Xem Nhiều 6/2023 #️ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Cho Học Sinh Tiểu Học Huyện Tây Giang Skkn 20142015 Nguyen Quoc Ky Doc # Top 8 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 6/2023 # Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Cho Học Sinh Tiểu Học Huyện Tây Giang Skkn 20142015 Nguyen Quoc Ky Doc # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Cho Học Sinh Tiểu Học Huyện Tây Giang Skkn 20142015 Nguyen Quoc Ky Doc mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Năm học : 2014 -201 5

Con người được vũ trang bằng những tri thức hiện đại sẽ là động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế – xã hội. Do vậy giáo dục, đào tạo giữ vai trò cốt tử đối với mỗi quốc gia, phát triển giáo dục phải đi trước phát triển kinh tế.

Như vậy giáo dục đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành nhân cách của con người, nếu không quan trọng hoá vai trò của giáo dục thì nhân cách của con người sẽ không hình thành theo những chuẩn mực nhất định của xã hội.

I- Thực trạng giáo dục huyện Tây Giang:

Những thành tựu và kết quả nói trên, trước hết bắt nguồn từ truyền thống hiếu học của dân tộc; sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, của mỗi gia đình và toàn xã hội; sự tận tụy của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; sự ổn định về chính trị cùng với những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội của huyện nhà.

Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều bất cập. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí có trường hợp vi phạm đạo đức nhà giáo

Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả. Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác dạy và học còn thiếu và lạc hậu, hiện nay vẫn còn trường học bán kiên cố, phòng thư viện, phòng đọc, phòng học chức năng hầu hết các trường chưa đầu tư xây dựng đầy đủ.

– Lãnh đạo Đảng, chính quyền các cấp (lực lượng quan trọng quyết định sự đầu tư cơ sở vật chất cho nhà trường và cũng là lực lượng tạo cơ chế và tạo điều kiện cho việc XHHGD triển khai thuận lợi) .

– Gia đình, cha mẹ học sinh, ban đại diện cha mẹ học sinh (lực lượng có nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích trực tiếp cùng chia sẻ với nhà trường và cũng là lực lượng quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đối với học sinh) .

– Các cơ quan, ban ngành (nhất là các ngành có chức năng, có trách nhiệm đối với nhà trường như y tế, công an, bảo vệ, Ủy ban Bảo vệ chăm sóc trẻ em, các tổ chức đoàn thể như Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu chiến b inh, Hội Khuyến học, tổ chức từ thiện,…vv ) .

– Các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ tạo khả năng liên kết trong việc huy động các nguồn lực vật chất .

– Bản thân ngành giáo dục đào tạo cũng là một đối tượng để XHHGD

Trong quá trình huy động các nhóm đối tượng thực hiện hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục cần thực hiện tốt các nguyên tắc huy động cộng đồng tham gia xây dựng giáo dục gồm:

– Chức năng nhiệm vụ: Nhà trường cũng như các lực lượng xã hội, các tổ chức,… đều có những chức năng và trách nhiệm riêng. Để khai thác, phát huy, khuyến khích họ tham gia vào một hoạt động nào đó thì phải phát hiện và nhằm đúng chức năng, t rách nhiệm của đối tác. Thí dụ: Đối với cấp ủy và chính quyền địa phương thì nội dung huy động phải là chủ trương, văn bản chỉ đạo, hoặc đất xây dựng,… – Dân chủ: tạo môi trường công khai, bình đẳng để cộng đồng hiểu đúng về giáo dục và nhà trường hơn, đồng thời góp phần thực hiện nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” các hoạt động XHHGD để mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội phát triển toàn diện và mang lại hiệu quả thiết thực. – Luật pháp : XHHGD phải tuân thủ pháp luật Nhà nước, có nghĩa là cần dựa trên cơ sở pháp lý. Ngược lại, các cơ quan đoàn thể, các tổ chức xã hội,… cũng cần có những cơ sở pháp lý để triển khai cũng như để tham gia huy động nguồn lực cho giáo dục.

– Phù hợp và thích ứng: Cán bộ quản lý giáo dục phải biết lựa chọn thời gian thích hợp nhất để đưa ra một chủ trương XHHGD. Tuy nhiên, để thực hiện nguyên tắc này là phải xây dựng cho được kế hoạch cụ thể và kế hoạch mang tính định hướng. – Truyền thống, tình cảm: là sự khơi dậy và phát huy truyền thống hiếu học, tôn trọng đạo lý, đề cao sự học, đề cao giá trị của học vấn… của mỗi gia tộc, dòng họ; niềm tin của cá nhân vào sự nghiệp phát triển chung của giáo dục, của từng nhà trường để có thể huy động nhiều nguồn lực khác nhau chăm l o cho sự nghiệp giáo dục .

Kinh nghiệm cho thấy, trong nhiều trường hợp đối tượng tham gia XHHGD tuy ít nhưng lại cho những kết quả bất ngờ nếu như người cán bộ quản lý giáo dục biết đột phá vào các bước phát triển quan trọng có thể làm thay đổi chất lượng giáo dục. Ngành giáo dục và đào tạo là lực lượng nòng cốt trong việc triển khai công tác XHHGD trong đó bản thân nhà trường, cán bộ quản lý giáo dục cùng tập thể sư phạm, đội ngũ giáo viên giữ vai trò quan trọng trong quá trình giảng dạy và giáo dục trẻ.

Chương trình đảm bảo chất lượng trường học (Seqap) hiện nay đang triển khai dự án đảm bảo chất lượng giáo dục (Seaqap) và dự án mô hình trường học mới (Vnen) . Nhiều địa phương đang tiến đến kiên cố hoá 100% trường lớp. Về đ ội ngũ giáo viên trong chuẩn hóa chất lượng, hoàn thiện đội ngũ thì chưa mạnh còn nhiều bất cập…Chủ trương xã hội hoá giáo dục của Đảng, Nhà nước ta là giải pháp tốt nhất để giải quyết các vấn đề nêu trên. Nhưng xã hội hoá như thế nào phải được cụ thể hoá với từng cơ quan đơn vị, cộng đồng và cá nhân. Ví dụ : quyên góp sách giáo khoa cũ, bút, quần áo… giúp học sinh nghèo là một cách xã hội hoá mà công dân nào cũng có thể tham gia được cốt là cái “Tâm”

2. Chú trọng tình hình đội ngũ nhà giáo:

Cần giải quyết tốt vấn đề giáo viên, tăng cường đầu tư cho giáo dục, cải tiến cách dạy và học. Quan tâm đặc biệt đến việ c phát triển giáo dục vùng thôn , bản , đặc biệt là các xã vùng trên . Quyết tâm xây dựng một nền gi áo dục đậm đà sắc thái Cơ tu , cần xác định đó là mục tiêu phát triển của giáo dục huyện Tây Giang hiện nay.

Như vậy, việc ngành giáo dục đào tạo thực thi biện pháp cần thiết để khắc phục tình trạng “ngồi sai lớp” và giảm thiểu tới mức thấp nhất học sinh yếu kém là biểu hiện cụ thể của lương tâm và trách nhiệm cao quý của nhà giáo; và còn là việc làm nhân đạo của ngành giáo dục. Trách nhiệm là ở chỗ, nhà giáo đã thực sự có trách nhiệm đến cùng với “sản phẩm” do mình đào tạo ra, không như tình trạng trước đây là hình như “vô can” đối với “sản phẩm” của mình làm ra. Lương tâm là không vì khó khăn, vất vả mà làm ra những “sản phẩm” thứ cấp, làm thiệt thòi cho nhân dân, gây khó khăn cho xã hội. Lương tâm và trách nhiệm còn ở chỗ, việc bồi dưỡng học

* Người quản lý phải hiểu được tầm quan trọng của công tác đảm bảo chất lượng giáo dục trong nhà trường.

* Người quản lý cần phải thấy rõ vấn đề chất lượng giáo viên là một trong những vấn đề cốt lõi của công tác đảm bảo chất lượng học tập.

Thứ hai : nhữn g người có trách nhiệm trong ngành giáo dục đã có bao giờ tự đánh giá khả năng của mình liệu còn phù hợp để đảm nhiệm công tác này không ?

Thứ tư: Công tác tuyển dụng giáo viên phải học trường sư phạm, có trình độ chuyên môn xếp loại khá, giỏi khi ra trường.

Như vậy m uốn đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục huyện nhà thì nhà trường phải chuyển hẳn sang dạy và học để hình thành và phát triển năng lực sống thực ở thế hệ trẻ, để họ có thể tạo lập cuộc sống tốt đẹp của chính họ, đồng thời có thể giúp gia đình và đóng góp, cống hiến cho cộng đồng, xã hội. Việc dạy và học phải nhằm hình thành và phát triển giá trị bản thân của người học. Thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục, đồng thời quán triệt tư tưởng giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, với nòng cốt là đội ngũ nhà giáo có lương tâm và tay nghề tốt, quản lý giáo dục theo một triết lý giáo dục đúng đắn thì mới có thể đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục. Phải từ bỏ các triết lý lạc hậu, thay vào đó phải can đảm tiến lên thực hiện nền giáo dục như ở các vùng thuận lợi hiện nay. Dạy người trong nền giáo dục là đề cao tính nhân văn: rèn luyện nhân cách, phẩm chất trí tuệ, năng lực cảm thụ, ý thức cộng đồng, hướng theo thang giá trị phổ quát của nhân loại đương thời. Có như thế mới có thể hội nhập thành công và mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh mới có cơ may thành hiện thực. Bằng không chúng ta sẽ mãi lẹt đẹt theo sau thiên hạ và cái mục tiêu ấy sẽ mãi xa vời.

Đại hội XI của Đảng đã chọn nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục nước nhà làm một trong ba khâu đột phá của chiến lược 2011 – 2020.

6 . Đổi mới trong kiểm tra đánh giá:

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Cho Học Sinh Tiểu Học Huyện Tây Giang

ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY GIANG PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Đề tài: Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh Tiểu học huyện Tây Giang

Người thực hiện : Chức vụ : Phó trưởng phòng Năm học : 2014-2015

I. Tên đề tài: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CHOHỌC SINH TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂY GIANGII. Đặt vấn đề:Con người được vũ trang bằng những tri thức hiện đại sẽ là động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế – xã hội. Do vậy giáo dục, đào tạo giữ vai trò cốt tử đối với mỗi quốc gia, phát triển giáo dục phải đi trước phát triển kinh tế. Sinh thời Hồ Chủ tịch đã nói: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên”. Như vậy giáo dục đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành nhân cách của con người, nếu không quan trọng hoá vai trò của giáo dục thì nhân cách của con người sẽ không hình thành theo những chuẩn mực nhất định của xã hội. Hiện nay giáo dục cả nước nói chung và giáo dục huyện Tây Giang nói riêng đã đạt được những kết quả cao, điều đó phản ánh phần nào sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và của mọi người cho công tác giáo dục. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được thì vẫn còn tồn đọng những hạn chế khó tháo gỡ hoặc chưa tháo gỡ đối với giáo dục cả nước nói chung cũng như huyện nhà nói riêng. Điều cần quan tâm ở đây là chất lượng giáo dục ở cấp học nền tảng: Cấp Tiểu học. Nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực phát triển nhân tài cho công cuộc cách mạng của miền núi, từng bước mang lại nguồn ánh sáng cho đồng bào các dân tộc vùng cao. Qua nhiều năm công tác ở cơ sở và vị trí công tác hiện tại bản thân tôi mong muốn tìm ra những giải pháp cơ bản nhằm khắc phục phần nào những tồn đọng về chất lượng giáo dục tiểu học hiện nay nên đã mạnh dạn chọn và nghiên cứu đề tài: Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh Tiểu học trên địa bàn huyện Tây Giang.III. Cơ sở lý luận:Ngày nay loài người tiến bộ đang khao khát hướng tới một mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa xã hội nhằm nâng cao đáng kể chất lượng sống cho con người trong sự kết hợp hài hoà giữa điều kiện vật chất và điều kiện tinh thần, giữa mức sống cao và nếp sống đẹp, vừa an toàn, vừa bền vững cho tất cả mọi người, cho thế hệ ngày nay và muôn đời con cháu mai sau. Nói theo cách của Việt Nam: Thực hiện ” Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.Khi mà trí tuệ đã trở thành yếu tố hàng đầu thể hiện quyền lực và sức mạnh của một quốc gia, thì các nước trên thế giới đều ý thức được rằng giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội, mà thực sự là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế, phát triển xã hội. Các nước chậm tiến bộ muốn phát triển nhanh phải hết sức quan tâm đến giáo dục và đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho phát triển. Chỉ có một chiến lược phát triển con người đúng đắn mới giúp các nước thuộc thế giới thứ ba thoát khỏi sự nô lệ mới về kinh tế và công nghệ. Tổng Bí thư Đỗ Mười cũng đã nói nhân dịp khai giảng năm học 1995 – 1996: “Con người là nguồn lực quý báu nhất, đồng thời là mục tiêu cao cả nhất. Tất cả do con người và vì hạnh phúc của con người, trong đó trí tuệ là nguồn tài nguyên lớn nhất của quốc gia. Vì vậy, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài là vấn đề có tầm chiến lược, là yếu tố quyết định tương lai của đất nước”. Do vậy, giáo dục, đào tạo giữ vai trò cốt tử đối với mỗi quốc gia.Với tâm niệm giúp trẻ em Cơ tu được sống và trưởng thành như những con người tinh tế biết cách sống có trách nhiệm với đời, chúng tôi những người làm công tác lãnh đạo luôn đặt ra nhiều câu hỏi. Giáo dục tiểu học có ổn định và đảm bảo chất lượng thì toàn bộ nền giáo dục mới được ổn định, từng gia đình ổn định, xã hội cùng ổn định. IV. Cơ sở thực tiễn: Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học được xem là nền tảng. Cũng như xây một ngôi nhà, cái nền có chắc ngôi nhà mới vững, cái nền không cứng, chắp vá ngôi nhà ắt xộc xệch. Trẻ em

Giải Pháp “Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Năm Học 2012

Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của nhà trường THPT Chuyên Nguyễn Quang Diêu là vận dụng phù hợp, hiệu quả các phương pháp quản lý, dạy học tiên tiến; tổ chức hiệu quả các hoạt động giáo dục; tạo điều kiện cho HS tham gia các kỳ thi, hội thi, nghiên cứu khoa học (NCKH), sáng tạo kỹ thuật (STKT) đạt kết quả cao.Năm học 2011-2012, mặc dù còn thiếu thốn cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, nhà trường cố gắng, tổ chức cho HS tham dự kỳ thi, hội thi cấp trường, cấp tỉnh; nhưng, các kỳ thi cấp khu vực, cấp quốc gia không đem lại kết quả như mong đợi.

I. Đánh giá công tác bồi dưỡng HS giỏi năm học 2011-20121. Kết quả công tác bồi dưỡng HS tham dự các kỳ thi, hội thi trong năm học 2011-2012 (phụ lục kèm theo).2. Phân tích kết quả:

– Nhà trường tổ chức bồi dưỡng tạo điều kiện cho HS tham gia không những đầy đủ các kỳ thi, hội thi theo hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2011-2012 của Sở Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) mà còn hướng dẫn HS tham gia NCKH, STKT theo chỉ đạo của Bộ GDĐT;

– Số giải HS đoạt được cấp trường, cấp tỉnh khá nhiều.

– Một bộ phận giáo viên (GV) chưa tiếp cận được chương trình chuyên sâu bồi dưỡng HSG giỏi cấp khu vực, cấp quốc gia; một bộ phận khác chưa thật sự nắm chắc các chuyên đề chuyên sâu;

– Tài liệu cho GV nghiên cứu, HS tự học, tự bồi dưỡng quá ít;– Một số HS chưa tin vào khả năng đoạt giải nên không an tâm tham gia lớp bồi dưỡng;– Kế hoạch giáo dục của nhà trường quá căng thẳng đối với đội tuyển HSG, đặc biệt HS lớp 12.

II. Mục tiêu năm 2012-2013Phấn đấu số giải HSG cấp khu vực, cấp quốc gia xếp vào tốp 5 trong 14 trường THPT chuyên thuộc khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long.

III. Nội dung1. Tổ chức dạy học hiệu quả các môn chuyên.2. Tổ chức bồi dưỡng các chuyên đề chuyên sâu theo hướng tại công văn số 10803/BGDĐT-GDTrH ngày 16/12/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.3. Bồi dưỡng lòng say mê, yêu thích môn học, ham tìm tòi nghiên cứu khoa học, sáng tạo kỹ thuật.

IV. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng HSG

– Xây dựng lại kế hoạch giáo dục, đảm bảo hàng tuần học tập và các hoạt động giáo dục chính khóa không vượt quá 39 tiết, trong đó 3 tiết bồi dưỡng HSG. Tổ chức xây dựng kế hoạch giảng dạy môn chuyên đến cuối học kỳ 1 hoàn thành chương trình chuyên sâu và các nội dung cơ bản của chương trình nâng cao;– Thành lập đội tuyển lớp 10, lớp 11, lớp 12, mỗi môn từ 10 đến 15 học sinh (lớp 11, 12 vào tháng 5, lớp 10 vào tháng 8/2012);– Chuẩn bị tài liệu để HS tự học theo hướng dẫn của GV ngay từ trong hè 2012;– Xây dựng quỹ khen thưởng GV và HS đạt thành tích cao trong các kỳ thi, hội thi.– Sắp xếp lại GV giảng dạy môn chuyên và bồi dưỡng đội tuyển theo hướng “GV bồi dưỡng và chịu trách nhiệm kết quả học tập của học sinh theo chuyên đề GV phụ trách; mỗi đội tuyển có 01 GV phụ trách chính”.

– Phân công GV biên soạn chuyên đề chuyên sâu, chuyên đề bồi dưỡng HSG, tổ chức hội thảo, thẩm định tài liệu; xây dựng bộ tài liệu bồi dưỡng HSG của tổ;– Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đội tuyển HSG, hướng dẫn, kiểm tra GV thực hiện;– Tổ chức bồi dưỡng, giúp đỡ GV phát triển chuyên môn theo hướng đảm bảo khả năng thực hiện có chất lượng chương trình chuẩn, chương trình nâng cao, chương trình chuyên sâu và bồi dưỡng HSG.

– Nhà trường tạo điều kiện để tham quan học tập chuyên môn ở các trường THPT chuyên trong nước, tạo điều kiện tham gia các lớp tập huấn chuyên đề chuyên sâu, bồi dưỡng HSG;– Tổ chuyên môn tạo điều kiện để GV từng bước tham gia biên soạn, giảng dạy chuyên đề chuyên sâu.– Bản thân khắc phục khó khăn, phấn đấu vươn lên phát triển năng lực chuyên môn; động viên HS tích cực tham gia bồi dưỡng HSG.

– Động viên, giúp đỡ để các HS trong đội tuyển HSG học tập tốt;– Phối hợp với GV dạy bồi dưỡng và các GV bộ môn khác đang dạy lớp để tạo điều kiện để HS yên tâm tham gia bồi dưỡng đội tuyển,

Tải toàn văn Giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi.

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ngoại Ngữ Trong Hệ Thống Giáo Dục Quốc Dân

Ngày 8/12, Bộ GD&ĐT tổ chức Tọa đàm về “Giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ – đặc biệt là tiếng Anh trong hệ thống giáo dục quốc dân”. Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ chủ trì Tọa đàm.

Cùng dự có Thứ trưởng Nguyễn Văn Phúc, lãnh đạo các đơn vị chức năng của Bộ GD&ĐT, lãnh đạo Ban quản lí Đề án ngoại ngữ quốc gia và đại diện các tổ chức có uy tín trong lĩnh vực dạy và học ngoại ngữ trong và ngoài nước.

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT phát biểu kết luận buổi toạ đàm. Ảnh: VA

Đánh giá về chỉ số thông thạo Anh ngữ (EPI) của Việt Nam trong những năm gần đây, bà Cao Phương Hà, Giám đốc Tổ chức Giáo dục quốc tế EF (Education First) tại Việt Nam cho biết, theo Bảng xếp hạng chỉ số thông thạo Anh ngữ của 88 quốc gia trên thế giới do EF thực hiện, năm 2018, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 7 ở châu Á.

So với năm đầu tiên tham gia đánh giá (năm 2011) thì những năm gần đây, Việt Nam liên tục vượt hạng về chỉ số thông thạo Anh ngữ. Điều này chứng minh việc dạy và học tiếng Anh ở Việt Nam đã có bước cải thiện đáng kể, cần tiếp tục được duy trì và phát huy hơn nữa.

Bà Hà cũng giải thích thêm, sở dĩ năm nay vị trí của Việt Nam thấp hơn năm ngoái là do số lượng quốc gia tham gia đánh giá nhiều hơn năm ngoái, chứ thực tế các chỉ số của năm 2018 đều cao hơn năm 2017 và những năm trước đó.

Hầu hết các ý kiến tại tọa đàm thống nhất cho rằng, giáo viên đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ nên việc xây dựng đội ngũ giáo viên đạt yêu cầu về chất lượng và đảm bảo đủ số lượng là cần thiết. Bên cạnh đó, để cải tiến chương trình học hiện nay, cần gắn việc dạy ngoại ngữ với các môn học khác để tạo hứng thú cho học sinh.

Việc dạy và học ngoại ngữ cần phải thiết thực, ứng dụng

Phát biểu kết luận Tọa đàm, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ đánh giá cao giải pháp mà các đại biểu đã đưa ra nhằm “hiến kế” cho việc nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Bộ trưởng lưu ý đến việc chuẩn hóa chương trình, học liệu và tính thiết thực của việc dạy học tiếng Anh. Hiện nay, các chương trình, học liệu học tiếng Anh tại Việt Nam rất đa dạng, nhưng cần có một chương trình chuẩn hóa, thiết thực, tránh hàn lâm để học sinh dễ tiếp cận, không phải đọc nhiều sách, phụ huynh không phải mua nhiều sách, gây lãng phí. Chương trình này phải tương đối phổ biến và cố gắng số hóa để các trường khu vực vùng sâu, vùng xa, thiếu giáo viên dạy ngoại ngữ đạt chuẩn vẫn có thể tiếp cận được.

Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ cho rằng, việc dạy và học ngoại ngữ cần phải thiết thực, ứng dụng, coi ngoại ngữ là công cụ để giao tiếp, học thực chất, tránh tình trạng học đối phó, học vì bằng cấp, chứng chỉ. Cần xây dựng một cộng đồng nói tiếng Anh, khơi dậy một môi trường mà mọi người thích nói tiếng Anh, thích đọc tiếng Anh, một xã hội học tập, tạo thành phong trào sâu rộng, người biết nhiều dạy cho người biết ít, không chỉ với học sinh, sinh viên mà cả người trưởng thành, toàn dân đều có thể học ngoại ngữ.

Bên cạnh đó, mục tiêu học ngoại ngữ của mỗi người khác nhau nên cần đa dạng hóa các mô hình giảng dạy theo hướng, các trường phổ thông dạy nội dung cơ bản, mang tính ứng dụng thực tiễn cao. Những học sinh có nhu cầu sử dụng ngoại ngữ trong học tập, nghiên cứu hoặc đi du học có thể tìm đến các trung tâm đào tạo chuyên sâu ngoài nhà trường.

Về vấn đề khảo thí, Bộ trưởng nhấn mạnh, Bộ sẽ xem xét việc xây dựng trung tâm khảo thí độc lập, uy tín, có thể mời các tổ chức kiểm định quốc tế có kinh nghiệm để đánh giá chất lượng của các trung tâm giảng dạy ngoại ngữ tại Việt Nam hiện nay, đảm bảo khách quan, không để thả nổi, buông lỏng chất lượng. Các trung tâm đều phải kiểm định và được xếp hạng khi tham gia hoạt động giảng dạy.

Bộ GD&ĐT cũng đang xem xét các giải pháp đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, Giáo viên phải được chuẩn hóa, bồi dưỡng đào tạo theo thực tế, phù hợp theo yêu cầu của từng cấp học. Đổi mới phương thức bồi dưỡng giáo viên bằng công nghệ, giảm cách bồi dưỡng truyền thống không thiết thực. Đồng thời tăng cường xã hội hóa, tạo động lực cho giáo viên tự học để nâng cao kiến thức.

“Tất cả các giải pháp đặt ra đều hướng đến mục đích cuối cùng là tạo môi trường tốt nhất cho việc dạy và học ngoại ngữ đạt hiệu quả. Nếu thế hệ trẻ có được kỹ năng tiếng Anh cùng kiến thức CNTT vững chắc thì chắc chắn sẽ hiện thực hóa được rất nhiều khát vọng. Chúng ta sẽ làm được nếu thực hiện tốt ngay từ bây giờ. Để trong 20 năm tới, khi tiếng Anh tốt, CNTT mạnh thì chắc chắn nền giáo dục sẽ thay đổi” – Bộ trưởng nhấn mạnh./.

Bạn đang xem bài viết Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Cho Học Sinh Tiểu Học Huyện Tây Giang Skkn 20142015 Nguyen Quoc Ky Doc trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!