Xem Nhiều 1/2023 #️ Giải Pháp Thị Trường Trong Bảo Tồn Rừng Mưa Nhiệt Đới # Top 5 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Giải Pháp Thị Trường Trong Bảo Tồn Rừng Mưa Nhiệt Đới # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Giải Pháp Thị Trường Trong Bảo Tồn Rừng Mưa Nhiệt Đới mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

ThienNhien.Net – Tuy các khu bảo tồn đã được lập ở Amazon và các vùng nhiệt đới khác, rừng mưa trên khắp thế giới vẫn đang bị tàn phá vì một lý do đơn giản: Rừng có giá trị hơn khi khai thác. Nhưng vì phá rừng là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới hiện tượng trái đất ấm lên, hiện nay một giải pháp mang tính thị trường cho vấn đề này đã được đề xuất. Đó là mô hình bảo tồn mới – REDD – Reducing emissions from deforestation and degradation (giảm thiểu phát thải do phá rừng và suy giảm tài nguyên rừng) dựa trên cơ chế thị trường để cung cấp những “dịch vụ sinh thái”. Đây là mô hình được đặt hy vọng sẽ giữ màu xanh cho những cánh rừng.

Thực trạng

Các nhà môi trường học, những người đang nỗ lực bảo tồn rừng mưa Amazon bao la, hiện đối mặt với một nghịch lý lớn: Chưa bao giờ họ đạt được nhiều thành công trong công tác bảo tồn cánh rừng nhiệt đới lớn nhất trên thế giới như bây giờ, nhưng đồng thời cũng chưa bao giờ cánh rừng này lại bị tàn phá nhiều đến vậy. Mấu chốt vấn đề hiện nay là liệu các mô hình bảo tồn mới, kể cả REDD – mô hình dựa trên cơ chế thị trường đang ngày càng trở nên phổ biến có thể cứu vãn được những tổn thất ngày càng tăng của các cánh rừng nhiệt đới, không chỉ ở Amazon mà còn ở Indonesia, Borneo và vùng lòng chảo Congo thuộc châu Phi, nơi mà rừng nguyên sơ tiếp tục bị tàn phá với tốc độ chưa từng thấy, hay không?

Sức ép phát triển kinh tế đối với rừng Amazon sẽ ngày càng gia tăng khi giá đất tăng lên nhanh chóng, việc chăn thả gia súc và các trang trại trồng đậu nành theo quy mô công nghiệp được mở rộng và các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng mới được triển khai. Ở Indonesia, tình trạng này trở nên tồi tệ hơn khi rừng bị chặt phá để lấy gỗ và trồng cọ. Từ năm 2001, chỉ riêng ở Brazil và Indonesia, 116 000 dặm vuông rừng đã bị tàn phá.

Nếu xu hướng này vẫn tiếp tục thì rừng nhiệt đới, một trong những hệ sinh thái lớn nhất trên trái đất, sẽ ngày càng thu hẹp. Hiện tượng này sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng không chỉ đối với đa dạng sinh học trên trái đất mà còn với khí hậu toàn cầu, nhất là trong bối cảnh nhiệt độ trái đất đang ấm lên một cách đáng báo động.

Giải pháp

Hi vọng những hậu quả xấu nhất sẽ không xảy đến với rừng mưa Amazon, Indonesia và những cánh rừng nhiệt đới khác khi đặt niềm tin vào quan điểm cho rằng thị trường sẽ trả tiền để đổi lấy “dịch vụ sinh thái” – lợi ích mà một cánh rừng mưa khỏe mạnh mang lại, như: duy trì đa dạng sinh học, tạo mưa, lưu trữ carbon và điều hòa khí hậu trái đất. Ý tưởng này nhanh chóng được thúc đẩy khi các nhóm lợi ích bao gồm các ngân hàng, các nhà tài chính toàn cầu, các chuyên gia phát triển, các nhà hoạch định chiến lược quốc gia và các nhà bảo vệ môi trường hào hứng đón nhận quan điểm cho rằng cách tốt nhất để bảo tồn rừng là trả tiền cho các quốc gia có rừng nhiệt đới và cư dân sống trong rừng để họ không chặt phá rừng nữa.

Ý tưởng này được đặt tên là REDD – “giảm thiểu phát thải do phá rừng và suy giảm tài nguyên rừng”. Đây là ý tưởng mang nhiều ý nghĩa thực tiễn hơn là một lý thuyết trừu tượng, hiện nó đang được triển khai ở một số nơi trên thế giới:

Ở Sumatra, nơi nạn phá rừng đang hoành hành, công ty tài chính toàn cầu Merril Lynch, nay thuộc sở hữu của BOA (Bank of America), đang hợp tác với chính quyền địa phương và các nhóm bảo tồn quốc tế gây một quỹ đầu tư trị giá 432 triệu USD dành cho công tác bảo tồn các dải rừng mưa rộng lớn ở tỉnh Aceh, đồng thời khuyến khích phát triển bền vững.

Ở Guyana, một công ty đầu tư của London đã mua quyền cung cấp “dịch vụ hệ sinh thái” ở một vùng rừng nhiệt đới rộng 1,432 dặm vuông. Công ty này hi vọng sẽ bán những quyền này trên thị trường nhằm gây quỹ hỗ trợ cho 7,000 cư dân trong vùng phát triển kinh tế trong khuôn khổ không ảnh hưởng đến rừng.

Ở Borneo, một công ty đầu tư của Úc đã thành lập quỹ toàn cầu để giảm thiểu nạn cháy rừng và bảo vệ các tán rừng mưa trong khu bảo tồn vì những cánh rừng mưa này thường bị khai thác bất hợp pháp.

Thách thức

Hiện tại, các nỗ lực trên dường như đang bị cô lập và ngừng trệ. Để có được một sự thay đổi rõ rệt, cộng đồng thế giới cần phải định giá carbon và yêu cầu các nước giảm đáng kể lượng phát thải khí nhà kính. Tháng 12 năm 2008, diễn đàn khí hậu của Liên Hợp Quốc diễn ra ở Poznan, Ba Lan đã họp bàn về giảm phát thải khí nhà kính. Đây là những bước đi đầu tiên trong nỗ lực thay thế Nghị định thư Kyoto năm 1997 bằng một định chế mới về khí nhà kính.

Mục đích của những nỗ lực này là dựa vào hạn ngạch khí thải nhà kính và thị trường carbon toàn cầu, hàng tỉ USD sẽ được gây quỹ hàng năm để đầu tư vào REDD, hoặc các dự án “chống phá rừng”. Với giải pháp này các công ty theo đuổi lợi nhuận thương mại có thể đi đến chỗ tham gia vào hoạt động bảo vệ rừng trên toàn thế giới, các quốc gia nghèo có thể tìm một giải pháp mới nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên mà không tàn phá chúng.

Ông Andrew Mitchell, giám đốc của chương trình Rừng toàn cầu, một tổ chức nghiên cứu và bảo tồn rừng nhiệt đới cho biết: “Rừng bị chặt phá vì chúng đem lại giá trị vật chất hơn khi được đốn xuống. Đây là một ví dụ điển hình về sự khập khiễng của thị trường, nhưng dịch vụ hệ sinh thái có thể thay đổi điều đó.”

Ý tưởng cho rằng các nước đang phát triển phải được đền bù cho việc giảm phát thải nhờ ngăn chặn nạn phá rừng và nạn khai thác cạn kiệt tài nguyên rừng đã xuất hiện hơn một thập kỷ qua, nhưng ý tưởng này không thu hút được sự chú ý không chỉ do những lo ngại rằng các quốc gia giàu có thể mua phần cắt giảm khí thải của họ. Một số người đến nay vẫn lo ngại rằng các quyền lợi và lợi ích của người dân địa phương có thể bị bỏ qua khi mà chính phủ, các nhà kinh doanh carbon, và các nhà đầu cơ đạt được các quyền lợi của mình từ những dịch vụ hệ sinh thái do rừng nhiệt đới cung cấp mà không có sự đồng thuận của người dân địa phương. Ở những khu vực mà quyền lợi đối với đất đai chưa được phân định rõ ràng, những ý tưởng như thế này có thể buộc người dân địa phương rời khỏi nơi họ đã định cư qua nhiều thế hệ.

Những nỗ lực triển khai của REDD đang cân nhắc đến những lợi ích này. Nhiều chuyên gia về rừng nhiệt đới cho biết các chương trình chống nạn phá rừng có thể là một giải pháp tốt hơn trong tình hình hiện nay, khi mà trong một thời gian dài dân khai thác gỗ và dân khai hoang bị thế chỗ bởi người dân bản địa.

Tiềm năng

Các nghiên cứu chỉ ra rằng khi một thị trường carbon quốc tế có thể đứng vững, các ngành kinh tế đơn thuần cũng có thể thúc đẩy và mở rộng REDD. Ở các khu vực cơ sở vật chất nghèo nàn nhưng giàu tài nguyên rừng, REDD có thể mang lại lợi nhuận kinh tế hấp dẫn cho dân cư nông thôn. Một số nghiên cứu ở Indonesia và Brazil cho biết các địa phương có thể có thu nhập cao hơn nếu họ nhận được hỗ trợ của REDD để phát triển bền vững so với thu nhập từ hoạt động khai thác gỗ truyền thống hay chuyển đổi đất rừng thành trang trại. Thị trường carbon cỡ lớn duy nhất của thế giới ở Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ đang định giá carbon ở mức 20 USD/tấn.

Theo một nghiên cứu khác, nếu các nhà đầu tư tìm kiếm doanh thu từ buôn bán chứng chỉ carbon thì sẽ phải trả một khoản phí nhỏ để giúp bảo tồn rừng ở Indonesia, nó có thể làm giảm các lợi nhuận tài chính mà nước đó nhận được từ ngành lâm nghiệp – chỉ 0,34 USD/ tấn carbon được phát thải hiện thời. Hơn nữa, do REDD phù hợp với việc khai thác bền vững sản phẩm rừng và hoạt động du lịch sinh thái tác động thấp, nó có thể trở thành một phần quan trọng trong các chiến lược phát triển nông thôn.

Học viện Nghiên cứu Rừng ước tính việc áp dụng các chương trình REDD để hạn chế nạn phá rừng ở khu vực Amazon thuộc Brazil trong vòng một thập kỷ sẽ cần tới 100 – 600 triệu USD mỗi năm. Eliasch Rewiew, một báo cáo về REDD của chính phủ Anh, ước tính hệ thống hạn ngạch và thương mại carbon, kể cả carbon rừng, có thể mang lại 7 tỷ USD mỗi năm. Số tiền này có thể hỗ trợ tài chính cho công tác bảo tồn rừng.

Nhận thấy tiềm năng lớn của REDD, chính phủ các nước và các nhà đầu tư đã tham gia vào thị trường carbon rừng. Tháng 12 năm ngoái, Merrill Lynch trở thành ngân hàng lớn đầu tiên của Mỹ đầu tư vào một dự án chống nạn phá rừng, hỗ trợ 9 triệu USD cho công tác bảo tồn rừng mưa ở Sumatra. Ngân hàng này hi vọng sở hữu chứng chỉ carbon rừng khi chúng có giá rẻ và sẽ bán chúng với giá cao hơn khi mà các thị trường carbon xuất hiện. Thoả thuận giữa Công ước Carbon của Úc, Merrill Lynch – Tổ chức bảo tồn những động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng, Tổ chức Flora & Fauna International và chính quyền tỉnh Aceh (Indonesia) có thể sinh lời hàng trăm triệu nhờ hoạt động tài chính carbon trong hơn 30 năm tới. Hai trong số những điều khoản của hoạt động này là ngăn chặn hoạt động khai thác gỗ và phá rừng trồng cọ.

Thống đốc tỉnh Aceh, ông Irwandi Jusuf cho rằng sáng kiến này là một bước ngoặt trong quá trình tái thiết của tỉnh từ sau vụ tàn phá của sóng thần năm 2004 và 30 năm nội chiến trước đó. Để hỗ trợ dự án, ông Irwandi đã đình chỉ hoạt động khai thác gỗ, thuê hơn 1 000 cựu binh làm kiểm lâm, và đề ra các kế hoạch cho việc phát triển các hoạt động thương mại bền vững thân thiện với môi trường.

Tháng 3 năm 2008, một công ty cổ phần tư nhân đã thực hiện một việc chưa có tiền lệ là mua quyền sử dụng dịch vụ môi trường trong diện tích 1,432 dặm vuông rừng mưa thuộc khu bảo tồn ở Guyana. Công ty Canopy Capital có trụ sở tại London này tin tưởng rằng các hoạt động mua bán các quyền này trên thị trường quốc tế sẽ mang lại lợi nhuận. 80% lợi nhuận sẽ dành cho cộng đồng địa phương dưới hình thức tín dụng quy mô nhỏ để tiến hành các hoạt động kinh tế bền vững.

Ông Hylton Murray-Philipson, giám đốc của Capital Canopy cho biết: “Cách duy nhất mà chúng tôi thực hiện thành công dự án này là thông qua động lực về lợi nhuận. Đó là điều cần thiết để khai thác nguồn lực của thị trường. Nhưng dự án này không chỉ dừng lại ở việc tạo ra lợi nhuận, chúng tôi cũng đồng thời mang tới cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân địa phương. Chúng ta cần bắt đầu đánh giá bản chất thực của rừng như một thực thế nguyên vẹn hơn là phải chuyển đổi nó sang dạng khác.”

Ngân hàng Thế giới đang giúp đỡ khởi động các dự án ở hơn 24 quốc gia bằng Quỹ hợp tác carbon rừng trị giá 300 triệu USD. Quỹ này được lập nên để giúp các nước thu được lợi ích kinh tế từ các dự án REDD.

Brazil tuy vẫn còn chưa rõ ràng trong việc sử dụng quỹ hỗ trợ, nhưng chương trình Bolsa Floresta ở bang Amazona có thể là một ví dụ của việc đền bù cho dân cư nông thôn để họ không phá rừng. Bắt đầu tiến hành vào năm ngoái, chương trình này trả cho các hộ gia đình sống gần khu bảo tồn Uatuma khoảng 25 USD mỗi tháng để họ không chặt phá và đốt rừng. Người dân đồng thời cũng được cung cấp dịch vụ y tế, nước sạch và có cơ hội tiếp cận hệ thống giáo dục nhiều hơn.

Mặc dù các chuyên gia không đồng tình về phương pháp, nhưng ít người cho rằng thế giới phải có một cách tiếp cận mới và nhanh chóng trong công tác bảo tồn rừng nhiệt đới. Ông Daniel Nepstad, nhà sinh thái học đầu ngành về rừng nhiệt đới, hiện đang dẫn dắt công tác bảo tồn ở Tổ chức Gordon và Betty Moore, cho rằng con người đang tiến gần đến một bước ngoặt, khi khu rừng mưa lớn nhất thế giới – Amazon không còn đủ khả năng cung cấp những “dịch vụ sinh thái” thiết yếu mà hiện giờ nó đang cung cấp.

Ông Nepstag cho biết: “Rừng mưa ở Amazon đang bị huỷ diệt do hạn hán theo mùa dẫn đến tình trạng đốt rừng để lấy đất canh tác, nhưng việc đốt rừng lại tiếp tục gây hạn hán. Cái vòng luẩn quẩn này phá huỷ một diện tích rừng rất lớn mỗi năm”. Ông lưu ý thêm rằng nếu tốc độ phá rừng tiếp tục diễn ra như hiện nay thì đến năm 2030 một nửa diện tích rừng ở Amazon sẽ bị đốt hoặc tàn phá. Ông cho rằng, ngoài việc giảm tối đa hoạt động chặt phá trong tương lai, thì 100 000 dặm vuông đất rừng bị khai thác ở Amazon cần được phục hồi. Các giải pháp nói trên có thể giúp đảm bảo rằng khoảng ¾ diện tích rừng Amazon nguyên sinh được giữ nguyên vẹn – yếu tố quan trọng trong việc giữ ổn định khí hậu của khu vực và toàn cầu.

Mục tiêu của Brazil là đến năm 2018 giảm 70% nạn phá rừng so với thời kỳ 1996 – 2005. Tuy mục tiêu này ít tham vọng nhưng nó chứng tỏ nhận thức của quốc gia này về tầm quan trọng của việc bảo tồn rừng bền vững trên khắp vùng Amazon và về tiềm năng của carbon rừng như một nguồn tài nguyên. Trong tương lai xa, sự cải thiện phương thức quản lý, cơ chế thương mại mới theo các nguyên tắc thị trường trong lĩnh vực môi trường và sự tiếp tục mở rộng của các khu bảo tồn sẽ là nhân tố bảo vệ các cánh rừng như rừng mưa Amazon.

Giải Cứu Rừng Nhiệt Đới: Liệu Chỉ Rót Tiền Là Đủ?

Thật trùng hợp, thời điểm công bố báo cáo cũng là lúc Đại học Maryland ở Mỹ công bố dữ liệu phá rừng. Theo đó, các nước nhiệt đới đã mất 158.000 km2 diện tích cây cối trong năm 2017 – tương đương với nước Bangladesh. Đây là tỷ lệ mất diện tích cây che phủ hàng năm cao thứ hai kể từ năm 2001 mà nguyên nhân chủ yếu là do giải phóng mặt bằng để sản xuất nông nghiệp.

“Khi phá rừng và suy thoái rừng xảy ra ở mức báo động, rõ ràng chúng ta đang sai lầm gì đó… Thế giới cần những ý tưởng mới, những chính sách tốt hơn và sử dụng nguồn tài chính hiệu quả hơn nếu chúng ta muốn thắng trong trận chiến này” – Øyvind Eggen, Giám đốc điều hành Rainforest Foundation Norway khẳng định trong một tuyên bố kèm theo báo cáo.

Ví dụ, nhiều quốc gia đã ký Tuyên bố New York về rừng để hỗ trợ các công ty thực hiện các cam kết không phá rừng. Các chính phủ sẽ tạo điều kiện tiếp cận thị trường cho các sản phẩm không góp phần vào việc phá rừng trong khi hạn chế thị phần của các sản phẩm gây mất rừng. Hiện tại, theo báo cáo, lượng viện trợ quốc tế tiềm tàng tác động tiêu cực đến rừng lại cao gấp 3,5 lần các quỹ hỗ trợ bảo tồn rừng và phục hồi rừng.

“Bằng cách chỉ mua sản phẩm từ các công ty không làm trầm trọng thêm nạn phá rừng nhiệt đới, các chính phủ có thể hỗ trợ đáng kể cho các công ty tiến bộ nhất”, báo cáo tuyên bố. “Chính phủ cũng có thể sử dụng luật lệ và thuế để hạn chế các sản phẩm gây ra phá rừng – và các biện pháp này không tăng thêm gánh nặng cho ngân sách công”.

Anders Haug Larsen, Cố vấn chính sách tại Rainforest Foundation Norway, người biên tập báo cáo, giải thích: “Chính sách mua sắm công, luật nhập khẩu và thuế quan phải ưu tiên các sản phẩm không phá rừng. Chẳng hạn không chấp nhận nhiên liệu sinh học làm từ dầu cọ và đậu nành, chừng nào những sản phẩm này còn tiếp tục gây ra phá rừng và tăng phát thải khí nhà kính”.

Tiến sĩ Chris Malins, chuyên gia về chính sách nhiên liệu sạch và carbon thấp, lưu ý rằng trong hai thập kỷ qua, nhiên liệu sinh học đã được coi là giải pháp bền vững để loại bỏ cacbon khỏi ngành giao thông, bởi vì người ta tin rằng hành động hiệu quả nhất là giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch bằng mọi giá. Tuy nhiên, khi nói đến nông nghiệp và sử dụng đất, Malins chỉ ra rằng thực ra hành động tốt nhất là bảo vệ trữ lượng carbon hiện có.

Sự thành công của REDD+ bị hạn chế ở một mức độ nào đó do được đóng khung như một cách để trả tiền cho người không chặt phá rừng. Nhưng điều quan trọng là bảo vệ rừng được công nhận là một “lựa chọn phát triển đầy hứa hẹn để huy động tài chính từ nền kinh tế rộng lớn hơn”, theo lời Larsen.

Báo cáo cũng khuyến nghị các nước rừng nhiệt đới nên “ưu tiên bảo đảm quyền sử dụng đất cho các cộng đồng bản địa và các cộng đồng phụ thuộc vào rừng, hỗ trợ các kế hoạch quản lý bền vững ở các khu vực này” cũng như “xây dựng luật lệ và ưu đãi tài chính cho phục hồi rừng.” Phục hồi và tái sinh tự nhiên nên là ưu tiên của các nỗ lực phục hồi rừng, và cần được thực hiện với sự tham gia đầy đủ của cộng đồng địa phương.

Một giải pháp quan trọng khác là bảo vệ hơn nữa những khu rừng nguyên sinh có giá trị và nguyên vẹn nhất mà thế giới vẫn còn giữ được.

“Quá nhiều rừng đã bị mất trong 10 năm qua”

Larsen thừa nhận rằng những nỗ lực của Na Uy trong thập kỷ qua là rất quan trọng để thúc đẩy “ở các cấp bậc chính trị cao nhất” khiến các chính phủ trên thế giới nhận ra nhu cầu bảo tồn rừng nhiệt đới, đưa bảo vệ rừng trở thành một phần cốt lõi của Thỏa thuận Paris. Ông cũng bộc bạch chính sự hỗ trợ của Na Uy đã giúp Quỹ Amazon trở thành một phương tiện quan trọng để giảm nạn phá rừng và giúp nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải đảm bảo quyền của người dân bản địa như một yếu tố quan trọng trong bảo vệ rừng ở hầu hết các nước rừng mưa nhiệt đới.

Mặc dù những thành công đó, tuy nhiên, Larsen nói thêm rằng “quá nhiều rừng đã bị mất trong 10 năm qua, vì vậy chúng ta không đạt được những gì đáng ra phải đạt được. Rõ ràng không thể đổ hết lỗi cho Na Uy, nhưng REDD+ – và kể cả Na Uy – đã có một thời gian dài tập trung quá mức vào việc tính toán carbon, chuẩn bị cho một thị trường carbon chưa bao giờ nổi bật lên. Lẽ ra nên tập trung hơn nữa vào tầm quan trọng của bảo vệ rừng để phát triển dài hạn, vào giá trị xã hội và môi trường rộng hơn để tăng thêm ý chí chính trị bảo vệ rừng ở các nước rừng nhiệt đới, điều mà chúng tôi tin rằng vẫn là rào cản chính”.

“Kết luận của phía Tổng kiểm toán và cả của chúng tôi đều chỉ rõ việc thay đổi các ưu tiên chính trị ở các nước rừng mưa nhiệt đới đã ngăn chặn hoặc trì hoãn các biện pháp và kết quả”, Larsen nói. Ví dụ, sau khi tỷ lệ mất rừng giảm đi ở Brazil trong suốt những năm 2000, mất cây đã tăng rõ rệt trong những năm gần đây, chủ yếu là do nông dân đốt đất rừng làm nông nghiệp.

Mikaela Weisse, một nhà phân tích nghiên cứu tại Viện Tài nguyên Thế giới, cho biết những người dọn đất bằng lửa đang tận dụng lợi thế của việc thực thi yếu kém luật cấm đốt rừng và phá rừng, cũng như những nỗ lực của chính quyền hiện hành nhằm khôi phục các biện pháp bảo vệ môi trường. Nhóm tác giả của báo cáo “Bảo vệ rừng nhiệt đới 2.0” cho thấy trong những trường hợp như thế này, nơi làn gió chính trị đã dịch chuyển, Na Uy ưu tiên hỗ trợ cho các dự án có thể giúp tạo ra và duy trì ý chí chính trị để giải quyết nguyên nhân phá rừng.

“Việc Na Uy đóng góp 500 triệu USD một năm là rất nhiều so với hỗ trợ khác như vậy, nhưng không đáng gì so với doanh thu của các ngành công nghiệp gây ra mất rừng”, Larsen kết luận. “Việc chuyển đổi thực hành nông nghiệp ở các nước phụ thuộc nông nghiệp là một thách thức lớn nhưng đã đâm lao thì phải theo lao. Tôi nghĩ rằng nỗ lực của Na Uy sẽ duy trì ở mức cao, ít nhất là cho đến năm 2030 như chính phủ hiện tại hứa hẹn. Nhưng tôi hy vọng sõ có một số thay đổi, ít nhất là sau năm 2020 khi hầu hết các hiệp định song phương kết thúc và Na Uy đang ở vị trí để đưa vào các giải pháp mới”.

Biện Pháp Cơ Bản Ứng Phó Đối Với Bão, Áp Thấp Nhiệt Đới, Mưa Lớn, Lũ, Lũ Quét, Ngập Lụt, Nước Dâng, Sạt Lở Đất Do Mưa Lũ

Tôi muốn hỏi Biện pháp cơ bản ứng phó đối với bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, nước dâng, sạt lở đất do mưa lũ được pháp luật quy định như thế nào? Mong luật sư tư vấn giúp tôi!

Thưa luật sư! Tôi muốn hỏi Biện pháp cơ bản ứng phó đối với bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, nước dâng, sạt lở đất do mưa lũ được pháp luật quy định như thế nào? Mong luật sư tư vấn giúp tôi! Tôi xin cảm ơn!

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Điều 26 Luật phòng chống thiên tai năm 2013 quy định Các biện pháp cơ bản ứng phó thiên tai như sau:

– Sơ tán người ra khỏi khu vực nguy hiểm, nơi không bảo đảm an toàn; tập trung triển khai biện pháp bảo đảm an toàn cho người, đặc biệt đối tượng dễ bị tổn thương trong tình huống thiên tai khẩn cấp;

– Di chuyển tàu thuyền, phương tiện nuôi trồng thuỷ sản trên biển, ven biển, trên sông ra khỏi khu vực nguy hiểm; tổ chức kiểm đếm, hướng dẫn tàu thuyền neo đậu hoặc thực hiện biện pháp khác để bảo đảm an toàn;

– Chủ động thực hiện biện pháp bảo vệ sản xuất;

– Kiểm tra, phát hiện và xử lý sự cố công trình phòng, chống thiên tai, công trình trọng điểm về kinh tế – xã hội và an ninh, quốc phòng;

– Giám sát, hướng dẫn và chủ động thực hiện việc hạn chế hoặc cấm người, phương tiện đi vào khu vực nguy hiểm trên sông, trên biển, khu vực và tuyến đường bị ngập sâu, khu vực có nguy cơ sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy và khu vực nguy hiểm khác;

– Bảo đảm giao thông và thông tin liên lạc đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, chỉ huy phòng, chống thiên tai;

– Thực hiện hoạt động tìm kiếm cứu nạn, cứu chữa người bị thương, hỗ trợ lương thực, thuốc chữa bệnh, nước uống và nhu yếu phẩm khác tại khu vực bị chia cắt, khu vực ngập lụt nghiêm trọng và địa điểm sơ tán;

– Bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài sản của Nhà nước và nhân dân tại khu vực xảy ra thiên tai;

Chỉ Thị Mới Trong Công Tác Quản Lý, Bảo Vệ Rừng Đặc Dụng Và Rừng Phòng Hộ

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa ban hành Chỉ thị số 1788/CT-BNN-TCLN về nhiệm vụ, giải pháp trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và cho thuê môi trường rừng đặc dụng, phòng hộ.

Tuy vậy, công tác quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ vẫn còn những tồn tại tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản trái pháp luật. Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị chưa được chú ý đúng mức. Đầu tư chưa tương xứng với mục tiêu và nhiệm vụ; chưa khai thác được tiềm năng, lợi thế môi trường rừng bền vững để tạo nguồn tài chính đầu tư lại rừng, chủ yếu hoạt động bảo vệ rừng, bảo tồn vẫn phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước.

Để phát triển bền vững, đúng quy định của pháp luật đối với hệ thống rừng đặc dụng, phòng hộ; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn yêu cầu triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn hướng dẫn các khu rừng đặc dụng, phòng hộ và cơ quan quản lý ở địa phương rà soát, xác định ranh giới, lập hồ sơ địa chính, trình cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cơ bản hoàn thành việc cắm mốc giới lâm phận trong năm 2020. Xử lý nghiêm những trường hợp sử dụng đất rừng đặc dụng, phòng hộ không đúng mục đích; giải quyết dứt điểm tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất rừng trái pháp luật.

Thực hiện chủ trương xã hội hóa để thu hút, huy động hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho công tác bảo vệ, phát triển rừng theo đúng quy định của pháp luật, không làm tổn hại sinh thái rừng; bảo vệ môi trường sinh thái; thực hiện nghiêm việc kiểm soát chuyển mục đích sử dụng rừng theo quy định của Luật Lâm nghiệp.

Thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ rừng theo quy định của pháp luật; triển khai các giải pháp chống chặt phá rừng, khai thác rừng trái pháp luật; xử lý nghiêm minh các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật và những tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nhưng thiếu trách nhiệm, để xảy ra vi phạm.

Kiện toàn tổ chức Kiểm lâm và Lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng trong các Ban quản lý rừng, bảo đảm hoạt động có hiệu quả đúng theo quy định của Nghị định số 01/2019/NĐ-CP, ngày 1-1-2019 của Chính phủ về Kiểm lâm và Lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng.

Có giải pháp thúc đẩy tăng trưởng các dịch vụ môi trường rừng, DLST bền vững theo quy định của pháp luật nhằm tạo nguồn thu ổn định để đầu tự lại cho công tác bảo vệ rừng và chủ trương tự chủ của các Ban quản lý rừng.

Đối với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:

Tổng cục Lâm nghiệp: Tổ chức đánh giá, đề xuất giải pháp về hoạt động tổ chức DLST tại các khu rừng đặc dụng, phòng hộ trên toàn quốc, báo cáo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong Quý IV năm 2020.

Tổ chức rà soát quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng tại Quyết định số 1976/QĐ-TTg, ngày 30-10-2014 của Thủ tướng Chính phủ cùng với việc lập Quy hoạch Lâm nghiệp quốc gia theo quy định của Luật Lâm nghiệp, Luật Quy hoạch và Chiến lược Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050.

Khẩn trương hệ thống hóa cơ chế, chính sách hiện hành; xây dựng Nghị định của Chính phủ về chính sách đầu tư bảo vệ và phát triển rừng, chế biến và thương mại lâm sản trong lâm nghiệp; trong đó có lĩnh vực quản lý và phát triển bền vững hệ thống rừng đặc dụng, phòng hộ.

Xây dựng Chương trình đầu tư công phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2021-2025 để triển khai, thực hiện thay thế Quyết định số 886/QĐ-TTg ngày 16-6-2017 về Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016 – 2020 hết hiệu lực.

Vụ Kế hoạch phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp hướng dẫn lập, phê duyệt các dự án đầu tư lâm nghiệp, nhất là đối với các khu rừng đặc dụng, phòng hộ trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025.

Vụ Tổ chức cán bộ chủ trì, phối hợp Tổng cục Lâm nghiệp rà soát quy định hiện hành của Nhà nước, hướng dẫn các địa phương về mô hình tổ chức bộ máy của Ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ hiệu quả, thống nhất trong toàn quốc, đồng thời phù hợp với phân hạng các khu rừng đặc dụng, phòng hộ và điều kiện thực tiễn vùng, miền, địa phương.

Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam chú trọng các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học về rừng đặc dụng, phòng hộ phù hợp với từng vùng sinh thái.

Ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ: Khẩn trương rà soát, sửa đổi bổ sung; xây dựng quy hoạch phát triển bền vững theo quy định của Luật Lâm nghiệp, giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050. Tổ chức các hoạt động theo đúng quy định của pháp luật về Lâm nghiệp, nhất là các hoạt động bảo vệ rừng, chống chặt phá rừng, quản lý đất đai và tổ chức DLST.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các Ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ chịu trách nhiệm tổ chức, triển khai thực hiện Chỉ thị này.

Bạn đang xem bài viết Giải Pháp Thị Trường Trong Bảo Tồn Rừng Mưa Nhiệt Đới trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!