Xem Nhiều 2/2023 #️ Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Đưa Người Lao Động Đi Làm Việc Ở Nước Ngoài Theo Hợp Đồng Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Bình # Top 3 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Đưa Người Lao Động Đi Làm Việc Ở Nước Ngoài Theo Hợp Đồng Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Bình # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Đưa Người Lao Động Đi Làm Việc Ở Nước Ngoài Theo Hợp Đồng Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Bình mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trang chủĐào tạo nghề

Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 

  

    Trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế nước ta nói chung và tỉnh Quảng Bình nói riêng đã có những bước tiến quan trọng, sản xuất phát triển, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện… Cùng với sự phát triển đó thì vấn đề đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trên địa bàn tỉnh để giải quyết việc làm, nâng cao đời sống cho người lao động được HĐND, UBND tỉnh và các sở, ngành, địa phương hết sức quan tâm chỉ đạo thực hiện, các chính sách hỗ trợ và tạo điều kiện cho người lao động, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này được được thực hiện thường xuyên, liên tục. Tỉnh Quảng Bình được đánh giá là một trong những địa phương thực hiện có hiệu quả công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong những năm trở lại đây.

    Hàng năm nhu cầu người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng của người lao động trên địa bàn tỉnh là khoảng từ 5.000 – 7.000 lao động/năm. Hiện nay, có khoảng 15-17 ngàn lao động của tỉnh đang làm việc ở nước ngoài, hàng tháng gửi về nước hàng trăm tỷ đồng. Như vậy người lao động đi làm việc ở nước ngoài có thu nhập cao hơn gấp nhiều lần so với việc làm trong nước trong khi đó vốn đầu tư ít nhưng mang lại lợi ích kinh tế cao, đời sống bản thân và gia đình được cải thiện đáng kể. Mặt khác trong quá trình làm việc tại nước ngoài người lao động được học hỏi thêm về ngoại ngữ, tiếp cận với các phương pháp làm việc tiên tiến, tiếp thu công nghệ mới, có điều kiện nâng cao tay nghề… mà không phải trả tiền chi phí đào tạo chính điều này sẽ tạo cơ hội cho người lao động sau khi về nước sẽ tiến thân, lập nghiệp.

    Mặt khác, công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài được coi là một bộ phận của chính sách giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững, hơn nữa trong khi làm việc tại nước ngoài người lao động sẽ có tác phong làm việc công nghiệp, kỷ luật lao động được nân lên (đây là phần rất yếu của lao động Việt Nam), đặc biệt được giao lưu với các nền văn hoá đa dạng trên thế giới góp phần thay đổi nhận thức của một bộ phận trong xã hội về các vấn đề mang tính hủ tục, lạc hậu. Ngoài ra còn góp phần quan trọng làm giảm bớt các tệ nạn xã hội do tình trạng thất nghiệp gây ra như mại dâm, ma tuý, tội phạm hình sự, nạn lừa đảo buôn bán phụ nữ, trẻ em… Hiệu quả mà lao động đi làm việc ở nước ngoài mang lại là không thể phủ nhận về cả mặt kinh tế lẫn mặt xã hội.

      Thực trạng công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trong những năm qua như sau:

       1. Thực trạng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và dịch vụ việc làm trên địa bàn tỉnh.

       - Đến cuối năm 2020 có 01 doanh nghiệp của tỉnh có chức năng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (Công ty Cổ phần sách thiết bị trường học Quảng Bình) và 139 lượt doanh nghiệp ngoài tỉnh được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng về tuyển lao động trên địa bàn tỉnh;

       - Có 02 Trung tâm dịch vụ việc làm, gồm: Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh, Trung tâm Dịch vụ việc làm Thanh Niên (01 Trung tâm Dịch vụ việc làm Nông dân trước đây nay đã đổi tên thành Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp và Hỗ trợ nông dân – phụ nữ Quảng Bình chưa đủ điều kiện để thành lập và hoạt động)

       - Có 10 đơn vị, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ việc làm đang hoạt động trên địa bàn tỉnh, gồm: Công ty TNHH Vĩnh Nam; Công ty TNHH Cung ứng lao động Bảo Lâm; Công ty CP Cảng Quảng Bình; Công ty cổ phần sách và thiết bị trường học Quảng Bình; Công ty cổ phần cung ứng nhân lực và du học quốc tế; Công ty TNHH phát triển nhân lực Anh Quân; Công ty TNHH Bảo Minh Phát; VPĐD Công ty CP đào tạo và phát triển công nghệ Nhật Bản 24h; CTCP du học quốc tế SHB

         2. Kết quả đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trên địa bàn tỉnh trong 3 năm trở lại đây.

         - Năm: 2018 có 3.350 lao động đi làm việc ở nước ngoài (trong đó: Đài Loan: 1.250, Nhật Bản: 950, Hàn Quốc 650,…);

         - Năm: 2019 có 4.129 lao động đi làm việc ở nước ngoài (trong đó: Đài Loan: 1.080, Nhật Bản: 1.250, Hàn Quốc 450,…);

         - Năm: 2020 có 2.100 lao động đi làm việc ở nước ngoài (trong đó: Đài Loan: 690, Nhật Bản: 450, Hàn Quốc 80,…)

        Năm 2020, với sự xuất hiện và bùng phát của đại dịch Covid-19 ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đã gây ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống, kinh tế – xã hội. Theo đó, số người lao động được tuyển chọn đi làm việc ở nước ngoài cũng buộc tạm hoãn thời gian xuất cảnh do diễn biến phức tạp của dịch bệnh.

        Nhằm mở rộng thị trường lao động và tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội đi làm việc ở nước ngoài, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Đoàn công tác sang làm việc tại thành phố Yeongju và hai địa phương đã ký Bản ghi nhớ về Chương trình hợp tác về lao động thời vụ trong lĩnh vực nông nghiệp. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch bệnh nên Chương trình thí điểm đưa lao động nông nghiệp sang làm việc tại Hàn Quốc đến nay vẫn chưa thể triển khai được.

Ảnh: Lao động tham gia kỳ thi năng lực tiếng Hàn để đăng ký đi làm việc tại Hàn Quốc theo Chương trình EPS

         Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì vẫn còn một số tồn tại một số vấn đề sau:

        – Một số địa phương, công tác chỉ đạo, quản lý có lúc chưa thường xuyên hoặc chưa kịp thời; nhiều mô hình, kinh nghiệm trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài có hiệu quả chưa được áp dụng, phổ biến kịp thời; thiếu chủ động, sáng tạo, còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại nên không phát huy được tiềm năng, thế mạnh để tạo việc làm thông qua hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; Công tác thông tin, tuyên truyền đã được quan tâm, tuy nhiên việc tiếp cận các thông tin của người lao động về thị trường lao động do các doanh nghiệp, cá nhân cung cấp còn nhiều hạn chế;

         - Một số doanh nghiệp dịch vụ và chi nhánh doanh nghiệp dịch vụ khi tuyển chọn lao động tại địa phương không xuất trình Giấy phép và không thông báo với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, chính quyền cấp huyện, xã nơi doanh nghiệp dịch vụ tuyển chọn lao động nên gây ra nhiều khó khăn trong công tác quản lý; Còn một số trường hợp doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài nhưng trên thực tế thu nhập, vị trí việc làm, điều kiện làm việc,… không đúng như thông báo trước khi xuất cảnh; Việc quản lý các chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trên địa bàn tỉnh còn gặp phải một số khó khăn;

         - Số lao động của tỉnh làm việc bất hợp pháp ở nước ngoài hiện nay còn cao, khoảng trên 1.500 người, nhiều nhất là thị trường Hàn Quốc, với khoảng 700 người.

         - Các doanh nghiệp, cá nhân không có chức năng, không có giấy phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lợi dụng sự thiếu thông tin, kém hiểu biết cộng với tâm lý người lao động để thực hiện lừa đảo đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng gây hậu quả nghiêm trọng làm thiệt hại về kinh tế, mất ổn định về xã hội vẫn còn xẩy ra;

       - Mặc dù có quy định chế độ báo cáo định kỳ số lượng người lao động được tuyển chọn đi làm việc ở nước ngoài tại Thông tư số 21/2007/TT-BLĐTBXH ngày 08/10/2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, tuy nhiên nhiều doanh nghiệp khi tuyển chọn lao động trên địa bàn tỉnh đã không báo cáo, hoặc báo cáo chậm so với thời gian quy định nên gây khó khăn trong công tác thống kê, báo cáo của Sở;

         Một số giải pháp thực hiện có hiệu quả công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong thời gian tới.

        – Thời gian tới tỉnh Quảng Bình tiếp túc đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn cơ chế, chính sách và đưa ra các chính sách hỗ trợ đặc thù đối với người lao động trên địa bàn tỉnh đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

        – Nâng cao hiệu quả của công tác thông tin, tuyên truyền về hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trên địa bàn tỉnh để người lao động biết và thực hiện có hiệu quả;

        – Có các giải pháp phù hợp đưa những doanh nghiệp được phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng về hoạt động tại địa phương hiệu quả, bên cạnh đó cần phát triển, mở rộng thị trường đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng giữa các địa phương của hai nước, đặc biệt chú ý đến các thị trường trọng điểm, có thu nhập cao.

       - Tiếp tục đề ra các giải pháp về đào tạo và giáo dục định hướng nghề nghiệp cho người lao động để tạo nguồn cung lao động có chất lượng để đưa đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nhằm có mức thu nhập cao và thâm nhập váo các thị trường đòi hỏi tiêu chuẩn cao;

         - Quan tâm hơn nữa đến việc hỗ trợ người lao động trong và sau khi đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trở về sử dụng đồng vốn, nhân lực có hiệu quả.

        – Tăng cường sự giám sát, đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ở địa phương nhằm hạn chế thấp nhất các rủi ro do đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng mang lại, phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

         - Cuối cùng cần khen thưởng kịp thời đối với các tổ chức, cá nhân làm tốt công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng mang lại hiệu quả cao về cả mặt kinh tế và xã hội.

                                                                     Phan Nam

[Trở về]

Các tin đã đăng

Kết quả 10 năm thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” 

Lễ công bố Quyết định thành lập Trường Cao đẳng Luật Miền Trung 

Đồng chí Nguyễn Thị Việt Hương – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thăm và tặng quà cho giáo viên và học sinh bị ảnh hưởng lũ lụt tại một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh 

Đồng chí Nguyễn Thị Việt Hương – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thăm và tặng quà cho giáo viên và học sinh bị ảnh hưởng lũ lụt tại một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh 

Hội nghị hướng nghiệp, tư vấn việc làm và hỗ trợ khởi nghiệp cho học sinh, sinh viên Trường Trung cấp Du lịch – Công nghệ số 9 

Trường cao đẳng kỹ thuật Công – Nông nghiệp Quảng Bình tổ chức lễ khai giảng năm học mới 2020 – 2021 

Tọa đàm kỷ niệm 38 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 

Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Lao Động Đi Làm Việc Ở Nước Ngoài

Tham dự hội thảo có các diễn giả đến từ Tổng cục giáo dục nghề nghiệp; Cục quản lý Lao động ngoài nước; đại diện lãnh đạo Hệ thống giáo dục Hùng Hậu; Công ty TNHH Dịch vụ Quốc tế Sài Gòn…

Hội thảo diễn ra trong bối cảnh thị trường xuất khẩu lao động đang trở nên sôi động, đặc biệt là thị trường các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Đức… với hàng chục ngàn nhu cầu việc làm mỗi năm.

Đại diện báo Tiền Phong, ông Lý Thành Tâm – Trưởng Ban đại diện báo tại chúng tôi (trưởng ban tổ chức) phát biểu tại hội thảo.

Theo thống kê của Cục Quản lý lao động ngoài nước thuộc Bộ LĐ-TB&XH, trong 5 tháng đầu năm 2018 có hơn 48.000 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, tăng gần 9% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, Đài Loan và Nhật Bản là hai thị trường trọng điểm, chiếm khoảng 90% tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Riêng thị trường Nhật Bản, 5 tháng đầu năm có khoảng 17.400 lao động Việt Nam được đưa sang làm việc, chiếm hơn 35% tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài. Mức lương của người lao động đi Nhật làm việc khá cao, sau khi trừ chi phí, thu nhập hàng tháng của một người lao động còn khoảng 800- 1.000 đô la Mỹ, nếu tính từ các khoản làm thêm, thu nhập có thể dao động từ 1.500 đến 2.000 đô la Mỹ.

Toàn cảnh hội thảo.

Với mức thu nhập trên, nhiều lao động sau khi về nước đã có cuộc sống tốt hơn. Bên cạnh đó, người lao động còn có cơ hội làm việc với các công ty nước ngoài với ngành nghề phù hợp và mức lương cao nhờ kinh nghiệm và chứng chỉ có được trong thời gian xuất khẩu lao động.

Bà Trần Thị Vân Hà -Trưởng phòng truyền thông (Cục quản lý lao động ngoài nước) tham luận tại hội thảo.

Mặc khác, với các trường ĐH- CĐ- TC, hiện nhiều trường cũng đã liên kết, hợp tác với các công ty XKLĐ để giải quyết đầu ra bằng cách phái cử thực tập sinh hoặc XKLĐ… Với hình thức này, sinh viên ngay khi ra trường có thể ra nước ngoài tiếp tục học tập và làm việc ở môi trường chuyên nghiệp, nâng cao tay nghề. Khi trở về nước, họ là nguồn nhân lực chất lượng cao nhờ hội tụ các yếu tố về ngoại ngữ, tay nghề, có tác phong làm việc chuyên nghiệp, có kinh nghiệm quản lý sẽ mở ra một cơ hội mới cho bản thân cũng như phục vụ cho xã hội.

Do đó, đối tượng xuất khẩu lao động ngày càng được mở rộng không chỉ lao động phổ thông, những người dân vùng quê nghèo mà kể những người trí thức, có trình độ ĐH- CĐ, gia cảnh khá giả ở khu vực thành phố cũng tham gia “xuất ngoại”. Đặc biệt, trong năm 2016, Bộ LĐ-TB&XH có đề xây dựng đề án “Đưa lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật đi làm việc ở nước ngoài, giai đoạn 2017-2020, định hướng đến 2025” để trình Chính phủ.

XUÂN TRƯỜNG

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Đảm Bảo An Ninh Kinh Tế Trong Các Cơ Quan, Doanh Nghiệp Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Bình – Công An Tỉnh Quảng Bình

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình có trên 5050 doanh nghiệp hoạt động với số vốn đăng ký là trên 47.068 tỷ đồng. Mặc dù phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức nhưng các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã chủ động khắc phục khó khăn về tài chính, tìm kiếm thị trường, sắp xếp lại sản xuất, đầu tư cải tiến kỹ thuật, công nghệ nên sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng ổn định và phát triển, đóng góp một phần không nhỏ vào thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế xã hội của địa phương. Tuy nhiên, quy mô doanh nghiệp của tỉnh còn nhỏ, năng suất lao động thấp, năng lực quản trị, tài chính và sức cạnh tranh thấp, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh chưa cao. Mặt khác do tác động của mặt trái cơ chế thị trường nên tình hình tội phạm kinh tế, tham nhũng diễn biến phức tạp, xảy ra chủ yếu trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng cơ bản; tội phạm trong lĩnh vực thuế nhất là mua bán, sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng trái phép vẫn diễn ra với nhiều phương thức thủ đoạn tinh vi… đã tác động tiêu cực đến các cơ quan, doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.

Để phục vụ tốt sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn, lực lượng An ninh kinh tế Công an tỉnh Quảng Bình đã chủ động đề xuất Lãnh đạo Công an tỉnh tham mưu kịp thời Thường trực Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban hành các chính sách, đề án, kế hoạch hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trên địa bàn hoạt động. Tập trung thực hiện tốt chức năng tham mưu, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, doanh nghiệp, đặc biệt là các sở, ban, ngành triển khai quyết liệt nhiều kế hoạch, biện pháp đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá của thế lực thù địch và các loại tội phạm trên các lĩnh vực kinh tế.

Lực lượng An ninh kinh tế đã chủ động tham mưu các cơ quan, doanh nghiệp, các sở, ban, ngành kinh tế đẩy mạnh cải cách hành chính, giúp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, gắn với chống tham nhũng và tiêu cực; gắn công tác xây dựng Đảng, công tác giữ gìn an ninh trật tự với việc ổn định nội bộ, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, góp phần không nhỏ vào kết quả phát triển kinh tế của địa phương, không để xảy ra đột xuất bất ngờ, các vụ việc phức tạp về an ninh kinh tế, các vụ tham nhũng lớn gây bức xúc trong xã hội.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đảm bảo an ninh kinh tế trong các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình vẫn còn một số tồn tại, hạn chế nhất định như: Công tác dự báo, phân tích, đánh giá tình hình tác động đến hoạt động của các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn chưa kịp thời; hiệu quả công tác tham mưu thực hiện các chương trình, đề án phát triển kinh tế chưa thực sự cao; mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, doanh nghiệp trong đảm bảo an ninh kinh tế còn những hạn chế nhất định.

Thời gian tới, tình hình kinh tế xã hội tỉnh Quảng Bình tiếp tục tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng an ninh trật tự trên lĩnh vực kinh tế, các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng quá trình hội nhập, hợp tác kinh tế để chống phá Việt Nam, trong đó có địa bàn tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, công tác đảm bảo an ninh kinh tế trong các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình là rất nặng nề. Lực lượng An ninh kinh tế cần phát huy vai trò nòng cốt, tham mưu cấp ủy, chính quyền các cấp, các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn thực hiện một số giải pháp cụ thể sau:

1. Quán triệt và thực hiện nghiêm túc các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đảm bảo an ninh kinh tế trong điều kiện hội nhập phát triển kinh tế. Trong đó tập trung quán triệt và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25/10/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, Chỉ thị số 09-CT/TW, ngày 01/12/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới” và đặc biệt là Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 05/01/2017 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo an ninh kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, Nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 13/9/2017 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Chỉ thị 12-CT/TW ngày 05/01/2017 của Bộ Chính trị.

2. Chủ động nắm tình hình, phân tích, đánh giá, dự báo chính xác các yếu tố tác động đến an ninh kinh tế trên địa bàn để tham mưu cấp ủy, chính quyền các cấp có giải pháp đảm bảo an ninh, trật tự và triển khai có hiệu quả các chương trình, kế hoạch, đề án phát triển kinh tế xã hội. Phát hiện sớm âm mưu, hoạt động của các thế lực và các loại tội phạm kinh tế để tham mưu các cơ quan, doanh nghiệp chủ động triển khai các biện pháp bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, tăng cường công tác bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ an ninh thông tin.

3. Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa lực lượng Công an với các cơ quan, doanh nghiệp trong công tác đảm bảo an ninh kinh tế. Trong đó tập trung thực hiện có hiệu quả các quy chế phối hợp, kế hoạch liên ngành đã ký kết giữa Công an – Cảng hàng không Đồng Hới, Công an – Kho bạc, Công an – Ngân hàng, Công an – Truyền tải điện… Xây dựng cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin phục vụ có hiệu quả các kế hoạch đảm bảo an ninh trật tự tại các mục tiêu kinh tế trọng điểm. Tổ chức xây dựng, duy trì và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc tại các cơ quan, doanh nghiệp.

4. Nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác phát hiện, đấu tranh và xử lý với các hành vi vi phạm pháp luật trên lĩnh vực kinh tế, tham nhũng, đặc biệt là đối với các hành vi vi phạm trên lĩnh vực tài chính, ngân hàng, khoáng sản, tội phạm công nghệ cao, môi giới đầu tư, kinh doanh đa cấp…

5. Nâng cao năng lực và trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ trực tiếp tham gia công tác đảm bảo an ninh kinh tế trong các cơ quan, doanh nghiệp. Mỗi cán bộ, chiến sĩ cần có nhận thức đầy đủ, đúng đắn công tác bảo đảm an ninh kinh tế trong điều kiện hội nhập và phát triển kinh tế. Ngoài kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, hiểu biết pháp luật, cán bộ, chiến sĩ trực tiếp tham gia công tác đảm bảo an ninh kinh tế cần am hiểu sâu pháp luật chuyên ngành, thông thạo ngoại ngữ, tin học và kiến thức trên các lĩnh vực kinh tế. Gắn việc thực hiện công tác chuyên môn với việc tu dưỡng rèn luyện, phẩm chất đạo đức của cán bộ, chiến sĩ. Thực hiện nghiêm cuộc vận động “Xây dựng phong cách người Công an Quảng Bình bản lĩnh, nhân văn vì nhân dân phục vụ” mỗi cán bộ, chiến sĩ phải thường xuyên rèn luyện bản lĩnh chính trị, ý chí chiến đấu, tinh thần cách mạng tiến công, hành động theo 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân. Kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện ngại khó, ngại khổ, lơ là trách nhiệm trong công tác, nhất là tư tưởng trung bình chủ nghĩa trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Thượng tá, Ths Phạm Sinh Bích  

Phó Trưởng phòng An ninh kinh tế

Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Nhân Khẩu Tạm Trú Của Công An Phường Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Bình

Từ năm 2013 đến 2017, công tác quản lý nhân khẩu tạm trú của Công an phường trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả quan trọng, như: Công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về cư trú của Công an tỉnh được thực hiện tốt, đầy đủ và triển khai đến Công an các phường. Ban chỉ huy Công an các thành phố, thị xã luôn xác định công tác quản lý nhân khẩu tạm trú là một trong những nội dung chỉ đạo lực lượng QLHC về TTXH nói chung, lực lượng Công an phường nói riêng phải thực hiện nghiêm túc.

Mặc dù trong thời gian qua, công tác QLNKTT của CAP, Công an tỉnh Quảng Bình đạt được nhiều kết quả, hỗ trợ đắc lực cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên công tác này vẫn còn bộc lộ những hạn chế, cụ thể là: Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về tạm trú chưa được quan tâm thực hiện thường xuyên đúng mức, chưa tạo được mối quan hệ phối hợp đồng bộ, thống nhất giữa các cấp, các ngành trong việc phổ biến, quán triệt, tuyên truyền dẫn đến nhận thức và ý thức tự giác chấp hành của một bộ phận nhân dân đang còn thấp, đặc biệt là người dân lao động. Việc cấp sổ tạm trú có quy định thời hạn trong khi người đăng ký tạm trú thường xuyên thay đổi chổ ở. Khi chuyển đến nơi ở mới, Công an nơi ở mới tiếp tục cấp dẫn đến trường hợp một người có nhiều sổ đăng ký tạm trú gây lãng phí, khó khăn cho công tác quản lý. Công tác kiểm tra, hướng dẫn về mặt nghiệp vụ hoạt động đăng ký QLNKTT chưa được thường xuyên, có ý thức xem nhẹ hoạt động này. Chính điều đó đã dẫn tới thực trạng hiện nay lực lượng CAP trên địa bàn tỉnh Quảng Bình còn lúng túng khi tiến hành nội dung QLNKTT, nhận thức chưa đầy đủ tác dụng nghiệp vụ khi tiến hành công tác này.

Công tác nắm tình hình, nắm di biến động của nhân khẩu tạm trú của lực lượng CAP còn thiếu nhạy bén, chưa đi vào chiều sâu, thu thập thông tin ít, chất lượng còn hạn chế. Lực lượng CAP mới chỉ nắm được những vấn đề nổi, chưa đi sâu để nắm nội dung về hoạt động, quan hệ, nghề nghiệp…của từng nhân khẩu đến tạm trú trên địa bàn; chưa theo dõi sát các loại nhân, hộ khẩu tạm trú trên địa bàn, nhất là những trường hợp xóa đăng ký tạm trú, thông tin về nhân hộ khẩu tạm trú là “đối tượng”… Công tác kiểm tra, xử lý còn nhiều thiếu kiên quyết, số lượt kiểm tra hàng năm còn chưa đáp ứng đủ so với số nhân khẩu đang sống trên địa bàn. Việc kiểm tra còn nặng tính hình thức và chưa gắn với công tác tuyên truyền nâng cao ý thức của người dân. Việc bổ sung thông tin thay đổi nhân khẩu tạm trú, báo cáo thống kê nhân khẩu, hộ khẩu tạm trú định kỳ và đột xuất thiếu kịp thời.

Trong những năm tới, tình hình ANQG và TTATXH vẫn còn tiềm ẩn những diễn biến phức tạp, tội phạm và tệ nạn xã hội vẫn tìm cách lợi dụng những sơ hở trong công tác quản lý cư trú và công tác quản lý tạm trú nói riêng để phạm tội. Thành phần các loại tội phạm trong thời gian tới rất đa dạng về lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ văn hóa. Tập trung nhiều nhất là lứa tuổi thanh, thiếu niên, những người không có nghề nghiệp, việc làm; đối tượng có lệnh truy nã; đối tượng có tiền án, tiền sự. Tội phạm trong số đối tượng cơ hội chính trị, đối tượng lợi dụng các vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ sẽ có chiều hướng tăng dần. Công tác quản lý nhà nước về ANTT trên địa bàn vẫn còn những thách thức. Đặc biệt dân cư tạm trú là đối tượng thuận lợi để bọn phạm tội, đối tượng truy nã, truy tìm trốn và ẩn náu. Sự hình thành nhiều khu công nghiệp, các trung tâm dịch vụ, nhu cầu về phòng trọ trong các khu ký túc xá của trường đại học, cao đẳng, dạy nghề và các trường trung học phổ thông ở các hộ dân sẽ tăng lên; các đối tượng hình sự, tệ nạn xã hội trà trộn… làm cho tình hình phức tạp hơn.

Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhân khẩu tạm trú theo chức năng của Công an phường, Công an tỉnh Quảng Bình, theo chúng tôi cần tập trung thực hiện tốt những giải pháp sau:

1. Tập trung điều tra nghiên cứu, nắm tình hình về nhân khẩu tạm trú trên địa bàn được phân công.

2. Đổi mới phương thức, hình thức tuyên truyền vận động hướng dẫn nhân dân chấp hành tốt các quy định về đăng ký, quản lý nhân khẩu tạm trú.

Thông qua công tác tiếp xúc với nhân dân tại trụ sở và nắm tình hình khu vực để tuyên truyền hướng dẫn nhân dân một cách cụ thể, dễ hiểu nhất. Đồng thời, thông qua các buổi sinh hoạt, họp khu phố, tổ dân phố chủ động chuẩn bị tài liệu về đăng ký, quản lý tạm trú để tuyên truyền cho lực lượng quần chúng nòng cốt nắm vững các quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân từ đó tuyên truyền vận động nhân dân tự giác chấp hành, tham gia phát hiện, tố giác các hành vi vi phạm trên địa bàn; lồng ghép các quy định của pháp luật về quản lý tạm trú trên các phương tiện truyền thông một cách thường xuyên.

4. Tăng cường công tác kiểm tra nhân khẩu tạm trú.

Thông qua công tác kiểm tra giúp lực lượng làm công tác quản lý nhân khẩu tạm trú nắm lại hồ sơ, quy trình thực hiện một cách có hệ thống, phát hiện những thiếu sót, tồn tại, những vấn đề chưa hợp lý để chấn chỉnh bổ sung kịp thời. Việc thường xuyên kiểm tra còn giúp CSKV có trách nhiệm hơn với công việc, hồ sơ chặt chẽ theo đúng quy định của Luật Cư trú, cải tiến nội dung, phương pháp làm việc, phát hiện những trường hợp lợi dụng các quy định của Luật Cư trú để hoạt động phạm tội.

Việc kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên, có trọng tâm trọng điểm, sử dụng đồng bộ nhiều phương pháp kiểm tra như: Kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất, phối hợp với các ban ngành đoàn thể, kiểm tra chéo thông qua công tác kiểm tra, nắm chắc tình hình chấp hành quy định về quản lý tạm trú của các hộ dân. Kịp thời phát hiện trường hợp vi phạm, những đối tượng từ nơi khác đến sinh sống không đăng ký tạm trú đề xuất xử lý, giải quyết.

Xây dựng quy chế quản lý nhân khẩu tạm trú tại các khu công nghiệp, khu nhà ở cho công nhân để quản lý người lao động, làm việc, đến sinh sống trong các khu vực này. Đồng thời lực lượng CSKV cần thường xuyên hướng dẫn, yêu cầu bảo vệ an ninh trật tự, phòng chống tội phạm gắn với hoạt động quản lý tạm trú trong và ngoài cơ sở cho lực lượng bảo vệ.Trong quá trình quản lý sinh viên tạm trú cần chủ động phối hợp với nhà trường để nắm tình hình việc chấp hành nội quy, kỷ luật của sinh viên. Khi sinh viên đến địa bàn tạm trú, cùng với việc nắm tình hình về quê quán, lai lịch, nhân thân, CSKV phải hướng dẫn họ chấp hành các quy định về an ninh, trật tự. Mặt khác CSKV cần nắm những thông tin về học tập như: học trường nào, lớp nào. Đồng thời CSKV cần nắm họ tên, địa chỉ, số điện thoại của giáo viên chủ nhiệm để thông tin liên lạc trao đổi về tình hình sinh viên.

6. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách thủ tục hành chính trong công tác quản lý nhân khẩu tạm trú.

Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng công khai, minh bạch, thủ tục đơn giản, nhanh gọn và tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền tự do cư trú, tránh đi lại nhiều lần gây phiền hà cho công dân. CSKV cần căn cứ vào các quy định của pháp luật và tình hình thực tế của địa phương để tổ chức thực hiện quản lý tạm trú theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đáp ứng yêu cầu thực tế của công tác. CSKV là nòng cốt trực tiếp xây dựng hệ thống dữ liệu dân cư trong quá trình quản lý cư trú cũng như nhân khẩu tạm trú trên địa bàn các phường nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nhân khẩu cư trú. Có kế hoạch đầu tư, sử dụng công nghệ thông tin vào quy trình quản lý tạm trú để xây dựng hệ thống dữ liệu về cư trú cấp cơ sở; dữ liệu về cư trú trên máy tính cá nhân của CSKV nhằm đảm bảo cập nhật, tra cứu thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác. Ban chỉ huy Công an các phường cần đề xuất cấp trên đầu tư kinh phí và trang thiết bị các phương tiện nghiệp vụ, kỹ thuật hiện đại để phục vụ yêu cầu quản lý nhân khẩu tạm trú hiện nay.

Thiếu tá Trần Công Định Đội trưởng, Công an thị xã Ba Đồn

Bạn đang xem bài viết Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Đưa Người Lao Động Đi Làm Việc Ở Nước Ngoài Theo Hợp Đồng Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Bình trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!