nông thôn với những vườn cây ăn trái, những cánh đồng lúa, những trang trại,…. cùng với đó du khách sẽ có cơ hội trải nghiệm phong tục, tập quán canh tác và nét đẹp văn hóa của địa phương. Từ các hoạt động trên đã thu hút khách du lịch đến với du lịch nông nghiệp ngày càng đông. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có trên 20 điểm vườn cây ăn trái tham gia phục vụ khách du lịch, thuộc cù lao An Bình (huyện Long Hồ), cù lao Lục Sỹ Thành (huyện Trà Ôn), cù lao Quới Thiện (huyện Vũng Liêm). Hiệu quả mang lại từ việc tham gia phục vụ khách du lịch khá lớn, làm gia tăng lợi nhuận cho các nhà vườn và tạo nhiều việc làm cho người lao động địa phương. Vào lúc cao điểm mùa trái cây, hàng ngày một số điểm vườn đón trên 100 du khách đến tham quan và thưởng thức trái cây tại vườn.

Đặc biệt, khách du lịch quốc tế rất quan tâm và thích trải nghiệm loại hình du lịch homestay “Tây ngủ nhà ta”, tập trung nhiều ở 04 xã cù lao An Bình, huyện Long Hồ, với 25 homestay với đủ loại hình từ dân dã đến hiện đại, mỗi năm thu hút 200.000 lượt khách nước ngoài, với nhiều hoạt động trải nghiệm tham gia sản xuất nông nghiệp cùng người dân, như nuôi thủy sản, thu hoạch trái cây, câu cá, chế biến món ăn, thức uống, thưởng thức hát bội, đàn ca tài tử và các loại hình giải trí dân gian khác…

Song, hoạt động du lịch gắn với nông nghiệp ở Vĩnh Long còn có một số khó khăn. Toàn tỉnh có trên 25 làng nghề và nghề truyền thống đã được công nhận như làng nghề gốm (huyện Mang Thít), làng nghề trồng lát (huyện Vũng Liêm), làng nghề đan thảm lục bình (huyện Tam Bình),…. với nhiều sản phẩm gia dụng, sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Song, chủ yếu là gia công sản xuất sản phẩm thô, chưa được chế tác hoàn chỉnh để có tính thẩm mỹ cao, chưa thể tạo ra sản phẩm lưu niệm phục vụ đại trà cho khách du lịch nên chưa gắn kết được nhiều với hoạt động du lịch, chủ yếu phục vụ tham quan trải nghiệm.

Du khách quốc tế tham quan trải nghiệm loại hình du lịch sinh thái Vĩnh Long

Hiện nay, tỉnh Vĩnh Long đang xây dựng đề án Bảo tàng Nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Dự kiến Bảo tàng được thành lập với mục đích tôn vinh nền văn minh nông nghiệp và người nông dân, vừa lưu giữ, trưng bày giới thiệu các nông cụ, phương tiện sản xuất nông nghiệp, phong tục, tập quán, sinh hoạt, vừa tạo không gian văn hóa để tái hiện và trình diễn các loại hình văn hóa phi vật thể gắn với đời sống cư dân nông nghiệp. Tỉnh đã tổ chức sưu tầm 1.000 hiện vật nông, ngư cụ, phản ánh gần như toàn diện đặc trưng tập quán sản xuất nông nghiệp và đời sống nông thôn của các địa phương, các dân tộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Bộ sưu tập nông, ngư cụ nêu trên được đánh giá là bộ sưu tập độc đáo và có giá trị về phong tục, tập quán, sản xuất nông nghiệp. Bảo tàng được xây dựng là sự tổng hợp quá trình hình thành, phát triển các sản phẩm nông nghiệp của vùng, là cơ sở trải nghiệm và là điểm đến hấp dẫn để phát triển sản phẩm nông nghiệp phục vụ khách du lịch cho tỉnh Vĩnh Long nói riêng và khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Để phát triển du lịch gắn với nông nghiệp bền vững, tỉnh Vĩnh Long cần triển khai, đẩy mạnh thực hiện một số giải pháp sau:

– Các sản phẩm từ sản xuất nông nghiệp tạo ra là rất phong phú và đa dạng, luôn gắn liền với văn hóa ẩm thực du lịch và các hoạt động du lịch nông nghiệp trải nghiệm từ lạc hậu đến hiện đại, vấn đề là phải nâng cao nhận thức và đào tạo để nông dân biết thiết kế sản phẩm, quy trình trải nghiệm đảm bảo sự hài lòng và lòng tin về tính tiện ích, an toàn của sản phẩm, đáp ứng được sự mong đợi của du khách.

– Sản phẩm nông nghiệp tham gia phục vụ du khách quốc tế, là một hình thức xuất khẩu tại chỗ có hiệu quả cao. Vì vậy, người nông dân cần hỗ trợ nâng cao kiến thức chuyên môn, quy trình công nghệ sản xuất, sản xuất ra sản phẩm chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế, chuyên môn và kỹ năng phục vụ du khách,… để người dân có khả năng sáng tạo các sản phẩm từ nông nghiệp, tạo được niềm tin về an toàn vệ sinh thực phẩm để giới hiệu, quảng bá sản phẩm trực tiếp đến với khách hàng.

– Du lịch nông nghiệp tham gia trải nghiệm hoạt động sản xuất của người nông dân địa phương; du lịch nông thôn tham quan cảnh quan vùng quê và những hoạt động của người dân như chèo thuyền thưởng ngoạn phong cảnh ven sông, ngắm đom đóm về đêm, chạy xe đạp trên đường làng, tham gia sản xuất và các hoạt động văn hóa địa phương …. Có thể hiểu, du lịch nông thôn là sự tổng hợp, liên kết nhiều loại hình du lịch ở địa phương. Khi xây dựng nông thôn mới cần quan tâm đến việc kết hợp với phát triển du lịch như nông thôn xanh, sạch, đẹp, mỗi làng, ấp có sản phẩm đặc trưng như làng nghề, trồng một loại hoa, sinh vật cảnh, trang trí hàng rào, cổng nhà tạo ấn tượng và mỗi người dân là một hướng dẫn viên du lịch để thu hút du khách đến tham quan. Để du lịch nông nghiệp phát triển bền vững cần phải có sự gắn kết với du lịch nông thôn, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp làm du lịch và cộng đồng dân cư tham gia vào chuỗi giá trị của chương trình.

Đặc sản bưởi Năm Roi Vĩnh Long

– Có quy hoạch phát triển du lịch nông nghiệp theo một quy chuẩn cụ thể, kiểm soát được đầu vào và đầu ra của sản phẩm; nhà nước hỗ trợ xây dựng chương trình quảng bá cho loại hình du lịch này, đảm bảo du lịch nông nghiệp được thực hiện quanh năm theo mùa vụ. Có giải pháp hỗ trợ đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ hướng dẫn viên và tập huấn cho những người tham gia vào hoạt động du lịch nông nghiệp nông thôn có trình độ lý luận và thực tiễn, năng động, ấn tượng nhằm giúp cho du khách hiểu biết thêm về nguồn gốc hình thành sản vật, hiểu biết về lịch sử văn hóa canh tác, nuôi trồng, sơ chế và quá trình thương mại hóa sản phẩm nhằm kích thích sự tò mò của du khách, đồng thời cũng thông qua thuyết minh sẽ giới thiệu được nét đẹp phong phú về văn hóa của địa phương.

– Kiến nghị Nhà nước có chính sách cụ thể để tạo kênh phân phối sản phẩm nông thôn bằng cách hỗ trợ thành lập các hợp tác xã để tập hợp xã viên tạo nhiều sản phẩm; tạo điều kiện đào tạo kỹ năng nghề, thiết kế sản phẩm, nghiên cứu thị trường và có khả năng tạo chuỗi sản phẩm có chất lượng cao phục vụ khách du lịch.

– Khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động du lịch mở nhiều phòng trưng bày bán sản phẩm làng nghề, sản vật địa phương đã được chọn lọc, sáng tạo thành sản phẩm du lịch phục vụ du khách nội địa và quốc tế.

Tóm lại, du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng và có tính xã hội hóa cao, vì vậy để cho các loại hình du lịch, trong đó có du lịch nông nghiệp được phát triển bền vững thì rất cần sự chung tay góp sức của các doanh nghiệp, sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành và những quyết sách mạnh mẽ từ các cấp lãnh đạo trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng nông thôn mới, tạo cho du lịch nông nghiệp có không gian hoạt động và phát triển bền vững.

Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Doanh Nghiệp Nông Nghiệp

Dưới tác động của các Hiệp định thương mại tự do (FTA), trong những năm qua xuất khẩu Việt Nam nói chung và xuất khẩu nông sản nói riêng có sự phát triển nhanh chóng, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội, tăng trưởng GDP.

Chúng ta cũng chịu sự cạnh tranh gay gắt của các nước có lợi thế về hàng hóa nông sản xuất khẩu tương tự như Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia… Phải đối mặt với hàng rào kỹ thuật của các nước nhập khẩu, nhất là các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, các nước thuộc EU. Rào cản lớn nhất là phải đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế nghiêm ngặt của nước nhập khẩu như chất lượng, sự đa dạng, cam kết về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững, hợp pháp…

Nông sản Việt cơ bản chưa có thương hiệu trên thị trường quốc tế, chủ yếu xuất khẩu dưới dạng thô, chưa qua chế biến nên giá trị gia tăng không nhiều, không bán được giá cao. Các doanh nghiệp (DN), cơ sở chế biến còn nhỏ bé về quy mô, lạc hậu về công nghệ. Số DN có dây chuyền sản xuất, chế biến hiện đại còn ít, chỉ chiếm khoảng 20-30%.

Nguồn hàng xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào thời vụ, số lượng chưa đủ để đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, chất lượng sản phẩm không đồng đều, không đạt các tiêu chuẩn quốc tế. Các sản phẩm hữu cơ (organic) chiếm tỷ lệ rất nhỏ, mặc dù đây là xu hướng tiêu dùng của thế giới, được người tiêu dùng ưa chuộng dù giá cả cao hơn các sản phẩm thông thường.

Các hạn chế, yếu kém trên là nguyên nhân cơ bản của tình trạng “được mùa mất giá”, “được giá mất mùa”, làm cho người nông dân lao đao, mất định hướng trong việc “trồng cây gì”, “nuôi con gì” và nuôi trồng bằng giống nào, cách nào, phương thức nào, bán hàng cho ai? Vì thế, khi các FTA có hiệu lực, có những mặt hàng thuế nhập khẩu giảm về 0% đối với một số thị trường nhưng các nông sản chủ lực của Việt Nam vẫn chưa thể thâm nhập.

Mục tiêu xuất khẩu bền vững

Nghị quyết số 26 NQ/TW ngày 5/8/2008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đề ra mục tiêu: “Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài”.

Việt Nam đang thực hiện 13 FTA, trong đó có những FTA thế hệ mới mang lại rất nhiều cơ hội cho xuất khẩu nông sản sang các thị trường lớn và tiềm năng như Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA).

Để có thể tận dụng được các cơ hội của hội nhập quốc tế mang lại, cần phát huy tối đa thế mạnh về các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, xây dựng quy trình chuẩn cho sản xuất và xuất khẩu nông sản hữu cơ (organic) chủ lực. Theo đó, Nhà nước (các bộ ngành, địa phương) đặt hàng các cơ quan, tổ chức (trường đại học, viện nghiên cứu, hiệp hội doanh nghiệp…) xây dựng quy trình chuẩn cho việc sản xuất các nông sản hữu cơ xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Quy trình này cần nghiên cứu nhu cầu thị trường quốc tế và tiềm năng của Việt Nam, xác định mặt hàng nông sản chủ lực, thị trường chính và tiềm năng, đối thủ cạnh tranh, xây dựng chiến lược phát triển nguồn hàng nông sản organic (bao gồm công tác quy hoạch vùng nguyên liệu, giống cây con, phương thức canh tác, thu hoạch, chế biến…).

Xây dựng thương hiệu sản phẩm và chiến lược phát triển thương hiệu ở các thị trường mục tiêu. Đầu tư dây chuyền công nghệ cho việc chế biến các sản phẩm bảo đảm yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng, nguồn gốc xuất xứ, không hóa chất, không độc hại. Xác định các yếu tố cần thiết để bảo đảm sản phẩm sau chế biến có thể đạt được các chứng chỉ quốc tế về chất lượng sản phẩm.

Nhà nước cần có cơ chế, chính sách để hỗ trợ việc thực hiện quy trình sản xuất và xuất khẩu nông sản hữu cơ chủ lực, trước hết là cơ chế, chính sách tạo nguồn hàng xuất khẩu. Cụ thể, cần quy hoạch các vùng sản xuất, nuôi trồng tập trung các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trên cơ sở lợi thế cạnh tranh của Việt Nam với thế giới và xu hướng tiêu dùng của thế giới; lợi thế so sánh của các vùng, miền, địa phương; bảo đảm cung cấp đủ nguồn hàng cho sản xuất, chế biến nông sản xuất khẩu ở quy mô sản xuất lớn.

Đặt hàng xây dựng các quy trình chuẩn sản xuất nông sản hữu cơ xuất khẩu chủ lực (đề cập ở phần trên) và chuyển giao quy trình cho DN thực hiện. Tạo điều kiện tích tụ, tập trung ruộng đất ở quy mô lớn (từ hàng trăm đến hàng nghìn hecta) cho việc đầu tư nhà máy sản xuất chế biến tập trung, nuôi trồng các loại cây con được xác định là mặt hàng nông sản xuất khẩu hữu cơ chủ lực.

Xây dựng các thương hiệu quốc gia

Về cơ chế, chính sách xây dựng thương hiệu nông sản xuất khẩu chủ lực Việt Nam, Nhà nước cần sớm bổ sung hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật Việt Nam đối với hàng hóa nông sản theo hướng phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn thế giới, phát triển và nhân rộng việc thực hiện cấp mã số vùng sản xuất, truy xuất nguồn gốc, chỉ dẫn địa lý… đối với nông sản xuất khẩu chủ lực. Nhân rộng mô hình sản xuất nông sản theo các tiêu chuẩn GlobalGAP, VietGAP, HACCP…

Có chiến lược bài bản xây dựng “Thương hiệu quốc gia” cho nông sản xuất khẩu chủ lực Việt Nam. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định trong việc xuất khẩu nông sản vì hiện nay đây là khâu yếu nhất trong xuất khẩu nông sản, chủ yếu do các DN thực hiện dẫn tới tình trạng mặc dù hàng hóa nông sản Việt Nam có chất lượng tốt, giá cạnh tranh nhưng không được người tiêu dùng quốc tế biết đến, không xuất khẩu được ra thế giới.

Việc Nhà nước xây dựng “Thương hiệu quốc gia” nông sản xuất khẩu chủ lực không có nghĩa là Nhà nước bỏ tiền làm thay DN mà Nhà nước cùng với DN phối hợp thực hiện một cách chiến lược, bài bản việc xây dựng “Thương hiệu quốc gia” cho các nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Nhà nước sẽ là “bà đỡ”

Về cơ chế, chính sách xúc tiến thương mại, phát triển thị trường, cần huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng các trung tâm logistics ở các địa bàn đầu mối trong nước để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của DN. Nghiên cứu việc thành lập các kho ngoại quan, trung tâm logistics ở nước ngoài để hỗ trợ DN tập kết, phân phối hàng hóa đến các thị trường quốc tế với chi phí thấp.

Xây dựng các chương trình quảng bá hình ảnh quốc gia, xúc tiến thương mại quốc gia với các thị trường trọng điểm (như Mỹ, Ấn Độ, EU…) và các thị trường tiềm năng sau khi các FTA được ký kết. Việc triển khai các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia cần tập trung vào từng mặt hàng, từng thị trường, tránh tình trạng dàn trải, thiếu chiều sâu như hiện nay. Nhà nước giao nhiệm vụ cho các cơ quan đại diện ngoại giao, thương vụ Việt Nam ở nước ngoài nhiệm vụ xúc tiến thương mại, chắp mối kinh doanh và có cơ chế, chính sách khuyến khích đối với hoạt động này (chẳng hạn được phép nhận hoa hồng khi tư vấn, chắp mối kinh doanh hiệu quả cho DN).

Hỗ trợ và hướng dẫn DN tận dụng các cơ hội của các FTA mang lại, nhất là các hiệp định vừa ký kết như CPTPP, EVFTA về ưu đãi thuế quan, cơ hội thị trường. Thông tin kịp thời cho DN về các rào cản thương mại, hệ thống quy định tiêu chuẩn, quy chuẩn thị trường nhập khẩu để DN chủ động phòng tránh nguy cơ dẫn đến các vụ điều tra phòng vệ thương mại, các vi phạm về kiểm dịch động thực vật, vệ sinh an toàn thực phẩm tại các thị trường có yêu cầu khắt khe về điều kiện nhập khẩu hàng nông sản.

Xây dựng và thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa “5 nhà”: Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà băng (ngân hàng, các tổ chức tín dụng) và nhà nông trong quá trình sản xuất và xuất khẩu các nông sản hữu cơ chủ lực.

Với các giải pháp trên, Nhà nước thực hiện đúng vai trò “Chính phủ kiến tạo” hướng dẫn, hỗ trợ, là “bà đỡ” cho DN và các hộ nông dân trong quá trình sản xuất và xuất khẩu nông sản chủ lực Việt Nam. Đầu tư công của Nhà nước có hiệu quả hơn, thể hiện qua việc đổi mới cách thức đầu tư vào khoa học công nghệ, công tác quy hoạch, huy động hiệu quả nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế – xã hội, cải cách hành chính hướng tới hỗ trợ người dân và DN ngày càng tốt hơn.

Đặng Đức Thành

Bạn đang xem bài viết Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Nền Nông Nghiệp Bền Vững Của Việt Nam trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!