Xem Nhiều 1/2023 #️ Hậu Giang: Nâng Cao Y Đức Cho Đội Ngũ Thầy Thuốc # Top 5 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Hậu Giang: Nâng Cao Y Đức Cho Đội Ngũ Thầy Thuốc # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Hậu Giang: Nâng Cao Y Đức Cho Đội Ngũ Thầy Thuốc mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Song, trên bức tranh tổng thể đó vẫn còn một bộ phận nhỏ cán bộ y tế xuống cấp về đạo đức, vi phạm y đức như: kê đơn thuốc không đúng phác đồ điều trị; móc nối bệnh nhân về phòng khám tư; thiếu tôn trọng bệnh nhân và thân nhân người bệnh; gây khó khăn, có thái độ giao tiếp ứng xử thiếu hòa nhã, lơ là, thờ ơ với bệnh nhân, nhất là bệnh nhân nghèo. Một số trường hợp do nhân viên y tế thiếu trách nhiệm, chuyên môn kém, không chịu đầu tư, học tập củng cố kiến thức, khám bệnh qua loa, sơ sài, có tính chủ quan đã để xảy ra sai sót làm tổn hại đến sức khỏe, tính mạng người bệnh, gây bức xúc cho bệnh nhân, thân nhân người bệnh và gây bất bình trong nhân dân, làm ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín và giá trị cao đẹp của người thầy thuốc. Bên cạnh đó do đời sống của cán bộ y tế còn gặp nhiều khó khăn; chế độ chính sách đãi ngộ chưa tốt, mặt trái của kinh tế thị trường có những tác động tiêu cực đến một bộ phận cán bộ y tế.

Vì vậy, để nâng cao y đức cho đội ngũ thầy thuốc tỉnh Hậu Giang khẳng định sẽ tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục. Cụ thể, đối với nhân viên y tế: Đổi mới toàn diện nhận thức Bệnh nhân là khách hàng, là đối tượng phục vụ, là nguồn thu nhập chính đáng cho bản thân. Như khẳng định của Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến: “Cán bộ y tế phải coi người bệnh là trung tâm, trọng tâm. Nếu không có bệnh nhân cũng sẽ không không có thầy thuốc”. Bên cạnh đó giáo dục để mỗi nhân viên y tế am hiểu một cách sâu sắc về ý nghĩa cao quý của nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn, có lòng yêu ngành, yêu nghề, phải có tinh thần, đạo đức, trách nhiệm và tình yêu thương chia sẻ với nỗi đau của người bệnh “Lương y như từ mẫu”. Mỗi nhân viên y tế phải có tinh thần học hỏi nâng cao tay nghề, trau dồi đạo đức, học tập chuyên môn, là người thầy thuốc phải “vừa hồng vừa chuyên”. Đối với người bệnh và người dân, ngành Y tế Hậu Giang tập trung tuyên truyền sâu rộng những kiến thức về phòng và chữa bệnh tật, những chế độ chính sách xã hội, Luật bảo hiểm y tế, quyền lợi và nghĩa vụ khi sử dụng dịch vụ y tế, để người dân hiểu, cảm thông, chia sẻ và hợp tác với nhân viên y tế khi tham gia khám chữa bệnh.

Hai là, chú trọng chăm lo đời sống vật chất va tinh thần cho cán bộ, viên chức: Chăm lo tốt đời sống của cán bộ công nhân viên về tinh thần và vật chất, để họ yên tâm tận tình phục vụ người bệnh. Trong 5 năm tới, ngành Y tế cần tập trung giải quyết các vấn đề như: an ninh trật tự trong môi trường bệnh viện; chăm lo cho những người bị phơi nhiễm, bị bệnh nghề nghiệp, quan tâm đến nhà công vụ, nhà ở cho cán bộ công chức co thu nhập thấp, tạo nguồn thu chính đáng để tăng thêm thu nhập ngoài lương, chế độ phụ cấp, bồi dưỡng, nhất là đối với nhân viên y tế công tác tại cơ sở y tế vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa; đồng thời thực hiện kịp thời chế độ khuyến khích, thu hút đối với nguồn nhân lực chất lượng cao.

Ba là, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn. Theo đó, Sở Y tế Hậu Giang rà soát lại việc phân tuyến điều trị tại từng cơ sở khám – chữa bệnh. Tập trung phát triển một số kỹ thuật mới và hiện đại tại các cơ sở điều trị, thu hút người bệnh giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật để phát huy trí tuệ của toàn ngành. Xây dựng bệnh viện vệ tinh, khoa vệ tinh tại một số bệnh viện trong tỉnh, đăng ký chuyển giao các kỹ thuật hiện đại, những tiến bộ khoa học, đào tạo cán bộ có trình độ chuyên môn sâu, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và chuẩn bị cho quá trình hội nhập quốc tế.

Bốn là, tăng cường đầu tư và công tác quản lý Nhà nước. Thực hiện đa dạng hóa các dịch vụ khám chữa bệnh. Huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để cùng đầu tư trang bị, kỹ thuật hiện đại, tiên tiến, bằng nhiều hình thức xã hội hóa, mở rộng liên doanh liên kết, chú trọng phát triển các bệnh viện tư nhân. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện, xây dựng cải tiến các quy trình, quy định trong quản lý chuyên môn nhằm loại bỏ các thủ tục không cần thiết, rút ngắn thời gian chờ khám bệnh. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tại các cơ sở khám chữa bệnh, kịp thời khen thưởng, động viên gương người tốt, những tấm gương tận tụy phục vụ người bệnh, đồng thời xử lý nghiêm minh những cá nhân, tập thể biểu hiện thiếu tinh thần, trách nhiệm và gây phiền hà cho người bệnh, ảnh hưởng đến uy tín của ngành./.

M.P

Giải Pháp Nâng Cao Y Đức Của Người Thầy Thuốc?

Chia sẻ:

Đạo đức nghề Y luôn được xã hội coi trọng. Trong xã hội ngày nay, do nhiều nguyên nhân, Y đức người Thầy thuốc có sự sa sút nghiêm trọng. Vậy làm gì để “Nâng cao Y đức, đấu tranh đẩy lùi tiêu cực trong hoạt động khám, chữa bệnh cho nhân dân”.

Nâng cao y đức, đấu tranh đẩy lùi tiêu cực.Đây việc làm vừa thường xuyên, vừa cấp bách của ngành Y nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khám, chữa bệnh, củng cố và lấy lại niềm tin của nhân dân đối với người thầy thuốc.

Một hệ thống chăm sóc sức khỏe tốt sẽ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, chẳng hạn lương tâm của Điều dưỡng viên, Bác sĩ, Dược sĩ,ý thức của bệnh nhân… nhưng trong bối cảnh hiện ngành Y tế nước ta hiện nay, yếu tố thu nhập của cán bộ ngành Y tế đóng vai trò vô cùng quan trọng.

Chúng ta không thể phủ nhận rằng khi đồng lương cao thì chất lượng phục vụ cũng sẽ cao hơn. Thế nhưng, để giải bài toán lương của nhân viên Y tế, thì không chỉ phải bắt bệnh nhân phải è cổ ra đóng viện phí.

Vì sao người dân nên đăng kí mua bảo hiểm Y tế?

Ở nước ta, việc để giảm đóng viện phí cho người bệnh thì người dân nên hiểu đúng chủ trương mua bảo hiểm Y tế của Nhà nước. Vì thế, việc mua thẻ bảo hiểm y tế toàn dân là điều nên làm mà không cần bàn cãi. Cứ tính toán thiệt hơn một số tiền nhỏ, nếu chẳng may gặp phải sự cố thì người bệnh sẽ phải chi trả gấp nhiều lần nếu đến bệnh viện mà không có bảo hiểm y tế.

Giải pháp tăng lương cho cán bộ Y tế?

Thiết nghĩ, để tăng lương cho , Điều dưỡng, Bác sĩ, Nhà nước có thể thực hiện một số giải pháp khác. Chẳng hạn, đánh thuế cao những loại hàng hóa có hại cho sức khỏe như thức ăn gây béo phì, thuốc lá, rượu bia, nước giải khát có gaz chứa nhiều đường… Tiền thuế thu được có thể giúp cải thiện đồng lương cho những người làm việc trong Ngành Y. Giải quyết được đồng lương thì sẽ giảm được nạn Bác sĩ kê toa ăn hoa hồng hay vừa cấp thuốc vừa chẩn bệnh.

Có nhiều loại bệnh mà bệnh nhân phải dùng thuốc cả đời, tuy nhiên, vì giá thuốc quá cao mà bệnh nhân bỏ nửa chừng khiến bệnh này sinh ra bệnh khác, thêm gánh nặng cho ngành y tế. Để tránh tình trạng bỏ ngang thuốc vì chi phí quá cao, nhà nước cần có những sách lược đúng đắn. Không nên nhập ào ạt những loại thuốc ngoại đắt tiền trong khi ngành dược trong nước có thể tự tin bào chế. Việc đấu thầu, đưa thuốc vào bệnh viện phải minh bạch, công khai.

Một điều vô cùng quan trọng khi dùng Dược phẩm thì Dược sĩ phải có trách nhiệm hướng dẫn người sử dụng phải nắm đủ thông tin về thuốc. Muốn vậy, hệ thống y tế của ta cần phải rạch ròi. Bác sĩ chỉ nên kê toa chứ không nên cấp thuốc, còn chỉ nên cấp thuốc theo toa chứ không nên tự cấp. Quy định này đã có trong luật nhưng vì quản lý chưa nghiêm nên tiêu cực cứ tái diễn và bệnh nhân là người chịu nhiều thiệt thòi nhất.

Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Thực Thi Công Vụ Của Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Cấp Cơ Sở Ở Tỉnh Hậu Giang

Muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi công vụ của cán bộ, công chức cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn), trước hết phải xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm. Đây là điều kiện tiên quyết và cũng là yêu cầu mang tính cấp thiết, bao trùm, có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng cán bộ, công chức và tạo cơ sở, nền tảng cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở cần phải thực hiện một cách có hệ thống và đảm bảo sự liên thông, gắn kết giữa các khâu: tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng cán bộ.

Tỉnh Hậu Giang sau hơn 11 năm thành lập, được sự quan tâm thường xuyên của cấp ủy, chính quyền các cấp, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị của cán bộ, công chức không ngừng được nâng lên. Hệ thống chính trị cấp cơ sở luôn được kiện toàn và ổn định. Đến nay, số cán bộ, công chức cấp xã có trình độ từ trung cấp trở lên, chiếm 89,29% tổng số cán bộ, công chức toàn tỉnh. Trong đó, cán bộ chủ chốt có trình độ chuyên môn đại học trở lên, chiếm 78,29% và trình độ cao cấp lý luận chính trị, chiếm 43,82%; cán bộ chuyên trách (trừ các chức danh bí thư, phó bí thư, chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND) có trình độ từ trung cấp trở lên về chuyên môn và lý luận chính trị, chiếm 79,38%; công chức cấp xã có 726/756 người có trình độ từ trung cấp trở lên về chuyên môn và lý luận chính trị, chiếm 96,03%. Đây là cơ sở quan trọng để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị ở địa phương, cơ sở tỉnh Hậu Giang thời gian qua.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác cán bộ ở cấp cơ sở của tỉnh Hậu Giang thời gian qua vẫn còn những hạn chế, bất cập. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ ở một số địa phương còn thấp và chưa đạt chuẩn so với yêu cầu. Việc bố trí sử dụng cán bộ chưa mang tính căn cơ, tình trạng đề bạt, bổ nhiệm cán bộ chưa đủ chuẩn, chưa đảm bảo tính kế thừa còn diễn ra ở nhiều đơn vị. Chưa có sự “ăn khớp” và phù hợp nhất định giữa vị trí, chức trách cán bộ được phân công so với chuyên môn, nghiệp vụ đã được đào tạo. Công tác bố trí, sử dụng cán bộ, công chức ở một số đơn vị cơ sở chưa đảm bảo tính kế thừa giữa các thế hệ cán bộ, công chức. Các điều kiện để cán bộ luân chuyển phát huy sở trường và vốn kiến thức sẵn có, nhằm vận dụng hiệu quả vào công tác trong thực tiễn ở cấp cơ sở chưa thực sự phù hợp. Các chế độ về tiền lương, phụ cấp, trợ cấp, thù lao… vẫn còn nhiều bất cập, chưa tương xứng với sức lao động của người cán bộ, công chức công tác ở cơ sở. Điều kiện, môi trường làm việc tại cơ sở không thu hút được đội ngũ cán bộ trẻ, có trình độ, năng lực thực sự từ cấp tỉnh, cấp huyện. Trong quy hoạch cán bộ mới chỉ quan tâm các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, chưa chú ý đến các chức danh khác. Công tác đánh giá cán bộ ở một số nơi còn qua loa, chiếu lệ. Công tác kiểm tra, giám sát cán bộ ở một số cấp ủy chưa thực sự nghiêm túc.

Những hạn chế, bất cập trên là một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng, hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở chưa cao, chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ. Để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong thời gian tới cần thực hiện tốt các giải pháp sau:

Một là, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tuyển chọn, tuyển dụng cán bộ. Đảm bảo nguyên tắc công khai, khách quan, công bằng, dân chủ và cạnh tranh trong tuyển dụng. Theo đó, thực hiện nghiêm túc, triệt để và hiệu quả Nghị định 112/2011/NĐ-CP ngày 5-12-2011 của Chính phủ và Thông tư 06/2012/TT-BNV ngày 30-10-2012 của Bộ Nội vụ trong việc công khai nhu cầu, số lượng và chức danh cần tuyển dụng; công khai điều kiện dự tuyển, thủ tục, quy trình tuyển dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người đều có cơ hội được dự tuyển. Qua đó, tạo nên sự bình đẳng trong thi tuyển, góp phần nâng cao chất lượng đầu vào của đội ngũ cán bộ, công chức.

Hai là, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng. Đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ theo nhu cầu công việc và đơn vị sử dụng cán bộ, công chức. Nội dung chuyên môn đào tạo, bồi dưỡng cần phải dựa trên nhu cầu và yêu cầu của chức danh, vị trí công tác nhằm đảm bảo sau quá trình đào tạo, bồi dưỡng, cán bộ, công chức cơ sở phải giải quyết tốt các nhiệm vụ cụ thể ở địa phương. Gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo, bồi dưỡng với công tác quy hoạch theo hướng “động” và “mở”. Việc quy hoạch cán bộ vào vị trí mới nhất thiết phải xem xét đến khả năng chuyên môn mà người cán bộ đó có thể đảm nhiệm tốt vị trí được quy hoạch. Sau khi quy hoạch, cần sớm tạo điều kiện cho người được quy hoạch đi đào tạo hoặc bồi dưỡng đúng với chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ ở vị trí mới.

Ba là, nâng cao hiệu quả bố trí, sử dụng cán bộ, công chức cấp cơ sở sau đào tạo. Việc bố trí, sử dụng cán bộ, công chức phải theo đúng với chuyên ngành, lĩnh vực chuyên môn được đào tạo, bồi dưỡng. Trong bố trí, sử dụng cán bộ, công chức phải kết hợp linh hoạt, hài hòa giữa cán bộ, công chức trẻ và cán bộ, công chức lớn tuổi.

Bốn là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác luân chuyển cán bộ. Để làm tốt khâu này, trước hết phải xuất phát từ yêu cầu của địa phương, cơ sở và phải đảm bảo tính ổn định của tổ chức bộ máy nơi đi và nơi đến. Việc lựa chọn cán bộ luân chuyển phải thận trọng, dựa trên trình độ chuyên môn nghiệp vụ và khả năng phù hợp với vị trí, nhiệm vụ mới được đảm trách. Công khai và có sự trao đổi, thống nhất chung giữa cơ quan có cán bộ được luân chuyển với nơi cán bộ được luân chuyển đến. Nâng cao vai trò của cấp ủy đảng trong công tác theo dõi, giáo dục, giúp đỡ cán bộ được luân chuyển đến hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Năm là, đổi mới công tác đánh giá cán bộ. Công tác đánh giá cần phải được tiến hành một cách toàn diện, thận trọng, khoa học, linh hoạt, phù hợp với thực tiễn tình hình ở từng địa phương, cơ sở. Xây dựng cơ chế liên đới trách nhiệm, người đánh giá phải chịu trách nhiệm về những nội dung nhận xét, đánh giá của mình đối với cán bộ được đánh giá. Rà soát, nghiên cứu hoàn thiện hệ thống tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức theo từng loại chức danh, công việc được đảm trách dựa trên Hướng dẫn số 15-HD/BTCTW ngày 5-11-2012 của Ban Tổ chức Trung ương và Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17-5-2011 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, từ các tiêu chí này sẽ là cơ sở để lượng hóa một số nội dung trong đánh giá, khắc phục những hạn chế đối với việc sử dụng phương pháp định tính trong đánh giá.

Sáu là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát năng lực chuyên môn và đạo đức, tác phong của cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn những hành vi sai lệch như: thiếu trách nhiệm, lạm dụng quyền lực cố ý làm sai; tạo điều kiện để người cán bộ, công chức chấn chỉnh hành vi, lề lối, tác phong làm việc, tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm; xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị cấp cơ sở trung thực, dân chủ, minh bạch và phục vụ nhân dân. Công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành thường xuyên và theo tiến độ thực hiện nhiệm vụ. Ban kiểm tra, giám sát phải là người có đủ trình độ, am hiểu lĩnh vực cần kiểm tra, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực và công minh trong nhận xét, đánh giá. Kiên quyết không đề cử và bầu vào Ban kiểm tra, giám sát những người yếu chuyên môn nghiệp vụ, “dĩ hòa vi quý” hoặc có tư tưởng định kiến, độc đoán, bè phái, lợi ích nhóm… làm ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác kiểm tra, đánh giá cán bộ.

Bảy là, nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách thu hút, đãi ngộ đối với cán bộ, công chức. Tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở không ngừng được học tập nâng cao trình độ, kỹ năng, nghiệp vụ lãnh đạo, quản lý. Từng bước xây dựng chế độ lương, khen thưởng, phụ cấp thỏa đáng và tương xứng với nhiệm vụ để người cán bộ cấp cơ sở yên tâm công tác. Có chế độ động viên, khen thưởng kịp thời những gương điển hình có thành tích tốt trong công tác.

Tóm lại, đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở không chỉ thực hiện chức năng lãnh đạo, quản lý và điều hành trực tiếp mọi mặt đời sống xã hội ở cơ sở, mà còn làm chức năng vận động quần chúng và triển khai thực hiện thắng lợi những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong thực tiễn ở cơ sở. Do đó, nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị đội ngũ cấp cơ sở là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và thường xuyên, qua đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà.

Vấn Đề Nâng Cao Đạo Đức Cách Mạng Cho Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên Ở Nước Ta Hiện Nay

Nói về vai trò của đạo đức cách mạng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là xây dựng đời sống ấm no và hạnh phúc cho nhân dân… Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người thấm nhuần đạo đức xã hội chủ nghĩa”(1) và “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa, Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(2). Sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa càng đi vào chiều sâu và triển khai trên diện rộng thì càng đòi hỏi phải phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên – bộ phận tiên tiến của xã hội trong việc nắm bắt thời cơ, vượt qua thử thách để giải quyết thành công những vấn đề mới mẻ do thực tiễn đặt ra. Chính vì vậy, cùng với việc nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ, phải chú trọng nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân cho cán bộ, đảng viên để những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức cách mạng trở thành yếu tố chủ đạo trong việc định hướng hoạt động của họ. Đây là một trong những vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu, quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.

Trong sự nghiệp cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã có những bước trưởng thành vượt bậc về nhiều mặt. Những thành tựu nổi bật của gần hai thập kỷ tiến hành công cuộc đổi mới gắn liền với tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Có thể nói rằng, tuyệt đại bộ phận cán bộ, đảng viên đã phát huy tốt vai trò của mình trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước; có bản lĩnh vững vàng, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội do Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn. Là những hạt nhân gương mẫu trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã thể hiện rõ ý thức vươn lên trong học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ học vấn, năng lực tư duy lý luận, trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Hầu hết cán bộ, đảng viên tuân thủ pháp luật Nhà nước, Điều lệ Đảng, nội quy, quy chế của cơ quan, tập thể. Tác phong, lối sống lành mạnh, sinh hoạt giản dị, gần gũi và chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là cán bộ, đảng viên ở cơ sở đã tạo được niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, cổ vũ nhân dân góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước. Nhiều cán bộ, đảng viên đã thực hiện nghiêm túc việc tự phê bình và phê bình với thái độ trung thực, chân thành, công khai để khắc phục cái sai, cái xấu, bảo vệ cái đúng, cái tốt; có ý thức tăng cường đoàn kết trong nội bộ và ngoài xã hội trên cơ sở quán triệt mục tiêu, nhiệm vụ của địa phương, đơn vị mình và do vậy, đã tạo nên động lực mạnh mẽ thúc đẩy tiến trình đổi mới, góp phần vào thành tựu chung của cả nước.

Trong phong trào thi đua yêu nước hiện nay, nhất là phong trào phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, phong trào “xoá đói giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa”, phong trào “toàn dân đoàn kết, xây dựng đời sống văn hoá mới”,… đã xuất hiện nhiều tấm gương cán bộ, đảng viên tiêu biểu, có sức thuyết phục, động viên quần chúng noi theo. Trong điều kiện kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế và xu thế toàn cầu hoá kinh tế, nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ, đảng viên trực tiếp đảm trách cương vị lãnh đạo và quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước đã chủ động thúc đẩy sự hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế theo tinh thần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo vệ độc lập, tự chủ, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp được tôi luyện trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội luôn giữ vững, phát huy phẩm chất đạo đức của mình. Sự lãnh đạo trực tiếp, thống nhất của Đảng, trách nhiệm quản lý của các cơ quan nhà nước, các đoàn thể nhân dân, nhất là các tổ chức cơ sở đảng và chính quyền địa phương thông qua công tác giáo dục, tổ chức, kiểm tra cán bộ, đảng viên đã phát huy những mặt tích cực, hạn chế đến mức thấp nhất những vi phạm pháp luật, đạo đức của cán bộ, đảng viên.

Trong những năm qua, công tác kiểm tra của Đảng và hiệu quả pháp luật trong quản lý xã hội đã được tăng cường một bước đáng kể. Đó thực sự là công cụ có hiệu quả trong đấu tranh chống tham nhũng, bệnh quan liêu, lãng phí, vô tổ chức, vô kỷ luật và có tác dụng giáo dục, định hướng đúng đắn hoạt động của cán bộ, đảng viên.

Ngoài ra, công tác giáo dục theo các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức cách mạng và tấm gương đạo đức mẫu mực của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các đợt sinh hoạt chính trị, các ngày lễ lớn của dân tộc và thông qua chương trình đào tạo trong hệ thống trường chính trị, trường ngành các cấp cũng được chú trọng. Điều đó góp phần nâng cao ý thức đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên nước ta đã giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng của mình, tỏ rõ bản lĩnh và xứng đáng với vai trò “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thực sự trung thành của nhân dân”, được tuyệt đại đa số nhân dân tin cậy.

Những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá – xã hội đã tạo tiền đề vật chất, tinh thần để tiếp tục củng cố và nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên với tính cách là chủ thể năng động, tích cực của sự phát triển xã hội nói chung và lĩnh vực đạo đức nói riêng.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực cơ bản nêu trên, đã xuất hiện “… sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong đó có cả cán bộ có chức, có quyền”(3). Tình trạng đó được biểu hiện ở các mặt sau:

– Giảm sút ý chí phấn đấu, phai nhạt lý tưởng và lòng tin vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng.

– Tệ nạn tham nhũng, hối lộ, tiêu xài phung phí, chạy theo các cám dỗ thấp hèn dưới nhiều hình thức của một số cán bộ, đảng viên đã gây ra những mất mát lớn về tài sản của Nhà nước và của nhân dân.

– Lối sống vị kỷ, thái độ gia trưởng trong lãnh đạo và quản lý cùng với tư tưởng cục bộ, bè phái, đố kỵ, địa phương chủ nghĩa, kèn cựa địa vị, “nói một đàng làm một nẻo”, “bằng mặt không bằng lòng”… của một số người, một số cấp uỷ và cơ quan lãnh đạo đã gây mất đoàn kết nội bộ, thậm chí có nơi còn nghiêm trọng và kéo dài.

– Tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình của một số tổ chức và cá nhân cán bộ, đảng viên còn kém do tư tưởng cầu an, ngại va chạm, muốn “hoà cả làng” để “tất cả cùng vui vẻ”.

– Không ít cán bộ, đảng viên đã lợi dụng địa vị, chức quyền của mình để làm giàu bất chính và bao che cho những hành vi làm ăn phi pháp (buôn lậu, làm hàng giả, hối lộ, tổ chức đánh bạc, cá độ, cho vay nặng lãi, kinh doanh các sản phẩm phản văn hoá…) để kiếm danh, kiếm lợi; sự chuyển hoá giữa quyền và tiền dưới hình thức dùng tiền để kiếm quyền và ngược lại diễn ra khá tinh vi và đang bào mòn những giá trị đích thực của nhân tính.

Tình trạng trên đã ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng và Nhà nước, làm giảm lòng tin của một bộ phận nhân dân vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Tình trạng trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là:

– Những tác động tiêu cực của quá trình thực hiện cơ chế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế đối với đạo đức.

– Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu cùng với thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch thông qua việc triển khai chiến lược “diễn biến hoà bình” đã gây tác động xấu đến tư tưởng, đạo đức của một số cán bộ, đảng viên.

– Trong một thời gian khá dài, một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tích cực, tự giác rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.

– Sự thiếu đồng bộ, chưa chặt chẽ của hệ thống pháp luật và các văn bản dưới luật đã tạo ra kẽ hở cho một số cán bộ, đảng viên kém phẩm chất lợi dụng để mưu cầu lợi ích cá nhân ích kỷ của mình. Sự lỏng lẻo trong công tác quản lý và những thiếu sót trong công tác cán bộ cũng ảnh hưởng đến việc tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên. Mặt khác, “Trong công tác xây dựng Đảng, bên cạnh những ưu điểm, đang nổi lên một số mặt yếu kém và khuyết điểm, nhất là khuyết điểm về công tác giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, chưa ngăn chặn và đẩy lùi được sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống”(4).

– Ở nhiều nơi, cơ chế nhân dân tham gia giám sát hoạt động của cán bộ, đảng viên chưa được ban hành bằng các văn bản cụ thể nên chưa phát huy được vai trò của nhân dân, của các tổ chức và đoàn thể chính trị – xã hội trong lĩnh vực này.

Nâng cao đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên là vấn đề vừa cấp bách, vừa cơ bản, lâu dài, có tác động trực tiếp và to lớn đến thành công của sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội. Trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay, như Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ: “Trước hết, phải tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân“(5). Điều đó đòi hỏi phải có phương hướng, giải pháp đồng bộ và triển khai có hiệu quả trong thực tế. Về mặt này, chúng ta cần lưu ý một số điểm chủ yếu sau:

Một là, kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng các quan hệ xã hội lành mạnh hướng đến việc tạo môi trường cho cán bộ, đảng viên rèn luyện, bồi dưỡng đạo đức cách mạng. Đạo đức phản ánh và chịu sự quy định của đời sống kinh tế mà trực tiếp là quan hệ lợi ích của con người. Ph.Ăngghen đã từng khẳng định: “Lợi ích đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức”(6). Thực tế cho thấy, ở đâu và lúc nào mà quan hệ lợi ích được giải quyết hài hoà thì những nhân tố tích cực của đạo đức cách mạng mới có cơ sở hình thành và phát triển. Việc giải quyết quan hệ này, ở tầm vĩ mô, tuỳ thuộc vào khả năng của các chủ thể lãnh đạo và quản lý (Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam) trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện một hệ thống chính sách kinh tế – xã hội phù hợp, cho phép vừa đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế, vừa tạo ra môi trường nhân văn cho sự hình thành và phát triển đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên. Chính vì vậy, việc “Xây dựng đồng bộ các chính sách kinh tế – xã hội đúng đắn, phát huy mọi khả năng sáng tạo của nhân dân. Đổi mới và hoàn thiện các chính sách cụ thể đối với các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, đặc biệt là các chính sách phát triển kinh tế – xã hội, phân phối, tiêu dùng, bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm của công dân”(7) là nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu để tạo dựng đời sống đạo đức lành mạnh, tốt đẹp trong xã hội.

Ở mỗi địa phương, đơn vị, điều này đòi hỏi những cán bộ, đảng viên giữ trọng trách trong bộ máy tổ chức phải thực sự khách quan, công tâm khi giải quyết các quan hệ lợi ích, đặc biệt là lợi ích kinh tế. Về mặt này, có thể nói rằng, đạo đức của người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền là ở chỗ biết điều phối một cách hợp lý quan hệ giữa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội trên cơ sở coi lợi ích xã hội, tập thể là lợi ích chủ đạo trong hoạt động của cá nhân.

Trong điều kiện hiện nay, tuy chúng ta chưa thực hiện được bình đẳng xã hội về kinh tế, nhưng công bằng xã hội (tương đối) được đảm bảo thì cơ sở kinh tế – xã hội cho sự tồn tại và phát triển của đạo đức cách mạng vẫn được duy trì.

Hai là, tăng cường vai trò của các tổ chức Đảng, Nhà nước, đoàn thể xã hội và tập thể lao động trong việc giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Bất kỳ tổ chức nào cũng đều do con người lập ra và đến lượt mình, nó lại quy định hành vi của các cá nhân (thành viên) theo những chuẩn mực nhất định. Cán bộ, đảng viên là những người hoạt động trong các tổ chức thuộc hệ thống kinh tế – chính trị, trong đó Đảng là hạt nhân lãnh đạo. Việc phát huy vai trò của các tổ chức cơ sở đảng, của các cấp uỷ đảng và các tổ chức khác trong hệ thống kinh tế – chính trị nhằm giáo dục, quản lý, kiểm tra, giám sát, phê bình cán bộ, đảng viên có tác dụng to lớn đối với việc nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những biểu hiện tiêu cực khác về mặt đạo đức của lực lượng này.

Ba là, nâng cao chất lượng tự giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên.

Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng tự giáo dục là biện pháp quyết định, có ảnh hưởng đến hiệu quả của việc tự giác hoá quá trình hình thành, phát triển đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh rằng, đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống, nó được củng cố và phát triển chủ yếu do sự đấu tranh rèn luyện hàng ngày cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Vì vậy, cùng với sự quản lý, giáo dục thường xuyên của tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn tự mình trau dồi, rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất, đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân dưới mọi biểu hiện của nó. Thực tế lịch sử cho thấy, không ít cán bộ, đảng viên một thời lăn lộn, hy sinh trong kháng chiến vì độc lập, tự do của Tổ quốc và có người đã từng giữ cương vị cao trong bộ máy Đảng, Nhà nước, nhưng khi trở về cuộc sống đời thường, vì không thường xuyên tu dưỡng đạo đức nên có biểu hiện công thần, tự cao, tự đại, gây mất đoàn kết nội bộ hoặc bị sa ngã trước những cám dỗ tầm thường, thậm chí trở thành kẻ có tội với đất nước, nhân dân.

Chính từ sự kết hợp giữa giáo dục và tự giáo dục đạo đức cách mạng mà những yêu cầu khách quan của sự nghiệp đổi mới chuyển thành lý tưởng, niềm tin, động cơ hoạt động của mỗi cán bộ, đảng viên. Tự giáo dục đạo đức cách mạng gắn liền với việc học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực tổ chức, quản lý của cán bộ, đảng viên. Chất lượng, hiệu quả của giáo dục và tự giáo dục đạo đức phụ thuộc vào nhiều nhân tố. Vì vậy, phải đa dạng hoá và kết hợp các hình thức, phương thức tác động đến sự hình thành những phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên; chú trọng kết hợp giữa nâng cao tri thức đạo đức học Mác – Lênin qua các kênh (trong nhà trường, trong sinh hoạt của tổ chức, qua các đợt thi tìm hiểu, qua các phương tiện thông tin đại chúng…) với rèn luyện đạo đức cách mạng qua các hoạt động thực tiễn.

Tự tu dưỡng đạo đức cách mạng phải được coi là một trong những nhiệm vụ thường xuyên của mỗi người, mỗi cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên càng giữ các trọng trách lớn lại càng phải chú tâm rèn luyện, tu dưỡng theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh để cổ vũ mọi người học tập.

Bốn là, kiên quyết đấu tranh chống những hành vi vi phạm pháp luật và các biểu hiện tiêu cực khác trong cán bộ, đảng viên.

Nâng cao đạo đức cách mạng gắn liền với việc củng cố các tổ chức của hệ thống chính trị các cấp, tiến hành thường xuyên và có hiệu quả các biện pháp kiểm tra, thanh tra, phát hiện và xử lý nghiêm những trường hợp có biểu hiện sai trái để làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên. Việc xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ, đảng viên có vi phạm nghiêm trọng về đạo đức và pháp luật, dù ở bất cứ cương vị nào, sẽ có tác dụng to lớn đối với việc củng cố lòng tin, khơi dậy phong trào quần chúng rộng rãi, tích cực tham gia đấu tranh bảo vệ cái đúng, cái thiện, cái đẹp; đồng thời, phê phán cái sai, cái ác, cái xấu. Trong điều kiện “Nạn tham nhũng diễn ra nghiêm trọng, kéo dài gây bất bình trong nhân dân và là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta”(8), việc tích cực đấu tranh, phòng chống quốc nạn này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trước mắt, cần sớm “Kiện toàn tổ chức và cán bộ ở những cơ quan, đơn vị để xảy ra những biểu hiện không chấp hành nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, làm việc trì trệ, độc đoán, chuyên quyền, kéo bè, kéo cánh, mất đoàn kết nội bộ”(9) để nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên.

Đức và tài là hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau, trong đó đức là “gốc” của người cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(10). Đạo đức cách mạng chính là cái “gốc” của sự phát triển, vì sự phát triển, hướng đến sự phát triển của con người và xã hội Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay. Chăm lo vun trồng cái “gốc” này, trước hết là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên.

Đã xem: 21511 Thời gian đăng: Thứ tư – 17/06/2015 04:27Người đăng: Phạm Quang Duy

Bạn đang xem bài viết Hậu Giang: Nâng Cao Y Đức Cho Đội Ngũ Thầy Thuốc trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!