Xem Nhiều 2/2023 #️ Gia Lai: Nhiều Giải Pháp Phát Triển Lâm Nghiệp Bền Vững # Top 7 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Gia Lai: Nhiều Giải Pháp Phát Triển Lâm Nghiệp Bền Vững # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Gia Lai: Nhiều Giải Pháp Phát Triển Lâm Nghiệp Bền Vững mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

(GLO)- “Phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững, tăng cường sinh kế, nâng cao tỷ lệ che phủ rừng thích ứng với biến đổi khí hậu” là 1 trong 4 chương trình trọng tâm được Đảng bộ tỉnh Gia Lai đề ra trong nhiệm kỳ 2020-2025. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và người dân với những giải pháp đồng bộ, thiết thực.  

Hội thảo về phát triển bền vững ngành nông-lâm nghiệp Tây Nguyên

Quản lý sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp

Hiệu quả bước đầu Phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững là hướng đi đúng đắn của tỉnh trong nhiều năm qua. Nhờ thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của kế hoạch tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, trong 5 năm (2016-2020), diện tích rừng trồng mới trên toàn tỉnh đạt 25.271 ha, bằng 276,5% so với kế hoạch, gấp 6,3 lần so với Nghị quyết đề ra; góp phần nâng độ che phủ rừng (kể cả cao su và các cây đặc sản khác) lên 46,7%. Diện tích rừng khoán quản lý đến năm 2020 đạt 153.890 ha (tăng 25.906 ha so với năm 2015). Công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng cũng được các ngành, địa phương quan tâm chỉ đạo.

Việc giao khoán rừng cho người dân quản lý bảo vệ góp phần hạn chế tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng. Ảnh: Quang Tấn

Kbang là một trong những địa phương có diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn của tỉnh với hơn 128.000 ha (chiếm gần 70% diện tích tự nhiên), phân bố ở 13/14 xã, thị trấn. Trong đó, rừng tự nhiên hơn 122.000 ha, rừng trồng hơn 1.800 ha và đất chưa có rừng là 4.300 ha. Đứng chân trên địa bàn huyện có 14 đơn vị chủ rừng, gồm 7 công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp, Ban Quản lý rừng phòng hộ xã Nam, Khu Bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng, Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh, Trung tâm Lâm nghiệp nhiệt đới và 3 xã: Đông, Kon Pne, Nghĩa An.

Xác định công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là nhiệm vụ chính trị quan trọng, những năm qua, UBND huyện tập trung chỉ đạo các cấp ủy, chính quyền, cơ quan, lực lượng chức năng cũng như đơn vị chủ rừng triển khai quyết liệt, đồng bộ, thường xuyên, liên tục các giải pháp; đồng thời huy động cả hệ thống chính trị cùng nhân dân tham gia công tác này. Phát biểu tham luận tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI mới đây, ông Phan Trần Thọ-Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Kbang-cho hay: “Nhờ việc chỉ đạo triển khai một số giải pháp mang tính đột phá trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng nên lĩnh vực này đã có nhiều chuyển biến rõ rệt. Phần lớn các vụ vi phạm đều được phát hiện và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, từng bước ngăn chặn tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển và lấn, phá rừng làm nông nghiệp trái pháp luật; tạo được niềm tin trong nhân dân, góp phần bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng bền vững. Việc giao khoán bảo vệ rừng cũng đã phát huy tinh thần, trách nhiệm của người dân trong công tác bảo vệ rừng”. Tương tự, công tác chăm sóc, quản lý, bảo vệ và phát triển rừng cũng được huyện Kông Chro chú trọng. Đây cũng là địa phương đi đầu toàn tỉnh về tiến độ thu hồi đất lâm nghiệp bị lấn chiếm và triển khai trồng rừng. Trong 5 năm (2015-2020), huyện đã thu hồi đất rừng bị lấn chiếm và tiến hành trồng mới gần 4.000 ha rừng, nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 55,76%. Đặc biệt, chủ trương trồng rừng nhận được sự đồng thuận và tích cực tham gia từ phía người dân. Anh Đinh Văn Poi (làng Tnùng 1, xã Ya Ma, huyện Kông Chro) chia sẻ: “Sau khi được chính quyền xã, Hạt Kiểm lâm huyện vận động kê khai đất lâm nghiệp để chuyển sang trồng rừng, gia đình mình đã tự nguyện chuyển 1 ha đất trồng lúa cạn sang trồng bạch đàn vào năm 2017. Dù đất đồi núi nhưng cây rừng phát triển rất tốt, mình hy vọng đến thời kỳ khai thác sẽ cho sản lượng cao”.

Cũng theo anh Poi, nhiều hộ dân trong làng chuyển sang trồng rừng, nhiều hộ có thu nhập khá nhờ trồng rừng. Do đó, thời gian tới, anh sẽ tiếp tục chuyển phần diện tích trồng lúa cạn kém hiệu quả sang trồng rừng để vừa có thu nhập cao, vừa góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Hướng đến những mục tiêu cao hơn

Gia Lai phấn đấu đến năm 2025 nâng tỷ lệ che phủ rừng đạt 47,75%. Ảnh: Quang Tấn

Phát biểu chỉ đạo tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, đồng chí Trần Quốc Vượng-Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng-nhấn mạnh: Trong nhiệm kỳ 2020-2025, Gia Lai phải tăng cường bảo vệ, phát triển rừng, phấn đấu nâng độ che phủ rừng lên trên 50%. Tỉnh cần xác định đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu mà trước mắt là giữ rừng, bảo đảm tái sinh rừng, phục hồi nhanh hệ sinh thái rừng bền vững, trong đó có hệ sinh thái rừng đặc trưng Kon Hà Nừng. Việc bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ rừng không chỉ là bảo vệ cuộc sống của đồng bào trong tỉnh mà còn góp phần quan trọng bảo vệ an ninh nguồn nước và sự phát triển bền vững các tỉnh miền Trung-Tây Nguyên.

Để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Kbang lần thứ IX (nhiệm kỳ 2020-2025) cũng xác định đây là 1 trong 4 chương trình trọng tâm. Theo đó, huyện sẽ đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và mọi người dân đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng; xây dựng và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm, có hiệu quả nghị quyết chuyên đề về nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng, bảo tồn và phát triển vốn rừng phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Đồng thời, huyện tiếp tục triển khai các giải pháp đột phá đã thực hiện khá hiệu quả trong thời gian qua. “Trong nhiệm kỳ 2020-2025, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện xác định chỉ tiêu nâng tỷ lệ che phủ rừng từ 70,13% năm 2020 lên 70,5% vào cuối năm 2025. Để triển khai thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu này, huyện sẽ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác trồng rừng mới, trồng rừng thay thế, trồng lại rừng trên diện tích rừng trồng sau khai thác. Trong đó, chú trọng trồng mới rừng trên quỹ đất nương rẫy có độ dốc lớn, bạc màu, quỹ đất trên cốt ngập lòng hồ Ka Nak, thu hồi đất lâm nghiệp bị lấn chiếm để trồng rừng; trồng cây mắc ca, cây giổi xanh xen canh cây nông nghiệp; nâng cao hiệu quả kinh tế-xã hội, môi trường đối với rừng sản xuất; khai thác có hiệu quả, hợp lý các nguồn lợi từ rừng; thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của người dân từ tài nguyên rừng”-Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Kbang thông tin. Bên cạnh chăm sóc tốt diện tích rừng hiện có, huyện Kông Chro cũng sẽ tiếp tục phủ xanh những diện tích đất còn khả năng phát triển lâm nghiệp. “Mục tiêu đặt ra đến năm 2025, toàn huyện trồng mới được trên 2.100 ha rừng, nâng tỷ lệ che phủ rừng đạt 56%. Cùng với đó, huyện sẽ đẩy mạnh công tác giao đất trồng rừng, giao khoán và bảo vệ rừng cho người dân sống và sản xuất gần rừng để hạn chế nạn phá rừng, lấn chiếm đất rừng; tập trung hỗ trợ, khuyến khích người dân tại các xã phía Đông của huyện là Đak Pling, Đak Song, Sró và Đak Kơ Ning phát triển kinh tế rừng; qua đó giúp người dân tăng thêm thu nhập, ổn định cuộc sống”-ông Phan Văn Trung-Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Kông Chro-nhấn mạnh.

Giai đoạn 2015-2020, huyện Kông Chro đã trồng mới gần 4.000 ha rừng. Ảnh: Hồng Thi

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đưa ra chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2025 trồng mới 40.000 ha rừng (tương đương mỗi năm trồng khoảng 8.000 ha), nâng tỷ lệ che phủ rừng đạt 47,75%. Để đạt được điều đó, tỉnh sẽ khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý, bảo vệ rừng; đồng thời đẩy mạnh thu hút doanh nghiệp trồng rừng gắn với chế biến gỗ rừng trồng và sinh kế dưới tán rừng. Trao đổi với P.V, ông Lưu Trung Nghĩa-Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT-cho biết: Giai đoạn 2015-2020, toàn tỉnh đã trồng mới trên 25.000 ha rừng (gấp 6,3 lần so với Nghị quyết). Đây được xem là thành công rất lớn không phải tỉnh nào cũng làm được, tạo tiền đề cho nhiệm kỳ mới.

Từ chương trình trọng tâm đề ra trong Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, ngành sẽ tham mưu giúp Tỉnh ủy, UBND tỉnh huy động các nguồn lực để tập trung đầu tư nâng cao hạ tầng sản xuất lâm nghiệp; cùng với các doanh nghiệp hỗ trợ người dân trồng rừng theo tiêu chuẩn FSC (hệ thống các tiêu chuẩn chứng nhận nguồn gốc gỗ cho các nhà khai thác-P.V) để thuận lợi gia nhập thị trường gỗ của thế giới; hướng dẫn, khuyến khích các doanh nghiệp phối hợp với nhau để hình thành các nhà máy thu mua nguyên liệu mà người dân sản xuất ra; đồng thời, tăng cường năng lực hỗ trợ cho lực lượng tham gia quản lý, bảo vệ rừng và trồng rừng, kể cả người dân. Mục đích hướng đến là nhằm nâng cao tỷ lệ che phủ rừng; tạo sinh kế cho bà con vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa thông qua phát triển kinh tế xanh, kinh tế rừng.

 HỒNG THI-QUANG TẤN  

Giải Pháp Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững Tại Gia Lai

Moitruong24h – Trên cơ sở đánh giá năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu, khả năng phối hợp của người dân cùng với chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, tỉnh Gia Lai đã đề xuất các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững. Một trang trại trồng dứa của người dân tại Gia Lai.

Gia Lai là một trong các tỉnh ở khu vực Tây Nguyên, với diện tích đất tự nhiên 1,5 triệu ha lớn thứ 2 cả nước. Gia Lai có thế mạnh về phát triển các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như cà phê, hồ tiêu, cao su… Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do sự tác động biến đổi khí hậu làm thời tiết trở nên khắc nghiệt, thiên tai xảy ra thường xuyên, làm giảm năng suất và sản lượng cây trồng, vật nuôi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống nhân dân.

Do đặc điểm mùa khô kéo dài và lượng mưa ít (dưới 1.500 mm/năm), nên tại các khu vực thuộc phía tây Gia Lai như Chư Prông, Krông Pa, Đắk Đoa, Chư Păh, Chư Sê luôn ở tình trạng thiếu nước thường xuyên, làm ảnh hưởng đến năng suất các loại cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp dài ngày khác như lúa, cà phê, hồ tiêu…

Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai, năm 2014 đã có hơn 5.000 ha cây cà phê thiếu nước tưới do cạn kiệt nguồn nước. Trong đó, khoảng 3.000 ha cây cà phê đang thời kỳ ra hoa rộ bị hạn nặng làm giảm năng suất. Còn tại phía đông của tỉnh, tình trạng nắng nóng cũng làm cho mực nước các công trình thủy lợi, ao, hồ, đập đều ở mức rất thấp, làm tổng thiệt hại của nông dân càng thêm nặng nề, với gần 4.800ha cây trồng các loại bị chết. Chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là hai huyện Kông Chro, Đăk Pơ, với ước tính thiệt hại do hạn hán ở Gia Lai đã lên tới 15 tỷ đồng.

Ngoài ra, tác động của biến đổi khí hậu cũng làm thay đổi trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, đối với nhóm cây ngắn ngày, như tăng diện tích trồng sắn, mía (các cây có khả năng chịu hạn) và giảm diện tích lạc, thuốc lá (các cây có nhu cầu nước tưới cao)… Mặt khác, biến đổi khí hậu cùng làm gia tăng khả năng phát sinh dịch bệnh, gây ảnh hưởng lớn năng suất, sản lượng và chất lượng nông sản.

Với diện tích trên 600.000 ha, Gia Lai là địa phương có diện tích rừng tự nhiên lớn nhất khu vực Tây Nguyên. Khí hậu khô nóng làm gia tăng diện tích rừng bị cháy gây những tác động không nhỏ đến môi trường đất, nước và không khí. Đất không có sự che phủ của tán rừng và lớp thực bì sẽ dẫn tới tình trạng mất đi lớp bảo vệ bề mặt và nguồn cung cấp dinh dưỡng. Khi đó đất sẽ bị rửa trôi, xói mòn, sạt lở… nhanh chóng bị thoái hóa bạc màu.

Diện tích rừng bị mất đi dẫn tới khả năng điều tiết nguồn nước bị giảm. Như vậy, khi xảy ra mưa lớn rất dễ xảy ra tình trạng lũ quét khi ở điều kiện địa hình thích hợp, dẫn tới khả năng giữ nước không có và ảnh hưởng tới lượng nước bề mặt và nước ngầm, làm thay đổi đặc điểm thủy văn và gây ô nhiễm nguồn nước ở vùng thấp hơn.

Đó là đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn kết hợp với quy hoạch tổng thể vùng sản xuất cũng như vùng nguyên liệu trọng điểm trên địa bàn tỉnh.

Bên cạnh đó, tỉnh cần nghiên cứu về các giải pháp canh tác tổng hợp cho từng loại cây trồng, trên từng vùng sinh thái theo hướng thích ứng cao với biến đổi khí hậu, trước mắt ưu tiên tập trung nghiên cứu canh tác cà phê, hồ tiêu. Sử dụng các giống kháng, chịu hạn (cà phê, lúa, ngô…), giống ra hoa nhiều lần (đối với cây điều), bộ giống cây lương thực, thực phẩm ngắn ngày; bố trí thời vụ thích hợp để tránh hạn, lũ.

Đồng thời, tỉnh cần chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải theo hướng tăng diện tích trồng cây công nghiệp dài ngày có hiệu quả kinh tế cao, giảm diện tích đất trồng cây hàng năm kém hiệu quả. Mặt khác chuyển dịch các diện tích cây ngắn ngày theo hướng tăng cường thâm canh cây lúa, nhất là lúa nước, mở rộng diện tích đối với các cây ngắn ngày chịu hạn, hình thành các vùng chuyên canh, chăn nuôi tập trung có sử dụng công nghệ cao để ứng phó với sự tác động biến đổi khí hậu đến sản xuất.

Bên cạnh đó, Gia Lai nên tăng cường xây dựng các công trình thủy lợi, hệ thống tưới tiêu. Trong quá trình canh tác cần thực hiện các biện pháp chống xói mòn, rửa trôi đất và thất thoát phân bón do sử dụng, bón phân không đúng cách, thiếu cân đối, gây ngộ độc đất. Cũng như áp dụng công nghệ tưới nước tiết kiệm và bón phân qua hệ thống tưới để giảm chi phí đầu tư, đồng thời cũng góp phần sử dụng nguồn tài nguyên nước hợp lý, bảo vệ môi trường sinh thái. Bón phân cân đối, hợp lý; sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc 4 đúng cũng góp phần thiết thực trong việc giảm thiểu phát thải nhà kính, từ đó làm hạn chế sự tăng nhanh nhiệt độ trái đất.

Tăng cường các tiến bộ khoa học trong lĩnh vực trồng, chế biến nông sản sạch và bền vững; tăng cường công tác xúc tiến thương mại giúp cho nông dân và doanh nghiệp tìm kiếm thị trường. Xây dựng các trạm thời tiết thông minh nhằm cung cấp các thông tin về thời tiết nông nghiệp, cảnh báo các bệnh cây trồng, thiên tai… thông qua dịch vụ thông tin nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu.

TD (theo TTXVN)

Phát Triển Lâm Nghiệp Bền Vững:đẩy Mạnh Các Biện Pháp Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng

Bảo vệ và phát triển rừng là nhiệm vụ quan trọng không chỉ góp phần phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững đem lại thu nhập ổn định cho người dân mà còn bảo vệ môi trường sinh thái.

Thời gian qua, ngoài việc tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, Quảng Ninh đã làm tốt công tác chăm sóc, bảo vệ và phát triển vốn rừng, nâng tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh lên trên 53%, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho người dân.

Công nhân Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Hoành Bồ chuẩn bị cây giống để trồng rừng năm 2015.

Hiện nay, toàn tỉnh có trên 316.500ha đất có rừng, trong đó: Rừng tự nhiên hơn 146.500ha; rừng trồng các loại hơn 170.000ha. Từ đầu năm đến nay, việc thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2015 đã vượt kế hoạch. Công tác bảo vệ rừng được tăng cường, góp phần bảo vệ phát triển rừng bền vững, nâng độ che phủ rừng toàn tỉnh lên 55%. Tính đến cuối tháng 8 năm nay, toàn tỉnh trồng được 13.150ha rừng tập trung đạt 100% kế hoạch, bằng 98,4% so cùng kỳ, trong đó trồng mới 380ha rừng phòng hộ, đặc dụng; 12.770ha rừng sản xuất và hơn 317.600 cây phân tán các loại. Các đơn vị trong ngành sản xuất được 34,8 triệu cây giống các loại như: Keo, thông, sa mộc hồi, quế và một số loài cây khác phục vụ cho công tác trồng rừng. Cùng với đó, hơn 44.270ha rừng trồng, trong đó có 1.760ha rừng phòng hộ, 42.510ha rừng sản xuất đang được chăm sóc, bảo vệ tốt.

Để thực hiện đúng kế hoạch và đảm bảo tiến độ trồng rừng năm nay, các đơn vị trong ngành cũng như các doanh nghiệp thực hiện các dự án trồng rừng trên địa bàn tỉnh đã thực hiện tốt mọi công tác chuẩn bị. Đối với việc chuẩn bị giống, trên 35,6 triệu cây giống đảm bảo chất lượng đã được ươm, chăm sóc từ cuối năm 2014. Các đơn vị trồng rừng chuẩn bị mặt bằng, hiện trường phục vụ cho việc thiết kế, lập dự án, phát băng, cuốc hố ngay từ đầu vụ xuân và xuân hè, khi cây giống đạt tiêu chuẩn đã đồng loạt trồng trên diện rộng, vì thế đối với các loại cây trồng sinh trưởng nhanh đã thực hiện trồng xong trước tháng 6 năm nay. Nhiều địa phương, đơn vị đã thực hiện xong trước về thời gian cũng như vượt so với kế hoạch như: Cẩm Phả, Ba Chẽ, Móng Cái… Theo đó, các doanh nghiệp, chủ dự án, địa phương đã cụ thể hoá thành phương án trồng rừng, loại cây trồng, kế hoạch thực bì, ươm giống, nhằm đảm bảo tới mức cao nhất tiến độ và chất lượng.

Đặc biệt, năm 2015, công tác quản lý bảo vệ rừng; quản lý việc khai thác, mua, bán, vận chuyển, kinh doanh hàng hoá lâm sản trên địa bàn tỉnh được tăng cường, đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật. Các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng cơ bản được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tình trạng vận chuyển lâm sản trái phép từ các tỉnh khác đến các vùng biên giới để tiêu thụ vẫn xảy ra với nhiều diễn biến phức tạp; vi phạm chủ yếu là mua, bán, vận chuyển gỗ, lâm sản sau chế biến và phá rừng trái pháp luật; phương thức, thủ đoạn của các đối tượng vi phạm ngày càng tinh vi gây khó khăn cho công tác kiểm tra, bắt giữ, xử lý vi phạm. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh không để xảy ra cháy rừng, công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh cơ bản được thực hiện tốt, đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật. 9 tháng đầu năm, ngành chức năng đã lập, bắt giữ và xử lý 192 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (trong đó xử phạt hành chính 186 vụ, hình sự 6 vụ), tổng giá trị thu hồi là 2.615,868 triệu đồng. Riêng trong tháng 9 là 16 vụ. Phần lớn các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, không có các điểm nóng về tàn phá rừng. Đáng chú ý trong 9 tháng, Sở NN&PTNT đã phối hợp với Tổ chức động vật châu Á, các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện chuyển giao 24 cá thể gấu của 11 chủ hộ nuôi trên địa bàn tỉnh về Trung tâm Cứu hộ gấu Tam Đảo đảm bảo an toàn, đúng quy định pháp luật; hiện nay trên địa bàn tỉnh còn 9 cá thể gấu, Sở tiếp tục đang tiếp tục phối hợp các ngành và địa phương chỉ đạo các đơn vị và huy động các đoàn thể tiếp tục tổ chức triển khai quyết liệt hơn để vận động các hộ nuôi gấu còn lại tự nguyện viết đơn giao nộp gấu về Trung tâm Cứu hộ gấu Tam Đảo.

Có thể thấy, công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh đã được tăng cường góp phần nâng tỷ lệ che phủ rừng. Tuy nhiên, theo đánh giá của lãnh đạo Sở NN&PTNN công tác bảo vệ và phát triển rừng những năm qua luôn gặp nhiều khó khăn, nhất là công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng. Việc trồng rừng theo đúng thiết kế, trong đó có việc xây dựng đường băng cản lửa đã góp phần quan trọng trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng. Trong khi nguồn vốn cho xây dựng đường băng cản lửa chưa được bố trí thì đây là khó khăn lớn đối với các đơn vị lâm nghiệp, nhất là các Ban quản lý rừng.

Hiện nay, để hoàn thành các hạng mục kế hoạch trồng rừng năm 2015, Sở NN&PTNT tiếp tục chỉ đạo các địa phương, đơn vị đẩy mạnh công tác trồng rừng; chăm sóc cây giống đạt tiêu chuẩn để tiến hành trồng dặm; thực hiện tốt chăm sóc rừng và thi công công trình phòng cháy chữa cháy rừng; tăng cường công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy trong mùa hanh khô và thực hiện trồng rừng vượt kế hoạch năm 2015 với diện tích trồng mới hơn 13.000ha.

Thu Trang

Giải Pháp Phát Triển Nông Nghiệp Xanh Bền Vững

(TN&MT) – Tại Hội thảo “Phát triển và nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp xanh” diễn ra ngày 26/11, các đại biểu đều có chung nhận định, sản xuất nông nghiệp xanh để phát triển nông nghiệp bền vững là giải pháp hiệu quả trong ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng thu nhập cho người dân… “Quang cảnh Hội thảo “phát triển, nhân rộng mô hình sản xuất nông nghiệp xanh” – Ảnh: Lê Hùng Thách thức từ BĐKH, nước biển dâng…

ĐBSCL là vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp ĐBSCL chiếm hơn 50% sản lượng lúa hàng hóa, cung ứng 70% lượng trái cây, 52% sản lượng thủy sản, đặc biệt cung cấp đến 80% lượng tôm xuất khẩu và đóng góp khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp tại ĐBSCL đang gặp rất nhiều rủi ro, bấp bênh và chịu sự tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng…

Nhiều đại biểu cho rằng, phát triển sản xuất nông nghiệp xanh là yêu cầu tất yếu nhằm đảm bảo phát triển kinh tế theo hướng nhanh, hiệu quả, bền vững. Thực tế thời gian qua, các địa phương trong vùng đã tích cực triển khai đồng loạt nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp xanh, sạch, như: mô hình “ruộng lúa bờ hoa”, “ba giảm ba tăng”, mô hình “cánh đồng mẫu lớn”, mô hình phát triển sản xuất nông nghiệp xanh của Hợp tác xã Vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim (Tiền Giang), Hợp tác xã Bưởi Năm Roi (tỉnh Vĩnh Long), sản xuất rau các loại an toàn theo hường GAP tại xã Tân Đông, Gò Công Đông (Tiền Giang), mô hình mẫu sử dụng khí sinh học trong chăn nuôi heo… đã mang lại hiệu quả thiết thực.

Hậu Giang triển khai trồng hoa ven đường, áp dụng mô hình công nghệ sinh thái, chuẩn bị sản xuất vụ Đông xuân 2013-2014. Ảnh: Hùng Long.

Thế nhưng việc nhân rộng mô hình gặp rất nhiều khó khăn. Sản xuất nông nghiệp tại vùng ĐBSCL hiện vẫn còn dựa nhiều vào việc khai thác các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên mà chưa bền vững về môi trường. Giá bán nông sản sạch không cao hơn mô hình sản xuất truyền thống, khiến nông dân không mặn mà tham gia mô hình.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT – Trần Thanh Nam, cho rằng: “Sản xuất nông nghiệp thường xuyên gặp rủi ro, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và tổ chức sản xuất nhỏ lẻ, liên kết “4 nhà” yếu kém, khâu tiêu thụ còn nhiều khó khăn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nhân rộng mô hình. Một số nông dân tham gia mô hình sản xuất điểm được hỗ trợ chi phí sản xuất, khi mô hình kết thúc, thì họ không quan tâm duy trì mô hình, có khi quay về kiểu sản xuất truyền thống. Nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp cũng là thách thức lớn”.

Theo các đại biểu đại diện các địa phương trong vùng ĐBSCL, việc nhân rộng các mô hình rất cần được sự quan tâm hỗ trợ của các Bộ, ngành trung ương và sự vào cuộc tích cực hơn của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, trước thách thức của biến đổi khí hậu, xu thế toàn cầu hóa, nông sản sẽ chật vật trong cuộc cạnh tranh, do đó yêu cầu bức bách đặt ra cho người nông dân ĐBSCL hiệ nay là phải đổi mới tư duy sản xuất, năng động hội nhập.

“Cách mạng xanh” trong nông nghiệp

Theo Bộ NN& PTNT, đối với ngành nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp xanh sạch là việc áp dụng đồng bộ các quy trình, công nghệ sử dụng hợp lý, tiết kiệm vật tư đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Qua đó, giảm phát thải khí nhà kính thông qua phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao tính cạnh tranh của nông sản, phát triển công nghệ xử lý và tái sử dụng phụ phẩm, phế thải… đảm bảo bền vững cho nền kinh tế, xã hội và môi trường, góp phần vào sự phát triển kinh tế xanh.

“Ngày nay, nông nghiệp xanh không chỉ tạo ra những sản phẩm sạch, mà còn là yếu tố quan trọng cho sự ổn định kinh tế- xã hội. Đây là hướng đi bền vững và ưu việt nhất để ngành nông nghiệp nước ta vừa đảm bảo an ninh lương thực,vừa tăng cường xuất khẩu nông sản ra thế giới. Hiện sản xuất nông nghiệp xanh hay nông nghiệp sinh thái, phòng trừ dịch hại tổng hợp theo hướng GAP… được nhiều tỉnh, thành quan tâm thực hiện. Đây là con đường tạo ra nông sản an toàn, đảm bảo sức khỏe của người tiêu dùng và giảm thiểu tác động xấu của biến đổi khí hậu”- ông Phan Anh Vũ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long khẳng định. Song, phát triển nông nghiệp xanh cần thực hiện rất nhiều giải pháp đồng bộ.

Thu hoạch lúa ở ĐBSCL – Ảnh: Hoài Thanh

Theo các nhà khoa học, trong sản xuất nông nghiệp xanh cần chú ý đến giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. chúng tôi Nguyễn Văn Sánh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL – Đại học Cần Thơ, cho biết: Trong canh tác lúa, giảm khí thải nhà kính là thực thi chính sách kép, vì giảm yếu tố đầu vào mà hiện nay nông dân quản lý nước không tốt và sử dụng dư thừa về mật độ sạ, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật… vừa làm tăng chi phí vừa làm tăng khí gây hiệu ứng nhà kính. Do đó việc áp dụng mô hình “1 phải 6 giảm” sẽ giảm chi phí sản xuất trung bình từ 5- 10% nhờ cắt giảm được 40 đến 50% giống, giảm từ 15 đến 30% lượng phân, giảm 20 đến 40% lượng nước tưới, tăng năng xuất từ 5 đến 10%, lợi nhuận mang lại cho nông dân cao hơn khoảng 10% và các đồng lợi ích cho môi trường như giảm lượng khí thải, giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước, môi trường.

Nhiều đại biểu kiến nghị: cần đánh giá thành tựu, hạn chế của các mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng xanh mà vùng ĐBSCL đã phát triển thời gian qua để có hướng đi cụ thể thời gian tới. Bởi, hiện tại lực lượng sản xuất (số lượng các trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp, khoa học công nghệ…) liên tục phát triển trong khi các quan hệ sản xuất trong nông nghiệp lại chưa có sự đổi mới tương xứng; nhu cầu liên kết sản xuất cao, nhưng việc triển khai vẫn chậm, qui mô sản xuất manh mún, diện tích đất sản xuất bình quân trên nông hộ nhỏ. Vai trò của quy hoạch và chiến lược phát triển vùng chưa rõ ràng. Các mối liên kết dọc và ngành hình thành và phát triển khó khăn. Liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân để tạo ra chuỗi giá trị nông sản hàng hóa lớn còn lòng lẻo, không gắn kết được lợi ích và trách nhiệm các bên tham gia…

Những khó khăn này cần được giải quyết rốt ráo mới có thể tạo ra “cách mạng xanh” cho ngành nông nghiệp. Và để giải quyết hiệu quả, nhất thiết phải có sự nhập cuộc tích cực của các bộ, ngành Trung ương cùng các địa phương, doanh nghiệp và người nông dân.

Bạn đang xem bài viết Gia Lai: Nhiều Giải Pháp Phát Triển Lâm Nghiệp Bền Vững trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!