Xem Nhiều 1/2023 #️ Giải Pháp Mới Cho Vấn Đề Lạm Phát # Top 9 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Giải Pháp Mới Cho Vấn Đề Lạm Phát # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Giải Pháp Mới Cho Vấn Đề Lạm Phát mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tóm tắt

GIẢI PHÁP MỚI CHO VẤN ĐỀ LẠM PHÁT

Giúp thoát khỏi vòng xoáy cung tiền- lạm phát- suy thoái

——————————————————

TÓM TẮT:

Giải quyết vấn đề lạm phát bằng cách đưa tiền vào lưu thông trực tiếp nhờ vào các doanh nghiệp thương mại để luôn tôn trọng được nguyên tắc: “Tiền chỉ được đưa vào lưu thông khi trong xã hội đã có được vật tư, hàng hóa làm vật đối chứng; và khi vật tư, hàng hóa đó, vật đối chứng đó không còn, đã được bán đi tiêu thụ, thì tiền từ trong lưu thông phải được thu về”. Vì vậy chúng ta sẽ vẫn luôn có được sự cân đối Tiền- Hàng trong nền kinh tế luôn vận động và phát triển, lạm phát mặc nhiên sẽ được loại trừ. Chúng ta sẽ thoát khỏi vòng xoáy cung tiền- lạm phát- suy thoái. Giá trị đồng tiền quốc gia sẽ luôn được giữ vững và ổn định.

NỘI DUNG:

Written by Nguyen Cao Dung

.

Đã đăng tại:

Tủ sách Nghiên Cứu– (08-10-2010)

Viện Nghiên Cứu Kinh Tế Phát Triển (IDR)- Đại học Kinh tế TPHCM

.

Sách hiện đang có mặt tại hệ thống nhà sách Nguyễn Văn Cừ tại chúng tôi và các tỉnh thành khác trên cả nước. Giá bán: 30.000 đồng.

Đây là một quyển sách hay và giải quyết triệt để bài toán lạm phát, và qua đó tạo ra được một nguồn vốn lưu động gần như không giới hạn cho các doanh nghiệp thương mại.

.

TÓM TẮT:

Update [17-05-2017]

Giải quyết vấn đề lạm phát bằng cách đưa tiền vào lưu thông trực tiếp nhờ vào các doanh nghiệp thương mại để luôn tôn trọng được nguyên tắc: “Tiền chỉ được đưa vào lưu thông khi trong xã hội đã có được (mua được) vật tư, hàng hóa làm vật đối chứng để đảm bảo giá trị đồng tiền; và khi vật tư, hàng hóa đó, vật đối chứng đó không còn, đã được bán đi tiêu thụ, thì tiền từ trong lưu thông phải được thu về”.

Vì vậy chúng ta sẽ vẫn luôn có được sự cân đối về mặt giá trị giữa Hàng hóa và Tiền tệ trong nền kinh tế luôn vận động và phát triển, lạm phát mặc nhiên sẽ được loại trừ. Chúng ta sẽ thoát khỏi vòng xoáy: cung tiền – lạm phát – suy thoái. Giá trị đồng tiền quốc gia sẽ luôn được giữ vững và ổn định.

Giải pháp này sẽ giúp các nước đang bị lạm phát cao như Venezuela, Zimbabue,… kiểm soát được sự cân đối về mặt giá trị giữa hàng hóa và tiền tệ trong nền kinh tế thị trường của đất nước họ, từ đó sẽ kiểm soát và dần dần sẽ loại trừ được lạm phát. Giải pháp này cũng có thể giúp các nước muốn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung (như Cuba, Bắc Triều tiên, …) sang nền kinh tế thị trường một cách an toàn, hiệu quả, và tránh không gây ra những cú sốc lớn (do giá cả tăng cao) trong nền kinh tế, nhờ vào việc kiểm soát được sự cân đối về mặt giá trị giữa hàng hóa và tiền tệ trong nền kinh tế của đất nước họ.

Giải pháp này sẽ giúp các nước trên thế giới hoàn thiện thêm nền kinh tế thị trường, giúp các nước thoát khỏi vòng xoáy cung tiền- lam phát- suy thoái. Nền kinh tế thị trường của các nước sẽ nhanh chóng phát triển như bản thân nó có thể mà không còn bị tình trạng lạm phát hay thiểu phát níu kéo nó thụt lùi trở lại nữa.

.

Sách xuất bản trên Amazon (phiên bản tiếng Anh)

Sách xuất bản trên Amazon (phiên bản tiếng Việt)

Hướng dẫn mua sách trên Amazon

Bình chọn

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Đề Án Lạm Phát Và Các Giải Pháp Chống Lạm Phát Ở Việt Nam Hiện Nay

Phần I: Tổng quan về lạm phát và lạm phát ở Việt Nam 3

1.1/ Lạm phát vừa phải 4

1.2/ Lạm phát phi mã 4

1.3/ Siêu lạm phát 4

2/ Những biểu hiện của lạm phát 4

2.1/ Sự mất giá liên tục của các loại đồng tiền có giá 5

2.2/ Sự giảm giá của đồng tiền so với ngoại tệ và vàng 5

2.3/ Khối lượng bút tệ tăng lên 5

3/ Lạm phát ở Việt Nam ( từ năm 1986 đến năm 2004) 5

3.1/ Thời kỳ trước đổi mới( trước năm 1986 ) 6

3.2/ Thời kỳ bước vào đổi mới và lạm phát cao (1986-1990 ) 6

3.3/ Thời kỳ kinh tế đi vào ổn định và lạm phát thấp( 1991- 1995 ) 6

3.4/ Thời kỳ kinh tế có xu hướng giảm phát ( 1996-2000) 7

3.5/ Thời kỳ kinh tế có sự thay đổi mới ( 2001-2005 ) 7

Phần II: Nguyên nhân và các tác động của lạm phát 8

1/ Nguyên nhân của lạm phát 8

1.1/ Lạm phát để bù đắp các thiếu hụt của ngân sách 8

1.2/ Lạm phát do nguyên nhân chi phí 8

1.3/ Lạm phát ỳ 9

2/ Tác động của lạm phát 9

2.1/ Làm phân phối lại thu nhập và của cải giữa các giai cấp khác nhau 10

2.2/ Đối với vấn đề thất nghiệp 11

2.3/ Tác động của lạm phát dự kiến 12

Phần III: Nhìn nhận lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 13

1/ Tình hình biến động giá cả 14

2/ Nguyên nhân tăng giá 16

2.1/ Nguyên nhân khách quan 16

2.2/ Các nguyên nhân chủ quan 16

Phần IV: Các giải pháp chống lạm phát ở Việt Nam 17

1/ Các giải pháp lâu dài để kiềm chế lạm phát 17

2/ Các biện pháp chống lạm phát ở Việt Nam hiện nay 18

3/ Một số đề xuất, kiến nghị 20

Tài liệu tham khảo 22

ất hiện. Tuy nhiên, bước vào giai đoạn 1976-1985 nền kinh tế đã có nhiều biểu hiện suy thoái, khủng hoảng và lạm phát. Sản xuất đình đốn, kinh doanh kém hiệu quả, năng suất lao động thấp, chi phí vật chất cao, thu nhập quốc dân tăng không đáng kể, đời sống nhân dân giảm sút, giá cả ở thị trường chính thức và thị trường chợ đen có khoảng cách khá xa. Nông nghiệp với tỷ trọg chiếm trên 40% tổng sản phẩm xã hội và khoảng 50% thu nhập quốc dân, nhưng gía trị sản xuất nông nghiệp chỉ tăng 3,8%/ năm. Công nghiệp tăng bình quân 5,2%/năm. Dịch vụ thì hầu như không phát triển, xuất khẩu thì nhỏ bé. Thời kỳ này, tình trạng đất nước làm không đủ ăn, tình hình kinh tế- xã hội khó khăn không thể kể hết. 3.2/ Thời kỳ bước vào đổi mới và lạm phát cao (1986-1990 ) Sau Đại hội đảng lần thứ VI, công cuộc đổi mới đã đạt được nhiều kết quả bước đầu rất đáng khích lệ, nhất là từ năm 1989. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn ở trong tình trang khủng hoảng kinh tế- xã hội. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 3,9%/ năm trong khi dân số tăng 2,3%. Trong thời kỳ này, lạm phát ở mức cao, thu nhập người dân lại không tăng, vì vây mức sống thực của người dân đã thấp nay còn thấp hơn. 3.3/ Thời kỳ kinh tế đi vào ổn định và lạm phát thấp( 1991- 1995 ) Giai đoạn này, tình hình kinh tế- xã hội nước ta có nhiều chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng đạt khá cao, liên tục và toàn diện, nền kinh tế đã bắt đầu vượt ra khỏi khủng hoảng để đi vào thế ổn định. Điểm nổi bật là sự tăng trưởng kinh tế vượt trội hơn các giai đoạn trước đó với tốc độ tăng trưởng cao, ổn định và liên tục. Thành công trong quá trình đổi mới của nền kinh tế giai đoạn 1991-1995 là bước đầu chặn được lạm phát. Chỉ số giá tiêu dùng giảm từ 67,1% năm 1990 xuống 12,7% năm 1995. Nămm 1991, tỷ lệ lạm phát là 67,5%, năm 1992 là 17,5%, năm 1993 là 5,2%, năm !993 la 14,4% và năm 1995 là 12,7%. Mặc dù tỷ lệ lạm phát vẫn ở mức hai con số song đây là một chỉ số giá rất nhỏ bé so với các năm trước đó 3.4/ Thời kỳ kinh tế có xu hướng giảm phát ( 1996-2000) Bước vào giai đoạn 1996-2000, các cuộc khủng hoảng khu vực và thế giới đã tác động không nhỏ tới nền kinh tế nước ta.Thiên tai lại liên tiếp xảy ra trong nước… Tuy vậy, một điều đáng lưu ý trong giai đoạn này là tốc độ tăng trưởng kinh tế có xu hướng chững lại thì tỷ lệ lạm phát lai đi xuống và chuyển sang giai đoạn thiểu phát. Điều này thể hiện ở chỗ năm 1995 tỷ lệ lạm phát là12,7% thì đến năm 2000 là -0,6% đi cùng với chỉ số giá tiêu dùng ở mức 0,1% năm 1999 và -0,6% năm 2000. Thời kỳ này cho ta thấy khi lạm phát thấp hay giảm phát thì mức tăng trưởng kinh tế bị kìm hãm, ảnh hưởng không tốt đối với nền kinh tế. Chính vì vậy trong giai đoạn này chúng ta đã áp dụng các biện pháp kích cầu để đẩy nhanh tăng trưởng lên. 3.5/ Thời kỳ kinh tế có sự thay đổi mới ( 2001-2005 ) Với những vấn đề nêu trên, những năm đầu của giai đoạn này, chúng ta đã áp dụng nhiều biện pháp hạn chế thiểu phát, kích cầu nhằm đưa tỷ lệ lạm phát lên một mức hợp lý . Trong bốn năm, nền kinh tế đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, cơ chế kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mọi mặt xã hội được cải thiện và phát triển. Tỷ lệ lạm phát tăng từ -0,6% năm 2000 lên 9,5% năm 2004. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển mạnh của nền kinh tế trong giai đoạn 2001-2004 thì lạm phát lại có nguy cơ tái diễn. Năm 2004, tình hình biến động trên thị trường thế giới và biến động trên thị trường trong nước, lạm phát lại như một bóng ma một lần nữa lại rình rập gây bất ổn định nền kinh tế. Với chỉ số giá 9,5% năm 2004 là một gianh giới mỏng manh giữa lạm phát kiểm soát được và lạm phát cao. Phần II Nguyên nhân và các tác động của lạm phát Trong phần II này, người viết muốn đem đến cái nhìn tổng quan nhất về nguyên nhân và các tác động chung cua lạm phát đối với xã hội và kinh tế, trước khi đi sâu tìm hiểu nguyên nhân lạm phát ở nước ta trong thời gian vừa qua. 1/ Nguyên nhân của lạm phát Lạm phát khởi thuỷ từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Thứ nhất là lạm phát có thể xảy ra do tác động chủ quan của hệ thống tiền tệ- tín dụng – ngân hàng. Bất cứ một sự biến đổi nhỏ nào của hệ thống này đều có tác động hoặc tăng hoặc giảm tỷ lệ lạm phát Thứ hai là lạm phát cũng chịu ảnh hưởng của một số yếu tố khách quan như chính trị, xã hội, thiên tai, bão lụt, tình trạng thất nghiệp, nền sản xuất.. do chịu tác động của nhiều yếu tố trong nền kinh tế như vậy nên lạm phát diễn biến hết sức phức tạp đòi hỏi trong quá trình chống lạm phát có chiến lược đúng đắn để lạm phát luôn nằm trong quỹ đạo mà nền kinh tế có thể chấp nhận được Những nguyên nhân khách quan và chủ quan đó có thể tóm gọn lại như sau 1.1/ Lạm phát để bù đắp các thiếu hụt của ngân sách Đây là nguyên nhân thông thường nhất do sự thiếu hụt ngân sách chi tiêu của Nhà nước( y tế, giáo dục, quốc phòng) và do nhu cầu khuyếch trương nền kinh tế. Nhà nước của một quốc gia chủ trương phát hành thêm tiền vào lưu thông để bù đắp cho các chi phí nói trên đang thiếu hụt. Nguyên nhân của lạm phát ở đây được xác định là lạm phát do cầu hàng hoá vượt qua cung. Hàng hoá bị săn đuổi bởi lượng chi tiêu quá lớn, mà bản chất của nó là sự chi tiêu quá nhiều trong lúc lượng cung hàng hoá bị hạn chế. 1.2/ Lạm phát do nguyên nhân chi phí Trong điều kiện hiện nay, xu hướng tăng giá cả của các loại hàng hoá và tiền lương luôn luôn diễn ra trước khi nền kinh tế đạt được một khối lượng công ăn việc làm nhất định. Điều đó có nghĩa là chi phí sản xuất đã đẩy giá cả tăng lên ngay cả trong các yếu tố sản xuất chưa được sử dụng đầy đủ, lạm phát xảy ra. Lạm phát như vậy có nguyên nhân là do sức đẩy của chi phí sản xuất. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể thấy rằng nếu tốc độ tăng tiền lương nhanh hơn tốc độ tăng của năng suất lao động sẽ đẩy chi phí sản xuất tăng lên, có nghĩa là chi phí tiền công trong một đơn vị sản phẩm tăng lên. Thực chất ở các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa khi các cuộc đấu tranh của công đoàn đạt được một thoả thuận về mức lương mới thì các nhà tư bản lại tìm cách lấy lại khoản mà họ đã mất đi do tăng tiền lương cho công nhân bằng cách nâng giá bán hàng hoá lên. 1.3/ Lạm phát ỳ Lạm phát ỳ là một khái niệm của các nhà kinh tế tư bản, là lạm phát chỉ tăng với một tỷ lệ không đổi hàng năm trong một thời gian dài. ở những nước có lạm phát ỳ xảy ra , có nghĩa là nền kinh tế ở nước đó có một sự công bằng mong đợi, tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ được trông đợi và được đưa vào các hợp đồng và các thoả thuận không chính thức. Tỷ lệ lạm phát đó được ngân hàng trung ương, chính sách tài chính của Nhà nước, giới tư bản và cả giới lao động thừa nhận và phê chuẩn nó. Đó là một sự lạm phát nằm trong kết cấu biểu hiện một sự cân bằng trung hoà và nó chỉ biến đổi khi có sự chấn đông kinh tế xảy ra. ( Lúc đó lạm phát ỳ có thể tăng hoặc giảm). 2/ Tác động của lạm phát Tìm hiểu về những tác động của lạm phát đối với các mặt của đời sống kinh tế – xã hội là cần thiết để từ đó đưa ra những giải pháp đúng đắn, hợp lý và hiệu quả chống lại lạm phát. Lạm phát được nhận diện về tác động của nó lại hết sức khác nhau, xét về nhiều góc độ khác nhau, biểu hiện ở nhiều trường phái kinh tế khác nhau, bao gồm cả những sự lên án gay gắt, cùng sự thừa nhận vai trò tích cực của nó đối với nền kinh tế. Vậy nên nhìn nhận vấn đề về tác động của lạm phát theo hướng nào? Với những người lên án lạm phát, tất thảy đều cho rằng lạm phát là thứ thuế phi lí nhất, vô nhân đạo nhất, và do đó cũng là tàn nhẫn nhất. Cơ sở của sự lên án này là lạm phát làm giảm sức mua của đồng tiền, tạo ra sự phân phối thu nhập tiền tệ, làm cho người giàu ( sở hữu nhiều tài sản ) thì giàu thêm và người nghèo ( không hoặc sở hữu ít tài sản ) thì nghèo thêm, với sự phê phán này, lạm phát chính là sự cố ý hay không cố ý gây ra bởi Nhà nước- chỉ có Nhà nước- người điều hành và quản lý nền kinh tế- mới gây ra họăc không gây ra mà thôi, và do đó, cùng với các sắc thuế mà nhà nước định ra và hành thu thì đây cũng là sự tước đoạt phần thu nhập chính đáng của họ- qua giảm sức mua của tiền tệ- và người gây ra không ai khác là Nhà nước- mà đại diện là ngân hàng trung ương- cơ quan độc hành phát hành tiền. Khác với những phê phán nói trên, một trường phái kinh tế khác cho rằng, không phải bất kỳ một loại lạm phát nào cũng đều là xấu, mà tuỳ thuộc vao từng loại lạm phát. Người ta cho rằng, điều lên án trên chỉ ám chỉ lạm phát phi mã và siêu lạm phát. Với lạm phát vừa phải không những không có hại mà ngược lại, còn cần đối với nền kinh tế, nhiều khi nó như là một loại chất kích thích, có khả năng giúp nền kinh tế tăng trưởng . Đại diện cho quan điểm này là Benjamin Franklin với câu nói sau đây: ” vào khoảng thời gian có tiếng kêu… đòi có nhiều tiền giấy hơn… tôi đã đứng về phía phát hành thêm vì tôi tin chắc rằng, số lượng nhỏ đầu tiên in vào năm 1723 đã đem lại nhiều điều tốt, thúc đây buôn bán, tạo thêm công ăn việc làm đối với số dân ở các tỉnh. Tính lợi ích của số tiền đó, qua thời gian và kinh nghiệm, đã hiển nhiên đến mức không ai tranh cãi giì nhiều… tuy nhiên… có những giới hạn của nó mà vượt khỏi giới hạn đó thì lợi biến thành hại”. Ngày nay, các quan điểm đã được kiểm chứng tính đúng đăn của nó trong đời sống của nhiều nền kinh tế khác nhau. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa thì làm phát bao giờ cũng gây ra những tác động đối với đời sống, đặc biệt là lạm phát phi mã và siêu lạm phát. Các tác động của nó là: 2.1/ Làm phân phối lại thu nhập và của cải giữa các giai cấp khác nhau Khi lạm phát xảy ra, những người có tài sản, những người cho vay nợ là có lợi nhất. Vì giá cả các loại tài sản và hàng hoá đều tăng lên, còn giá trị đồng tiền thì giảm xuống. Những người làm công ăn lương, những người gửi tiền là bị thiệt hại. Vì vậy để tránh thiệt hại một số nhà kinh tế đưa ra bài tính đơn giản là lãi suất cần phải được điều chỉnh cho phù hợp và đúng với tỷ lệ lạm phát . Ví dụ lãi suất thực tế là 3%, tỷ lệ tăng gía cả là 9% thì lãi suất danh nghĩa phải là 12%. Tuy nhiên, một sự điều chỉnh lãi suất cho phù hợp với tỷ lệ lạm phát chỉ có thể thực hiện được ở mức lạm phát thấp, lạm phát một con số một năm. Khuynh hướng chung là khi dự đoán có lạm phát các người làm ăn” kinh tế ngầm” họ thường dự trữ vàng, đầu tư vào bất động sản và ngồi chờ lạm phát xảy ra. Trong khoảng thời gian 1987-1988 và đầu năm 1989 nhiều người đâù cơ vàng và bất động sản ở Việt Nam đã giàu lên nhanh chóng. Còn những người làm công ăn lương thì cũng nghèo đi nhanh chóng như vậy. Khi giá vàng bị đẩy lùi trở lại, những người đầu cơ vàng vẫn không bị thiệt hại giì bởi vì giá vàng so với các loại hàng hoá khác cao cấp như tủ lạnh, ti vi… và ngoại tệ thì vẫn không suy giảm chút nào cả. Vì vậy trong thời kỳ giá vàng bị đẩy lùi trở lại xuống mức rất thấp họ âm thầm mua vàng và lại bán ra khi ra vàng được nâng lên. Trong thời kỳ này những người gửi tiền tiết kiệm là bị thiệt hại nhiều nhất. ở thời kỳ lạm phát các nhà nướcthấy rằng họ giảm bớt được các gánh nợ nần của chính phủ. Song họ sẽ bi áp lực chính trị của khối đông quần chúng nhân dân lao động bị thiệt hại do lạm phát xảy ra. ở thời kỳ lạm phát như vậy nếu Nhà nước mở rộng khối cung tiền tệ để đáp ứng yêu cầu của đầu tư thì nó sẽ kích thích các nhà đầu tư, vì người vay tiền luôn có lợi và kinh tế sẽ có khả năng phát triển, nhưng nếu chi tiêu của Nhà nước chỉ nhằm vào các khoản phi sản xuất thì nền kinh tế sẽ tồi tệ đi. Các nhà kinh doanh có khuynh hướng ngâm hàng để hưởng lợi, bởi nếu tiếp tục sản xuất chưa chắc đã có lợi bằng việc giữ hàng. 2.2/ Đối với vấn đề thất nghiệp Đối với kinh tế tiền tệ, khi lạm phát xảy ra nói chung nó có tác động làm tăng trưởng nền kinh tế và tạo ra nhiều công ăn việc làm, vì vậy tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm. Nhưng trong nền kinh tế bao cấp thì không như vậy, vì việc sản xuất nhiều hay ít đều do nhà nước quyết định, chỉ tiêu giá cả đều do nhà nước quy định, nên sự thúc đẩy của lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế là không có. Tất nhiên sản xuất không ra tăng thì khối lượng công ăn việc làm cũng không nhiều lên và từ đó thu nhập danh nghĩa từ lương không thể đủ sống, do vậy có hiện tượng họ làm lấy lệ rồi tìm một việc giì đó có thu nhập để kiếm thêm, có khi thu nhập này còn lớn hơn cả tiền lương. Trong cơ chế thị trường lạm phát làm biến dạng giá cả tương đối, đặc biệt là tiền tệ bị mất giá nghiêm trọng, lãi suất thực tế bị giảm đến mức dưới 0. Ví dụ những người gửi tiền trong năm 1980 ở Đức thu được lãi suất thực tế bằng-12,6%. Lý do là giá cả của đầu vào được định theo các quy tắc lâu dài, còn giá cả đầu ra thì không chịu theo quy tắc đó Tuy nhiên, cần lưu ý là tuỳ vào mức độ lạm phát mà sự thiệt hại của lạm phát sẽ như thế nào. Lạm phát thấp vừa phải sẽ gây ra những tác động vừa phải. lạm phát cao sẽ có những tác hại lớn hơn. Về khía cạnh chính trị lạm phát làm nhân dân phẫn nộ. Xung đột giai cấp sẽ xảy ra ở các nước tư bản , ở các nước XHCN nhân dân sẽ phản ứng do việc phân phối không công bằng: bộ phận sản xuất luôn được tăng thu nhập, bộ phận hành chính sự nghiệp thu nhập bị giảm sút. 2.3/ Tác động của lạm phát dự kiến Chúng ta sẽ tìm hiểu về loại lạm phát dự kiến Giả sử mỗi tháng giá cả tăng 1%. Loại lạm phát ổn định và biết trước 12%/ năm này gây ra những tổn thất cho xã hội Thứ nhất là tác dụng gây biến dạng thuế lạm phát đối với số tiền mà mọi người đang giữ. Thứ hai , tổn thất của lạm phát sinh khi lạm phát cao buộc các dạn phải thay đổi biểu giá thường xuyên hơn. Việc thay đổi giá đôi khi cũng tốn kém Thứ ba, tổn thất của lạm phát sinh ra do các doanh nghiệp tránh điều chỉnh giá cả thường xuyên khi chi phí cho việc điều chỉnh đó phát sinh, vì vậy, lạm phát càng cao , sự biến động của giá tương đối càng lớn. lạm phát gây ra sự biến động giá cả tương đối. Vì nền kinh tế thị trường dựa vào giá tương đối để phân bổ nguồn lực một cách có hiệu quả, nên lạm phát dẫn đến tình trạng kém hiệu quả xét trên giác độ vi mô. Loại tổn thất thứ tư của lạm phát do luật thúê gây ra. Nhiều điều khoản của luật thuế không tính đến lạm phát. lạm phát có thể làm thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của cá nhân, thường trái với ý định người làm luật.Một ví dụ về thất bại của luật thuế trong việc đối phó với lạm phát là cách sử lý của thuế đối với lãi về vốn. Tổn thất thứ năm của lạm phát là sự bất tiện của cuộc sống trong một thế giới mà giá cả thị trường thường xuyên thay đổi. Tiền là thước đo mà chúng ta dựa vào để tính toán các giao dịch kinh tế. Khi có lạm phát phát, cái thước này co giãn. Khi mua người nào đó đo bằng thước, chúng ta cần xác định xem anh ta đo bằng thước đo năm 1995 hay 1996. để so sánh chiều dài qua các năm người ta cần điều chỉnh “lạm phát “. Cũng như vậy, đồng đô la là cái thước kém tác dụng hơn khi giá trị của nó thường xuyên thay đổi. Phần III Nhìn nhận lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Do nôi dung bài tiểu luận có hạn, không cho phép phân tích được một cách toàn diện các cuộc lạm phát ở Việt Nam trong tất cả các năm trở lại đây, vì vậy trong phần III sẽ chỉ đi sâu vào phân tích tình hình lạm phát ở Việt Nam trong 2 năm( 2004 – 2005) Trong vài năm qua nền kinh tế Việt Nam có những nét có vẻ ngày càng khởi sắc, chẳng hạn như tốc độ phát triển kinh tế đã từ 4,8% năm 1999 lên đến trên 7% năm 2003, nhưng phân tích kỹ hơn ta thấy có những đám mây mù dường như đang kéo lại từ phía chân trời. Sau cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra ở Châu á năm 1997, Việt Nam chủ trương kích cầu nhằm giảm bớt ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng và bù lại mức giảm đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Ta thấy mức đầu tư nhanh chóng đưa lên từ tỷ lệ 27,6% GDP năm 1999 lên tới 35%GDP năm 2003. Đây cũng là tỷ lệ đầu tư kỷ lục trên thế giới, thế nhưng do hiệu quả sản xuất thấp vì chính sách đầu tư vẫn tập trung vào khu vực Nhà nước, tốc độ phát triển cũng chỉ đạt được 7,35. Trong đầu tư, chính sách của Nhà nước vẫn là tập trung phát triển sản xuất thay thế nhập khẩu( thay thế sắt thép, xi măng, đường) ,kể cả v iệc đưa tới việc bảo vệ thị trường nội địa cho đầu tư nước ngoài( xe hơi, xe gắn máy ), thay vì việc tập trung phát triển sản xuất nhằm xuất khẩu. Do chính sách kinh tế trên, thiếu hụt cán cân xuất nhập khẩu ngày càng cao, tăng từ 0% GDP năm 1999 lên 13,5 % năm 2003. Chính sách kích cầu, đi liền và đòi hỏi ngân hàng tín dụng đã đưa lạm phát đến mức báo động. Cả năm 2003 lạm phát là 3%. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2004 lạm phát đã lên tới 7,2 % và cho cả năm 2004. Việc tăng tiền lương không bắt kịp với tỷ lệ lạm phát . Từ “Lạm phát ” là dịch nghĩa của chữ inflation. Về chữ nghĩa thì “lạm phát ” là lạm phát in tiền. Do đó có thể lý luận một cách vô nghĩa rằng tăng giá không nhất thíêt là do lạm phát tiền. Nhưng lý thuyết tiền tệ đã chỉ ra rằng tăng gía nói chung cho cùng là tăng vấn đề về tiền tệ Mặc dù trong thời gian 2004 và đầu năm 2005 tình hình lạm phát đang ở mức có thể kiểm soát được, nhưng nguy cơ bùng nổ lạm phát vẫn ở mức cao đe doạ sự ổn định và phát triển của kinh tế Việt Nam. 1/ Tình hình biến động giá cả Từ những tháng đầu năm 2004, tình hình giá cả trong nước và quốc tế có những diễn biến phức tạp, giá một số vật tư và hàng tiêu dùng thiết yếu tăng cao ảnh hưởng xấu tới sản xuất và đời sống. Chỉ số giá tiêu dùng hầu như tăng liên tục trong cả năm 2004. Đặc biệt trong 6 tháng đầu năm : tháng 1 tăng 1,1 %, tháng 2 tăng 3 %, tháng 3 tăng 0,8 %, tháng 4 tăng 0,5 %, tháng 5 tăng 0,9 %, cao hơn tháng 2, 3, 4. Chỉ số giá tiêu dùng đầu năm 2004 đã tăng 7,2 % so với tháng 12/2003. Sau một loạt các biện pháp được áp dụng thì tình hình giá cả được cải thiện. Giá cả 6 tháng cuối năm có tăng chậm và thấp hơn so với 6 tháng đầu năm và chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 năm 2004 so với thagn 12 năm 2003 tăng 9,5 % , trong đó giá lương thực thực phẩm vẫn là tăng cao nhất ( 15,5%). Mức độ tăng gía 6 tháng và cả năm 2004 chỉ tập trung vào các nhóm hàng lương thực thực phẩm, thuốc tân dược , giá nhà ở và vật liệu xây dựng. 6 tháng đầu năm 2004 giá nhóm hàng lương thực thực phẩm tăng cao nhất là 12,3%, trong đó giá lương thực tăng 11,5%, thực phẩm tăng 14,6 %. Tình hình giá cả cả năm 2004 cũng phản ánh xu thế như 6 tháng đầu năm tuy có chuyển biến đôi chút. Việc giá thực phẩm tăng cao được giải thích do dịch cúm gà nên gây ra tổng cung thực phẩm thấp hơn tổng cầu thực phẩmvào các tháng đầu năm. Còn giá lương thực các tháng cuối năm tăng chậm lại do giảm bớt xuất khẩu lương thực nên giảm bớt sự mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu. Mặt khác, 6 tháng cuối năm nhờ có các chính sách chống đầu cơ thuốc và luật đất đai có hiệu lực, cũng như có nhiều công trình xây dựng nhà đang dần đưa vào cuộc sống hơn nên đã làm cho mức giá các mặt hàng này giảm xuống. Quan sát 6 tháng đầu năm 2004 thì thấy có đến 4 nhóm hàng có chỉ số giá tiêu dùng giảm so với tháng 5/2004. Đó là nhóm hàng nhà ở và vật liệu xây dựng . Ngoài ra một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng nhẹ như may mặc, giày dép, mũ nón( tăng 2,1%), thiết bị và đồ dùng gia đình cũng tăng 1,6% so với tháng 12/2003. Tháng 6, chỉ số giá đôla Mỹ vẫn giữ nguyên trong khi giá vàng đã giảm tới 1,4%. Nhưng đến tháng 7/2004 thì giá các mặt hàng tăng không đáng kể so với thang6 trừ giá dược phẩm và y tế tăng 0,7 %, giá lương thực thực phẩm giảm 0,3%, chỉ có gia phương tiện đi lại và bưu điện vẫn tăng cao là 3%, giá vang tăng 0,5% và gía đô la giảm 0,1%. Theo thông báo của cục thống kê, tình hình giá cả bốn tháng đầu năm 2005, tuy còn cao nhưng vẫn thấp hơn cùng kỳ năm 2004. Nếu đến tháng 2 năm 2004 chỉ số giá tiêu dùng là 3,0% thì tháng 2 năm 2005 chỉ số này chỉ ở mức 2,5%, thấp hơn 0,5%. Đến tháng 3 thì dấu hiệu sáng sủa hơn ở chỗ chỉ số giá tháng 3 năm 2005 chỉ tăng 0,1% , trong khi tháng 3 năm 2004 chỉ số này là 0,85. Xét cả 4 tháng cho thấy chỉ số giá ở mức 4,3% thấp hơn hẳn chỉ số này so với 4 tháng đầu năm 2004(5,4%), tức là chỉ bằng 79,6% của 4 tháng đầu năm 2004. Sở dĩ chỉ số giá chung 4 tháng đầu năm 2005 tăng thấp hơn 4 tháng đầu năm 2004 là do giá lương thực thực phẩm giảm khá. Tốc độ tăng gía lương thực 4 tháng đầu năm 2005 (5,4%) chỉ bằng 64,2 % mức tăng giá trong 4 tháng đầu năm 2004(8,4%). Tình hình giá cả và chỉ số giá 4 tháng đầu năm 2005 tăng thấp hơn 4 tháng đầu năm 2004 có thể lý giải ngay là do ngay từ đầu năm chung ta đã có nhiều biện pháp chống lạm phát và đẩy lùi lạm phát , đẩy mạnh phát triển sản xuất. Thứ nhất là nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng cao hơn cùng kỳ năm trước. Thứ hai, sản xuất công nghiệp có tăng cao hơn trước, giá trị sản xuất công nghiệp ba tháng đầu năm tăng 13,4%. Thứ ba, sản xuất nông nghiệp có chuyển biến tích cực tăng 5% so với mức tăng 0,8% cùng kỳ năm ngoái. Thứ tư, kim nghạch xuất khẩu tăng 23,25. Thứ năm, dịch cúm gia cầm được khoanh cùng và tiêu diệt nên không gây ra tổn thất lớn. Mặc dù giá cả các mặt hàng trong nước 4 tháng đầu năm đã có chuyển biến tích cực, đã thấp hơn so với 4 tháng đầu năm 2004, nhưng nguy cơ lạm phát vẫn ở mức cao trong năm 2005. Tình hình giá cả thế giới trong năm 2005 vẫn còn nhiều phức tạp, đặc biệt là giá dầu thế giới tăng cao vượt kỷ lục từ trước tới nay ảnh hưởng lớn tới mọi mặt sản xuất của xã hội. Trong nước, hạn hán kéo dài… Như vậy, nguy cơ làm cho tổng cung hàng hoá thấp hơn tổng cầu về hàng hoá luôn luôn túc trực xuất hiện và lạm phát cao đe doạ không phải là không có. Mục tiêu mà Quốc hội đề ra cả năm 2005 là 6,5%, tuy nhiên các chuyên gia dự đoán rằng, lạm phát cả năm có thể là 7%, cao hơn so với mục tiêu là 0,5%. Bởi vậy, cần cảnh giác hơn nữa với lạm phát nước ta. 2/ Nguyên nhân tăng giá Nguyên nhân tăng giá 2004 – 2005 về cơ bản có thể phân chia thành nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan 2.1/ Nguyên nhân khách quan Nguồn gốc sinh ra lạm phát không chỉ từ bên ngoài mà còn có cả từ bên trong, chứ không phải từ một phía nào cả. Lạm phát là do giá cả trên thị trường thế giới tăng mạnh kéo theo sự tăng giá hàng hoá nhập khẩu. Nhưng tăng giá hàng nhập khẩu đã làm chi phí sản xuất của các dạn tăng hơn. Kết quả là để có lãi các dạn phải tăng giá bán hàng hoá lên và khi giá hàng hoá và dịch vụ này tăng giá thì giá hàng hoá và dịch vụ khác sẽ tăng lên theo. Sự tác động dây truyền sẽ khó có điểm dừng nếu không có giải pháp phù hợp. Những khó khăn về thời tiết, dịch cúm gia cầm và những khó khăn khác đã làm cho sản xuất hàng hoá và dịch vụ thấp hơn tổng cầu hàng hoá. Kết quả khan hiếm nàyđã làm cho giá tăng lên. Mà gía tăng lên đồng loạt tức là lạm phát Hệ quả của chính sách kích cầu các năm trước đây đã làm cho lượng tiền ngoài lưu thông vẫn còn cao, có thể làm cho tổng cung tiền tệ cao hơn tổng cầu tiền tệ và tác động tăng gí là không tránh khỏi. Sự tăng lương và tăng một số khoản chi từ NSNN cho các hoạt động xã hội nhân các ngày lễ lớn trong năm cũng góp phần tăng tiền tệ thị trường. Nhu cầu tăng trưởng cao đòi hỏi phải đưa vốn ra thị trường nên tăng tiền ra thị trường là khó tránh khỏi và như vậy thì việc gía tăng lên cũng là điều trông thấy. 2.2/ Các nguyên nhân chủ quan Do tình trạng độc quyền tương đối một số mặt hàng nên nhiều doanh nghiệp sẽ có xu hướng tăng giá lên và gây ra sự khan hiếm giả tạo để tăng giá lên kiếm lời. Sự điều hành và quản lý kinh tế còn nhiều bất cập cũng gây khó khăn cho phát triển sản xuất và bình ổn giá. Buôn lậu và tham nhũng sẽ góp phần phức tạp thêm sự điều hành và ổn định giá cả và đẩy nhanh tăng trưởng nền kinh tế. Phần IV Các giải pháp chống lạm phát ở Việt Nam Trước những tác hại do lạm phát gây ra đòi hỏi cần có những chính sách hợp lý, hữu hiệu ngắn hạn hay dài hạn chống lại tình hình lạm phát. Việc đẩy lùi lạm phát ở mức độ có thể duy trì đòi hỏi các quốc gia có cái nhìn đúng đắn, toàn diện về lạm phát để đưa ra các biện pháp vừa hiệu quả lâu dài, vừa có tác dụng kìêm chế lạm phát tức thì, ổn định đời sống xã hội . Việc đưa ra các chính sách đúng đắn đòi hỏi mỗi quốc gia cần đặt những vấn đề trong điều kiện hoàn cảnh của riêng nước mình từ đó có những biện pháp sát với thực tế nhằm kiểm soát lạm phát có hiệu quả. Đối với tình hình diễn biến lạm phát ở nước ta trong những năm vừa qua, dựa trên những nguyên nhân của nó, với những tác động mà nó gây ra cho nền kinh tế và đời sống của người dân, cần có các biện pháp có tác dụng tức thì. Trong phần IV, người viết xin đưa ra một số giải pháp ngắn hạn cũng như lâu dài chống lại tình hình lạm phát ở nước ta. 1/ Các giải pháp lâu dài để kiềm chế lạm phát Dựa trên những kinh nghiệm chống lạm phát của các nước cũng như từ thực tế tình hình xã hội ở Việt Nam để đưa ra các biện pháp lâu dài. Mất cân đối về kinh tế vĩ mô được thể hiện bằng lạm phát , thâm hụt ngân sách, sự chênh lệch giá cao của của thị trường không chính thức, có tương quan ngược chiều rất rõ đối với sự tăng trưởng. Nhiệm vụ hoạch định chính sách là làm thế nào để giảm thiểu được các tác động suy giảm đối với sản lượng, đồng thời tạo được các điều kiện nhằm tăng cường khả năng tăng trưởng lâu dài. Tất cả các chính sách đề ra trên cơ sở đảm bảo hai yêu cầu cơ bản là tăng trưởng cao liên tục và vững chắc, giữ mức lạm phát ở một con số. Tăng trưởng cao gắn liền với việc duy trì lạm phát thấp và chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt có sức cạnh tranh cao. Đầu tư vào các nguồn lực thông qua các khoản chi tiêu công cộng về giáo dục; khuyến

Nhìn Nhận Khách Quan Và Thấu Đáo Vấn Đề Lạm Phát Ở Việt Nam

Từ năm 2007 đến nay, kinh tế thế giới diễn biến phức tạp và khó lường, nhất là cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động sâu, rộng đến tình hình kinh tế của hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Với những bước đi phù hợp, kịp thời của toàn hệ thống chính trị, nước ta vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức khá cao, với mức bình quân đạt khoảng 7%. Tuy nhiên, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong 5 năm qua cũng tăng ở mức cao, ảnh hưởng lớn đến mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng bền vững và bảo đảm an sinh xã hội của đất nước.

Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam giai đoạn 2007-2011

 Đơn vị: %

                    

(Nguồn: số liệu công bố của Tổng cục Thống kê)

1. Các nhân tố chủ yếu tác động đến lạm phát ở Việt Nam

1.1 Lạm phát chi phí đẩy

– Giá cả hàng hóa thế giới tăng: Với tỷ trọng XNK/GDP đạt 160% GDP, tỷ lệ nhập khẩu/GDP khá cao ở mức trên 80%, có thể nói Việt Nam là một nền kinh tế có độ mở cửa lớn. Cùng với đó, Việt Nam thuộc nhóm các nền kinh tế có mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu lớn nhất khu vực, cơ cấu chi phí sản xuất phụ thuộc nhiều vào đầu vào nhập khẩu. Do vậy, ảnh hưởng của mặt bằng giá thế giới tới giá cả hàng hóa trong nước là điều không tránh khỏi. Giai đoạn 2006 – 2011, chỉ số hàng hóa thế giới chung tăng 132%, giá năng lượng tăng 90,9%, giá lương thực tăng 151,2%; với độ mở cửa nền kinh tế lớn và tỷ lệ nhập khẩu/GDP cao, những biến động về giá thế giới sẽ tác động tới nền kinh tế nước ta trên diện rộng hơn so với các nước. Giá trên thị trường quốc tế tăng tác động đến giá cả trong nước qua hàng hóa nhập khẩu, đồng thời cũng ảnh hưởng đến giá cả những loại hàng hóa vừa xuất khẩu vừa tiêu thụ trong nước, đặc biệt là hàng hóa nông sản, đã góp phần làm tăng mặt bằng giá chung trong nước.

– Cơ cấu kinh tế chưa hợp lý: Bên cạnh nguyên nhân giá hàng hóa thế giới tăng, thì cơ cấu bên trong nền kinh tế cũng tác động làm tăng chi phí sản xuất, cụ thể:

Một là, chi phí sản xuất của nền kinh tế cao. Chi phí năng lượng cho một đơn vị GDP, mặc dù giảm xuống từ năm 2006 đến 2010, nhưng vẫn tương đối cao so với các nước trong khu vực. Theo thống kê của WB, chi phí năng lượng để tạo ra 01đô la Mỹ GDP của Việt Nam giảm từ 0,119 wat năm 2006 xuống 0,065wat năm 2010, trong khi đó, Trung Quốc giảm từ 0,064 wat xuống 0,041wat, Ấn Độ giảm từ 0,046 wat xuống 0,029 wat, Thái Lan giảm từ 0,027 xuống 0,023. Chi phí vận chuyển cao do kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông còn chưa phát triển. Theo thống kê của WB, chất lượng cơ sở hạ tầng của Việt Nam xếp thứ 66, trong khi đó Trung Quốc xếp thứ 27, Ấn Độ 47, Thái Lan 36. Tiền lương tối thiểu được điều chỉnh tăng trong mấy năm qua phần nào trực tiếp làm tăng chi phí sản xuất, qua đó ảnh hưởng đến CPI.

Hai là, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa trên mở rộng đầu tư, sử dụng nhiều vốn, trong khi hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thấp. Chỉ số ICOR năm 2008: 6,3; năm 2009: 7,16; năm 2010: 5,61; cao hơn nhiều so với mức 3-4 của các nước trong khu vực. Nguyên nhân của tình hình trên, là do cơ cấu đầu tư đang có xu hướng chuyển dịch và tập trung vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, cung cấp các loại dịch vụ thương mại, khách sạn, bất động sản… đây không phải là những ngành kinh tế có lợi thế cạnh tranh và có độ lan tỏa cao. Trong khi đó, các ngành công nghệ cao có khả năng dẫn dắt chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại lại không đáng kể.

Ba là, hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả (trong khi tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào khu vực này), làm cho chi phí sản xuất, giá thành và giá vốn tăng cao. Qua báo cáo, chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu của 81 tập đoàn, tổng công ty nhà nước năm 2010 chỉ đạt khoảng 14,2%, thấp hơn nhiều so với lãi suất vay ngân hàng hiện nay. Những hạn chế trong công tác quản lý của khu vực này thể hiện: chưa minh bạch hóa hoạt động và công khai thông tin; chủ sở hữu nhà nước chưa thực sự trở thành một nhà đấu tư; chưa chuyên nghiệp theo kinh tế thị trường; công tác giám sát còn thiếu tách bạch giữa quản lý và điều hành, giữa chủ thể giám sát và đối tượng giám sát.

Bốn là, việc đầu tư tràn lan, dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm, dẫn đến hiệu quả đầu tư không cao và tạo gánh nặng về vốn cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, việc triển khai cùng một lúc nhiều chương trình tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và tín dụng chính sách với lãi suất ưu đãi, trong khi hiệu quả đầu tư thấp cũng làm tăng thêm chi phí vốn cho nền kinh tế.

Chi phí năng lượng (than và điện) cho một USD GDP, wat

(Nguồn: Ngân hàng Thế giới – WB)

– Đồng Việt Nam mất giá so với USD trong nhiều năm qua cũng ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả hàng hóa trong nước, tác động đáng kể đến lạm phát. Trong giai đoạn 2006 – 2010, tỷ giá tăng 21,2%. Với cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam, trong đó xuất khẩu phụ thuộc vào hàng nhập khẩu từ nước ngoài và với tỷ trọng nhập khẩu/GDP cao thì việc đồng Việt Nam mất giá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức giá cả trong nước.

– Giá vàng thế giới liên tục tăng ở mức hai chữ số kể từ năm 2009 đến nay, cộng thêm yếu tố tâm lý, đầu cơ, đã đẩy giá vàng trong nước tăng mạnh và nhiều thời điểm tăng nhanh hơn tốc độ tăng của giá vàng thế giới (có thời điểm chênh lệch giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới trên 3 triệu đồng/lượng), khiến cho nhu cầu nhập khẩu vàng gia tăng và tạo sức ép lớn lên tỷ giá. Diễn biến này tác động đến tâm lý và lòng tin của người dân vào đồng nội tệ, dẫn đến lạm phát có xu hướng tăng theo hình xoắn ốc. Với mức tăng 64,32% trong năm 2009, 30% trong năm 2010 và 15,33% trong 8 tháng đầu 2011, giá vàng trong nước đã tác động không nhỏ đến tốc độ tăng của chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam trong những năm qua.

1.2 Nguyên nhân về phía tổng cầu

– Việc nới lỏng cung tiền và tăng trưởng tín dụng trong một thời gian dài là một trong những nguyên nhân dẫn đến lạm phát cao ở nước ta.

Tốc độ tăng cung tiền M2 của Việt Nam khá cao so với các nước trong khu vực. Trong giai đoạn 2000 – 2010, tốc độ tăng cung tiền của Việt Nam đạt mức 31,4%, trong khi đó của Trung Quốc là 17,8%, Inđônêxia 13%, Malaysia 8,7%, Thái Lan 6,2%. Do cung tiền tăng nhanh nên tỷ lệ cung tiền M2 trên GDP của Việt Nam tăng lên rất nhanh. Nếu như năm 2000 tỷ lệ này ở mức dưới 60%, thì đến cuối năm 2010 đã lên đến trên 130%. Trong giai đoạn 2007-2010, M2 của Việt Nam đã tăng 2 lần, trong khi đó, GDP danh nghĩa tăng 1,73 lần và GDP thực tế tăng 1,20 lần.

Tốc độ tăng trưởng tín dụng của Việt Nam cũng luôn ở mức cao so với các nước trong khu vực. Trong giai đoạn 2007 – 2010, tín dụng bình quân tăng 30,6%/năm. Hệ số dư nợ tín dụng/GDP của Việt Nam đã tăng từ 40% năm 2000, lên mức 116,14% năm 2010 (gần 3 lần). Ở Trung Quốc, hệ số này tăng 1,23 lần, Thái Lan và Malaysia hầu như không tăng. Chính việc tăng trưởng tín dụng nhanh là nguyên nhân dẫn đến M2 tăng cao. Mặc dù tăng trưởng tín dụng đã giúp tăng mức đầu tư trên GDP từ 29,8% trung bình giai đoạn 1991 – 2000, lên 40,7% trung bình giai đoạn 2001 – 2010, nhưng không phải toàn bộ lượng tín dụng tăng lên này được đưa vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh nhằm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế.

So sánh giữa tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng cung tiền của các nước trong khu vực cho thấy, lạm phát có xu hướng tăng khi tốc độ tăng cung tiền tăng. Do đó, có thể nói rằng, cung tiền tăng nhanh là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tỷ lệ lạm phát cao của Việt Nam trong một thập kỷ qua.

Tốc độ tăng trưởng tiền tệ, tín dụng của Việt Nam thời kỳ 2001-2011

(So với tháng 12 năm trước)

Đơn vị: %

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

– Bội chi ngân sách từ năm 2006 đến nay luôn ở mức cao trên 5% GDP (trừ năm 2008 đạt 4,6%), gây áp lực lên lạm phát.

Trong tổng chi ngân sách, tỷ trọng chi cho đầu tư, chi cho lĩnh vực xã hội luôn ở mức khá cao, nhất là chi cho đầu tư công. Đặc biệt trong giai đoạn 2009 – 2010, nhằm ngăn chặn đà suy giảm kinh tế do ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, đầu tư công tăng rất cao, gây sức ép làm tăng tổng cầu.

Đồng thời, để bù đắp thâm hụt ngân sách, Chính phủ phải huy động nhiều hơn nguồn vốn trong xã hội thông qua việc phát hành trái phiếu, tín phiếu Kho bạc. Việc phát hành trái phiếu, tín phiếu này sẽ không tác động làm thay đổi M2 nếu được bán cho công chúng (hộ gia đình và doanh nghiệp). Nhưng thực tế số trái phiếu này hầu hết bán cho tổ chức tín dụng và các tổ chức tín dụng sử dụng để chiết khấu hoặc bán cho Ngân hàng Nhà nước qua nghiệp vụ thị trường mở, theo đó đã trở thành một nhân tố làm tăng M2.

1.3 Một số nguyên nhân khác: Ngoài những nguyên nhân như đã nêu, lạm phát của Việt Nam gia tăng còn do:

– Trong điều hành chính sách, việc ghìm giữ quá lâu giá của những loại hàng hóa quan trọng như xăng dầu, điện, than… làm thu hẹp không gian

chính sách, đến khi buộc phải thực hiện xóa bỏ bao cấp thì lại dồn dập vào một thời điểm, gây hiệu ứng tâm lý, làm giảm hiệu quả của các giải pháp kiềm chế lạm phát.

– Tình trạng phát triển quá nóng của thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, tình trạng đô la hóa, vàng hóa nghiêm trọng, khiến cho một lượng vốn lớn của xã hội không được đầu tư trực tiếp cho sản xuất hàng hóa để cân đối với với nguồn tiền; đồng thời gây ra những cơn sốt giá và lan tỏa sang giá các mặt hàng khác, góp phần làm tăng lạm phát.

– Chính phủ điều chỉnh tăng lương tối thiểu, làm tăng chi phí sản xuất của các doanh nghiệp và lạm phát kỳ vọng: Tiền lương liên tục được điều chỉnh trong những năm qua nhằm bảo đảm điều kiện sinh hoạt cho người lao động, cán bộ, công chức và các đối tượng hưởng lương ngân sách trong bối cảnh lạm phát cao. Bình quân giai đoạn 2006 – 2010, mức lương danh nghĩa của cán bộ, công chức tăng bình quân 16,18%/năm, làm tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp, giá thành…; đồng thời làm tăng thu nhập và thu nhập kỳ vọng, tiêu dùng tăng. Do đó, mặc dù điều chỉnh lương thường diễn ra theo sau lạm phát, nhưng cũng có tác động đến chỉ số giá CPI và mặt bằng giá ở kỳ tiếp theo.

– Do yếu tố tâm lý: Yếu tố tâm lý tác động đến giá cả, lạm phát ở nước ta mạnh hơn các nước trong khu vực và trên thế giới. Đây là nguyên nhân có tính lịch sử, do nước ta đã từng rơi vào tình trạng siêu lạm phát. Khi kinh tế vĩ mô bất ổn, các mục tiêu kinh tế quan trọng không đạt được, phát sinh các biến cố lớn hoặc thông tin chính sách thiếu rõ ràng, thì sẽ làm gia tăng lạm phát kỳ vọng và trở thành lạm phát tâm lý, tức là tình trạng người dân phản ứng một cách thái quá trước những biến động của thị trường và qua đó đẩy lạm phát cao hơn so với mức lạm phát được hình thành do các nhân tố kinh tế.

2. Một số giải pháp kiềm chế lạm phát, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô trước mắt và lâu dài

2.1 Trong ngắn hạn:

– Kiên định điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa chặt chẽ để giảm tổng cầu của nền kinh tế, ổn định giá trị đồng Việt Nam. Kiểm soát tổng phương tiện thanh toán tăng 15 – 16%, tăng trưởng tín dụng dưới 20% và sẽ hiệu quả hơn nếu đạt được mức tăng trưởng tín dụng khoảng 16%. Cần chú trọng điều phối hợp lý lượng tiền tín dụng, tránh tình trạng lượng tín dụng cuối năm tăng cao đột biến.

Đối với chính sách tài khóa, kinh nghiệm các nước cho thấy, giải pháp kiềm chế lạm phát trong ngắn hạn chủ yếu vẫn là chính sách tiền tệ thắt chặt. Tuy nhiên, dư địa để tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ còn rất hạn hẹp, nên việc kiềm chế lạm phát trong thời gian tới sẽ phụ thuộc nhiều vào chính sách tài khóa; trong đó yếu tố then chốt là việc nghiêm túc thực hiện cắt giảm đầu tư công, giảm chi thường xuyên và giảm bội chi ngân sách theo tinh thần Nghị quyết 11/NQ-CP.

– Thực hiện các biện pháp nhằm ổn định tâm lý và cải thiện lòng tin của công chúng đối với chính sách kinh tế vĩ mô, hạn chế lạm phát kỳ vọng. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền và minh bạch hóa các chính sách, đưa ra cam kết chính sách rõ ràng và thực thi chính sách có hiệu quả.

– Kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu trong những tháng cuối năm 2011, nhất là những mặt hàng hạn chế nhập khẩu hoặc không khuyến khích nhập khẩu.

– Tiếp tục lộ trình xóa bỏ tình trạng vàng hóa, đô la hóa, làm giảm sức ép phá giá đồng Việt Nam. Duy trì và phát huy kết quả đạt được trong thời gian qua.

2.2 Trong dài hạn

Trong dài hạn, giải pháp căn bản để kiềm chế lạm phát là cần kiểm soát tổng cầu đảm bảo tương thích với các cân đối của nền kinh tế, đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp để khai thông các nguồn lực nhằm nâng cao sản lượng tiềm năng của nền kinh tế, tạo điều kiện để tăng trưởng kinh tế cao hơn vào những năm tiếp theo. Một số giải pháp cụ thể:

1. Nhóm giải pháp kiểm soát tổng cầu:

– Cần đổi mới việc xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch: Hàng năm, cần có tính toán mức tăng sản lượng tiềm năng để có cơ sở lựa chọn mục tiêu tăng trưởng GDP phù hợp. Mức tăng trưởng của nền kinh tế không nên vượt quá sản lượng tiềm năng nhằm tránh tăng trưởng kinh tế quá nóng, để từ đó làm cơ sở xây dựng mục tiêu tăng trưởng tín dụng, tiền tệ, tài khóa cũng như các cân đối khác của nền kinh tế.

– Việc điều hành chính sách tiền tệ phải tạo tín hiệu cho người dân nhận thức rõ Chính phủ sẽ quyết tâm duy trì một tốc độ lạm phát ổn định, qua đó làm giảm lạm phát kỳ vọng của dân chúng, cũng như lạm phát thực tế. Vì vậy, cần chuyển đổi phương thức hoạch định chính sách tiền tệ theo hướng áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu, để đảm bảo nhiệm vụ ổn định giá cả. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước cam kết duy trì tốc độ lạm phát ở một mức độ nhất định.

Điều kiện cần thiết để áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu là: phải xác định rõ vai trò quan trọng nhất của Ngân hàng Nhà nước là kiềm chế lạm phát chứ không phải tăng trưởng GDP; Công khai, minh bạch các chỉ tiêu tiền tệ như cung tiền, tín dụng, lãi suất…; Tăng cường năng lực dự báo lạm phát. Hiện nay, các biện pháp kiềm chế lạm phát thường được quyết định khi lạm phát đã cao, khi kỳ vọng về lạm phát của dân chúng đã cao, khiến cho việc kiềm chế lạm phát càng thêm khó khăn.

– Chính phủ cần có giải pháp đẩy mạnh phát triển thị trường vốn, tạo điều kiện để các doanh nghiệp khai thác các nguồn lực xã hội, hạn chế phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng làm gia tăng tín dụng.

– Nâng cao hiệu quả đầu tư công, tăng cường phân cấp và kiểm soát kỹ đầu tư công, kể cả vốn ngân sách, vốn trái phiếu Chính phủ và tín dụng nhà nước. Thực hiện cam kết chi đầu tư trong phân bổ vốn đầu tư nhà nước hàng năm nhằm tránh tình trạng phân tán, kéo dài, kém hiệu quả trong các dự án đầu tư. Nâng cao hiệu quả sử dụng và minh bạch hóa Ngân sách Nhà nước.

2. Nhóm giải pháp tái cấu trúc nền kinh tế:

– Thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững. Thực hiện các chính sách tái cấu trúc nền kinh tế để xử lý những yếu kém cố hữu, hạn chế hiệu quả thực hiện các chính sách tổng cầu và tổng cung, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tạo nền tảng cho việc chuyển dịch mô hình tăng trưởng kinh tế nêu trên.

– Thực hiện quyết liệt tái cơ cấu sâu rộng và tổng thể toàn bộ khu vực doanh nghiệp nhà nước, bao gồm cổ phần hóa đi kèm với việc đổi mới và nâng cao chất lượng quản trị trong doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện nhanh việc cổ phần hóa các tập đoàn kinh tế có lợi thế thị trường nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đối với khu vực doanh nghiệp.

– Đảm bảo cân đối cung cầu hàng hóa. Hiện nay, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào nguyên liệu nhập khẩu đầu vào, do đó chi phí sản xuất và giá trong nước cũng biến động theo giá thế giới và tỷ giá hối đoái. Do đó, cần điều chỉnh cơ cấu sản xuất, chuyển đổi mô hình tăng trưởng nhằm hạn chế sự phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên vật liệu sản xuất.

3. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền gắn với nâng cao ý thức trách nhiệm, vì cộng đồng của doanh nghiệp và người dân, khắc phục triệt để nguyên nhân lạm phát do yếu tố tâm lý.

Từ tháng 6/2011, tốc độ tăng CPI của nước ta đã hạ nhiệt. Tuy nhiên, với mục tiêu tổng quát trong giai đoạn 2011 – 2015 là phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh vừa được Hội nghị trung ương 3 – Khoá XI của Đảng xác định; trong đó, kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong phát triển kinh tế – xã hội năm 2012, thì việc xây dựng và thực thi có hiệu quả các giải pháp kiềm chế lạm phát luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn hệ thống chính trị trong năm 2012 và các năm tiếp theo.

Tìm Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông

Theo hãng tin AFP, đây là chuyến thăm thứ 3 của bà Hillary Clinton ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương kể từ tháng 5 đến nay. Mục đích chính của chuyến công du là thắt chặt sự đoàn kết giữa các quốc gia thành viên ASEAN, đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm kiềm chế những phức tạp đang nảy sinh trong vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.

Quan điểm mà Ngoại trưởng Mỹ đưa ra là các quốc gia ASEAN cần phải đoàn kết thống nhất hơn nữa và thể hiện tinh thần này trên một nền tảng chung để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông. Bà Hillary Clinton nói: “Chúng tôi tin rằng, các nước trong khu vực nên cộng tác cùng nhau để giải quyết tranh chấp mà không hề bị ép buộc, đe dọa hay sử dụng vũ lực”. Giới quan sát nhận định, có thể do quá nhấn mạnh về vấn đề Biển Đông nên chuyến thăm lần này của bà Hillary Clinton không được chào đón nhiều ở Trung Quốc.

Hôm 3/9, tức một ngày trước khi Ngoại trưởng Mỹ tới Bắc Kinh, Trung Quốc đã lên tiếng cảnh báo Mỹ nên khuyến khích ổn định ở châu Á-Thái Bình Dương và không nên can dự vào các tranh chấp lãnh thổ trong khu vực.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi tuyên bố: “Chúng tôi hy vọng Mỹ sẽ thúc đẩy các lợi ích tối cao là hòa bình, ổn định và tôn trọng các cam kết của mình không can dự vào các cuộc xung đột chủ quyền trên biển trong khu vực”.

Chuyến công du 6 nước châu Á – Thái Bình Dương lần này của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton như một lời khẳng định của Mỹ về sự hiện diện tại khu vực này. Ảnh: AFP.

Báo chí Trung Quốc lớn giọng chỉ trích Mỹ, cáo buộc Washington “gây rối” và yêu cầu “im miệng, sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ ra tuyên bố chỉ trích các động thái gần đây của Bắc Kinh ở Biển Đông hồi đầu tháng 8. Thậm chí, có tờ báo còn cho rằng, Mỹ nợ Trung Quốc “một lời giải thích có sức thuyết phục về các ý định thực sự của họ” tại châu Á-Thái Bình Dương, và “Mỹ cần phải đưa ra các biện pháp cụ thể để chứng minh rằng họ trở lại châu Á với tư cách người kiến tạo hòa bình, chứ không phải là một yếu tố gây rối loạn”. Vì thế, người ta không loại trừ khả năng, kết quả chuyến đi lần này của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton không tiến triển, thậm chí chẳng khác gì so với chuyến thăm hồi tháng 5 vừa qua.

Tuy vấp phải nhiều khó khăn từ trước khi tới đảo Cook tham dự Hội nghị thượng đỉnh của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, song theo một quan chức cấp cao ngoại giao Mỹ, bà Hillary Clinton vẫn quyết tâm thực hiện chuyến công du 6 nước, trong đó có Trung Quốc. Ngoại trưởng Mỹ đang hy vọng rằng, với nỗ lực của Mỹ và nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng như trong khu vực, ASEAN và Trung Quốc có thể đạt được thỏa thuận chung về COC chậm nhất là vào tháng 11 tới.

Trong lịch trình, khi đến Bắc Kinh ngày 5/9, bà Hillary Clinton sẽ gặp các quan chức hàng đầu Trung Quốc, trong đó có Chủ tịch nước đang mãn nhiệm Hồ Cẩm Đào và Phó Chủ tịch Tập Cận Bình, người dự đoán sẽ trở thành lãnh đạo Trung Quốc sau khi Đại hội lần thứ 18 kết thúc vào cuối năm nay.

Ngoại trưởng Mỹ nhấn mạnh rằng, đã đến lúc phải làm cho “sóng yên biển lặng” và cách tốt nhất để làm điều này là xây dựng COC. Bà Hillary Clinton hy vọng, không một bên hữu quan nào “tiến hành bất kỳ biện pháp nào dẫn đến căng thẳng leo thang hoặc làm bất cứ điều gì có thể bị coi là cưỡng ép hay đe dọa để thúc đẩy những tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của họ”. Điều quan trọng là “có được một cơ chế xử lý khả năng bùng nổ xung đột hoặc tính toán sai lầm” vì lợi ích của tất cả các bên và “đây chính là thời điểm dành cho ngoại giao”.

Và để những việc này được thực hiện một cách suôn sẻ, một lần nữa Ngoại trưởng Mỹ khẳng định rằng, Mỹ không đứng về bên nào trong các vụ tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông nhưng có lợi ích an ninh quốc gia trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông. Ngoài vấn đề Biển Đông, bà Hillary Clinton cũng sẽ bàn thảo với giới chức Trung Quốc một số vấn đề khác như khủng hoảng chính trị-an ninh tại Syria, chương trình hạt nhân của Iran và CHDCND Triều Tiên

Bạn đang xem bài viết Giải Pháp Mới Cho Vấn Đề Lạm Phát trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!