Xem Nhiều 5/2022 # Hiệu Quả Của Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa Trong Các Bài Thơ Thuộc Chương Trình Giáo Dục Mầm Non # Top Trend

Xem 19,899

Cập nhật thông tin chi tiết về Hiệu Quả Của Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa Trong Các Bài Thơ Thuộc Chương Trình Giáo Dục Mầm Non mới nhất ngày 25/05/2022 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 19,899 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Luyện Từ Và Câu 3. Nhân Hóa. Ôn Tập Cách Đặt Và Trả Lời Câu Hỏi Để Làm Gì? Dấu Chấm, Chấm Hỏi, Chấm Than Luyen Tu Va Cau3 Ppt
  • Luyện Từ Và Câu Lớp 3: Nhân Hóa. Cách Đặt Và Trả Lời Câu Hỏi Khi Nào?
  • Những Giải Pháp Khắc Phục Ô Nhiễm Môi Trường Nước
  • Các Biện Pháp Kiểm Soát Ô Nhiễm Và Bảo Vệ Môi Trường Không Khí
  • Ô Nhiễm Môi Trường Đất Là Gì, Khái Niệm, Nguyên Nhân Và Hướng Giải Quyết
  • TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

    KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

    ======

    HOÀNG KIM DUNG

    HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP TU TỪ NHÂN HÓA

    TRONG CÁC BÀI THƠ THUỘC CHƢƠNG TRÌNH

    GIÁO DỤC MẦM NON

    KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    Chuyên ngành: Tiếng Việt

    Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

    TS. PHẠM THỊ HÒA

    HÀ NỘI – 2022

    LỜI CẢM ƠN

    Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận này, tôi không thể tránh

    khỏi những lúng túng, bỡ ngỡ. Nhƣng dƣới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của

    TS. Phạm Thị Hòa, tôi đã từng bƣớc tiến hành và hoàn thành khóa luận với

    đề tài: “Hiệu quả của biện pháp tu từ nhân hóa trong các bài thơ thuộc

    chương trình giáo dục mầm non”.

    Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Phạm Thị Hòa và các

    thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Mầm non, cùng toàn thể các thầy cô giáo

    trƣờng Đại học Sƣ Phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa

    luận tốt nghiệp này.

    Tôi xin chân thành cảm ơn!

    Hà Nội, tháng 5 năm 2022

    Sinh viên

    Hoàng Kim Dung

    LỜI CAM ĐOAN

    Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dƣới sự

    hƣớng dẫn của cô Phạm Thị Hòa. Các căn cứ có trong khóa luận là trung

    thực. Đề tài này chƣa từng đƣợc công bố trong bất kì công trình nghiên cứu

    khoa học nào.

    Hà Nội, tháng 5 năm 2022

    Sinh viên

    Hoàng Kim Dung

    MỤC LỤC

    MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………………….. 1

    1. Lí do chọn đề tài…………………………………………………………………………….. 1

    2. Lịch sử vấn đề ……………………………………………………………………………….. 1

    3. Mục đích nghiên cứu………………………………………………………………………. 3

    4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ……………………………………………………. 4

    5. Nhiệm vụ nghiên cứu ……………………………………………………………………… 4

    6. Phƣơng pháp nghiên cứu ………………………………………………………………… 4

    7. Cấu trúc của đề tài ………………………………………………………………………….. 5

    NỘI DUNG ………………………………………………………………………………………. 6

    CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN …………………………………………………………. 6

    1.1. Cơ sở tâm lý ……………………………………………………………………………….. 6

    1.2. Cơ sở ngôn ngữ …………………………………………………………………………… 7

    1.2.1. Những hiểu biết chung về nhân hóa tu từ ………………………………….. 7

    1.2.2. Tiêu chí phân loại nhân hóa ……………………………………………………. 9

    1.2.3. Mục đích của nhân hóa …………………………………………………………. 11

    1.2.4. Cơ sở phát hiện và đánh giá nhân hóa ……………………………………. 11

    CHƢƠNG 2. HIỆU QUẢ NGHỆ THUẬT CỦA BIỆN PHÁP TU TỪ

    NHÂN HÓA TRONG THƠ GIÁO DỤC MẦM NON …………………………. 14

    2.1. Kết quả khảo sát, thống kê, phân loại …………………………………………… 14

    2.1.1. Thống kê theo bài thơ …………………………………………………………… 14

    2.1.2. Thống kê theo tần suất xuất hiện của đối tƣợng nhân hóa…………. 14

    2.2. Nhận xét sơ bộ kết quả thống kê ………………………………………………….. 52

    2.3. Phân tích kết quả thống kê ………………………………………………………….. 52

    2.3.1. Dùng những từ chỉ hoạt động, tính chất của con ngƣời cho đối

    tƣợng không phải là ngƣời……………………………………………………………… 52

    2.3.2. Dùng đại từ nhân xƣng, cách xƣng hô của con ngƣời cho đối

    tƣợng không phải là con ngƣời ……………………………………………………….. 66

    2.3.3. Coi đối tƣợng vô tri vô giác nhƣ con ngƣời để tâm tình trò

    chuyện với chúng ………………………………………………………………………….. 73

    KẾT LUẬN …………………………………………………………………………………….. 79

    TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………………… 81

    1

    MỞ ĐẦU

    1. Lí do chọn đề tài

    Lứa tuổi mầm non là lứa tuổi măng non với tâm hồn trong sáng, chƣa

    chút gợn bụi. Trẻ em ở lứa tuổi này rất thông minh, sáng tạo đầy dí dỏm. Lúc

    nào các em cũng muốn tìm tòi, khám phá, phát hiện ở thế giới những điều

    mới lạ. Trong lòng các em luôn dâng trào ý muốn ham hiểu biết về những sự

    vật hiện tƣợng xung quanh mình. Các em luôn coi mọi vật xung quanh mình

    nhƣ những ngƣời bạn để tâm sự, chơi đùa… từ đó dần hình thành trong các

    em những nhân cách tốt đẹp, tƣ duy phong phú và trí tƣởng tƣợng bay bổng.

    Nhân hóa là một biện pháp tu từ quan trọng giúp cho việc hình thành ở

    trẻ mầm non tình cảm gần gũi, yêu thích thế giới xung quanh. Bởi lẽ, nhờ

    nhân hóa các con vật, đồ vật, cây cối… trở nên sống động, có hồn, có tính

    cách nhƣ con ngƣời, trở thành ngƣời bạn thân thiết của các em. Nhân hóa

    đƣợc sử dụng rất nhiều trong văn thơ thiếu nhi. Mỗi bài thơ đều có sức lôi

    cuốn kì diệu, và tác động tích cực vào làm phong phú tâm hồn của các em và

    góp phần đắc lực vào việc rèn luyện nhân cách con ngƣời.

    Tìm hiểu các biện pháp tu từ nói chung và biện pháp tu từ nhân hóa nói

    riêng sẽ mang lại nhiều thuận lợi trong việc giảng dạy các tác phẩm thơ cho

    trẻ mầm non một cách hiệu quả nhất, đem lại cho các em sự hứng thú, gần

    gũi, muốn tìm hiểu về thế giới xung quanh.

    Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Hiệu quả biện pháp tu

    từ nhân hóa trong các bài thơ ở chƣơng trình giáo dục mầm non”.

    2. Lịch sử vấn đề

    2.1. Việc nghiên cứu nhân hóa trong các giáo trình phong cách học

    Nhiều nhà Phong cách học đã nghiên cứu nhân hóa trong những giáo

    trình do họ biên soạn nhƣ:

    5

    6.3. Phƣơng pháp tổng hợp

    Phƣơng pháp này đƣợc chúng tôi vận dụng sau khi phân tích các trƣờng

    hợp sử dụng nhân hóa trong văn bản để rút ra những nhân xét, những kết luận

    cần thiết.

    6.4. Phƣơng pháp hệ thống

    Phƣơng pháp này đƣợc chúng tôi sử dụng trong nghiên cứu về hiệu quả

    tu từ của biện pháp nhân hóa trong văn bản thơ. Đây là cách đặt nhân hóa

    trong ngữ cảnh để xem xét nhằm xác định chính xác hiệu lực của các biện

    pháp nhân hóa trong ngôn ngữ thơ thuộc chƣơng trình giáo dục mầm non.

    7. Cấu trúc của đề tài

    Khóa luận gồm các phần sau:

    – Mở đầu

    – Nội dung

    + Chƣơng 1: Cơ sở lí luận

    + Chƣơng 2: Hiệu quả của biện pháp tu từ nhân hóa trong thơ giáo dục

    mầm non

    – Kết luận

    – Tài liệu tham khảo

    6

    NỘI DUNG

    CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN

    1.1. Cơ sở tâm lý

    Dựa theo những quan điểm triết học khác nhau ngƣời ta hiểu về trẻ em

    cũng rất khác nhau. Có quan điểm cho rằng trẻ em là ngƣời lớn thu nhỏ lại.

    Sự khác nhau trẻ em và ngƣời lớn về mọi mặt (cơ thể, tƣ tƣởng, tình cảm…)

    chỉ ở tầm cỡ chứ không khác nhau về chất. Nhƣng ngay từ thế kỉ XVIII, J.J

    Rutxô (1712-1778) đã nhận xét rất tinh tế về những đặc điểm tâm lý trẻ nhỏ.

    Theo ông, trẻ em không phải là ngƣời lớn thu nhỏ lại và ngƣời lớn không phải

    lúc nào cũng hiểu đƣợc trí tuệ, nguyện vọng và tình cảm độc đáo của trẻ

    thơ… vì trẻ em có nhìn, cách suy nghĩ và cảm nhận riêng của nó. Sự khác

    nhau giữa trẻ em và ngƣời lớn là sự khác nhau về chất. Những quan điểm duy

    vật biện chứng đã khẳng định: Trẻ em không phải là ngƣời lớn thu nhỏ lại.

    Trẻ em là trẻ em, nó vận động và phát triển theo quy luật của trẻ em. Ngay từ

    khi cất tiếng khóc chào đời đứa trẻ đã là một con ngƣời, một thành viên của

    xã hội. Việc nuôi nấng, dạy dỗ nó phải khác với con vật. Để nó tiếp thu đƣợc

    nền văn hóa của xã hội loài ngƣời, đòi hỏi phải nuôi dạy nó theo kiểu ngƣời

    (trẻ nhỏ phải đƣợc bú sữa mẹ, đƣợc ăn chín, ủ ấm, nhất là cần đƣợc âu yếm

    yêu thƣơng…). Ngay từ khi ra đời đứa trẻ đã có nhu cầu đặc trƣng của con

    ngƣời – nhu cầu giao tiếp với ngƣời lớn. Và để giao tiếp đƣợc thì trẻ em cần

    tới việc học và nhƣ vậy giáo dục lại có vai trò quan trọng trong vệc dạy trẻ

    giao tiếp, chính xác hơn là dạy trẻ giao tiếp bằng ngôn ngữ. Do vậy giáo dục

    giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển tâm lí của trẻ em. Giáo dục và dạy học

    là con đƣờng đặc biệt để truyền đạt những phƣơng tiện hoạt động của con

    ngƣời (công cụ, kí hiệu). Tuy nhiên con ngƣời cũng chịu tác động của môi

    7

    trƣờng. Do vậy các tác động bên ngoài quyết định tâm lí của con ngƣời một

    cách gián tiếp thông qua quá trình tác động qua lại của con ngƣời với môi

    trƣờng, thông qua hoạt động của con ngƣời trong môi trƣờng đó. Chính vì vậy

    nhà trƣờng là một môi trƣờng giáo dục tốt nhất cho trẻ. Vì vậy, ngay từ khi còn

    nhỏ chúng ta hãy tạo cho trẻ một môi trƣờng giáo dục lành mạnh trong nhà

    trƣờng tạo điều kiện cho trẻ học tập tốt nhằm phát huy tối đa năng lực của trẻ.

    Lứa tuổi mầm non là lứa tuổi măng non với tâm hồn trong sáng, chƣa

    chút gợn bụi. Trẻ em ở lứa tuổi này rất thông minh, sáng tạo đầy dí dỏm. Lúc

    nào các em cũng muốn tìm tòi, khám phá, phát hiện ở thế giới những điều

    mới lạ. Trong lòng các em luôn dâng trào ý muốn ham hiểu biết về những sự

    vật hiện tƣợng xung quanh mình. Các em luôn coi mọi vật xung quanh mình

    nhƣ những ngƣời bạn để tâm sự, chơi đùa… từ đó dần hình thành trong các

    em những nhân cách tốt đẹp, tƣ duy phong phú và trí tƣởng tƣợng bay bổng.

    Nhân hóa là một biện pháp tu từ quan trọng giúp cho việc hình thành ở

    trẻ mầm non tình cảm gần gũi, yêu thích thế giới xung quanh. Bởi lẽ, nhờ

    nhân hóa các con vật, đồ vật, cây cối… trở nên sống động, có hồn, có tính

    cách nhƣ con ngƣời, trở thành ngƣời bạn thân thiết của các em. Nhân hóa

    đƣợc sử dụng rất nhiều trong văn thơ thiếu nhi. Mỗi bài thơ đều có sức lôi

    cuốn kì diệu, và tác động tích cực vào làm phong phú tâm hồn của các em và

    góp phần đắc lực vào việc rèn luyện nhân cách con ngƣời.

    1.2. Cơ sở ngôn ngữ

    1.2.1. Những hiểu biết chung về nhân hóa tu từ

    a. Khái niệm biện pháp nhân hóa

    – Theo tác giả Lại Nguyên Ân: “Nhân cách hóa” còn gọi là nhân hóa

    là một dạng đặc biệt của ẩn dụ chuyển những đặc điểm của con ngƣời (và

    rộng ra là những sinh thể) sang những đối tƣợng và hiện tƣợng không phải là

    8

    ngƣời (hoặc không có đặc tính của những cơ thể sống). Dựa vào chứa năng

    của biện pháp nhân hóa cách trong ngôn từ nghệ thuật và sáng tác văn học, có

    thể phân cấp các loại nhân hóa nhƣ sau:

    + Nhân hóa nhƣ một kiểu tu từ gắn với khả năng nhân cách hóa nhƣ là

    một bẩm sinh vốn có ở mọi ngôn ngữ sống. Đồng thời cũng gắn liền với

    truyền thống của lời văn diễn thuyết, ở cấp độ này nhân hóa vốn có ở trong

    mọi lời biểu cảm.

    Ví dụ:

    “Gió gào thét”

    “Sông buồn bã trôi”

    + Ở thơ ca dân gian vầ thơ ca trữ tìncủa văn hóa thành văn nhân cách

    hóa là loại ẩn dụ gắn với lối tạo ra sự song hành, đối sách. Xét về tâm lí sự

    sống ở thế giới tự nhiên xung quanh bị lôi cuốn vào và trở nên đồng cảm với

    nhân vật, đƣợc gán cho những dấu hiệu giống nhƣ con ngƣời.

    + Nhân cách hóa với tƣ cách là tƣợng trƣng gắn trực tiếp với tƣ tƣởng

    chính của tác phẩm và đƣợc tạo nên từ hệ thống những nhân cách hóa cục bộ.

    Tóm lại nhân hóa là một biến thể của ẩn dụ mà việc sử dụng những từ

    ngữ, dấu hiệu của con ngƣời để gán cho đối tƣợng không phải là ngƣời làm

    trọng tâm. Nhân hóa giúp cho sự vật, hiện tƣợng trở nrrn gần gũi, thân thiết

    với con ngƣời, giúp bày tỏ tâm tƣ tình cảm một cách kín đáo.

    Tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phƣơng tiện và biện pháp tu từ

    Tiếng Việt” (Nxb GG,1999) định nghĩa về nhân hóa: “Nhân hóa là một dạng

    ẩn dụ, dùng những từ ngữ biểu thị thuộc tính của con ngƣời cho đối tƣợng

    không phải là ngƣời nhằm làm cho đối tƣợng đƣợc miêu tả trở nên gần gũi, dễ

    hiểu hơn, đồng thời giúp cho ngƣời nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tƣ,

    thái độ của mình”.

    Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi theo quan điểm của tác

    giả Đinh Trọng Lạc.

    9

    b. Cấu tạo, chức năng và tác dụng của nhân hóa tu từ

    – Hình thức

    + Dùng những từ chỉ tính chất, hoạt động của ngƣời để biểu thị những

    tính chất, hoạt động của đối tƣợng không phải là ngƣời.

    + Xem đối tƣợng không phải là ngƣời nhƣ con ngƣời để tâm tình, trò

    chuyện.

    – Nội dung:

    Dựa trên sự liên tƣởng nhằm phát hiện ra nét giống nhau giữa đối

    tƣợng không phải là ngƣời và là ngƣời.

    – Chức năng

    Nhân hóa có hai chức năng: nhận thức và biểu cảm. Nhân hóa đƣợc sử

    dụng rộng rãi trong các phong cách: khẩu ngữ, chính luận, văn chƣơng.

    – Tác dụng của nhân hóa:

    Mỗi nhân hóa khi sử dụng sẽ đạt một mục đích riêng, một hiệu quả

    riêng và nhằm một tác dụng riêng.

    + Nhân hóa giúp ngƣời ta thể hiện tình cảm một cách tế nhị, tinh tế.

    + Nhân hóa làm cho thế giới xung quanh thêm sinh động, hồn nhiên, từ

    đó trở thành ngƣời bạn tâm tình của trẻ thơ, giúp trẻ dễ nhớ, dễ hiểu và nhận

    biết thế giới xung quanh.

    + Nhân hóa có tác dụng giáo dục rất phù hợp với tâm lí trẻ thơ.

    1.2.2. Tiêu chí phân loại nhân hóa

    a. Tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phƣơng tiện và biện pháp tu

    từ Tiếng Việt” (NXB GD, 1999) đã tóm gọn trong hai hình thức cấu tạo.

    – Dùng từ chỉ tính chất, hoạt động của con ngƣời để biểu thị tính chất,

    hoạt động cho đối tƣợng không phải là ngƣời.

    Ví dụ:

    Vì sƣơng nên núi bạc đầu

    Biển lay vì gió, hoa sầu vì mƣa

    10

    (Ca dao)

    – Coi đối tƣợng không phải là ngƣời nhƣ con ngƣời, tâm tƣ trò chuyện

    với nhau.

    Ví dụ:

    Núi cao chi lắm núi ơi

    Núi che mặt trời chẳng thấy ngƣời thƣơng!

    (Ca dao)

    b. Trong cuốn “Phong cách học Tiếng Việt” (NXB GD Hà Nội, 1982).

    Các tác giả Võ Bình, Lê Anh Hiển, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa thì lại cho

    rằng nhân hóa có thể đƣợc tổ chức bằng hai cách.

    – Dùng các tính từ miêu tả, các động từ hành vi của con ngƣời khoác

    lên các đối tƣợng không phải là ngƣời:

    Ví dụ:

    Súng vẫn thức. Vui mới dành một nửa,

    Nên bâng khâng sƣơng biết nhớ ngƣời đi.

    (Tố Hữu)

    – Coi các đối tƣợng không phải là ngƣời nhƣ con ngƣời để tâm tình trò

    chuyện với chúng.

    Ví dụ:

    Lớp Một ơi! Lớp Một!

    Đón em vào năm trƣớc

    Nay giờ phút chia tay

    Giữ lời chào tiễn bƣớc

    (Gửi lời chào lớp Một – Tiếng Việt tập 1, Tập 2)

    c. Tác giả Phan Thị Thạch “Giáo trình phong cách học Tiếng Việt”

    (Nxb Hà Nội, 1992) thì xét các kiểu nhân hóa của Tiếng Việt đƣợc chia thành

    3 kiểu nhƣ sau:

    11

    – Dùng từ ngữ chỉ tình cảm, hoạt động của con ngƣời để gắn cho đối

    tƣợng không phải là con ngƣời: chạy, nhảy, khóc, vui, cƣời…

    – Dùng những từ ngữ chỉ quan hệ thân thuộc của con ngƣời trong gia

    đình để gọi các đối tƣợng không phải là ngƣời: ông, bà, chú, bác…

    – Coi các sự vật không phải là ngƣời nhƣ là con ngƣời để tâm tình trò

    chuyện với chúng.

    Có nhiều cách phân loại nhân hóa của các tác giả khác nhau nhƣng

    trong khôn khổ khóa luận này chúng tôi lựa chọn cách phân loại của tác giả

    Phan Thị Thạch (Giáo trình phong cách Tiếng Việt, ĐHSP Hà Nội 2,1992)

    làm cơ sở để phân loại nhân hóa.

    1.2.3. Mục đích của nhân hóa

    Mỗi nhân hóa khi sử dụng sẽ đạt một mục đích riêng, hiệu quả riêng và

    nhằm một dụng ý riêng:

    – Nhân hóa giúp ngƣời ta thể hiện tình cảm một cách tế nhị, tinh tế.

    – Nhân hóa làm cho thế giới xung quanh thêm sinh động, hồn nhiên từ

    đó dùng nó trở thành ngƣời bạn tâm tình của trẻ thơ, giúp trẻ dễ hiểu và nhận

    biết thế giới xung quanh.

    – Nhân hóa có tác dụng giáo dục rất phù hợp với tâm lý trẻ thơ.

    Để phân tích khám phá nhân hoa và cũng là mục đích chính của đề tài,

    chúng tôi dựa vào hiệu quả nghệ thuật của nhân hóa khi sử dụng biện pháp

    này trong từ , câu, hoặc toàn văn bản.

    1.2.4. Cơ sở phát hiện và đánh giá nhân hóa

    Nhân hóa là cách dùng các từ ngữ chỉ về ngƣời hoặc biểu thị về các

    hoat động, tính chất của con ngƣời để biểu thị các sự vật hoặc các hoạt động

    tính chất của sự vật không phải là ngƣời, qua đó bày tỏ tình cảm, thái độ của

    ngƣời nói đối với đối tƣợng đƣợc miêu tả. Để phát hiện và đánh giá nhân hóa,

    chúng tôi dựa vào những cơ sở sau:

    12

    a. Dựa vào ngữ cảnh

    Nhân hóa là một biến thể của ẩn dụ, trong đó ngƣời ta lấy những từ ngữ

    biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con ngƣời để biểu thị thuộc tính của đối

    tƣợng không phải là con ngƣời. Nhân hóa chỉ có thể đƣợc hiện thực hóa trong

    ngữ cảnh nhất định. Nếu tách nó ra khỏi ngữ cảnh thì hiệu quả biểu đạt nó sẽ

    không còn giá trị. Vì vậy khi thống kê và phân tích hóa trong các bài thơ,

    chúng tôi luôn xem xét trong mối quan hệ với những yếu tố ngữ cảnh.

    b. Dựa vào tính có lý và logic

    Các tác giả nghiên cứu về phong cách học cho rằng; Nhân hóa là một

    loại biến thể của ẩn dụ. Về hình thức cấu tạo nhân hóa cũng giống nhƣ ẩn dụ

    vì chỉ có một vế B đƣợc phô bày, nó không gọi thẳng tên đối tƣợng mà để

    ngƣời ta tự tìm đến đối tƣợng đó trong ngữ cảnh theo quy luật hợp logic. Quá

    trình liên tƣởng đến đối tƣợng đó là phân tích logic để xác lập đối tƣợng đƣợc

    miêu tả.

    Macxim Gorki đã có lần tự chỉ trích về cách nhân hóa “Biển cƣời” của

    mình. Ông tự nhận xét: Biển cƣời thì không thể nào chấp nhận đƣợc tuy rằng

    lối nhân hóa này có gây lên một sự tƣởng tƣợng bất ngờ…

    Vậy nên khi thống kê, phân tích các nhân hóa trong các bài thơ thiếu

    nhi chúng tôi dựa vào tính có lý và hợp logic để tìm hiểu, bình giá giá trị biểu

    đạt của nó.

    c. Dựa vào mặt nội dung

    Cơ sở để tạo nên nhân hóa là sự liên tƣởng, nhằm đi đến phát hiện ra

    những nét giống nhau giữa ngƣời và đối tƣợng không phải là ngƣời. Ở đây

    đòi hỏi một sự quan sát tinh vi, một sự hiểu biết chính xác về những thuộc

    tính của con ngƣời cũng nhƣ những thuộc tính không phải là của con ngƣời.

    13

    Nhƣ vậy sự thống nhất giữa tính chính xác của việc rút ra nét cá biệt

    giống nhau và những nét khác biệt, tính bất ngờ của sự liên tƣởng trong nhân

    hóa là căn cứ bình giá nó.

    d. Dựa vào nguyên tắc bình giá giá trị nghệ thuật của nhân hóa

    Muốn bình giá giá trị nghệ thuật của nhân hóa phải đi từ nguyên tắc:

    Nhân hóa chính là sự chuyển trƣờng nghĩa của các từ, các từ vốn mang nghĩa

    của một trƣờng nghĩa nhất định, nay đƣợc chuyển sang một trƣờng nghĩa

    khác, tạo nên một sự đối lập mới. Chính sự đối lập này tạo ra sự bất ngờ trong

    khi diễn tả các sự vật hiện tƣợng.

    Ví dụ: Gắn đặc tính của con ngƣời: siêng năng, cần cù, chịu khó, đùm

    bọc lẫn nhau cho cây tre. Từ đó tạo ra sự đối lập, làm nên tính hấp dẫn, mới

    mẻ, lí thú. Khi đó có sự chuyển trƣờng nghĩa: từ trƣờng nghĩa sự vật hiện

    tƣợng vô tri vô giác sang trƣờng nghĩa con ngƣời.

    14

    CHƢƠNG 2

    HIỆU QUẢ NGHỆ THUẬT CỦA BIỆN PHÁP TU TỪ NHÂN HÓA

    TRONG THƠ GIÁO DỤC MẦM NON

    2.1. Kết quả khảo sát, thống kê, phân loại

    2.1.1. Thống kê theo bài thơ

    Chúng tôi khảo sát 321 bài thơ, trong đó có 186 bài xuất hiện nhân

    hóa. Có tới 54 bài sử dụng nhân hóa cho toàn bài.

    2.1.2. Thống kê theo tần suất xuất hiện của đối tượng nhân hóa

    Dựa vào các đối tƣợng nhân hóa ta có những loại nhỏ sau:

    STT Hình ảnh nhân hóa

    1

    Ơ cái dấu hỏi

    Tên bài thơ

    Số trang

    Dấu hỏi

    Tr.115

    Bé đến lớp

    Tr.116

    Bé vẽ

    Tr.116

    Trông ngộ nghĩnh ghê

    Nhƣ vành tai nhỏ

    Hỏi rồi lắng nghe

    2

    Nắng nghe bé hát

    Nắng bảo :”Bé ngoan”

    3

    Ông Mặt Trời cƣời

    Thêm chú Mèo lƣời

    Ngoài sân sƣởi nắng

    Bên thềm sân vắng

    Chú cún giữ nhà

    4

    Mèo con buồn bực

    Mèo

    Mai phải đến trƣờng

    học

    Bèn kiếm cớ luôn :

    (Theo

    – Cái đuôi tôi ốm

    rôn-cô)

    Cừu mới be toáng

    con

    đi Tr.116

    P.Vô-

    15

    -Tôi sẽ chữa lành

    Nhƣng muốn cho nhanh

    Cắt đuôi khỏi hết

    Cắt đuôi : Ấy chết

    Tôi đi học thôi !

    5

    Chú cún con lục đục

    Tập thể dục

    Tr.119

    Tại sao con chim sáo

    Chim Sáo

    Tr.119

    Cứ một điệu hót hoài

    (Phạm Hổ)

    Lao xuống bếp gọi Mèo

    6

    Vì không có cô giáo

    Dạy nó hát nhiều bài

    7

    Hôm nay trời nắng chang chang Mèo

    con

    Mèo con đi học chẳng mang

    học

    thứ gì

    (Phan

    Chỉ mang một cái bút chì

    Vàng Anh)

    đi Tr.120

    Thị

    Và mang một mẩu bánh mì con

    con

    8

    Kẹo ơi kẹo có biết chăng ?

    Hỏi cái kẹo

    Tr.120

    -Mèo ơi rửa mặt

    Bé và Mèo

    Tr.121

    Sao chỉ dùng tay

    (Nguyễn

    -Sao mèo không lấy?

    Đan)

    Ăn xong đi ngủ sún răng mất

    rồi !

    Kẹo cƣời tại bạn đấy thôi

    Chứ không phải lỗi tôi ngọt

    ngào.

    9

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa Trong Đoạn Cá Nhụ, Cá Chim Cùng Cá Đé…
  • Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Nhân Hóa Trong Văn Bản Ánh Trăng
  • Skkn Sử Dụng Biện Pháp Nhân Hóa Trong Làm Văn Miêu Tả Lớp 4
  • Giải Cùng Em Học Tiếng Việt 4 Tập 2 Tuần 19 Câu 4, 5, 6, Vui Học Trang 7, 8
  • Giúp Học Sinh Nhận Biết, Sử Dụng Hiệu Quả Phép Tu Từ Nhân Hóa
  • Bạn đang xem bài viết Hiệu Quả Của Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa Trong Các Bài Thơ Thuộc Chương Trình Giáo Dục Mầm Non trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100