Xem Nhiều 12/2022 #️ Giải Pháp Khcn Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu / 2023 # Top 19 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 12/2022 # Giải Pháp Khcn Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu / 2023 # Top 19 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Giải Pháp Khcn Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu / 2023 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Xói lở bờ biển ở xã Khánh Tiến, huyện U Min, tỉnh Cà Mau. Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN

Cho đến nay, nhiều phương pháp, mô hình đã được sử dụng để xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam, dựa trên các thành tựu khoa học và công nghệ mới nhất trên thế giới. Mỗi phương pháp, mô hình đều có các thế mạnh và hạn chế riêng. Các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng đòi hỏi luôn được cập nhật và nâng cao độ tin cậy để xây dựng các chương trình ứng phó phù hợp.

Tiêu biểu như đã chỉ ra trong 50 năm tới, khoảng 47% diện tích của Đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ảnh hưởng bởi độ mặn 4 phần nghìn và có tới 64% diện tích ảnh hưởng bởi độ mặn 1 phần nghìn. Hầu hết bán đảo Cà Mau bị nhiễm mặn, trừ một phần phía Tây sông Hậu. Phân tích diễn biến mặn trong nhiều năm cho thấy sự giảm lưu lượng dòng chảy từ thượng lưu đổ về có ảnh hưởng quyết định đến độ lớn và chiều dài xâm nhập mặn, ảnh hưởng trên diện rộng ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Kết quả nghiên cứu đã làm rõ hiện trạng biến động bờ biển, nguyên nhân gây ra và xu thế biến động bờ biển trong mối quan hệ với nước biển dâng ở ven biển các tỉnh Nam Bộ (bao gồm 9 tỉnh, thành phố giáp biển Bà Rịa – Vũng Tàu, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và Thành phố Hồ Chí Minh).

Biến động bờ biển của các tỉnh Nam Bộ từ năm 1965 đến năm 2010 do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng thể hiện rất phức tạp bởi quá trình bồi tụ và xói lở. Tốc độ xói lở lớn nhất đạt tới 126,6 m/năm trên bờ cấu tạo bằng bùn sét (phía Bắc huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang) và thấp nhất trên bờ cấu tạo bằng đá gắn kết (0,05 m/năm Mũi Nai, Kiên Giang). Tốc độ bồi tụ lớn nhất là 67,8 m/năm ở bờ biển huyện Ba Tri, Bến Tre và 66 m/năm ở xã Viên An, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau.

Trong những năm tới, xói lở bờ biển tiếp tục có xu thế gia tăng do nước biển dâng. Trong đó, một số đoạn xung yếu như Bình Châu – Lộc An, phía tây Cửa Lấp (Bà Rịa-Vũng Tàu), Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh), Duyên Hải (Trà Vinh), Gành Hào (Bạc Liêu), Trần Văn Thời (Cà Mau) và An Minh (Kiên Giang). Tại các vị trí này, xu thế giật lùi đường bờ biển so với hiện nay vào các năm 2020, 2030 và 2050 theo các kịch bản nước biển dâng, đã đưa ra. Xói lở đã gây ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế và đời sống của các cộng đồng dân cư ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.

Hầu hết các nghiên cứu đều đề xuất các giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu khác nhau cho các khu vực cụ thể. Trong đó, một số nghiên cứu đề xuất các giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu phù hợp với Đồng bằng sông Cửu Long, như bộ chỉ số thích ứng biến đổi khí hậu ở thành phố Cần Thơ cho thấy khả năng chống chịu của môi trường tự nhiên ở mức “thấp”; tính dễ bị tổn thương ở mức “trung bình”; khả năng giảm nhẹ rủi ro do biến đổi khí hậu dao động từ “thấp” đến “trung bình”.

Trên cơ sở đó, các giải pháp nâng cao khả năng thích ứng biến đổi khí hậu cho thành phố Cần Thơ được đề xuất gồm tăng diện tích không gian xanh, xây dựng các khu vực trữ nước, cứu ngập kết hợp làm công viên đất ngập nước và bảo tồn đa dạng sinh học, quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học.

Rào chắn sóng bảo vệ bờ biền khu vực Mũi Rảnh (Kiên Giang). Ảnh: Lê Sen/TTXVN

Mặt khác, các nhà nghiên cứu đã xây dựng được bộ tiêu chí và chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật mô hình làng sinh thái thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng cho Đồng bằng sông Cửu Long; thiết kế được mô hình làng sinh thái thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; thử nghiệm hệ thống xử lý nước mặn thành ngọt cho 10 hộ gia đình tại Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, nhằm nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và nhiễm mặn.

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW, vai trò của khoa học và công nghệ được khẳng định, đã có những đóng góp nhất định phục vụ phát triển kinh tế đất nước, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Tác động của biến đổi khí hậu đối với nước ta đang diễn ra với cường độ mạnh và tốc độ rất nhanh. Các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, Việt Nam bị tổn thương mạnh do biến đổi khí hậu, nước biển dâng, suy giảm lưu lượng dòng chảy sông từ thượng nguồn.

Đây là cơ sở khoa học, thực tiễn tin cậy để đề xuất các giải pháp, các mô hình tích hợp thích ứng, giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu ở nước ta, gồm định hướng nghiên cứu khoa học phục vụ ứng phó biến đổi khí hậu; nghiên cứu các giải pháp công nghệ phục vụ ứng phó biến đổi khí hậu, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường; nghiên cứu giải pháp đào tạo nguồn nhân lực và quản trị thông minh với biến đổi khí hậu.

Các kết quả nghiên cứu đã có nhiều mô hình, giải pháp thích ứng, ứng phó với biến đổi khí hậu được áp dụng thực tế, chuyển giao cho các địa phương và có khả năng nghiên cứu nhân rộng trong thời gian tới.

Bài 3: Tăng cường chuyển giao tiến bộ kỹ thuật

Những Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu / 2023

CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU.

Hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch ( Than đá-dầu mỏ)

Khai phá tìm nguồn nhiên liệu mới ( Điện gió, năng lượng mặt trời,

Thủy điện, xăng sinh học chế biến từ ngủ cốc , thủy triều … )

Cải tạo và nâng cấp nhà ở. Nhà ở chiếm 1/3 lượng khí thải gây hiệu ứng

nhà kính ( thông gió, giải nhiệt, xây dựng đường xá tốt cũng góp phần giảm

lượng khí thải do xe cộ gây ra …)

Ăn uống thông minh, ăn nhiều rau hạn chế ăn thịt ( giảm bớt lượng

khí thải do chăn nuôi gây ra) Trồng trọt không dùng thuốc trừ sâu

Và thức ăn thừa cũng sinh ra lượng khí thải.

Bảo vệ và phát triển rừng. Rừng bảo đảm môi trường sinh thái giúp giảm nhẹ

thiên tai, bảo tồn các giống gen quý và tính đa dạng sinh học, rừng là lá phổi

điều tiết khí hậu- giử đất giử nước phục vụ đời sống.

Sử dụng đất đai hợp lý. Nếu nước biển dâng cao 1m :

– Đồng bằng sông cửu long mất 40% diện tích

– Đồng bằng sông Hồng mất 11% diện tích

– Các tỉnh ven biển khác mất 3% diện tích

Đất đai canh tác sẽ bị thu hẹp, 10-12% dân số Việt nam

sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp.

Trong sinh hoạt hàng ngày: Tắt điện khi không sử dụng- Dùng bóng

đèn compact, đun nóng bằng năng lượng mặt trời, tận dụng gió trời

thay cho quạt điện, máy điều hòa

Trong sản xuất : chuyển từ than đá, dầu khí sang điện gió, lò trấu thay

Tắt đèn từ 20g39 – 21g30 vào thứ bảy cuối tháng 3 hằng năm.

Giảm thiểu ô nhiễm môi trường- hiệu ứng nhà kính:

– Dùng nhiên liệu sinh học thay cho than củi.

-Hạn chế dùng bao ni lông

– Đi xe đạp hạn chế dùng ô tô- xe máy.

Kế hoạch hóa gia đình và xóa đói giảm nghèo :

Biến động về dân số sẽ ảnh hưởng đến kinh tế, chính trị

và gây nên lượng khí thải nhà kính về lâu dài.

Nâng cao nhận thức cho cộng đồng về biến đổi khí hậu.

Giải Pháp Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu Ở Đbscl / 2023

Những căn nhà ven kinh Cái Sắn, cặp quốc lộ 80 trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, có nguy cơ bị sạt lở cao, ảnh hưởng từ BĐKH.

Theo đánh giá chung của Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc, biến đổi khí hậu (BĐKH) đã trở thành mối đe dọa toàn cầu và Việt Nam là một trong năm nước trên thế giới dễ bị tổn thương nhất. Trong đó, ĐBSCL được xác định là một trong những vùng bị ảnh hưởng nặng nề và có thể gây tác hại xấu đến việc đảm bảo an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội, bảo vệ môi trường… của khu vực và cả nước. Vì thế, các ngành chức năng trong vùng đã và đang nỗ lực tìm cách ứng phó, sống chung với tình trạng này.

* NGUY CƠ TỪ BĐKH

ĐBSCL được biết đến là vựa lúa của cả nước, đóng góp trên 50% sản lượng lúa, 70% sản lượng trái cây, 58% sản lượng thủy sản; chiếm 90% tổng lượng gạo xuất khẩu và 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. Do địa hình thấp so với mực nước biển, nằm ở hạ lưu sông Mêkông, tiếp giáp với biển nên ĐBSCL phải đối mặt với nhiều thách thức môi trường, đặc biệt là tác động của BĐKH toàn cầu và sự thay đổi lưu lượng dòng chảy của con sông Mêkông.

Theo nhiều nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu BĐKH, Trường Đại học Cần Thơ, BĐKH thể hiện rõ nhất như nhiệt độ đang có xu hướng tăng cao trong khoảng vài ba thập niên gần đây. Lượng mưa qua các quan trắc và mô phỏng cho thấy sự bất thường ngày càng nhiều, lượng mưa đầu mùa giảm, các trận mưa lớn cuối mùa lại tăng. Lượng nước từ thượng nguồn sông Mêkông đổ về ngày càng ít, trong khi xâm nhập mặn ngày càng sâu vào đất liền, gây khó khăn mới cho sản xuất nông nghiệp cũng như sinh kế của cư dân. Tại TP Cần Thơ và khu vực ĐBSCL, năm nay lũ thấp, tổng lượng nước trên sông Cửu Long chỉ bằng 30% so với những năm lũ lớn, bằng 60-70% so với những năm lũ trung bình. Trong khi đó, triều cường lại dâng cao hơn so với những năm gần đây, khiến nhiều cụm dân cư, đô thị ngập sâu trong nước. Các nhà chuyên môn lại dự báo: khả năng hạn, xâm nhập mặn sẽ diễn ra sớm và kéo dài, gay gắt hơn trong những năm tới.

Anh Ngô Văn Bé, ở xã Thạnh Mỹ, huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ, cho biết: “Năm nay nước lũ về ít, đồng ruộng ít phù sa nên có thể năng suất lúa không cao như những năm trước. Theo kinh nghiệm của tôi, nước lũ về ít thì mùa khô sắp tới (khoảng tháng 3-5 âm lịch) có khả năng bị thiếu nước sản xuất. Do đó, việc nạo vét kênh, rạch dẫn nước là rất cần thiết”.

Theo Kịch bản BĐKH tại ĐBSCL của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nếu nước biển dâng cao thêm 1m thì khoảng 70% diện tích đất ở ĐBSCL bị xâm nhập mặn, mất 2 triệu ha đất trồng lúa. Hàng loạt địa phương bị chìm trong nước như: Bến Tre, Long An, Trà Vinh, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Tiền Giang… mất từ 40% – 50% diện tích; đồng thời 6 tỉnh có trên 400 ngàn người/tỉnh sẽ bị ảnh hưởng… Nhiều người dân ĐBSCL sẽ bị mất nhà đất và ruộng vườn khi mực nước biển dâng cao. BĐKH và ngập mặn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực của quốc gia. Với mật độ dân số cao và hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất nông ngư nghiệp nên các tác động của BĐKH đối với sự đa dạng sinh học, điều kiện cư trú, sức khỏe, tài sản và sinh kế của người dân, các ngành kinh tế và cơ sở hạ tầng kỹ thuật… ở ĐBSCL là hết sức nghiêm trọng.

* TĂNG CƯỜNG TUYÊN TRUYỀN, ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC

Người dân ĐBSCL đã khá quen thuộc với quy luật dòng chảy của lũ và đã thích nghi với tình trạng lũ lụt ở đây. Họ biết cách hạn chế các nguy cơ của lũ, khai thác các lợi ích do lũ đem lại. Người dân cũng đã bắt đầu làm quen với khái niệm “sống chung với BĐKH” và có nhiều sáng tạo để thích nghi. Quan điểm “sống chung với BĐKH” chưa là khẩu hiệu chính thức từ cấp chính quyền nhưng đã được người dân một số nơi và các phương tiện truyền thông đại chúng nói đến. Thực tế cho thấy, hai biện pháp giảm nhẹ và thích nghi đều tồn tại song song và bổ sung cho nhau trong việc ứng phó với BĐKH ở ĐBSCL.

Để giảm nhẹ thiên tai, người dân vùng ĐBSCL làm những việc đơn giản, như trồng cây quanh nhà, trữ nước ngọt, tiết kiệm nước trong sản xuất đến các công việc phức tạp hơn như nâng nền, thay đổi cấu trúc nhà cửa, điều chỉnh cơ cấu mùa vụ, sử dụng giống cây trồng, vật nuôi có khả năng chịu hạn, chịu nóng, ngập và mặn tốt hơn. Một số biện pháp đang được đề xuất như trồng rừng phòng hộ, làm đê bao, gia cố kè sông, chống sạt lở ven biển, xây dựng các nhà cộng đồng trú bão lụt và gia tăng biện pháp cảnh báo thời tiết. Nhiều lớp tập huấn nâng cao nhận thức cho người dân về BĐKH, lồng ghép BĐKH vào quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội địa phương đã và đang được thực hiện.

Theo Viện nghiên cứu BĐKH, Trường Đại học Cần Thơ, việc ứng phó lâu dài với hiện tượng BĐKH và nước biển dâng ở ĐBSCL còn nhiều hạn chế. Nguồn nhân lực thực hiện việc ứng phó còn thiếu và yếu, sự phân công trách nhiệm, phân cấp thực hiện cho các ban ngành và địa phương chưa rõ rệt. Hầu hết cán bộ kỹ thuật đều lúng túng khi chưa có một phương pháp phân tích và biện pháp ứng phó cụ thể, chi tiết. Các quy hoạch phát triển của từng địa phương ở tầm ngắn hạn, chừng 5-10 năm, so với diễn biến dài hạn của BĐKH là vài chục năm. Một số địa phương còn ngần ngại vì cho rằng đánh giá các nguy cơ do thiên tai, BĐKH sẽ làm khó khăn hơn trong việc kêu gọi đầu tư hoặc phá vỡ kế hoạch triển khai các dự án đã được phê duyệt.

Vai trò của các cấp chính quyền trong việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân về hậu quả cũng như các biện pháp thích ứng với BĐKH là đặc biệt quan trọng. Đồng thời, các địa phương cần có kế hoạch cụ thể, nhất là tăng cường đào tạo nguồn nhân lực phục vụ tốt công tác ứng phó, thích nghi BĐKH.

Bài, ảnh: HÀ VĂN

Longform: Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu Tại Đbscl / 2023

Các nhà khoa học cảnh báo rằng, khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang chìm và đất đang sụt lún khoảng 2,5 cm mỗi năm, lượng phù sa cũng giảm nghiêm trọng. Cùng với đó là nước biển dâng 3mm/năm. Sự báo động, mối đe dọa có tính sống còn đối với khu vực và người dân ĐBSCL đã hiện hữu. Chung sức ứng phó trước tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) để phát triển bền vững ĐBSCL đang trở nên cấp bách.

ĐBSCL nằm ở hạ lưu sông Mekong, ĐBSCL nơi chiếm 54% sản lượng lúa, 70% sản lượng thủy sản nuôi trồng, 37% sản lượng trái cây và hơn 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Mặc dù có vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực quốc gia nhưng vùng đang đối mặt với rất nhiều thách thức. Tác động của BĐKH làm cho tình trạng xâm nhập mặn, sạt lở, ngập… tại ĐBSCL đang trở nên nghiêm trọng hơn, đe dọ sinh kế của người dân và sự phát triển bền vững của vùng. Bộ NN&PTNT cũng nêu thực trạng sạt lở đang đe dọa nghiêm trọng sự phát triển bền vững của vùng ĐBSCL, vùng hiện có 562 điểm sạt lở, với tổng chiều dài trên 786 km.

Cụ thể là tình trạng sạt lở bờ sông diễn ra dọc theo sông Tiền và sông Hậu, sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây và các nhánh chính của hệ thống kênh, rạch, với mức độ gia tăng cả về phạm vi và mức độ nghiêm trọng. Hiện nay có 513 điểm sạt lở với tổng chiều dài 520km; điển hình như: Bờ sông Tiền, xã Bình Thành, huyện Thanh Bình (Đồng Tháp); bờ sông Vàm Nao, xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới (An Giang); bờ sông Bò Ót, phường Thới Thuận, quận Thốt Nốt (Cần Thơ); bờ sông Cổ Chiên, xã Đại Phước, huyện Càng Long (Trà Vinh); kênh Xáng Mái Dầm, huyện Châu Thành (Hậu Giang)…

Từ năm 2010 đến nay, sạt lở bờ biển tại ĐBSCL diễn biến rất phức tạp và có xu thế tăng, tốc độ xói đã vượt tốc độ bồi làm diện tích khu vực Đồng bằng giảm khoảng 300ha/năm, chủ yếu khu vực bờ biển thuộc tỉnh Cà Mau và Kiên Giang. Thống kê chưa đầy đủ của ngành chức năng, vùng hiện có 49 điểm sạt lở bờ biển, với tổng chiều dài 266km, trong đó: 40 khu vực thường xuyên bị xói lở, với tốc độ xói lở từ 10 – 45 m/năm, đặc biệt là trong những năm gần đây như: Gò Công Đông (Tiền Giang); Ba Tri, Bình Đại (Bến Tre); Nhà Mát, Gành Hào (Bạc Liêu); bờ biển Đông thuộc huyên Ngọc Hiển, bờ biển Tây thuộc huyện Trần Văn Thời, Năm Căn (Cà Mau); An Minh, An Biên (Kiên Giang). 9 khu vực xói, bồi xen kẽ theo mùa. Ngoài ra, ĐBSCL cũng có 22 khu vực thường xuyên bị bồi lắng với tốc độ bồi lắng từ 3 – 10 m/năm.

Theo Tổng cục Phòng chống Thiên tai, từ đầu năm 2018 đến nay, lũ đã gây thiệt hại cho vùng ĐBSCL hơn 1.548 ha lúa; gây sạt lở, vỡ bờ bao ở Tam Nông- Đồng Tháp và TP Long Xuyên (An Giang)… và một số địa phương như Vĩnh Long, Cần Thơ, Bến Tre cũng hứng chịu nhiều thiệt hại do triều cường. Đặc biệt, trong những ngày gần đây do ảnh hưởng từ lũ đầu nguồn kết hợp với kỳ triều cường, mực nước cao nhất đo được tại Mỹ Thuận là 2,07m, Cần Thơ 2,23m,… đều vượt số liệu lịch sử 40 năm qua (từ 1977-2017) gây ngập cho nhiều vùng tại các tỉnh hạ nguồn sông Cửu Long.

Một số tổ chức quốc tế cũng dự báo về diễn biến trong 30-50 năm và 100 năm tới, một phần của ĐBSCL sẽ bị chìm trong nước biển. Các chuyên gia cho rằng, thiên tai là không thể tránh khỏi, nhưng chúng ta có thể ngặn nó trở thành thảm họa. PGS TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện BĐKH- Trường Đại học Cần Thơ, cho biết trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, do ảnh hưởng của BĐKH, tình trạng sạt lở đất bờ sông, xói lở bờ biển gia tăng ở khu vực ĐBSCL. Hiện tượng nắng, mưa thất thường và một số nguyên nhân khác làm cho tình trạng sạt lở trở thành vấn đề thời sự nóng đối với khu vực này.

Theo kịch bản BĐKH do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2016 cho thấy, khu vực ĐBSCL sẽ ngập chìm từ 19% – 39% nếu mực nước biển dâng thêm 1m và làm tăng khả năng gây xói lở bờ biển, vùng cửa sông ven biển, suy thoái rừng ngập mặn ven biển. Các kịch bản BĐKH đều cho thấy lượng mưa có xu thế gia tăng về mùa mưa, giảm về mùa khô. Qua đó đã làm tăng lưu tốc dòng chảy về mùa lũ và tạo ra chênh lệch mực nước lớn hơn trước đây giữa mùa lũ và mùa kiệt cũng là những tác động làm gia tăng nguy cơ sạt lở bờ sông. Việc khai thác nước ngầm quá mức gần đây đã gây ra hiện tượng lún, sụt đất trên diện rộng. Tuy nhiên, chưa có đánh giá tổng hợp, khoa học cả về tình hình, nguyên nhân từ đó đề ra giải pháp đồng bộ để đưa ra lộ trình phòng chống phù hợp. Hiện nay, việc xử lý sạt lở còn mang tính tạm thời, bị động.

Các chuyên gia trong và ngoài nước đều cho rằng, ĐBSCL thiếu chiến lược và chính sách căn cơ cho toàn vùng, thiếu tính kết nối giữa phát triển nông nghiệp, nông thôn với công nghiệp hóa, đô thị hóa, khó rút lao động khỏi nông nghiệp. Một điểm đáng lo ngại nữa các mô hình đô thị ĐBSCL đều không kèm theo sức sống kinh tế, chủ yếu vẫn là các trung tâm hành chính, chưa thực sự trở thành các trung tâm về khoa học công nghệ, kiến thức và tài chính của vùng.

Vấn đề khác là không gian kinh tế vùng bị chia cắt, nhiều cụm ngành kinh tế và sản phẩm chủ lực vùng mà các tỉnh có lợi thế chưa được liên kết tốt. Việc phân cấp ra quyết định về đầu tư công đã giúp cho các địa phương phát huy tính chủ động sáng tạo, nhưng cũng góp phần tạo ra sự cạnh tranh giữa các tỉnh, thành phố tại ĐBSCL, dẫn đến các quyết định đầu tư không đạt được tối ưu và dễ phá vỡ qui hoạch vùng.

Tháng 9-2017, tại Hội nghị phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH diễn ra ở TP Cần Thơ, Bộ NN&PTNT có báo cáo đề xuất Chính phủ nhiều giải pháp quan trọng cho vùng. Cụ thể, Bộ NN&PTNT đề xuất kinh phí 2.500 tỉ đồng cho các dự án cấp bách (10 điểm bờ sông 1.200 tỉ đồng và 8 điểm bờ biển 1.300 tỉ đồng) để tăng khả năng chống chịu cho ĐBSCL. Giai đoạn 2018-2030, Bộ cũng đề xuất kinh phí dự kiến khoảng 34.000 tỉ đồng cho các chương trình, dự án bố trí, sắp xếp lại dân cư vùng ven sông, kênh, rạch, ven biển kết hợp phòng chống lũ, xây dựng nông thôn mới; phòng chống sạt lở bờ sông, xói lở vùng ven biển gắn với củng cố nâng cấp hệ thống đê biển, trồng rừng ngập mặn thích ứng BĐKH kết hợp quản lý tổng hợp vùng ven biển; quan trắc diễn biến xói bồi sông, kênh, rạch, bờ biển, thủy hải, văn; thúc đẩy hình thành hệ sinh thái mới thích ứng với BĐKH; sử dụng vật liệu nạo vét sông, kênh, rạch phục vụ việc san lấp, đắp đê, làm nền đường giao thông,… Theo các nhà khoa học, các giải pháp công trình không thể giải quyết triệt để vấn đề mà ĐBSCL đang hứng chịu mà cần kết hợp với giải pháp phi công trình và cần lộ trình để thực hiện.

Triều cường làm vỡ một đoạn đê ở Cồn Khương (Cần Thơ) hồi tháng 10-2018, làm ảnh hưởng đến cuộc sống người dân.

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, ĐBSCL là một trong những khu vực chịu nhiều tác động tiêu cực nhất của BĐKH. Do vậy, việc lựa chọn giải pháp phù hợp phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển phụ thuộc vào điều kiện địa chất, địa hình, mực nước, tốc độ dòng chảy và tình trạng sạt lở của từng khu vực; đồng thời cần có những nghiên cứu khảo sát cụ thể. Cần rà soát, công bố các kịch bản BĐKH chi tiết đến cấp xã, tăng cường công tác dự báo khí tượng thủy văn; phân bổ kinh phí, triển khai xây dựng nhiều công trình, mô hình… cùng với các giải pháp phi công trình như trồng rừng ngập mặn ven biển nhằm bảo vệ hệ thống đê, kè ven biển tạo sinh kế cho người dân địa phương…

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 120/NQ-CP (ngày 17/11/2017) về việc phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH. Đây là Nghị quyết được ban hành sau “Hội nghị Diên Hồng” vào tháng 9-2017 và cũng là chính sách đòn bẩy giúp ĐBSCL định vị lại quá trình phát triển. Theo chúng tôi Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện BĐKH- Đại học Cần Thơ,lâu nay nhiều người cứ nghĩ, khu vực ĐBSCL sẽ khống chế được sạt lở, BĐKH,… bằng những công trình kè sông, biển nhưng giải pháp này không thuận theo tự nhiên, dẫn đến tình trạng sạt lở vẫn không thuyên giảm. Do vậy, Chính phủ ban hành Nghị quyết 120 mang tính đột phá về tư duy chiến lược cho khu vực ĐBSCL và thể hiện rõ tính liên kết giữa các địa phương, các Bộ, ngành để ứng phó BĐKH, tài nguyên. Điểm nổi bật của Nghị quyết này là chọn giải pháp không hối tiếc, nghĩa là không làm những công trình quá lớn, để trường hợp không phát huy được hiệu quả thì mình khắc phục, sửa chữa được, đặc biệt là những công trình này thuận thiên, nương theo nó để phát triển.

Triều cường gây ngập trên nhiều tuyến đường nội ô TP Cần Thơ tháng 10-2018.

Để ứng phó với BĐKH, các nhà khoa học cùng khuyến cáo, các địa phương ở ĐBSCL phải xây dựng một bản đồ dự báo chung cho toàn vùng, đánh dấu các điểm đen sạt lở lên bản đồ đó giống như điểm đen giao thông đường bộ. Về lâu dài, các địa phương cần rà soát lại quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội, các ngành lĩnh vực, đặc biệt là quy hoạch phát triển đô thị, nông thôn, tái cơ cấu phát triển ngành gắn với ứng phó BĐKH, nước biển dâng. Hiện nay, các địa phương vùng ĐBSCL đều có kịch bản ứng phó với BĐKH và nước biển dâng, đồng thời đang cụ thể Kế hoạch để thực hiện Nghị quyết 120 của Chính phủ.

UBND tỉnh Sóc Trăng đã ban hành Kế hoạch số 43/KH-UBND, về việc triển khai thực hiện Nghị quyết 120 của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH trên địa bàn tỉnh. Mục tiêu của kế hoạch là tập trung mọi nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội; hệ thống đô thị hiện đại được xây dựng và phân bố hợp lý tại các huyện, thị, thành phố; giao thông đường bộ, đường thủy phát triển đồng bộ, kết nối trong tỉnh, liên tỉnh và đảm bảo kết hợp hài hòa, thống nhất, bổ trợ với hệ thống thủy lợi, đê điều; xây dựng nông thôn mới thích ứng với BĐKH, bảo vệ môi trường;…

Ông Lê Văn Hiểu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng cho biết, năm 2015 hầu hết các nơi trong tỉnh đều bị mặn xâm nhập, năm 2016 do ảnh hưởng của hiện tượng Elnino, mặn xâm nhập sớm và tiến sâu vào nội đồng. Thời gian xâm nhập mặn kéo dài hơn làm thiệt hại hơn 31.560 ha lúa, hoa màu, mía, cây ăn trái, thủy sản của người dân trong tỉnh. Các năm 2016-2017, do ảnh hưởng các cơn bão, lốc xoáy, mưa giông… ước tổng thiệt hại hơn 1.100 tỉ đồng. Ngoài ra, do ảnh hưởng của BĐKH trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng có 7.114m bờ sông, bờ biển ở các huyện Kế Sách, Long Phú, TX Vĩnh Châu,… bị sạt lở, gây thiệt hại hàng trăm tỉ đồng.

Để ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan, tăng khả năng chống chịu trước BĐKH, tỉnh Sóc Trăng đã triển khai trồng mới, phục hồi rừng ngập mặn nhằm thích ứng với BĐKH; xây dựng hệ thống cống ngăn mặn và kênh trục thủy lợi tạo nguồn trữ ngọt các địa bàn xung yếu; đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ chuyển đổi sản xuất phù hợp với điều kiện sinh thái, nâng cao sinh kế, thích ứng với BĐKH ở vùng Cù Lao Dung. Cập nhập, hoàn thiện kịch bản BĐKH và nước biển dâng tỉnh Sóc Trăng đến năm 2100 theo kịch bản do Bộ TN&MT công bố làm cơ sở bổ sung, cập nhật chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.

Còn tỉnh Hậu Giang, những năm gần đây, ảnh hưởng từ BĐKH đã gây ra hàng chục vụ sạt lở đất bờ sông rất nghiêm trọng ở các huyện Châu Thành, Châu Thành A, TX. Ngã Bảy,… Tỉnh phải công bố thiên tai cấp độ 1 năm 2017. Để chủ động ứng phó với BĐKH, tỉnh đã triển khai công trình đê bao Long Mỹ- Vị Thanh giai đoạn 1 với chiều dài trên 30km; Trung ương đã hỗ trợ Hậu Giang triển khai xây dựng hệ thống cống ngăn mặn với tổng mức đầu tư gần 300 tỉ đồng. Đến thời điểm này hệ thống các cống ngăn mặn đã được xây dựng cơ bản hoàn thành đáp ứng nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của người dân trên địa bàn tỉnh Hậu Giang.

Lãnh đạo các địa phương ĐBSCL cũng khẳng định cần có sự liên kết chặt chẽ giữa các tỉnh, thành phố trong vùng, nhất là về hạ tầng giao thông, cống ngăn mặn,… để chủ động điều tiết nguồn nước. Bên cạnh đó, nước mặn cũng là một tài nguyên để khai thác nguồn lợi thủy hải sản. Đồng thời cần cân nhắc lại một số công trình, dự án không thuận theo tự nhiên.

THỰC HIỆN: GIA BẢO – QUÁCH HÙNG – LÊ HOÀNG – NHẬT HÀO

Bạn đang xem bài viết Giải Pháp Khcn Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu / 2023 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!