Xem Nhiều 1/2023 #️ Giáo Dục Đặc Biệt Cho Trẻ Chậm Phát Triển Trí Tuệ (Cpttt) # Top 8 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Giáo Dục Đặc Biệt Cho Trẻ Chậm Phát Triển Trí Tuệ (Cpttt) # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Giáo Dục Đặc Biệt Cho Trẻ Chậm Phát Triển Trí Tuệ (Cpttt) mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Khái niệm

Dù còn nhiều tranh cãi ngay cả trong các khái niện về GDĐB, nhìn chung đến nay các nhà giáo dục phương Tây và phương Đông đều thống nhất sử dụng một khái niệm GDĐB cho trẻ CPTTT trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập. GDĐB cho trẻ CPTTT có thể được định nghĩa là sự giảng dạy và hướng dẫn được thiết kế đặc biệt nhằm đáp ứng những nhu cầu và khả năng riêng biệt của nhóm trẻ này dù theo bất cứ cách tổ chức nào (chuyên biệt, hội nhập hay hoà nhập).

2. Mục tiêu giáo dục đặc biệt cho trẻ chậm phát triển trí tuệ

2.1. Quyền được giáo dục của trẻ chậm phát triển trí tuệ

Công ước nêu rõ “…Trẻ khuyết tật có quyền được chăm sóc đặc biệt; được giáo dục và đào tạo để tự giúp bản thân; để sống một cuộc sống đầy đủ, phù hợp đạo đức; để đạt tới mức tối đa của sự tự chủ và hoà nhập xã hội” (Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em, điều 23)

Trẻ khuyết tật được mô tả là trẻ em có khuyết tật trí tuệ hoặc thể chất. Giáo dục là một quyền cơ bản của trẻ em nên cũng là một quyền cơ bản của trẻ khuyết tật, bao gồm cả trẻ CPTTT.

2.2. Mục tiêu thực tiễn của giáo dục cho trẻ chậm phát triển trí tuệ

Ngoài quyền cơ bản là được giáo dục, để việc thực hiện trở nên có tính thực tiễn, trẻ CPTTT cần được coi là có thể phát triển, có thể học tập và có thể giáo dục được.

Trẻ CPTTT cùng trải qua những giai đoạn phát triển tương tự như trẻ bình thường [xem bài “Sự phát triển của trẻ chậm phát triển trí tuệ”]. Điểm khác nhau là những giai đoạn này kéo dài hơn và quá trình phát triển dừng lại sớm hơn. Ngoài ra có những khuyết tật được xem là sự sai lệch chức năng bẩm sinh hoặc mắc phải và có thể ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trẻ.

Mô hình phát triển xã hội – tình cảm của trẻ CPTTT khuyến khích việc thiết kế các chương trình giảng dạy và hướng dẫn dựa trên nguyên tắc trẻ CPTTT có thể giáo dục được nếu chúng ta quan niệm học tập như là những cách thể hiện hành vi mới hoặc là việc mở rộng những hành vi hiện tại.

2.3. Mục tiêu chung của giáo dục đặc biệt cho trẻ chậm phát triển trí tuệ

Cũng như giáo dục chính quy, mục tiêu chung của giáo dục đặc biệt là dạy những kiến thức văn hoá và kỹ năng tương ứng nhằm giúp học sinh có được cơ hội tối đa để có thể sống độc lập và phát triển đến mức cao nhất, có thể đạt được một vị trí xứng đáng trong xã hội. Vì vậy giáo dục phải mang tính chức năng đối với trẻ, phải dựa trên khả năng riêng, môi trường sống và triển vọng tương lại của trẻ.

Trọng tâm của giáo dục đặc biệt phải là những chương trình học thích hợp và có ý nghĩa mà trẻ có thể theo được và có thể áp dụng vào trong cuộc sống hiện tại và tương lai của trẻ. Chương trình học không chỉ hướng về các vấn đề học thuật mà nên tập trung vào phát triển các kỹ năng xã hội và kỹ năng chuyển đổi nhằm thức đẩy sự hoà nhập của trẻ vào xã hội.

Vì mục tiêu cuối cùng nhằm đến cho trẻ là cuộc sống cộng đồng hoặc cuộc sống hoà nhập nên câu hỏi quan trọng nhất để đánh giá chương trình là “nó đã mang lại hiệu quả gì cho trẻ?”. Thách thức đối với các chương trình giáo dục hiện tại cho trẻ CPTTT chính là việc phải đảm bảo chuẩn bị được cho trẻ bước vào tương lai.

2.4. Giáo dục đặc biệt cho trẻ chậm phát triển trí tuệ – một chương trình giảng dạy kỹ năng cuộc sống

Bằng cách nhấn mạnh tính chức năng, giáo dục đặc biệt cho trẻ chậm CPTTT cần kết hợp mô hình phát triển với mô hình sinh thái.

Theo mô hình sinh thái, các chuyên gia hoặc giáo viên tiến hành kiểm tra những môi trường, nơi trẻ phải thể hiện chức năng, qua đó xác định những kỹ năng cụ thể trẻ cần có thể tham gia được vào các môi trường này. Đây chính là những kỹ năng làm cơ sở cho việc đánh giá.

Chương trình giảng dạy kỹ năng cuộc sống sẽ là chương trình thể hiện những đặc điểm của môi trường trẻ sẽ sống, làm việc và vui chơi sau khi rời trường. Cốt lõi của giáo dục là hướng dẫn trẻ vào việc tự chăm sóc mình, quan hệ với những người khác và môi trường.

Chương trình giảng dạy kỹ năng cuộc sống là chương trình dạy những kỳ năng để chuẩn bị cho trẻ thực hiện chức năng một cách thành công trong các môi trường hoạt động của trẻ.

Vì khả năng của mỗi trẻ là khác nhau và môi trường ở đó mỗi trẻ thực hiện các chức năng cũng khác nhau, nên chương trình dạy kỹ năng cuộc sống cho mỗi trẻ cũng phải khác nhau. Giáo dục theo hướng cá nhân hoá nên được thể hiện bằng một kế hoạch giáo dục cá nhân.

Theo hiệp hội CPTTT Mỹ, những kỹ năng cần thiết đối với trẻ là:

Giao tiếp: Những kỹ năng bao gồm cả việc nghe hiểu và diễn đạt thông tin bằng những hành vi có tính biểu tượng (ví dụ như lời nói, chữ viết, các ký hiệu, ngôn ngữ ký hiệu…) hoặc những hành vi biểu tượng (ví dụ như nét mặt, cử động của cơ thể, sự động chạm, cử chỉ…)

Giải trí: Hình thành những sở thích giải trí (tự giải trí và giải trí qua tương tác) trong đó phản ánh những ưu tiên, lựa chọn và quan niệm về độ tuổi, về văn hoá nếu như hoạt động được tiến hành ở nơi công cộng.

3. Biện pháp khắc phục những hạn chế cho trẻ chậm phát triển trí tuệ

3.1. Những hạn chế của trẻ chậm phát triển trí tuệ

a) Sự hạn chế về khả năng trí tuệ

Chức năng trí tuệ dưới mức trung bình là một trong những hạn chế lớn nhất của người CPTTT nói chung và trẻ em bị CPTTT nói riêng. Sự hạn chế về chức năng trí tuệ phụ thuộc vào mức độ CPTTT của trẻ, mức độ CPTTT càng nặng thì sự hạn chế về khả năng trí tuệ của trẻ càng lớn. Chính sự hạn chế về khả năng trí tuệ đã dẫn đến những hạn chế trong hoạt động nhận thức của trẻ như: cảm giác, tri giác, tư duy, trí nhớ…

Đôi khi các trẻ CPTTT phán đoán sai do chúng không xác định được những thông tin chính, trẻ thường chú ý đến những thông tin phụ. Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát bức tranh “em đi học”, sau đó hỏi trẻ “ai trong bức tranh” trẻ có thể trả lời hoặc chỉ vào con bướm, cây cối trong tranh mà không trả lời đó là “bạn học sinh”.

Nhiều hoạt động yêu cầu có sự phối hợp nhịp nhàng giữa 2 nhóm kĩ năng trên (ví dụ như phối hợp tay – mắt). Trẻ CPTTT thường bị hạn chế trong vực phối hợp trên nên khi thực hiện một hoạt động, nhiệm vụ nào đó sẽ gặp khó khăn, ví dụ như xâu hạt, viết…

d) Sự hạn chế về kỹ năng xã hội.

Những trẻ CPTTT, thường yếu kém về kĩ năng xã hội. Các trẻ này thường khó khăn trong các tình huống như:

– Chơi cùng nhau, làm cùng nhau.

– Lắng nghe người khác nói, luân phiên chờ đến lượt mình.

– Rất khó để hiểu rằng có rất nhiều cách nhìn nhận người khác khác với cách nhìn nhận của mình.

– Rất khó biểu hiện được thái độ đúng mực và phù hợp với ai đó hay với mọi người trong những tình huống nào đó.

– Khó nhận biết thái độ, ý định của người khác qua những biểu hiện trên nét mặt hay tư thế.

e) Sự hạn chế về ngôn ngữ

Ở người bình thường, để có thể giao tiếp có hiệu quả cần phải có kĩ năng diễn đạt ngôn ngữ (diễn đạt ý nghĩ thành ngôn từ) và kĩ năng tiếp nhận ngôn ngữ (hiểu những gì người khác nói). Trẻ CPTTT có sự hạn chế về cả hai kỹ năng này, đặc biệt là kỹ năng ngôn ngữ. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ CPTTT không mất nhiều thời gian hơn và trình độ ngôn ngữ của trẻ thấp hơn so với trẻ bình thường hai tuổi. Cụ thể là:

* Vốn từ của trẻ ít và nghèo nàn

* Nhớ từ mới lâu và chậm

* Trong khi nói trẻ ít dùng câu phức tạp, ít dùng liên từ mà thường sử dụng câu ngắn, câu đơn, câu cụt

* Lỗi phát âm: Nói ngọng, nói lắp và nói khó

* Nói lại rập khuôn những gì người khác đang nói nhưng không hiểu ý nghĩ của lời nói đó

* Không thể hiện rõ nhu cầu giao tiếp với người khác. Ví dụ: trẻ không chủ động thiết lập mối quan hệ với người khác, không đặt câu hỏi, hay chủ động trong trao đổi với người khác về một vấn đề nào đó hoặc trẻ từ chối giao tiếp với người khác.

f) Những vấn đề khái quá hoá kiến thức

Trẻ CPTTT gặp khó khăn trong việc vận dụng kiến thức và các kỹ năng của mình trong những trường hợp khác nhau với tình huống mà trẻ đã từng gặp. Tuy có những tình huống gần giống với tình huống quen thuộc nhưng trẻ vẫn lúng túng và thực hiện sai. Ví dụ, trẻ CPTTT biết con vịt bơi dưới nước, thuyền buồm chạy dưới nước, khi học bài “làm quen phương tiện giao thông”, cô hỏi “phương tiện gì chạy dưới nước”? trẻ trả lời là “con vịt”.

g) Hành vi không mong muốn

Do sự hạn chế về chức năng trí tuệ, ngôn ngữ, khả năng chú ý, những khó khăn về thể chất và tâm thần… nên trẻ CPTTT thường có những hành vi không mong muốn như:

– Trẻ đi lại tự do trong giờ học

– Trẻ không ngồi yên, vận động chân tay liên tục

– Đánh bạn

– Đập phá, ném đồ chơi trong khi đang chơi

– Từ chối sự chăm sóc vỗ về của người khác bằng cách lẩn tránh

– Không thực hiện hoạt động hay nhiệm vụ

– Trẻ ngồi uể oải, buồn chán, im lặng

– Không phản ứng với những nỗ lực giao tiếp của người khác, thậm chí ngay cả khi bị trêu trọc

– Nói tự do, nói một mình trong giờ học

– La hét, gào thét không rõ nguyên nhân

– Hành vi tự xâm kích: đập đầu, dứt tóc, cắn tay

h) Động cơ kém hăng hái, sợ thất bại

Đứa trẻ thường không hoàn thành nhiệm vụ nào đó hoặc qua nhiều lần thất bại sẽ dẫn đến trẻ CPTTT dễ nản trí. Do vậy trẻ kém hăng hái, không muốn học những cái mới hoặc đối mặt với tình huống mới, trẻ hay ỷ lại và trông đợi sự giúp đỡ của người khác. Có trẻ có thể làm được nhưng lại thiếu tự tin nên không đủ quyết tâm để thực hiện.

3.2. Biện pháp khắc phục những hạn chế cho trẻ chậm phát triển trí tuệ

a) Một số biện pháp khắc phục sự hạn chế về khả năng trí tuệ.

– Giao cho trẻ làm những việc phù hợp với khả năng.

– Những công việc được chia làm nhiều bước nhỏ.

– Hãy hướng dẫn trẻ cụ thể trong các hoạt động, thao tác, tình huống

– Giảng dạy rõ ràng bằng các cấu trúc về không gian, thời gian hoạt động, con người nhằm trả lời cho các câu hỏi: “ở đâu?”; “khi nào và bao lâu”; “bằng cách nào?”; “ai và các qui tắc như thế nào?”.

– Dành nhiều thời gian cho thực hành.

b) Một số biện pháp khắc phục sự hạn chế về khả năng chú ý

– Giảm thiểu những yếu tố kích thích gây sao nhãng, mất tập trung như: hạn chế bớt âm thanh, hình ảnh, người qua lại

– Tạo nhiều hành vi phản hồi

– Thu hút sự chú ý của trẻ bằng những đồ chơi, đồ dùng dạy học hấp dẫn như đồ chơi có phát ra âm thanh, kiểu dáng đẹp và màu sắc tươi tắn

– Cung cấp thông tin bằng hình ảnh nhằm mục đích giúp trẻ có thời gian tiếp cận thông tin lâu hơn.

c) Một số biện pháp khắc phục sự hạn chế về khả năng giác động

– Huấn luyện kỹ năng giác động

– Tạo phương tiện thay thế, hỗ trợ thêm

d) Một số biện pháp khắc phục sự hạn chế về kỹ năng xã hội

– Khuyến khích các hoạt động xã hội

– Luyện cho trẻ các kĩ năng xã hội trong các tình huống có thể và tự nhiên

e) Một số biện pháp khắc phục sự hạn chế về ngôn ngữ cho trẻ

– Sử dụng câu ngắn, rõ ràng, đơn giản

– Không đưa ra dồn dập nhiều quá thông tin trong cùng một thời điểm

– Sử dụng các phương thức giao tiếp thay thế và tăng cường. Ví dụ như sử dụng lời

nói kết hợp với ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ hay ngôn ngữ kí hiệu.

– Sử dụng các loại phương tiện hỗ trợ giao tiếp như vật thật, mô hình, các loại tranh ảnh… nhằm hình ảnh hoá thông tin

– Cung cấp vốn từ mới cho trẻ

– Khuyến khích trẻ tự phát biểu bằng cách gợi mở, đặt ra những câu hỏi để trẻ trả lời, luôn động viên khen thưởng trẻ mỗi khi trẻ phát biểu ý kiến

f) Các vấn đề về khái quát hoá kiến thức

Thực hành kĩ năng và kiến thức trong nhiều tình huống khác nhau, với những người khác nhau, ở những nơi khác nhau và với những vật liệu khác nhau.

g) Biện pháp giảm thiểu những hành vi không mong muốn cho trẻ

Để giảm thiểu hành vi không mong muốn cho trẻ CPTTT, giáo viên cần phải tìm hiểu những nguyên nhân và điều kiện hiện tại đang duy trì hành vi không mong muốn; xác định đặc điểm, mức độ và tần suất xuất hiện hành vi không mong muốn trên cơ sở đó đề xuất biện pháp xử lý phù hợp khi trẻ thể hiện hành vi không mong muốn.

h) Vấn đề động cơ kém hăng hái và sợ thất bại

– Tạo cho trẻ có nhiều cơ hội thành công.

– Bộc lộ những kì vọng tích cực với trẻ.

– Khuyến khích: Bằng vật chất và tinh thần cũng như bằng các hoạt động mang lại hứng thú cho trẻ.

– Nhấn mạnh các sự kiện tốt đẹp

Theo “Đại cương về giáo dục trẻ CPTTT” của tiến sĩ Huỳnh Thị Thu Hằng

Chậm Phát Triển Trí Tuệ

Can thiệp sớm

Hỗ trợ đa phương

Điều trị và hỗ trợ nhu cầu phụ thuộc vào năng lực xã hội và nhận thức của trẻ. Giới thiệu chương trình can thiệp sớm trong quá trình mang thai có thể ngăn ngừa hoặc giảm mức độ tàn tật do sẩy thai chu sinh. Cần đưa vào các phương pháp chăm sóc có hiệu quả thật sự cho trẻ.

Cần phát triển một chương trình toàn diện, cụ thể dưới sự giúp đỡ của các chuyên gia, bao gồm cá các nhà giáo dục.

Một nhóm đa ngành bao gồm

Các nhà thần kinh học hoặc các bác sĩ nhi khoa về phát triển – hành vi

Bác sĩ chỉnh hình

Bác sĩ vật lý trị liệu và trị liệu nghề nghiệp (những người hỗ trợ quản lý bệnh tật ở trẻ có giảm vận động)

Chuyên gia trị liệu nói và thính học (những người giúp đỡ về sự chậm phát triển ngôn ngữ hoặc bị nghi ngờ mất thính giác)

Bác sĩ dinh dưỡng (những người điều trị suy dinh dưỡng)

Các nhân viên xã hội (những người giúp giảm tình trạng nghèo đói và xác định các nguồn lực chính)

Trẻ bị ảnh hưởng có rối loạn sức khoẻ tâm thần đồng thời như trầm cảm có thể cho uống i thuốc kích thích thần kinh tương ứng với liều dùng tương tự như trẻ em không bị thiểu năng trí tuệ. Sử dụng thuốc kích thích thần kinh mà không cần điều trị hành vi và thay đổi môi trường thì hiếm khi có tác dụng.

Mọi nỗ lực phải được thực hiện để có trẻ sống nhà hoặc tại các trung tâm bảo trợ xã hội. Sự có mặt của một đứa trẻ thiểu năng trí tuệ trong nhà có thể gây rối nhưng cũng rất đáng. Gia đình có thể nhờ sự hỗ trợ tâm lý và giúp đỡ chăm sóc hàng ngày từ các trung tâm chăm sóc ban ngày, người giúp việc và các dịch vụ chăm sóc thay thế. Môi trường sống của trẻ phải khuyến khích sự độc lập và tăng cường việc học các kỹ năng cần thiết để hoàn thành mục tiêu này.

Bất cứ khi nào có thể được, trẻ thiểu năng trí tuệ nên tham dự một trung tâm chăm sóc ban ngày hoặc trường học phù hợp với những người bạn không khuyết tật nhận thức. Luật giáo dục đặc biệt dành cho cá nhân khuyết tật (IDEA) là luật giáo dục đặc biệt đầu tiên của Hoa Kỳ, quy định rằng tất cả trẻ em khuyết tật cần được hưởng các cơ hội giáo dục thích đáng và có các chương trình đào tạo trong các môi trường ít bị hạn chế nhất.

Khi trẻ thiểu năng trí tuệ đến tuổi trưởng thành, cần có sự hỗ trợ về điều kiện sống cũng như công việc. Các tổ chức nhà ở lớn đang được thay thế bằng các nhóm nhỏ hoặc các nhà ở cá nhân phù hợp với khả năng và nhu cầu về chức năng của họ.

Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hòa Nhập Cho Trẻ Khuyết Tật Trí Tuệ Đạt Hiệu Quả

Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới và hội nhập. Để đáp ứng được nhu cầu này, cần có sự đóng góp của rất nhiều ngành nghề trong đó giáo dục góp phần to lớn trong sự đổi mới của đất nước. Nói đến giáo dục, các nhà khoa học đã đưa ra nhiều quan điểm nhưng chung quy lại đều khẳng định rằng “Giáo dục là chìa khóa, là cơ sở cho sự phát triển nhân cách sau này của một con người”

Như chúng ta đã biết giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bộ phận quan trọng trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ thành những những con người mới, con người có ích cho xã hội. Giáo dục Mầm non có nhiệm vụ xây dựng nền móng làm cơ sở ban đầu cho việc hình thành nhân cách con người. Trẻ em là hạnh phúc của mọi gia đình, là tương lai của dân tộc. Việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ không chỉ là trách nhiệm của mỗi gia đình mà là trách nhiệm của toàn xã hội và của cả nhân loại.

Sinh thời Hồ Chủ Tịch đã dành nhiều tình cảm và sự quan tâm đặc biệt cho trẻ em, tình thương ấy xuất phát từ tư tưởng, tầm nhìn và chiến lược “Trăm năm trồng người” mà người đã dày công vun trồng cho thế hệ mai sau. Thấm nhuần tư tưởng của người, Đảng nhà nước và nhân dân ta đã và đang quan tâm thực hiện tốt hơn công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em, bởi trẻ em là những mầm xanh tương lai của đất nước là mối quan tâm hàng đầu của gia đình, cộng đồng và toàn xã hội. Tuy nhiên, không phải tất cả trẻ em trên thế giới này sinh ra và lớn lên đều được sở hữu một thân hình hay một trí tuệ hoàn hảo mà thay vào đó bên cạnh những “Bé khoẻ, bé ngoan” vẫn còn những em bé khuyết tật, sinh ra với những khiếm khuyết về thể chất, tinh thần khiến các em gặp nhiều khó khăn, bất hạnh và vô cùng thiệt thòi, do đó trẻ cần được hưởng sự giáo dục dạy dỗ chu đáo của mọi người từ gia đình đến xã hội và đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng đầy tính nhân văn của ngành giáo dục nói chung và ngành giáo dục mầm non nói riêng [1].

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÒA NHẬP TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Ở TRƯỜNG MẦM NON ĐẠT HIỆU QUẢ Người thực hiện: Lê Ánh Tuyết Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường Mầm non Thành Kim SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn THẠCH THÀNH, NĂM 2019 MỤC LỤC Nội dung Trang 1. Mở đầu 1 1.1. Lí do chọn đề tài 1 1.2. Mục đích nghiên cứu 2 1.3. Đối tượng nghiên cứu 2 1.4. Phương pháp nghiên cứu 2 2. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm 2 2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 2 2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3 2.3. Các biện pháp giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trí tuệ đạt hiệu quả. 5 2.3.1. Lập kế hoạch giáo dục theo dõi, đánh giá sự tiến bộ của trẻ khuyết tật trí tuệ 5 2.3.2. Xây dựng môi trường giáo dục phù hợp tạo điều kiện cho trẻ khuyết tật hoạt động hòa nhập. 10 2.3.3. Phát huy tính tích cực của trẻ khuyết tật trí tuệ 12 2.3.4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giảng dạy để tạo điều kiện cho trẻ khuyết tật hứng thú hoạt động hoà nhập. 14 2.3.5. Giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật ở mọi lúc, mọi nơi. 16 2.3.6. Phối hợp với phụ huynh và các cơ quan, tổ chức xã hội trong việc giáo dục trẻ khuyết tật hoà nhập. 17 2.4. Hiệu quả sau khi thực hiện biện pháp GDHN trẻ KT tại trường Mầm non Thành Kim 19 3. Kết luận kiến nghị 19 3.1. Kết luận 19 3.2. Kiến nghị 20 1. Mở đầu. 1.1. Lý do chọn đề tài Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới và hội nhập. Để đáp ứng được nhu cầu này, cần có sự đóng góp của rất nhiều ngành nghề trong đó giáo dục góp phần to lớn trong sự đổi mới của đất nước. Nói đến giáo dục, các nhà khoa học đã đưa ra nhiều quan điểm nhưng chung quy lại đều khẳng định rằng "Giáo dục là chìa khóa, là cơ sở cho sự phát triển nhân cách sau này của một con người" Như chúng ta đã biết giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bộ phận quan trọng trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ thành những những con người mới, con người có ích cho xã hội. Giáo dục Mầm non có nhiệm vụ xây dựng nền móng làm cơ sở ban đầu cho việc hình thành nhân cách con người. Trẻ em là hạnh phúc của mọi gia đình, là tương lai của dân tộc. Việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ không chỉ là trách nhiệm của mỗi gia đình mà là trách nhiệm của toàn xã hội và của cả nhân loại. Sinh thời Hồ Chủ Tịch đã dành nhiều tình cảm và sự quan tâm đặc biệt cho trẻ em, tình thương ấy xuất phát từ tư tưởng, tầm nhìn và chiến lược "Trăm năm trồng người" mà người đã dày công vun trồng cho thế hệ mai sau. Thấm nhuần tư tưởng của người, Đảng nhà nước và nhân dân ta đã và đang quan tâm thực hiện tốt hơn công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em, bởi trẻ em là những mầm xanh tương lai của đất nước là mối quan tâm hàng đầu của gia đình, cộng đồng và toàn xã hội. Tuy nhiên, không phải tất cả trẻ em trên thế giới này sinh ra và lớn lên đều được sở hữu một thân hình hay một trí tuệ hoàn hảo mà thay vào đó bên cạnh những "Bé khoẻ, bé ngoan" vẫn còn những em bé khuyết tật, sinh ra với những khiếm khuyết về thể chất, tinh thần khiến các em gặp nhiều khó khăn, bất hạnh và vô cùng thiệt thòi, do đó trẻ cần được hưởng sự giáo dục dạy dỗ chu đáo của mọi người từ gia đình đến xã hội và đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng đầy tính nhân văn của ngành giáo dục nói chung và ngành giáo dục mầm non nói riêng [1]. Theo công ước của liên hợp quốc về quyền trẻ em (1989) ghi rõ: "Tất cả mọi trẻ em sinh ra đều được quyền đi học" do vậy trẻ khuyết tật nói chung và trẻ khuyết tật trí tuệ nói riêng có quyền được học tập, vui chơi như bao trẻ bình thường khác [2]. Trên thực tế đối với những trẻ bị khuyết tật trí tuệ do bị hạn chế về trí tuệ nên khuyết tật trí tuệ chậm chạp, gặp khó khăn trong giao tiếp, ứng xử xã hội, tự phục vụ bản thân và tiếp thu kiến thức. Trong số đó có những trẻ không thể tự phục vụ bản thân mình mà nhờ người khác giúp đỡ, hỗ trợ. Nhìn chung trẻ khuyết tật trí tuệ thường gặp rất nhiều khó khăn trong học tập, vì khả năng quan sát, chú ý, ghi nhớ của trẻ bị hạn chế, trẻ rất mau quên...Là một giáo viên mầm non đứng lớp 5-6 tuổi và đặc biệt là trong lớp có trẻ khuyết tật trí tuệ tôi nghĩ rằng việc giáo dục trẻ khuyết tật hoà nhập là vô cùng khó khăn đòi hỏi bản thân phải tâm huyết với nghề dạy trẻ, chăm sóc và bày tỏ tình thương với trẻ, bên cạnh đó tôi luôn mong muốn truyền đạt thật nhiều kiến thức cho trẻ, giúp trẻ chuẩn bị cho cuộc sống hiện tại cũng như cuộc sống tương lai của trẻ ở trường mầm non và tôi mong muốn rằng tại ngôi nhà thứ hai này trẻ học được các kiến thức, các kỹ năng và được tham gia vào tất cả các hoạt động như trẻ bình thường khác. Vì thế tôi đã luôn trăn trở, tìm tòi để tìm ra những cách thức hay, những phương pháp giảng dạy tốt nhất, mạnh dạn áp dụng những sáng tạo mới trong việc tổ chức các hoạt động và các hình thức dạy trẻ khuyết tật trí tuệ mang tính chức năng, ngoài việc cung cấp các kiến thức cơ bản cho trẻ còn cần tập trung vào dạy kỹ năng sống cho trẻ bao gồm: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng xã hội nhằm hình thành cho trẻ khả năng sống độc lập và giúp trẻ có thể hoà nhập vào cộng đồng xã hội như những trẻ bình thường. Xuất phát từ những lý do trên mà tôi chọn đề tài "Một số biện pháp giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật trí tuệ đạt hiệu quả" làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm cho bản thân. 1.2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu tìm ra những biện pháp giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật trí tuệ ở trường Mầm non đạt hiệu quả tốt. 1.3. Đối tượng nghiên cứu Trẻ khuyết tật nói chung và trẻ khuyết tật trí tuệ nói riêng của độ tuổi mẫu giáo 5-6 tuổi trường mầm non Thành Kim - Thạch Thành - Thanh Hoá. 1.4. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu lý thuyết - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn + Phương pháp quan sát + Phương pháp khảo sát điều tra + Phương pháp thực hành - trải nghiệm + Phương pháp tổng kết kinh nghiệm 2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm Hiện nay, Bộ giáo dục và Đào tạo đã ra qui định về GDHN cho TKT làm cơ sở giúp cho các bộ phận quản lý giáo dục các cấp, nhà trường và giáo viên thực hiện GDHN cho TKT một cách hiệu quả . - Quyết định số 23/2006/QĐ/ BGDĐT ngày 22/5/2006 về việc qui định Giáo dục hòa nhập dành cho người tàn tật, khuyết tật. - Công văn số 9890/ BGDĐT-GDTH , ngày 17/9/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn nội dung, phương pháp giáo dục cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Từ đó nâng dần chất lượng GDHN cho TKT. Vậy trẻ khuyết tật và giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật tại trường Mầm non là gì? Trẻ khuyết tật là những trẻ bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận trên cơ thể như: Giác quan, vận động, trí tuệvv được biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho trẻ gặp nhiều khó khăn trong lao động, sinh hoạt, học tập, vui chơi. Giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật ở trường Mầm non là phương thức giáo dục cho trẻ khuyết tật vào sinh hoạt và hoạc tập hoà nhập trong môi trường giáo dục bình thường. Trẻ khuyết tật Mầm non được vui chơi, học tập cùng với trẻ bình thường cùng lứa tuổi ngay tại nơi trẻ sinh ra và lớn lên. Trong môi trường đó, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn và tạo cơ hội cho trẻ khuyết tật được tham gia tiếp xúc, giao tiếp với mọi người, được tham gia hoạt động với các bạn để lĩnh hội những kiến thức văn hóa, hình thành những kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi Mầm non, giúp trẻ có thói quen và tự tin vào bản thân. Hơn thập kỷ qua, mô hình giáo dục hoà nhập ở việt nam đã được thực hiện. theo số liệu báo cáo của các địa phương: Trong năm qua đã có hơn 100 nghìn trẻ khuyết tật được hoà nhập với trẻ bình thường. tại một số địa phương đã huy động trên 90% trẻ khuyết tật ở độ tuổi ra lớp học hoà nhập theo chương trình [4]. Như vậy, trẻ khuyết tật là trung tâm của quá trình giáo dục điều chỉnh. Các em cũng có nhu cầu được tôn trọng được tham gia đầy đủ và bình đẳng trong mọi hoạt động của trường Mầm non để thừa hưởng các quyền lợi và phát huy hết những khả năng vốn có của mình cho phép tạo cho trẻ khuyết tật có niềm tin, lòng tự trọng, ý chí vươn lên trẻ tự tin mạnh dạn trong giao tiếp hoà nhập với bạn bè, cộng đồng xã hội. đồng thời giáo dục lòng nhân ái, tình cảm yêu thương của các cháu phát triển bình thường đối với những bạn bị khuyết tật. Có thể nói Giáo dục hòa nhập trong trường Mầm non là môi trường vô cùng cần thiết và cũng là nơi tốt nhất để trẻ khuyết tật có cơ hội vươn lên thể hiện những khả năng của mình và tự tin, hòa nhập vào cộng đồng. Cạnh đó giáo dục hoà nhập còn giúp cho những trẻ bình thường học được cách quan tâm, giúp đỡ bạn bè và bồi dưỡng lòng nhân ái ở trẻ em. Từ đó ta có thể khẳng định giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật là mô hình giáo dục trẻ khuyết tật có hiệu quả nhất. 2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến * Thuận lợi: - Năm học 2018 - 2019 tôi được nhà trường phân công phụ trách lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi với tổng số học sinh là 35 cháu trong đó có một cháu khuyết tật chậm phát triển trí tuệ đó là cháu: Trịnh ngọc Thái. - Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, đặc biệt là sự chỉ đạo sát sao về chuyên môn của phòng giáo dục và đào tạo qua các buổi tập huấn chuyên đề trong đó có nội dung giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật trong trường mầm non. - Ban giám hiệu nhà trường là người đóng vai trò lãnh chỉ đạo tích cực mang tính hỗ trợ cao trong giáo dục hào nhập trẻ khuyết tật, nhà trường có đầy đủ hồ sơ theo dõi trẻ khuyết tật, quan tâm đầu tư mua sắm trang thiết bị giáo dục, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giảng dạy- học tập phù hợp với trẻ như: Hình ảnh trực quan, ti vi, đầu đĩa...dành để dạy các tiết học cho cả lớp và các tiết học cá nhân cho trẻ khuyết tật, qua đó giáo viên có thể ôn tập và củng cố lại kiến thức, kỹ năng mà trẻ chưa nắm được ở các hoạt động trong ngày. - Nhà trường cùng với giáo viên có trẻ khuyết tật thường xuyên tiếp xúc ,trao đổi với các bậc cha mẹ trẻ khuyết tật để phối hợp trong công tác chăm sóc trẻ được tốt hơn. * Khó khăn: Thực trạng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật của ngành học Mầm non nói chung và việc giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật nói riêng ở trường Mầm non Thành Kim vẫn còn nhiều những hạn chế: Đội ngũ giáo viên chưa được đào tạo chuyên sâu về giáo dục trẻ khuyết tật và làm thế nào để trẻ khuyết tật hoà nhập ở trường mầm non được tốt, một số giáo viên nhận thức chưa đầy đủ về công tác chăm sóc trẻ khuyết tật, đặc biệt là GDHN trẻ khuyết tật trí tuệ, việc trẻ khuyết tật vào lớp hoà nhập cần có thời gian để quan tâm chăm sóc giáo dục trẻ do đó cũng phần nào có ảnh hưởng đến việc chăm sọc giáo dục chung cả lớp. Tài liệu phục vụ cho khuyết tật còn rất ít, công cụ để theo dõi đánh giá sự tiến bộ của trẻ chủ yếu giáo viên tự làm Mặt khác trên thực tế nhiều phụ huynh kể cả gia đình có trẻ bị khuyết tật chưa nhận thức đầy đủ về giáo dục trẻ khuyết tật nói chung và giáo dục hòa nhập nói riêng nên chưa tích cực đưa con đến lớp, đa số phụ huynh làm nông nghiệp, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên ít có thời gian quan tâm đến trẻ. Cạnh đó, một số phụ huynh của trẻ khuyết tật còn có tâm lý e ngại, giấu diếm bệnh tật của con em mình, chưa mạnh dạn phối hợp với giáo viên để thống nhất biện pháp chăm sóc, giáo dục trẻ. Phụ huynh chưa mạnh dạn nói ra những đặc điểm của trẻ nên chúng tôi chưa có sự hiểu biết toàn diện về tâm lý, nhận thức...của trẻ khuyết tật nhiều phụ huynh không nghĩ đến việc chạy chữa hay khắc phục hậu quả khuyết tật cho con em mình, số trẻ trong lớp chưa được giảm theo quy định. Vì vậy cúng có ảnh hưởng đến thời gian gần gũi, chăm sóc cho trẻ khuyết tật. Trang thiết bị, đồ dùng dạy học đặc thù hỗ trợ cho trẻ khuyết rật trí tuệ học tập chưa có. Bản thân trẻ chưa biết hòa nhập cùng các bạn tất cả các khả năng của trẻ còn quá thấp so với những bạn bình thường, ý thức của trẻ phát triển chậm. * Kết quả thực trạng: Công tác GDHN cho trẻ khuyết tật ở trường mầm non là một vấn đề không còn là mới mẻ, đã được triển khai trong các đợt học chuyên đề, hầu hết các giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác này. Tuy nhiên để đánh giá chung tôi thấy thực tế việc giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật chưa thực sự được chú trọng theo đúng nghĩa và tầm quan trọng của nó đặc biệt khi được cọ sát với môi trường học tập, cùng với các hình thức tổ chức tiết học của cháu Thái trẻ khuyết tật trí tuệ tại lớp tôi, nhìn vào các khả năng cơ bản ở tất cả các thời điểm 1 ngày tôi thấy cháu còn gặp nhiều hạn chế nên việc giáo dục hoà nhập chưa thực sự mang lại hiệu quả thiết thực. Cụ thể được thể hiện ở bảng khảo sát đầu vào của cháu như sau: STT KQ của trẻ ND Khảo sát Mức độ đạt được của trẻ KTTT Tốt Khá Trung bình Yếu 1 Khả năng nhận thức 0 0 0 x 2 Khả năng giao tiếp 0 0 x 0 3 Khả năng tự phục vụ 0 0 0 x 4 Khả năng hòa nhập cùng các bạn 0 0 0 x Đứng trước những khó khăn trên đã đặt ra cho tôi nhiều lo lắng và suy nghĩ phải dùng những phương pháp, biện pháp nào để giúp trẻ khuyết tật trí tuệ có thể hòa nhập được với các bạn trong lớp và trẻ có hứng thú tham gia vào các hoạt động cùng cô, cùng các bạn để từ đó giúp bản thân tôi nói riêng và các bạn đồng nghiệp nói chung có thêm thật nhiều kinh nghiệm trong công tác chăm sóc, giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật. 2.3. Các biện pháp giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trí tuệ đạt hiệu quả: Hòa nhập không chỉ đơn giản là đưa trẻ khuyết tật vào trong một chương trình giáo dục chung với trẻ bình thường, mà phải thiết lập những bước rõ ràng để đảm bảo cho trẻ khuyết tật được tham gia hoà nhập một cách đầy đủ và tích cực trong những hoạt động trong ngày của trẻ. Việc thiết lập những bước rõ ràng là vai trò của giáo viên, chính vì thế mà tôi đã dựa trên cơ sở phân tích những đặc điểm phát triển của cháu Thái lớp tôi, qua thực trạng và điều kiện thực tế của nhà trường, tôi đã tìm ra được một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục hòa nhập trẻ 5 -6 tuổi khuyết tật trí tuệ ở trường Mầm non như sau: 2.3.1. Lập kế hoạch giáo dục theo dõi, đánh giá sự tiến bộ của trẻ khuyết tật Để có thể xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ khuyết tật trí tuệ của lớp mình, việc đầu tiên tôi xác định mức độ chức năng hiện tại của chaus Thái hay nói cách khác, tôi đi sâu vào tìm hiểu tình trạng ban đầu của cháu, đây là một việc làm bắt buộc trong giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật. Có nhiều công cụ để đánh giá tình trạng ban đầu, đối với trẻ khuyết tật trí tuệ trước tiên tôi thu thập những thông tin chung như: Đặc điểm cá nhân, mức độ khuyết tật và thông tin về sự phát triển của cháu, quan sát, đánh giá các lĩnh vực phát triển của cháu như: Thông qua vận động thô; vận động tinh; giao tiếp; nhận thức và kĩ năng cá nhân - xã hội...dựa vào các lĩnh vực phát triển sau: - Phát triển thể chất: Cháu Thái vẫn có khả năng thực hiện các vận động thô: đi, chạy, nhảyvà thực hiện một số vận động tinh như: Sờ mó, cầm nắm; tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe vẫn bình thường - Kỹ năng tự phục vụ (ăn, uống, vệ sinh...) Cháu Thái vẫn tham gia sinh hoạt như các bạn khác, tuy nhiên cháu chậm chạp hơn. - Phát triển kỹ năng nhận thức: Đây chính là điểm nhấn, là nguyên nhân chứng minh rằng cháu Thái bị khuyết tật trí tuệ. Vì thế khả năng nhận thức của cháu vô cùng hạn chế, cháu ngơ ngác trong mọi hoạt động về nhận thức. Có thể nói khi có tác động từ cô đến cháu đòi hỏi ở cháu sự tư duy để trả lời của cô cháu thờ ơ không quan tâm, hoặc mãi mãi cháu mới hiểu được một tý vấn đề. - Phát triển ngôn ngữ và kỹ năng giao tiếp: Cháu vẫn biết nói, biết giao tiếp với mọi người xung quanh, nhưng rất ít. Do trong giao tiếp cháu không hiểu được nghĩa của đối phương nên dần dần cháu ngại tiếp xúc - Phát triển kỹ năng xã hội: Cháu có khả năng tự lập nhưng kép kín bản thân. làm gì cũng chậm chạp. - Chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng: Cháu Thái bị khuyết tật trí tuệ, nhìn chung cháu chậm chạp hơn rất nhiều so với các bạn cùng trang lứa. Tuy nhiên vẫn có khả năng phục hồi chức năng phần nào nếu được chăm sóc, giáo dục hoà nhập nhiệt tình và đúng cách. Căn cứ vào hiện trạng cụ thể của cháu Thái, tôi thấy mình phải lập kế hoạch một cách cụ thể, bảo đảm tính liên tục, đảm bảo tính khả thi, vừa sức, phù hợp với khả năng và nhu cầu của trẻ. Hàng tuần tôi lập kế hoạch để dạy cho trẻ và hướng dẫn trẻ thực hiện, trong quá trình tổ chức các hoạt động, tôi luôn quan sát và theo dõi từng biểu hiện của trẻ, nếu trẻ chưa thực hiện được trong ngày, trong tuần đó thì tôi tiếp tục đưa kế hoạch đó vào tuần sau và tìm ra những phương pháp hướng dẫn để trẻ thực hiện tốt hơn. Mặt khác, tôi lập sổ theo dõi trẻ trong suốt quá trình trẻ học tại lớp theo mẫu gồm các nội dung như sau: Xây dựng kế hoạch giáo dục trẻ khuyết tật hòa nhập cho cả năm học: Xây dựng kế hoạch giáo dục tháng/chủ đề: Ví dụ: Kế hoạch giáo dục trẻ khuyết tật hòa nhập năm học 2018 - 2019 Họ tên trẻ: Trịnh Ngọc Thái: Lớp mẫu giáo 5-6 tuổi C Giáo viên phụ trách: Lê Ánh Tuyết Những đặc điểm chính của trẻ: Điểm mạnh: Về thể chất: Trẻ vẫn đi, chạy, nhảy được nhưng so với độ tuổi thì yếu hơn so với các bạn khác Về các kỹ năng: Trong sinh hoạt hàng ngày trẻ vẫn có thể tự mặc quần áo và tự lấy đồ dùng cá nhân. Ngôn ngữ, giao tiếp và hành vi: Thính giác của trẻ nghe rõ bình thường vì vậy trẻ vẫn nói và diễn đạt được điều mình muốn của nhu cầu bản thân. Khó Khăn: Về thể chất: Trẻ đi chạy chậm cháp và khó khăn hơn trẻ khác, không thực hiện được các loại vận động phức tạp Về nhận thức: Đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ đặc điểm cơ bản đó là nhận thức chậm phát triển, không có khả năng học tập, rất mau quên, trẻ thường hay lơ đãng không chú ý nghe cô dạy Về ngôn ngữ giao tiếp: Trẻ còn gặp khó khăn khi phát âm các từ khó, do ngôn ngữ bị hạn chế nên trẻ khó nhận ra mối quan hệ của các sự vật hiện tượng xung quanh. Về các kỹ năng hàng ngày: còn gặp rất nhiều khó khăn như: chưa biết rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, chưa biết đánh rằng hàng ngày... Nhu cầu của trẻ: Tôi thường xuyên quan tâm sát sao tới trẻ, tập cho cháu có thói quen rửa tay trước khi ăn, tập một số thói quen cơ bản trong sinh hoạt như: tự xúc cơm ăn, tự lấy nước uống khi khát, tự mặc quần áo..., Dạy trẻ cách phát âm các câu, từ để thể hiện được các nhu cầu, mong muốn của bản thân trong giao tiếp. Tôi luôn động viên, khuyến khích trẻ, cho trẻ tham gia tất cả các hoạt động trong lớp giúp trẻ tự tin vào mình. B. Kế hoạch giáo dục cá nhân: *Mục tiêu năm học: 1. Phát triển thể chất: Vận động thô: Tôi thường xuyên gần gũi trẻ quan sát nhắc nhở, động viên, khích lệ cháu thực hiện và tham gia các vận động như: Đi, chạy, nhảy và các bài tập vận động khác cùng với các bạn. Vận động tinh: Tôi hướng dẫn, động viên hoặc dùng những lời chỉ dẫn ngắn gọn, dễ hiểu để hướng dẫn cháu thực hiện được các hoạt động như: tô màu, vẽ, nặn 2. Kỹ năng tự phục vụ: Tôi làm mẫu cho cháu xem, dẫn trẻ đến chỗ cất đồ dùng, đồ chơi, hướng dấn cháu lấy và cất đồ dùng một cách gọn gàng và đúng quy định. Khi ăn cơm tôi thường gần gũi động viên cháu ăn hết xuất và trò chuyện cho cháu biết về nhiều loại thức ăn khác nhau, cần phải ăn kết hợp nhiều loại thức ăn mới đảm bảo đủ chất dinh dưỡng cơ thể mới khoẻ mạnh được Dạy trẻ ở mọi lúc mọi nơi: Khi đón trả trẻ, sau giờ học giờ ngủ trưa. 3. Phát triển ngôn ngữ và kỹ năng giao tiếp: Cô thường xuyên gần gũi với trẻ, trò chuyện với trẻ khuyết tật bằng ngôn ngữ hoặc câu nói đơn giản để kích thích trẻ giao tiếp với cô, với bạn. 4.Phát triển khả năng nhận thức: Đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ đặc điểm của trẻ là rất mau quên, cháu thường hay lơ đãng không chú ý nghe cô dạy. vì thế tôi phải chú ý nhắc nhở cháu nhiều lần và dùng những lời nói ngắn, đơn giản, dễ hiểu và gần gũi để dạy trẻ nói. Sau đó tăng dần mức độ khó của câu, từ. 5. Phát triển kỹ năng xã hội: Trẻ thực hiện một số yêu cầu đơn giản của cô đề ra, tập cho trẻ thói quen đi vệ sinh đúng nơi quy định, biết gọi cô khi quần áo bị bẩn, biết tránh xa những nơi không an toàn và không tự ý đi ra ngoài khi cô không cho phép

Trẻ Chậm Phát Triển: Những Điều Mà Các Phụ Huynh Cần Biết

Không có gì đau lòng hơn khi chứng kiến con gặp tình trạng trẻ chậm phát triển, con không nói chuyện và giao tiếp với cha mẹ, hay con không thể hoàn thành các nhiệm vụ đơn giản.

Vậy làm cách nào để cải thiện tình trạng trẻ chậm phát triển cho con là câu hỏi của rất nhiều bậc phụ huynh. Bài viết sau đây sẽ cung cấp tất cả các thông tin về nguyên nhân, dấu hiệu của trẻ chậm phát triển và cách điều trị can thiệp để cải thiện tình trạng này.

Trẻ chậm phát triển là gì?

Trẻ chậm phát triển là tình trạng không đạt được các mốc phát triển thông thường. Chậm phát triển ở trẻ có thể biểu hiện qua các hình thức như trẻ chậm phát triển ngôn ngữ, trẻ chậm phát triển hành vi và trẻ chậm phát triển nhận thức.

Trẻ chậm phát triển ngôn ngữ

Trẻ chậm nói

Chậm nói là khả năng nói của trẻ chậm hơn so với mốc phát triển thông thường. Mỗi trẻ là một là cá thể độc lập, cho nên thời điểm trẻ học nói là khác nhau nhưng thường trẻ sẽ bắt đầu bi bô nói từ 18 tháng tuổi. Trẻ sau 2 tuổi chưa nói được từ nào bị xem là trẻ chậm nói.

Trẻ tự kỷ

Trẻ tự kỷ không đáp ứng được các nhu cầu về giao tiếp trong cuộc sống thường ngày do trẻ chậm phát triển ngôn ngữ. Trẻ mắc chứng tự kỷ chỉ có thể lặp đi lặp lại một số từ đơn giản hoặc lặp lại lời nói của người khác. Trẻ tự kỷ thường gặp khó khăn với trò chơi giàu trí tưởng tượng và phát triển biểu tượng thành ngôn ngữ.

Trẻ chậm phát triển hành vi

Trẻ tăng động

Trẻ tăng động giảm chú ý thường chạy nhảy vận động không ngừng, không biết mệt mỏi. Trẻ hay leo trèo như: trèo cây, trèo lên lan can đánh đu, trượt trên tay vịn cầu thang và bất chấp tất cả các nguy hiểm nhiều khi dẫn đến tình trạng bầm tím, gãy chân, gãy tay do ngã, do va đập. Trẻ hay cáu gắt, hay để quên đồ hoặc mất đồ…

Trẻ tự kỷ

Trẻ tự kỷ thường có những hành vi bất thường như chống lại việc học và thực hành hoạt động mới hoặc trẻ có những hành vi có tính rập khuôn, lặp đi lặp lại ( VD: vung vẩy hai cánh tay, hoặc đưa bàn tay lên gần mặt rồi xoắn vặn hoặc bật bật các ngón tay…), trẻ thường xếp đồ chơi, vật dụng thành hàng dài và rất khó chịu nếu như trật tự này bị thay đổi…

Trẻ chậm phát triển nhận thức

Trẻ chậm phát triển nhận thức là một khiếm khuyết của sự phát triển trí tuệ. Trẻ có chỉ số IQ thấp, khả năng tư duy kém và hạn chế về các kỹ năng thích ứng với xã hội. Những khuyết tật này thường xuất hiện trước năm 18 tuổi.

Nguyên nhân trẻ chậm phát triển

Các yếu tố bệnh lý ảnh hưởng đến phát triển não bộ

Có rất nhiều yếu tố bệnh lý là nguyên nhân trẻ chậm phát triển gây ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ như:

+ Bệnh viêm màng não (Meningitis): Là bệnh do nhiễm trùng gây lên tình trạng viêm màng bao phủ não bộ hoặc tủy sống.

+ Bệnh viêm não (Encephalitis): Là tình trạng viêm tại mô não, thường là do nhiễm trùng gây lên.

+ Áp xe não: Một tình trạng nhiễm trùng có bọc mủ nằm trong hộp sọ ở vị trí ngoài màng cứng, dưới màng cứng và trong não mà thường gây ra bởi vi khuẩn.

+ Chấn thương sọ não: là tình trạng người bệnh bị sang chấn vào đầu gây tổn thương hộp sọ và các cấu tạo khác bên trong hộp sọ.

+ U não.

+ Não úng thủy: là một bệnh lý riêng biệt mà đúng hơn đó là hậu quả của một nhóm các bệnh lý khác nhau nhưng cùng có chung một đặc trưng là suy giảm lưu thông và/hoặc hấp thu dịch não tủy

+ Động kinh: là một chứng bệnh hệ thần kinh do xáo trộn lặp đi lặp lại của một số nơron trong vỏ não[1][2] tạo nhiều triệu chứng rối loạn hệ thần kinh (các cơn động kinh) như co giật của bắp thịt, cắn lưỡi, sùi bọt mép, mắt trợn ngược, bất tỉnh, mất kiểm soát tiểu tiện, hoặc gây cảm giác lạ

Trẻ chậm phát triển do di truyền

Các yếu di truyền là cơ sở vật chất cho sự hình thành và phát triển của trẻ. Các yếu tố bẩm sinh di truyền như đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh, cấu tạo của não, cấu tạo và hoạt động của các giác quan… Những yếu tố này do bố mẹ truyền lại hoặc tự nảy sinh do biến dị .

Bệnh lý của mẹ khi mang thai

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Bệnh viện Nhi Los Angeles (Hoa Kỳ) cho biết trong khi mang thai người phụ nữ gặp phải tình trạng như nhiễm trùng, căng thẳng, ốm đau hay mắc bệnh dị ứng, nhiễm virus, bệnh béo phì,…đều gây ra ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển não bộ của thai nhi

Khiếm khuyết não bộ của thai trong thời kỳ mang thai

Nếu trong thời kỳ mang thai, người mẹ mắc một bệnh truyền nhiễm như viêm màng não hoặc bệnh sởi, những bệnh truyền nhiễm trên có thể gây ra tình trạng tràn dịch màng não và gián tiếp dẫn đến trẻ chậm phát triển.

Khi mang thai, mẹ gặp phải tình trạng co giật sẽ ảnh hưởng đến cả mẹ và bé, nó làm hạn chế sự dẫn máu đến bào thai khiến em bé sinh ra phát triển kém hơn bình thường.

Trẻ chậm phát triển do môi trường

Môi trường sống ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của trẻ. Nếu môi trường sống sạch sẽ, không khí thoáng đãng, đủ ánh sáng thì sẽ tạo điều kiện tốt cho trẻ phát triển, ngược lại nếu môi trường sống không thuận lợi không chỉ ảnh hưởng đến phát triển của trẻ mà còn có thể là nguyên nhân gây ra một số bệnh như trẻ chậm phát triển.

Biểu hiện triệu chứng trẻ chậm phát triển

Dấu hiệu nhận biết trẻ chậm phát triển trí tuệ qua khả năng nhận thức

Dấu hiệu trẻ chậm phát triển dễ nhận biết đó là khả năng nhận thức của trẻ kém hơn bình thường, trẻ luôn ở trạng thái thụ động, không muốn nhận biết thế giới xung quanh, luôn tỏ ra thờ ơ, phản ứng chậm và đáp ứng chậm. Đối với những trẻ ở độ tuổi đi học, trẻ gặp khó khăn trong việc đếm số và ghi nhớ mặt chữ, trẻ không nhận biết được màu sắc.

Trong quá trình ghi nhớ sự việc của trẻ thường dễ bị phân tán, nhớ cái mới là quên cái cũ, nói trước quên sau, đôi khi không nhớ được những sự kiện đơn giản mới xảy ra vài phút trước.

Dấu hiệu nhận biết trẻ chậm phát triển trí tuệ qua biểu hiện vận động

Trẻ chậm phát triển hơn so với mốc phát triển bình thường, trẻ không thể cầm nắm đồ vật và gặp khó khăn trong việc lăn, bò ngồi sau 12 tháng. Một số trẻ có sự kết hợp vận động giữa tay – chân – miệng kém.

Dấu hiệu nhận biết trẻ chậm phát triển qua ngôn ngữ giao tiếp

Trẻ chậm nói so với mốc phát triển thông thường. Trẻ thường khó khăn trong việc ghép nối các từ lại với nhau để nói thành một câu hoàn chỉnh. Trẻ không thể nói hoặc truyền đạt bằng cử chỉ khi muốn một vật gì đó. Khi gọi tên trẻ hoặc đặt câu hỏi trẻ không đáp ứng lại. Trẻ thường có xu hướng chơi một mình, ít tiếp xúc với mọi người xung quanh.

Cách phòng ngừa trẻ chậm phát triển

Chế độ dinh dưỡng cho trẻ

Theo nghiên cứu năm 2010 của ” The Journal of Nutrition” cho biết trẻ 2 tuổi bị suy dinh dưỡng có khoảng 16% trẻ phát triển chậm hơn so với mốc tuổi. Ủy ban Thường vụ Liên hiệp quốc về dinh dưỡng cho rằng, suy dinh dưỡng làm ảnh hưởng đến kết quả học tập và giảm khả năng phát triển trí tuệ ở trẻ. Do đó, chế độ dinh dưỡng hợp lý trong những năm đầu của trẻ là điều rất cần thiết.

Nuôi dạy – chăm sóc trẻ

Chế độ nuôi dạy – chăm sóc ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển của trẻ. Việc trẻ không nhận được sự quan tâm và chăm sóc đầy đủ sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng nói, phát triển ngôn ngữ, nhận thức cũng như hành vi của trẻ. Trong quá trình phát triển của trẻ rất cần sự quan tâm và chăm sóc của các bậc phụ huynh.

Môi trường sinh hoạt của trẻ

Môi trường sống là điều kiện cần thiết cho quá trình hình thành và phát triển ở trẻ. Môi trường chăm sóc tốt sẽ giúp trẻ phát triển về ngôn ngữ, trí tuệ, tư duy và hành động. Trong quá trình phát triển môi trường xung quanh giúp trẻ có được những mối quan hệ tốt với bạn bè, thầy cô,… nó khiến trẻ vui vẻ hơn, học tập tốt hơn là cách phòng tránh trẻ chậm phát triển.

Chế độ dinh dưỡng cho trẻ chậm phát triển

Tăng chất béo Omega 3

Chất béo Omega 3 là chất cần thiết trong quá trình phát triển và chế độ dinh dưỡng cho trẻ chậm phát triển. Bổ sung đầy đủ omega 3 trong quá trình phát triển giúp cải thiện chất lượng giấc ngủ, giúp não bộ phát triển tốt và cải thiện thị lực cho trẻ. Ngoài ra, nó còn có tác dụng hỗ trợ điều trị chứng trầm cảm, giúp giảm các triệu chứng tăng động giảm chú ý ở trẻ nhỏ, đồng thời cải thiện các khả năng suy nghĩ, ghi nhớ, tiếp thu,…

Bổ sung đầy đủ vitamin và khoáng chất cho trẻ

Vitamin và khoáng chất chiếm tỉ lệ rất thấp trong cơ thể nhưng nó lại là yếu tố cần thiết cho quá trình phát triển của não bộ và thể chất của trẻ.

Ví dụ như thiếu vitamin A gây khô mắt, có thể gây mù, trẻ chậm lớn, hệ miễn dịch suy giảm dẫn đến trẻ dễ bị nhiễm trùng. Để trẻ có thể phát triển tốt và có đôi mắt sáng mẹ nên bổ sung các thực phẩm giàu vitamin A như cà rốt, cà chua, bí đỏ, sữa, kem, bơ, trứng,…

Vitamin E có thể hạn chế sinh những nhân tố có hại cho tế bào, nó có vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch, quá trình sửa chữa ADN và quá trình trao đổi chất.

Để trẻ có thể phát triển toàn diện, mẹ nên bổ sung đầy đủ các vitamin và khoáng chất cho trẻ vào chế độ ăn.

Hạn chế đồ ăn nhanh, đồ ăn chế biến sẵn, thức uống có gas

Một nghiên cứu khoa học được đăng tải trên tạp chí trực tuyến Plos One cho thấy caffeine trong đồ uống có gas có thể làm chậm quá trình phát triển của não bộ và giảm chất lượng giấc ngủ khi sử dụng quá nhiều.

Nghiên cứu của đại học bang Ohio cho rằng trẻ ăn đồ ăn nhanh thường xuyên sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển trí não của trẻ.

Phương pháp điều trị trẻ chậm phát triển

Trị liệu cho trẻ chậm phát triển

– Liệu pháp vận động: Sử dụng các bài tập vận động giúp trẻ giảm các biểu hiện vận động bất thường, tăng khả năng vận động bình thường.

– Liệu pháp hoạt động: Sử dụng các bài tập hoạt động trị liệu, các trò chơi giúp trẻ có thể thực hiện được các hoạt động theo sự phát triển của lứa tuổi.

– Liệu pháp ngôn ngữ: Giúp trẻ kiểm soát hoạt động của lưỡi, miệng và tập phát âm . Ngôn ngữ trị liệu cần được tiến hành trước tuổi trẻ đến trường và tiếp tục trong suốt thời gian đi học.

Giáo dục trẻ chậm phát triển

Việc chăm sóc cho trẻ chậm phát triển là một quá trình lâu dài, cần phải có một kế hoạch giáo dục cụ thể. Ba mẹ, gia đình cũng nên dành thời gian quan tâm tới trẻ. Khi trẻ có các biểu hiện bất thường các bậc phụ huynh nên đưa trẻ đến các cơ sở chuyên khoa nhi đề kiểm tra chính xác và có phương pháp điều trị trẻ chậm phát triển kịp thời.

Tùy theo tình trạng của trẻ, sẽ có kế hoạch giáo dục phù hợp với khả năng nhận thức và hành vi của trẻ. Thông qua giáo dục sẽ giúp trẻ tăng khả năng giao tiếp,tăng khả năng hòa nhập vào cộng đồng, tăng cơ hội được đi học như những trẻ bình thường khác.

Điều trị trẻ chậm phát triển bằng liệu pháp tâm lý

Những trẻ chậm phát triển thường có trạng thái tâm lý buồn chán, có cảm giác lo âu và sợ hãi mà không có lý do. Các bậc phụ huynh nên phân biệt được đâu là những dấu hiệu bình thường đâu là dấu hiệu của bệnh tâm lý. Tình trạng trên diễn ra thường xuyên và kéo dài thì cha mẹ nên đưa trẻ đến các chuyên gia tư vấn tâm lý để xác định về tình trạng bệnh của con em mình.

Khi kiểm tra tình trạng bệnh của trẻ các chuyên gia tư vấn tâm lý sẽ viết ra kế hoạch điều trị can thiệp cho bé. Trong kế hoạch sẽ có một hệ thống liên kết giữa giáo viên – nhân viên xã hội và bố mẹ để quản giáo hành vi của trẻ.

Vương Não Khang hỗ trợ điều trị cho trẻ chậm phát triển

Não bộ có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển về ngôn ngữ, hành vi và nhận thức của trẻ. Do đó, với việc trẻ chậm nói, rối loạn về ngôn ngữ, mất tập trung, hiếu động quá mức thì ngoài việc điều trị can thiệp tới trẻ chậm phát triển thì cha mẹ nên bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng đặc biệt là các loại vitamin và các nguyên tố vi lượng cần thiết cho sự phát triển của não bộ.

Việc sử dụng sản phẩm Vương Não Khang có nguồn gốc từ thiên nhiên, với các thành phần: Cao Thăng Ma, cao Đinh Lăng, cao Bạch Quả, vitamin B6, Taurin, … là các dưỡng chất cần thiết cho sự phát triển của não bộ, tăng cường khả năng tập trung, phản xạ, ngôn ngữ giao tiếp cho trẻ.

Vương Não Khang là sản phẩm duy nhất được nghiên cứu lâm sàng tại bệnh viện Nhi Trung Ương trong việc hỗ trợ điều trị ở một số lĩnh vực như cải thiện rối loạn giấc ngủ, hành vi tăng động, nâng cao khả năng giao tiếp, nhận thức, tiếp thu, tăng khả năng tập trung học tập của trẻ, đảm bảo an toàn không gây tác dụng phụ khi dùng lâu dài.

Nếu còn vấn đề gì THẮC MẮC, phụ huynh có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 0987 126 085 để được TƯ VẤN và HỖ TRỢ miễn phí.

3 3 lý do nên chọn Vương Não Khang

Thực phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh. *Lưu ý: tác dụng của thuốc/ phương pháp/ sản phẩm có thể thay đổi tùy theo tình trạng thể chất mỗi nguời

Bạn đang xem bài viết Giáo Dục Đặc Biệt Cho Trẻ Chậm Phát Triển Trí Tuệ (Cpttt) trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!