Xem Nhiều 2/2023 #️ Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Toán Tiếp Cận Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông 2022 Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh Tiểu Học # Top 7 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Toán Tiếp Cận Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông 2022 Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh Tiểu Học # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Toán Tiếp Cận Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông 2022 Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh Tiểu Học mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

13.11.2019 11:21

125204 đã xem

           Chương trình tổng thể Ban hành theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 nêu rõ “Giáo dục toán học hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực toán học với các thành tố cốt lõi: năng lực tư duy và lập luận toán học, năng lực mô hình học toán học, năng lực giải quyết vấn đề toán học, năng lực giao tiếp toán học, năng lực sử dụng các công cụ và phương tiện học toán; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, áp dụng toán học vào đời sống thực tiễn, giáo dục toán học tạo dựng sự kết nối giữa các ý tưởng toán học, giữa toán học với các môn học khác và giữa toán học với đời sống thực tiễn’’.

             Về phương pháp dạy học Toán: Thực hiện dạy học phù hợp với tiến trình nhận thức của học sinh (đi từ cụ thể đến trừu tượng, từ dễ đến khó); Quán triệt tinh thần “lấy người học làm trung tâm”, chú ý nhu cầu, năng lực nhận thức, cách thức học tập khác nhau của từng cá nhân học sinh; Tổ chức quá trình dạy học theo hướng kiến tạ o, trong đó học sinh được tham gia tìm tòi, phát hiện, suy luận giải quyết vấn đề; Linh hoạt trong việc vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, kết hợp nhuần nhuyễn, sáng tạo với việc vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học truyền thống; Kết hợp các hoạt động dạy học trong lớp học với hoạt động thực hành trải nghiệm, vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn.

             Về đánh giá kết quả giáo dục môn Toán: Mục tiêu đánh giá là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về sự phát triển năng lực và sự tiến bộ của học sinh trên cơ sở yêu cầu cần đạt ở mỗi lớp học để điều chỉnh các hoạt động dạy học, bảo đảm sự tiến bộ của từng học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục môn Toán nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung. Việc đánh giá thường xuyên do giáo viên phụ trách môn học tổ chức, kết hợp với đánh giá của giáo viên các môn học khác, của bản thân học sinh được đánh giá và của các học sinh khác trong tổ, trong lớp hoặc đánh giá của cha mẹ học sinh, đi liền với tiến trình hoạt động học tập của học sinh, bảo đảm mục tiêu đánh giá vì sự tiến bộ trong học tập của học sinh. Việc đánh giá định kì là đánh giá kết quả giáo dục sau một giai đoạn học tập. Kết quả đánh giá định kì được sử dụng để chứng nhận cấp độ học tập, công nhận thành tích cho người học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Khuyến khích vận dụng kết hợp nhiều phương pháp đánh giá (quan sát, ghi lại quá trình thực hiện, vấn đáp, trắc nghiệm khách quan, tự luận, kiểm tra viết, bài tập thực hành, các dự án học tập, thực hiện nhiệm vụ thực tiễn,…); đồng thời hướng dẫn giáo viên lựa chọn các phương pháp, công cụ đánh giá phù hợp với từng thành phần năng lực toán học.

             Sử dụng đủ và hiệu quả các phương tiện, thiết bị dạy học tối thiểu theo quy định đối với môn Toán. Coi trọng việc sử dụng các phương tiện truyền thống, tăng cường thiết bị dạy học tự làm đồng thời khuyến khích sử dụng các phương tiện nghe nhìn, phương tiện kĩ thuật hiện đại hỗ trợ quá trình dạy học. Khi có điều kiện, giáo viên nên hướng dẫn học sinh cách tìm kiếm thông tin, tư liệu trên Internet hoặc chương trình truyền hình có uy tín về giáo dục để mở rộng vốn hiểu biết và năng lực tự học.

           I. ĐẶC ĐIỂM MÔN HỌC

           Toán học ngày càng có nhiều ứng dụng trong cuộc sống, những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản đã giúp con người giải quyết các vấn đề trong thực tế cuộc sống một cách có hệ thống và chính xác, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Môn Toán ở trường phổ thông góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực toán học cho học sinh; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, vận dụng toán học vào thực tiễn; tạo lập sự kết nối giữa các ý tưởng toán học, giữa Toán học với thực tiễn, giữa Toán học với các môn học và hoạt động giáo dục khác, đặc biệt với các môn Khoa học, Khoa học tự nhiên, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Công nghệ, Tin học để thực hiện giáo dục STEM. Nội dung môn Toán thường mang tính logic, trừu tượng, khái quát. Do đó, để hiểu và học được Toán, chương trình Toán ở trường phổ thông cần bảo đảm sự cân đối giữa “học” kiến thức và “vận dụng” kiến thức vào giải quyết vấn đề cụ thể. Trong quá trình học và áp dụng toán học, học sinh luôn có cơ hội sử dụng các phương tiện công nghệ, thiết bị dạy học hiện đại, đặc biệt là máy tính điện tử và máy tính cầm tay hỗ trợ quá trình biểu diễn, tìm tòi, khám phá kiến thức, giải quyết vấn đề toán học.

           Chương trình môn Toán tiểu học hình thành, phát triển ở học sinh năng lực toán học với các thành tố: tư duy và lập luận toán học; mô hình hoá toán học; giải quyết vấn đề toán học; giao tiếp toán học; sử dụng công cụ, phương tiện học Toán. Đồng thời, môn Toán góp phần hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung đã quy định trong Chương trình tổng thể; giúp học sinh bước đầu xác định được năng lực, sở trường của bản thân nhằm định hướng và lựa chọn nghề nghiệp, rèn luyện nhân cách để trở thành người lao động và người công dân có trách nhiệm.

           II. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC MÔN TOÁN NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH

           Phương pháp dạy học tích cực: PPDHTC là một phương pháp dạy học toán mà ở đó người GV sử dụng một nhóm PP giáo dục và dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học đồng thời chống lại thói quen học tập thụ động của người học.

           Các dấu hiệu tích cực trong học toán gồm:

           – HS hăng hái phát biểu ý kiến.

           - Không bằng lòng lời giải của cô và của bạn

           - Không  bằng lòng với một cách giải quyết duy nhất

           - Thường hay thắc mắc, đặt ra câu hỏi và đòi hỏi được giải đáp, hay chia sẻ suy nghĩ với bạn.

           - Học sinh còn tự giác, chủ động làm bài – tự học, trao đổi nhận xét bài cho bạn – hợp tác.

           1. Phương pháp trực quan

           Là một phương pháp dạy học toán mà ở đó người giáo viên làm cho HS năm được tri thức kĩ năng của môn toán dựa trên các hoạt động quan sát trực tiếp của trẻ đối với các hiện tượng, các sự vật cụ thể có ở đời sống xung quanh trẻ. Khi sử dụng phương pháp trực quan cần lưu ý đồ dùng trực quan phải đẹp, sặc sỡ, rực rỡ. Đồ dùng trực quan phải phong phú đa dạng.

           a) Cách sử dụng

           - Phải có mức độ không được lạm dụng, khi trẻ đã hiểu vấn đề thì không dùng trực quan nữa.

Phải nêu được bản chất toán học của tri thức cần dạy.

           b) Ví dụ

           Dạy số 3 là đưa ba bông hoa liền một lúc, không được đưa ra từng bông một.

           - Khi dạy hình thành phép cộng cho học sinh lớp 1 các vật dụng phải các vật di chuyển được như con gà, con thỏ. ….. vì phép cộng là phép hợp của 2 vật di chuyển được lại với nhau.

           - Không sử dụng các đồ vật vô tri vô giác như bông hoa, cái kẹo, cái ô…..

           - Tăng cường đưa trẻ vào quan sát thực tiễn.

           - Cho trẻ tham gia vào thao tác đồ dùng trực quan

           2. Phương pháp gợi mở – vấn đáp

           a) Định nghĩa

           PPGMVĐ là một phương pháp dạy học toán mà ở đó người giáo viên không đưa ra kiến thức trực tiếp mà giáo viên dùng hệ thống câu hỏi cho HS suy nghĩ trả lời từng câu.

           b) Lưu ý khi sử dụng phương pháp này

           - Câu hỏi phải rõ ràng, ngắn gọn, chính xác.

           - Câu hỏi không được quá dễ hay quá khó.

           - Câu hỏi phải làm cho HS suy nghĩ.

           Cấm đưa ra những câu hỏi mà học sinh chỉ phải trả lời ở dạng: Có, không, đúng, sai.

           c) Ví dụ : 6 + 4 = a

           Hỏi có bao nhiêu bạn kết quả a.

           Bao nhiêu kết quả b.

           - Làm cho trẻ hiểu được điều sai để nhận ra đúng.

           - Không nên kết luận quá sớm.

           - Cho trẻ giải thích kết quả của mình.

           - Ứng xử cho phù hợp không áp đặt.

           d) Cách hỏi

           - GV đưa ra câu hỏi trước để HS suy nghĩ rồi mới yêu cầu cách trả lời.

           - Khi hỏi không nên để HS trả lời đồng thanh, nói leo hoặc “vuốt đuôi”.

           - Khi HS trả lời GV cần chú ý lắng nghe đẻ sửa chữa sai lầm về mặt ngôn ngữ hoặc về mặt toán.

           - Cần khuyến khích HS tự sửa chữa sai lầm của mình với của bạn.

           - Cấm: mắng mỏ, mạt sát, chỉ trích, chửi bới chê bai khi HS trả lời sai.

           3. Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề

           a) Định nghĩa: Dạy học đặt và giải quyết vấn đề là một phương pháp dạy học toán mà ở đó người GV tạo ra các tình huống có vấn đề, rồi điều khiển học sinh tự phát hiện vấn đề hoạt động tự giác và tích cực để giải quyết vấn đề thông qua đó đạt được mục tiêu học.

           b) Thế nào là một vấn đề đối với người học

           - Người học chưa thể thực hiện được yêu cầu đặt ra

           - Người học chưa được học một qui tắc có tính chất thuật giải để giải đáp câu hỏi hoặc để thực hiện yêu cầu đặt ra.

           c) Thế nào là một tình huống có vấn đề

           - Tồn tại một vấn đề theo nghĩa trên.

           - Tình huống phải gửi nhu cầu nhận thức.

           - Phải tạo được niềm tin ở khả năng người học

           d) Các bước tiến hành

           - Bước 1: GV nêu vấn đề, thường là đưa ra tình huống có vấn đề để học sinh trực tiếp chỉ ra vấn đề hoặc là HS sau khi tìm hiểu sẽ tự tìm ra vấn đề.

           - Bước 2: GV hướng dẫn HS tìm các chiến lược để giải quyết vấn đề.

           - Bước 3: GV theo dõi và giúp đỡ HS.

           - Bước 4: Hướng dẫn HS cách trình bày giải quyết vấn đề.

           - Trình bày khả năng ngôn ngữ  và khả năng toán học được hình thành

           Ví dụ: Dạy bài diện tích hình tam giác; Học sinh chuẩn bị 1 tờ giấy a4 hình chữ nhật, dùng thước và bút chì kẻ 1 đoạn thẳng nối 2 góc đối diện và cắt đôi thành 2 hình tam giác vuông. Cho học sinh tìm mối liên hệ giữa chiều cao hình tam giác vuông và chiều rộng hình chữ nhật, giữa 2 hình tam giác vuông khi ghép lại sẽ như thế nào so với hình chữ nhật. Diện tích hình chữ nhật là chiều dài nhân chiều rộng. Vậy tại sao khi tính diện tích hình tam giác vuông ta lại lấy chiều dài cạnh đáy nhân chiều cao chia 2. Đây là một số vấn đề giáo viên nêu ra cho học sinh giải quyết.

           4. Phương pháp luyện tập thực hành

           Định nghĩa: Là phương pháp dạy học toán mà ở đó người GV tổ chức cho HS giải quyết các nhiệm vụ hay các bài tập để tự HS khắc sâu kiến thức đã học hoặc phát triển kiến thức đó trở thành kiến thức mới hoặc vận dụng kiến thức đó làm tính giải toán và áp dụng thực tế.

           - Lưu ý: ¾ tổng số tiết toán là luyện tập thực hành.

           - Phải có sự chuẩn bị tốt cho việc luyện tập thực hành.

           - Tôn trọng tính độc lập của trẻ em, để cho trẻ suy nghĩ tìm ra biện pháp thực hành.

           5. Phương pháp giảng giải – minh hoạ: PPGGMH là một phương pháp dạy học toán mà ở đó người GV dùng lời nói để giải thích tài liệu toán có kết hợp với phương tiện trực quan để hỗ trợ cho việc giải thích.

           - Chú ý: Bất đắc dĩ mới dùng phương pháp này

           - Khi dùng phương pháp này không giảng giải quá 5 phút

           III. Đổi mới đồng bộ PPDH và ĐGHS trong dạy học Toán ở tiểu học

           Để “phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học”, “bồi dưỡng PP tự học, hứng thú học tập, kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm và khả năng tư duy độc lập”, có thể góp phần “phát triển toàn diện NL và PC” của HS tiểu học, định hướng dạy học toán ở tiểu học cần vận dụng một cách đa dạng các hình thức tổ chức với các phương pháp dạy học; chú trọng thực hành, ứng dụng, gắn kết kiến thức toán học với thực tế cuộc sống hằng ngày của các em, với các môn học khác và các hoạt động giáo dục trong hay ngoài nhà trường; chú trọng tổ chức hoạt động tự học (cá nhân, cặp, nhóm, cả lớp, ở nhà…) cho HS (với sự hướng dẫn, giám sát, đánh giá của GV, cha mẹ HS); GV cần đặc biệt chú ý, quan tâm đến việc dạy học phù hợp từng đối tượng HS; kết hợp việc giúp các em tự lĩnh hội được kiến thức toán học (thông qua hoạt động học) với việc hình thành, phát triển NL, PC của HS. GV cần chuyển quá trình thuyết giảng thành quá trình tổ chức hoạt động học cho HS, có thể thông qua các hoạt động: Gợi động cơ, tạo hứng thú; Trải nghiệm, khám phá; Phân tích, rút ra bài học; Thực hành;  Ứng dụng. Qua quá trình thực hiện các hoạt động học toán (cá nhân, cặp, nhóm, cả lớp, ở nhà…), ngoài việc HS hình thành và phát triển NL tư duy, năng lực tính toán thì HS cũng có thể phát triển một số NLPC như tự học, hợp tác, giải quyết vấn đề.

           IV. ĐỔI MỚI LẬP KẾ HOẠCH DẠY HỌC TOÁN

           Giáo viên thiết kế Kế hoạch dạy học (KHDH) Toán theo tinh thần đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy học với tinh thần “dạy học là tổ chức cho học sinh hoạt động để tự tiếp thu kiến thứcvà phát triển năng lực”. Cải tiến cách thiết kế KHDH đảm bảo yêu cầu tinh giản, vững chắc các kiến thức, các hoạt động cơ bản của tiết dạy, đảm bảo cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ  năng phù hợp với trình độ học sinh, nhất là  đối với học sinh là dân tộc thiểu số. Mục tiêu cần đạt cho từng đối tượng học sinh của lớp, những việc giáo viên cần phải làm, những yêu cầu cụ thể dành cho các nhóm học sinh khác nhau và phát triển năng lực học sinh theo yêu cầu.

           Để đổi mới phương pháp dạy học Toán tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông 2018 theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học cần thực hiện như sau:

           - Trước hết Giáo viên phải dành thời gian đọc, nghiên cứu kĩ chương trình tổng thể và chương trình môn học, trong đó yêu cầu phải nắm vững mục tiêu môn Toán và các yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực học sinh. Nắm vững mục tiêu của môn toán trong cả cấp học trước khi xác định mục tiêu bài học. Điều này giúp giáo viên nhận biết khả năng tư duy của trẻ, nhận biết khiếm khuyết ở một phần nào của nội dung để có biện pháp phù hợp.

           - Theo nội dung sách giáo khoa, xác định mục tiêu cụ thể cho từng bài.

           - Từ mục tiêu và nội dung sách giáo khoa thiết kế các hoạt động dạy học, mỗi hoạt động dạy học phải xác định được đạt mục tiêu, phát triển năng lực nào cho học sinh, mỗi hoạt động dạy học giáo viên phải thiết kế và lựa chọn sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học nào cho phù hợp, trong mỗi phương pháp ấy giáo viên sử dụng kỹ thuật, hình thức đánh giá nhận xét như thế nào nhằm phát triển năng lực học sinh.

           1. Chuẩn bị cho việc lập kế hoạch dạy học

           – Kế hoạch dạy học không có kiểu giáo án mẫu như trước đây dùng chung cho mọi giáo viên.

           - Giáo viên thật sự tâm huyết, cầu tiến, đổi mới trong Kế hoạch DH môn học từng bài nên có một phần ghi những kinh nghiệm thành công, những nội dung cần điều chỉnh sau khi dạy hoc cũng như ghi các nhận xét với những học sinh nhằm làm cơ sở cho việc nhận xét đánh giá thường xuyên theo Thông tư 22.

           - Nói chung, kế hoạch dạy- học toán ghi lại cách tổ chức, hướng dẫn cho học sinh học trong một tiết dạy cụ thể, không phải là bài soạn nội dung để truyền thụ đến học sinh.

           2. Kế hoạch dạy học cần chỉ rõ vai trò, mối tương tác giữa các chủ thể (Giáo viên – Học sinh) trong tiết dạy.

           Vậy Kế hoạch dạy-học cần thể hiện điều gì?

           Thể hiện rõ mục tiêu bài dạy:

           - Kiến thức cơ bản

           - Kĩ năng cơ bản.

           - Yêu cầu giáo dục phát triển.

           - Các Phẩm chất, năng lực được hình thành và phát triển.

           - Về cơ bản, nội dung, chương trình, mục tiêu dạy học có yêu cầu đáp ứng 2 nhiệm vụ: Phổ cập cho các đối tượng học sinh trong lóp và phát triển cho các học sinh cao hơn.

– Mục tiêu bài dạy thể hiện rõ tính phù hợp cho nhiều đối tượng.

           3. Quá trình tổ chức dạy- học

           Bao gồm: Mỗi quy trình cần thể hiện:

           - Phương pháp đặc trưng, trọng tâm – phương pháp phối hợp.

           + Các hoạt động chủ yếu của Thầy và Trò (hình thức hoạt động, giải quyết nhiệm vụ nào? Yêu cầu của mỗi nhiệm vụ là gì? Hệ thống các lệnh hướng dẫn của Thầy và hoạt động đáp ứng của Trò …)

           + Lưu ý: Các hình thức tổ chức hoạt động (Nhóm 2, nhóm 4, ……, các trò chơi học tập, …) đều trập trung vào phương pháp chủ yếu, đặc trưng.

           VD: Giáo viên có thể cho nhóm 4 học sinh cùng tham gia hoạt động (hợp tác) để thực hiện việc xác định một nội dung học tập nào đó bằng phương pháp quan sát, so sánh, phân tích, quy nạp, … thông qua các lệnh điều khiển hoạt động cho học sinh để hướng dẫn học sinh phương pháp tiếp cận vấn đề, phương pháp học tập (phương pháp khác hình thức hoạt động ).

           + Thể hiện sự hoạt động đồng bộ giữa Thầy với Trò, sự tương ứng giữa các hoạt động, sự hợp tác làm việc; sự theo dõi – kiểm soát; tư vấn thúc đẩy các hoạt động của cá nhân, nhóm, của cả lớp.

           V. Cấu trúc kế hoạch dạy – học Toán

           1. Hoạt động 1: Hoạt động sư phạm hoặc Khởi động, kết nối

           - Tổ chức, thiết lập môi trường làm việc, quan trọng là chuẩn bị tâm thế, tư thế cho học sinh bắt đầu học toán.

           - Tổ chức kiểm tra, có thể tái hiện kiến thức cũ đã học hoặc lồng ghép tùy giáo viên; đánh giá nhiệm vụ học tập (tổng quát, toàn diện, không chỉ thiên về kiến thức, kĩ năng cơ bản).

           - Tổ chức kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh.

           - Giáo viên chuẩn bị đồ dùng dạy học, bảng lớp, giới thiệu bài học mới.

           2. Hoạt động 2: Khám phá

           - Giúp học sinh khám phá nội dung kiến thức mới và cơ bản.

           - Ơ hoạt động này, giáo viên lên kế hoạch đầy đủ (bao gồm: tiến trình các bước dạy, phương pháp chủ yếu, hoạt động của Thầy và Trò, sử dụng các phương tiện, công cụ dạy học; hệ thống lệnh điều hành các hoạt động, … )

           3. Hoạt động 3: Hoạt động luyện tập cơ bản

           - Mục đích chủ yếu là tạo sự nối kết giữa kiến thức vừa khám phá với luyện tập đơn giản.

           - Ở hoạt động này, giáo viên chỉ cần nêu các lệnh điều hành:

           + Nêu nhiệm vụ tổng quát

           + Yêu cầu cần thực hiện.

           VD:

           + Nhiệm vụ tổng quát: thực hiện bài tập số …… trang ……

           + Yêu cầu:

           * Hình thức hoạt động: Hoạt động theo nhóm … (2, 3, 4, …)

           - Tìm hiểu đề bài, những đặc điểm cơ bản của đề bài và tìm phương pháp giải.

           * Hình thức hoạt động: nhóm 2:

           - Trao đổi cách làm, kết quả, đánh giá kết quả lẫn nhau.

           - Báo cáo, thông tin lại kết quả làm việc của nhóm (kết quả, các sai sót, nguyên nhân, cách giải quyết).

           4. Hoạt động 4: Hoạt động luyện tập thực hành

           - Mục đích chủ yếu là giúp học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng đã nắm bắt ở hoạt động 2, 3 vào những nội dung luyện tập, những tình huống khác nhau ở mức độ cao hơn.

           - Ở hoạt động này, giáo viên cũng chỉ nêu các lệnh điều hành như ở hoạt động 3.

           Nhưng có dự kiến thêm về số lượng bài thực hành cho các đối tượng khác nhau (theo mục tiêu hoàn thành khác nhau).

           5. Hoạt động nối tiếp sau tiết học

           - Mục đích chủ yếu: Tạo cơ hội cho các em gắn các nội dung đã học vào hoạt động thực tiễn, thích ứng và tự lực hoặc tự xây dựng kế hoạch hợp tác (với anh chị, cha mẹ hoặc bạn bè hoặc với những điều kiện khác nhau, …)

           - Ở hoạt động này GV nên có bảng hướng dẫn thực hiện công việc:

           VD: Tìm hiểu vấn đề này ở từ điển (tên, nhà xuất bản), hoặc tìm hiểu vấn đề này thêm ở tạp chí, tập san, chuyên san … ở thư viện, tiệm sách; hoặc ở website ……; hoặc sưu tầm các mẫu vật có ở vườn nhà, …… nên ghi chép những nội dung quan sát được; nên nhờ sự cộng tác của anh chị, người thân, bạn bè, ……

           Mỗi hoạt động đều nên có lưu ý về tổ chức nhận xét, rút kinh nghiệm, củng cố, nêu giải pháp khắc phục.

MINH HỌA

KẾ HOẠCH DẠY- HỌC MÔN TOÁN

I. Mục tiêu

– Là mục tiêu cần đạt, phải đạt được sau tiết dạy.

– Mục tiêu phải đánh số thứ tự 1, 2, 3…..

– Từng mục tiêu phải chỉ rõ mức độ cần đạt của HS lớp mình.

– Mục tiêu cần ghi rõ thành câu

– Yêu cần cần đạt về phẩm chất, năng lực học sinh….

– Các mục tiêu phải phủ kín cả nội dung bài mình dạy bao gồm phần khung xanh trong SGK và hệ thống bài tập áp dụng

II. Hoạt động sư phạm

– Tổ chức, thiết lập môi trường làm việc, chuẩn bị tâm thế cho học sinh học toán, tư thế cho học sinh.

– Tổ chức kiểm tra, tái hiện kiến thức cũ đã học; đánh giá nhiệm vụ học tập (tổng quát, toàn diện, không chỉ thiên về kiến thức, kĩ năng cơ bản).

– Tổ chức kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh.

– Giáo viên chuẩn bị đồ dùng dạy học, bảng lớp, giới thiệu bài học mới.

III. Các hoạt động dạy – học chủ yếu

1. Hoạt động 1

– Nhằm đạt mục tiêu số mấy……….

– Hoạt động lựa chọn …………………………………………..

– Hình thức tổ chức……………………………………………………………

– Phương pháp lựa chọn ……………………………………….

– Phẩm chất, năng lực hình thành và phát triển……….

Hoạt động của GV

Hoạt động mong đợi ở HS

Dự kiến kỹ thuật, hình thức nhận xét đánh giá thường xuyên

– Ghi câu hỏi

– Câu lệnh

– Không ghi câu kể lể

Vd:Em cho biết tranh vẽ gì?

Các hoạt động tiếp theo

ghi như HĐ1

IV. HĐ tiếp nối: Củng cố, nhận xét, dặn dò…..

V. Chuẩn bị ĐDDH

– GV

– HS

HOẶC

Hoạt động …….

Mục tiêu hoạt  động

Phương pháp

Hình thức

tổ chức

Hoạt động

giáo viên

Hoạt động

Học sinh

           Để góp phần “phát triển toàn diện NL và PC” của HS tiểu học, trong quá trình dạy học Toán, GV cần phải tổ chức cho HS hoạt động học (theo cá nhân, cặp đôi, nhóm hay cả lớp) cùng với hoạt động tự nhận xét và nhận xét sản phẩm của bạn hay nhóm bạn, qua đó HS có thể tự chiếm lĩnh nội dung kiến thức, rèn kĩ năng cần thiết.Khi HS thực hiện hoạt động học thì GV thực hiện các hoạt động ĐG (quan sát, tư vấn, hướng dẫn HS, nhận xét…). Để có thể tổ chức cho HS hoạt động học được hiệu quả, GV cần phải xác định rõ mục tiêu hay yêu cầu cần đạt và nội dung bài học, từ đó thiết kế thành các hoạt động học và hoạt động ĐG (nhận xét, tự nhận xét…) để HS thực hiện. GV tổ chức hoạt động dạy học Toán cùng với hoạt động ĐG để góp phần hình thành, phát triển NLPC HS. Trong quá trình tổ chức hoạt động học Toán và ĐGHS trong giờ học Toán, để thực hiện yêu cầu “vì sự tiến bộ của HS”, GV phải được chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong toàn bộ giờ học nói riêng và quá trình giảng dạy nói chung. Với trách nhiệm của mình, cùng với năng lực sẵn có và sự tâm huyết nghề nghiệp, yêu thương HS, việc đổi mới đồng bộ PPDH và ĐGHS trong DH môn Toán ở tiểu học sẽ giúp HS tiến bộ trong học tập môn Toán, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học./.

                             Nguyễn Duy Hải – Trưởng phòng GDTH Sở GDĐT

Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh Tiểu Học

Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý. Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan. Mỗi gi áo viên với kinh nghiệm riêng của mình cần xác định những phương hướng riêng để cải tiến phương pháp dạy học và kinh nghiệm của cá nhân.

Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDH ở Tiểu học nói riêng là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học. Đó cũng là những xu hướng tất yếu trong cải cách PPDH ở mỗi nhà trường.

Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học ((sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy. Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức tự chiếm lĩnh kiến thức) với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.

Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như : học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp… Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng KT vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học.

Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định. Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh. Tích cực vận dụng CNTT trong dạy học.

, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn. Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn…

chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới… Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo.

, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thành môi trường giao tiếp GV – HS và HS – HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung.

, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót (tạo điều kiện để học sinh tự bộc lộ, tự thể hiện, tự đánh giá) .

Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải quyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề. Học được đặt trong một tình huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức. Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của học sinh. Các tình huống có vấn đề là những tình huống khoa học chuyên môn, cũng có thể là những tình huống gắn với thực tiễn. Trong thực tiễn dạy học hiện nay, dạy học giải quyết vấn đề thường chú ý đến những vấn đề khoa học chuyên môn mà ít chú ý hơn đến các vấn đề gắn với thực tiễn. Tuy nhiên nếu chỉ chú trọng việc giải quyết các vấn đề nhận thức trong khoa học chuyên môn thì học sinh vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình huống thực tiễn. Vì vậy bên cạnh dạy học giải quyết vấn đề, lý luận dạy học còn xây dựng quan điểm dạy học theo tình huống.

Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học. Hiện nay, việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông từng bước được tăng cường. Tuy nhiên các phương tiện dạy học tự làm của giáo viên luôn có ý nghĩa quan trọng, cần được phát huy. Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện dạy học trong dạy học hiện đại. Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng như các phương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử , Trường học lớn(E-Learning), mạng trường học kết nối (BigSchool) …

Kỹ thuật dạy học là những cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học. Có những kỹ thuật dạy học chung, có những kỹ thuật đặc thù của từng phương pháp dạy học, ví dụ kỹ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại. Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như “động não”, “tia chớp”, “bể cá”, bản đồ tư duy , kỹ thuật khăn trải bàn …

Phương Pháp Dạy Học Môn Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh Dương Quang Ngọc.

Bản thuyết trình với chủ đề: “PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Dương Quang Ngọc.”- Bản ghi của bản thuyết trình:

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINHDương Quang Ngọc

1. Thực trạng vận dụng đổi mới PPDHCác trường phổ thông đã áp dụng nhiều PPDH mới, từng bước thử nghiệm một số mô hình DH với mục đích nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo và tiềm năng của người học, nhấn mạnh đến hoạt động học và vai trò của HS trong quá trình dạy học. Trong quá trình dạy học GV đã chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng, tăng cường thực hành và gắn nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống; rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, tự nghiên cứu bồi dưỡng hứng thú, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho HS. Việc sử dụng các thiết bị dạy học, ứng dụng CNTT trong dạy học đã đạt được những kết quả đáng khích lệ…, Nhiều tài liệu về đổi mới PPDH đã được biên soạn; nhiều khóa tập huấn, nhiều hội thảo của các CT, dự án trong GD đã giúp GV có những hiểu biết khá cụ thể về cách thức áp dụng các PPDH mới một cách hợp lí

1. Thực trạng vận dụng đổi mới PPDHNhóm PPDH tích cực vận dụng chưa đạt hiệu quả như mong muốn (sử dụng giờ thao giảng, thi GV giỏi; thực hiện một cách hình thức, hời hợt). PP thuyết trình vẫn đang là PPDH chủ đạo; thường chú trọng vào cung cấp kiến thức, khám phá nội dung mà chưa chú trọng vào việc dạy cách học cho HS. Một số môn học GV chưa chú trọng tổ chức các hoạt động thực hành, thí nghiệm trên lớp hoặc có tổ chức nhưng chưa hiệu quả. Ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong dạy học chưa linh hoạt, chưa đem lại hiệu quả như mong muốn. Kiểm tra, đánh giá chậm đổi mới dẫn đến việc đổi mới PPDH gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân: Nhận thức về sự cần thiết phải đổi mới PPDH, kiểm tra, đánh giá và ý thức thực hiện đổi mới của một bộ phận CBQL, GV chưa cao. Năng lực của đội ngũ GV về vận dụng các PPDH tích cực, sử dụng TBDH, ứng dụng CNTT- truyền thông trong dạy học còn hạn chế. Nội dung, chương trình nhiều môn học, cấp học tuy đã được giảm tải song vẫn còn nặng. Áp lực thi cử, thành tích vẫn còn khiến GV “sợ” đổi mới

2. Kinh nghiệm quốc tế về tổ chức dạy học, về phối hợp sử dụng các phương pháp, biện pháp, KTDH nhằm hình thành, phát triển NL người học. Mĩ: dạy học quan tâm đến tính phân hoá trong trình độ của HS, chú trọng tới việc phát triển NL cho người học. HS được học thông qua hoạt động và bằng hoạt động, chú trọng cách học để rèn luyện KN, vận dụng KN vào giải quyết các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống. Úc: Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cũng được hướng đến mục tiêu hình thành những năng lực chung và những năng lực đặc thù cho HS bằng cách tăng cường hoạt động cũng như tính tích cực, chủ động của HS.

Hàn Quốc: GV sử dụng nhiều PPDH khác nhau để giúp HS đạt được những kiến thức cơ bản một cách thuận lợi nâng cao khả năng tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề. HS lựa chọn phương pháp tự học cho các em một cách hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu học tập môn học, bao gồm cả những vấn đề của người học, môi trường giáo dục và hoàn thiện năng khiếu. Ấn Độ: GV luôn chú trọng cung cấp cơ hội cho HS được học thông qua những hoạt động phù hợp, có sức lôi cuốn nhằm phát triển sự hiểu biết, kĩ năng và giá trị

4. Những định hướng chung, tổng quát về đổi mới PPDH các môn học định hướng phát triển năng lựcPhải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin,…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy. Chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”. Việc sử dụng PPDH gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học. Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định. Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh. Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học.

6. Một số biện pháp đổi mới PPDH phát triển NLHSCải tiến các PPDH truyền thống Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề Vận dụng dạy học theo tình huống Vận dụng dạy học định hướng hành động Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin trong dạy học Sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo Tăng cường các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn Bồi dưỡng phương pháp học tập cho HS

7. Hệ thống những PPDH chung cho các môn học và những PPDH đặc thùNhững phương pháp dạy học chung: Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động: Phương pháp làm việc theo lớp; Phương pháp làm việc nhóm; Phương pháp làm việc độc lập; Phương pháp làm việc theo góc; Phương pháp làm việc theo hợp đồng; Phương pháp làm việc theo dự án. Nhóm phương pháp dạy học truyền thống: Phương pháp thuyết trình; Phương pháp đàm thoại.

7. Hệ thống những PPDH chung cho các môn học và những PPDH đặc thùNhóm phương pháp dạy học đặc thù gắn với từng môn học: PP giao tiếp, PP bình giảng trong dạy học Ngữ Văn. Phương pháp hình thành kĩ năng xác lập mối quan hệ nhân quả; PP sử dụng bản đồ; Phương pháp khảo sát địa lí địa phương – thực địa; Phương pháp GQVĐ trong dạy học Địa lí. PP thí nghiệm; PP thực nghiệm; PP thực hành; PP bàn tay nặn bột trong dạy học môn Khoa học tự nhiên. PP làm mẫu; PP luyện tập; PP trình diễn trong dạy học môn Nghệ thuật.

8. Vận dụng thiết kế minh họa thể hiện phương pháp và kĩ thuật dạy học theo định hướng phát triển năng lực các môn/lĩnh vực học tập Để hình thành và phát triển năng lực  thiết kế và tổ chức được chuỗi hoạt động  Kế hoạch dạy học cụ thể: xác định cơ hội phát triển năng lực qua bài học; thiết kế các hoạt động dạy học để hướng dẫn HS thực hiện nhằm đạt được mục tiêu bài học. Môn Ngữ văn Môn Toán Lĩnh vực KH tự nhiên Lĩnh vực KH xã hội Lĩnh vực nghệ thuật.

Một số vấn đề còn tồn tại, bàn luận cần giải quyết tiếp tục:Chưa học hỏi được nhiều từ nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về PPDH PTNL Mới chỉ đề cập tới PPDH PTNL ở một vài khía cạnh, một vài môn học. Còn chưa nêu bật được đặc trưng của PPDH PTNL (chung, đặc thù môn học)? Vận dụng chúng ntn? Đánh giá ra sao? Các bài soạn minh họa chưa làm “nổi” được PPDH, đánh giá NL.

Phát Triển Văn Hóa Đọc Thông Qua Đổi Mới Tổ Chức Hoạt Động Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Người Học

1. Thông qua đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học

1) Xây dựng kế hoạch hướng dẫn học sinh phương pháp đọc sách nhằm phát riển chuyên môn cũng như đọc sách, báo nói chung (kĩ thuật đọc hiệu quả, cách duy trì hứng thú đọc, cách sử dụng kết quả đọc, cách lập thư mục tài liệu tham khảo,…). Dạy cách đọc sách là một cách thức dạy học sinh tự học, tự phát huy tiềm năng, tự phát triển toàn diện theo sở thích, nhu cầu của mỗi cá nhân; vì vậy cần phải mở các lớp giáo dục kĩ năng, phương pháp đọc, phương pháp thu thập và xử lí thông tin cho học sinh. Ví dụ: ở lứa tuổi mầm non, học sinh có thể được nghe, rồi phụ huynh hướng dẫn cách xem truyện tranh để hiểu, để nhớ, để kể lại được chuyện; nhưng khi vào Tiểu học, học sinh cần được giáo viên hướng dẫn cách đọc sách, báo, để hỗ trợ việc học… Ở mức cao hơn, học sinh cần được hướng dẫn cách đọc từng loại sách, báo: cách đọc sách lịch sử khác với cách đọc sách văn học, cũng khác với cách đọc sách toán học,… Và ở mức cao hơn nữa: đọc thơ khác với đọc truyện, đọc văn miêu tả khác với văn kể chuyện, khác với văn thuyết minh,…

2) Theo tinh thần “chuyển giao nhiệm vụ học tập cho mỗi học sinh”, thực hiện đổi mới yêu cầu chuẩn bị bài học của học sinh thông qua phiếu giao nhiệm vụ học tập để học sinh chủ động khai thác thông tin từ việc đọc sách giáo khoa và các loại sách báo tham khảo, bổ sung hoặc thay thế việc đơn thuần chỉ yêu cầu trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa. Ngoài việc tổ chức cho học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trên lớp, cần coi trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn học sinh học tập ở nhà theo hướng tăng cường khai thác kiến thức, dữ liệu/ngữ liệu từ các nguồn sách báo, tài liệu phù hợp với chương trình môn học, lớp học và cấp học. Ví dụ: ứng với từng chương, từng phần kiến thức trong chương trình cần đọc loại sách báo gì, ở mức độ nào để củng cố; mức độ nào để mở rộng; mức độ nào để nâng cao,…

6) Để đáp ứng “nhu cầu phát triển và phát huy tiềm năng sáng tạo của mỗi cá nhân”, đẩy mạnh việc hình thành và tổ chức hiệu quả các loại hình sinh hoạt câu lạc bộ “Em yêu khoa học” và xây dựng cũng như sử dụng hiệu quả các tủ sách chuyên đề như tủ sách “STEM”, “Lịch sử và văn hóa”, “Vật lí vui”, “Thường thức pháp luật”, “Toán học và tuổi trẻ”, “Văn học và tuổi trẻ”,… thu hút học sinh tham gia thuyết trình, báo cáo, chia sẻ kết quả nghiên cứu.

2) Thúc đẩy hoạt động đọc của học sinh thông qua đổi mới cách thức kiểm tra đánh giá: khuyến khích học sinh đọc sách báo mở rộng để cập nhật thông tin trong hồ sơ học tập, vở học tập; qua việc học sinh báo cáo kết quả thực hiện một dự án học tập, nghiên cứu khoa học, kĩ thuật, báo cáo kết quả thực hành, thí nghiệm; đánh giá qua bài thuyết trình (bài viết, bài trình chiếu, video clip…) về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập; qua tham gia Cuộc thi nghiên cứu khoa học kĩ thuật theo Công văn số 3162/BGDĐT-GDTrH ngày 24/6/2015 của Bộ GDĐT và Cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn dành cho học sinh trung học theo Công văn số 3790/BGDĐT-GDTrH ngày 29/7/2015.

3) Tích cực tổ chức hoạt động đề xuất và lựa chọn, hoàn thiện các câu hỏi, bài tập kiểm tra theo định hướng phát triển năng lực để bổ sung cho thư viện câu hỏi của trường. Tăng cường xây dựng nguồn học liệu mở (thư viện học liệu) về câu hỏi, bài tập, đề thi, kế hoạch bài học, tài liệu tham khảo có chất lượng trên website của Bộ (tại địa chỉ http://truonghocketnoi.edu.vn), của sở/phòng GDĐT và các trường học.

Tăng cường đánh giá sự vận dụng kiến thức trong chương trình giáo dục phổ thông vào thực tiễn đời sống; tiếp tục mở rộng qui mô và mức độ thường xuyên gắn kết yêu cầu và phạm vi vấn đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh theo chương trình giáo dục phổ thông với những vấn đề thời sự của quê hương đất nước và quốc tế thể hiện qua sự cập nhật thông tin khai thác, tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu, sách báo ngoài chương trình khi xây dựng đề thi, kiểm tra theo ma trận. Ví dụ: yêu cầu học sinh trình bày thái độ trước sự kiện Trung Quốc đặt giàn khoan HD981 trái phép, vi phạm chủ quyền của nước ta (Đề thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2014); yêu cầu học sinh thể hiện tình cảm của mình đối với người lính đảo qua một đoạn thơ của Trần Đăng Khoa (Đề thi Trung học phổ thông quốc gia năm 2015),…

Mortimer J.Adler – tác giả của tác phẩm kinh điển về đọc sách thông minh đã từng khẳng định: “Đọc tốt, hay đọc tích cực, không chỉ tốt cho bản thân việc đọc, cũng không chỉ là một phương tiện giúp ta tiến bộ trong công việc hay nghề nghiệp. Nó còn giúp ta giữ cho trí óc sống và phát triển”.

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu quan điểm: “Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”. Theo đó, việc đổi mới hình thức hình thức tổ chức và phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực người học có ý nghĩa thiết thực góp phần phát triển văn hóa đọc trong nhà trường đồng thời giúp học sinh rèn luyện năng lực tự học và học tập suốt đời.

Tài liệu tham khảo

1. Hồ Chí Minh, Về vấn đề giáo dục, Nxb Giáo dục, 1990.

2. Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên) (1997), Quá trình dạy – tự học, Nxb Giáo dục.

3. Richard Paul, Linda Elder (2015), Cẩm nang tư duy đọc, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Mortimer J.Adler, Charles Van Doren (2015), Phương pháp đọc sách hiệu quả, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân.

5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015): Kỉ yếu Hội thảo “Phát triển văn hoá đọc trong nhà trường và cộng đồng“.

Bạn đang xem bài viết Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Toán Tiếp Cận Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông 2022 Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh Tiểu Học trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!