Xem Nhiều 1/2023 #️ Hướng Nghiên Cứu, Hoàn Thiện Chế Định Áp Giải, Dẫn Giải Trong Bltths 2022 # Top 9 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Hướng Nghiên Cứu, Hoàn Thiện Chế Định Áp Giải, Dẫn Giải Trong Bltths 2022 # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Hướng Nghiên Cứu, Hoàn Thiện Chế Định Áp Giải, Dẫn Giải Trong Bltths 2022 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Chia sẻ nếu thấy bài hay

29

shares

Facebook

Twitter

LinkedIn

Print

Tố tụng hình sự là một trong những lĩnh vực hoạt động quan trọng của Nhà nước. So với các lĩnh vực hoạt động nhà nước khác thì tố tụng hình sự là lĩnh vực trong đó việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế là cần thiết khách quan và xâm phạm nhiều nhất vào cuộc sống tư của công dân, hạn chế quyền và tự do hiến định của họ. Điều này xuất phát từ nhiệm vụ của tố tụng hình sự là phát hiện tội phạm và kẻ phạm tội, ngăn chặn tiếp tục phạm tội và truy cứu trách nhiệm hình sự của kẻ phạm tội. Đây là yếu tố quyết định sự cần thiết áp dụng các biện pháp cưỡng chế can thiệp vào tự do cá nhân, quyền bất khả xâm phạm thân thể và các quyền hiến định khác của công dân ([1]). Áp giải và dẫn giải không phải là hai biện pháp cưỡng chế mới trong tố tụng hình sự. Trong lần sửa đổi vừa rồi, hai biện pháp cưỡng chế này được quy định trong cùng một điều luật và thể hiện nhiều điểm mới, tiến bộ nhưng vẫn chưa giải quyết triệt để các tồn tại trên thực tế. Bài viết, trên cơ sở phân tích quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) về áp giải, dẫn giải, sẽ phân tích những tồn tại, hạn chế chưa được giải quyết trong Bộ luật mới về hai biện pháp cưỡng chế này.

1. Quy định về áp giải, dẫn giải trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Có thể nói, so với quy định của BLTTHS năm 2003, chế định về áp giải, dẫn giải đã có nhiều điểm mới, tiến bộ. Áp giải và dẫn giải được định nghĩa chính thức trong BLTTHS năm 2015 là các biện pháp cưỡng chế. Theo quy định tại Điều 4 BLTTHS năm 2015 về giải thích thuật ngữ, hai biện pháp cưỡng chế này đã được nhà làm luật đưa ra định nghĩa với nội hàm khá rõ ràng. Theo đó, áp giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, còn dẫn giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người làm chứng, người bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử hoặc người bị hại từ chối giám định. Định nghĩa đã xác định được bản chất của hai biện pháp, đồng thời, giúp cho người đọc hình dung khái quát về đối tượng, trường hợp của việc áp dụng biện pháp cưỡng chế này. Tiếp đó, hai biện pháp áp giải và dẫn giải được quy định cụ thể trong Điều 127 của BLTTHS năm 2015.

Thứ hai, BLTTHS mới mở rộng phạm vi đối tượng áp dụng của hai biện pháp áp giải và dẫn giải. Theo quy định của BLTTHS năm 2015, đối tượng của biện pháp áp giải là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội. Quy định về người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là sự kế thừa quy định về người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp nhưng có sự thay đổi để phù hợp hơn với tinh thần bảo vệ quyền con người của Hiến pháp năm 2013 ([3]). Người bị buộc tội bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Như vậy, so với BLTTHS năm 2003, đối tượng của biện pháp áp giải đã được mở rộng. Trước đây, chỉ có bị can, bị cáo mới có thể bị áp giải nếu thuộc trường hợp luật định. Việc mở rộng phạm vi đối tượng áp dụng, theo tác giả, là hợp lý. Mục tiêu của biện pháp cưỡng chế áp giải là nhằm đảm bảo người bị áp dụng phải có mặt ở địa điểm nhất định, phục vụ cho hoạt động giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, đảm bảo tính liên tục trong việc giải quyết vụ án. Nếu chỉ quy định bị can, bị cáo có thể bị áp giải thì sẽ không bao quát hết các trường hợp phát sinh trên thực tế. Việc một người tham gia tố tụng hình sự, đặc biệt là người đang trong diện “tình nghi” đã thực hiện tội phạm thì sự vắng mặt (không có lí do chính đáng) hay sự không hợp tác của họ đều có thể ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án. Do đó, việc quy định đối tượng có thể bị áp giải như BLTTHS hiện hành sẽ đảm bảo sự tham gia của những người này trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Như chúng tôi Nguyễn Thái Phúc đã khẳng định: “Một trong những lí do dẫn đến sự cần thiết áp dụng các biện pháp cưỡng chế là thái độ chủ quan của chủ thể quan hệ pháp luật đối với nghĩa vụ của mình. Với chủ thể tự chấp hành nghĩa vụ pháp luật thì Nhà nước không cần thiết phải áp dụng biện pháp cưỡng chế.” ([4])

Đối tượng của dẫn giải là một số người tham gia tố tụng, cụ thể gồm: 1) người làm chứng; 2) người bị hại; 3) người bị tố giác; 4) người bị kiến nghị khởi tố. Như vậy, trong số 20 tư cách (người) tham gia tố tụng hình sự quy định tại Điều 55 của BLTTHS năm 2015, có 04 tư cách (người) tham gia tố tụng có thể bị dẫn giải. Quy định về đối tượng dẫn giải đã giải quyết được cơ bản khó khăn, vướng mắc về vấn đề này trong BLTTHS trước đây. Thật vậy, Báo cáo số 11 đã chỉ rõ những tồn tại, hạn chế trong quy định của BLTTHS trước đây về đối tượng dẫn giải, đó là “Chỉ quy định dẫn giải đối với người làm chứng mà chưa áp dụng đối với những người tham gia tố tụng khác trong trường hợp đã triệu tập lấy lời khai nhưng không có mặt (Điều 137), gây khó khăn cho hoạt động điều tra. Trường hợp người bị hại từ chối giám định, nhưng xét thấy việc từ chối đó không có lý do chính đáng hoặc ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án thì chưa có biện pháp buộc họ phải đi giám định. Khi người làm chứng không chấp hành quyết định dẫn giải mà không có lý do chính đáng thì không có cơ chế giải quyết để bảo đảm sự có mặt của họ, gây khó khăn cho hoạt động tố tụng.” Hoặc “nhiều trường hợp sau khi đã nhận lại tài sản hoặc đã được bồi thường đầy đủ thì người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại thường vắng mặt tại phiên tòa, gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, nhưng do không quy định biện pháp áp giải đối với những người này nên không có căn cứ để thực hiện (Điều 191)” ([5]). Tuy nhiên, quy định của BLTTHS năm 2015 vẫn chưa giải quyết triệt để vấn đề (Xin xem mục 2 bên dưới). BLTTHS năm 2015 đã bám sát mục tiêu, quan điểm chỉ đạo khi xây dựng chế định về áp giải, dẫn giải. Như trên đã đề cập, từng biện pháp cưỡng chế phải được điều chỉnh cụ thể bởi năm yếu tố: căn cứ áp dụng, thẩm quyền quyết định, trình tự, thủ tục và thời hạn tiến hành. Căn cứ áp dụng dẫn giải được quy định ngay trong điều luật và tương ứng đối với từng tư cách (người) tham gia tố tụng hình sự.

Về thẩm quyền quyết định biện pháp áp giải, dẫn giải cũng được mở rộng hơn: Khoản 3 Điều 127 đã quy định rõ ràng, cụ thể người có thẩm quyền quyết định áp giải, dẫn giải là “Điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử”. Việc trao quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế áp giải, dẫn giải cho những người trực tiếp tiến hành hoạt động điều tra như Điều tra viên, Kiểm sát viên không chỉ góp phần giải quyết vụ án được nhanh chóng, mà quan trọng hơn, sẽ tăng cường tính độc lập, nâng cao trách nhiệm của những người “trực tiếp” tiến hành tố tụng. Đây cũng là xu hướng lập pháp tố tụng hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới. Bên cạnh đó, BLTTHS năm 2015 cũng đã quy định cụ thể các cơ quan có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định áp giải, dẫn giải đó là Cơ quan Công an nhân dân và Quân đội nhân dân có thẩm quyền.

Ngoài ra, khoản 6 điều 127 quy định rõ ràng và phù hợp hơn với thực tiễn tố tụng về thời điểm, theo đó “Không được bắt đầu việc áp giải, dẫn giải người vào ban đêm.”. Như vậy, việc mở rộng, quy định rõ ràng, cụ thể phạm vi đối tượng, trường hợp và thẩm quyền về áp giải, dẫn giải trong BLTTHS năm 2015 sẽ góp phần đảm bảo việc áp dụng các biện pháp này chặt chẽ, đúng pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự. Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp giải, dẫn giải là vấn đề phức tạp, nhạy cảm và rất dễ bị phản ứng, vì vậy các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cần phải xem xét rất thận trọng, chỉ nên áp dụng khi thật cần thiết để làm rõ các nội dung quan trọng của vụ án.

2. Một số hạn chế, vướng mắc chưa được giải quyết

BLTTHS năm 2015 ban hành đã đổi mới nhiều trong lập pháp, cả về hình thức, kĩ thuật lập pháp và nội dung của các quy định đối với biện pháp cưỡng chế nói chung, đối với hai biện pháp áp giải, dẫn giải nói riêng. BLTTHS năm 2015 vừa có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, vẫn còn rất sớm để có thể đánh giá tính đúng đắn, khả thi trong các quy định của BLTTHS năm 2015. Tuy nhiên, qua nghiên cứu từ góc độ quy định của luật, tác giả nhận thấy, chế định áp giải, dẫn giải trong BLTTHS năm 2015 vẫn còn một số tồn tại.

Trước tiên, về đối tượng của biện pháp dẫn giải. Như trên đã đề cập, quy định về đối tượng áp dụng của biện pháp này vẫn chưa giải quyết triệt để các vấn đề đã được chỉ ra khi tổng kết BLTTHS năm 2003. Thực tế cho thấy có những vấn đề phức tạp về chuyên môn nhưng người giám định được triệu tập cố tình không tham gia phiên toà đã ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng đắn vụ án, trong khi chưa có chế tài xử lý đối với giám định viên vắng mặt mà không có lý do chính đáng (Điều 193) ([6]). Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 vẫn chưa thừa nhận người giám định là đối tượng của dẫn giải. Theo tác giả, việc không đưa người tham gia tố tụng này vào đối tượng bị dẫn giải là không phù hợp với nguyên tắc quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, Điều 5 BLTTHS năm 2015 quy định:

Điều 5. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm …4. Cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu và tạo điều kiện để cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ.…6. Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ.

Nguyên tắc này xuất phát thường được ghi nhận trong truyền thống pháp luật của các nước theo mô hình tố tụng thiên về thẩm vấn – mô hình tôn trọng nguyên tắc tìm kiếm sự thật khách quan của vụ án (Search for the truth). Ở những quốc gia theo mô hình tố tụng này, tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm là trách nhiệm của mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức. Chính vì vậy, các quốc gia này thường quy định việc người làm chứng có nghĩa vụ hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng để giải quyết vụ án. Họ có thể bị dẫn giải nếu thuộc các trường hợp luật định, ví dụ như ở Việt Nam, người làm chứng có thể bị dẫn giải nếu “không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan” ([7]). Ngược lại, trong các quốc gia theo mô hình tố tụng hình sự thiên về tranh tụng – mô hình tố tụng đề cao tính “đối tụng” của bên buộc tội và bên gỡ tội, đặc biệt là tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng nói chung ([8]), người làm chứng nói riêng thường không có nghĩa vụ phải ra làm chứng, cung cấp thông tin cho cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án. Do đó, họ được “mời” đến phiên tòa để cung cấp lời khai, và như vậy, không có khái niệm “bị dẫn giải” để buộc phải có mặt theo giấy triệu tập. Với cách tiếp cận về “trách nhiệm” nêu trên, có thể thấy, người giám định, trong sự so sánh với người làm chứng “rất nên” thuộc trường hợp có thể bị dẫn giải. Người giám định là “người có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực cần giám định, được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu, người tham gia tố tụng yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật.”([9]). Thực tiễn cho thấy, người giám định trong tố tụng hình sự ở Việt Nam thường là công chức, viên chức nhà nước. Do đó, nếu có phương thức phù hợp để so sánh, nhiều người sẽ tán thành với quan điểm người giám định nên có trách nhiệm cao hơn trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm so với người làm chứng – người tham gia tố tụng hình sự do tình huống khách quan mang lại và có thể là bất kỳ ai. Do đó, tác giả cho rằng, phạm vi áp dụng của dẫn giải nên được mở rộng toàn diện hơn nữa, cần quy định bao gồm cả người giám định trong những trường hợp cần giải quyết “vấn đề phức tạp về chuyên môn” như đã đề cập trong báo cáo tổng kết thi hành BLTTHS năm 2003. Tuy nhiên, cần những nghiên cứu sâu hơn để đưa ra quy định hợp lý về trường hợp, hình thức, mức độ “cưỡng chế” có thể sử dụng, đồng thời, cần cân nhắc đến yếu tố “danh dự, uy tín” của giám định viên với tư cách là công chức, viên chức nhà nước.

Thứ hai, về mức độ “cưỡng chế” cần thiết khi áp dụng hai biện pháp này. Ở mục 1 của bài viết, tác giả đề cập đến sự tiến bộ về kĩ thuật lập pháp khi áp giải và dẫn giải được định nghĩa chính thức trong điều luật về giải thích thuật ngữ (Điều 4 BLTTHS năm 2015). Tuy nhiên, nếu xét từ khía cạnh nội hàm khái niệm, hai định nghĩa nêu trên chưa hoàn toàn thỏa mãn yêu cầu của người nghiên cứu. Điều này bởi lẽ, căn cứ vào thuật ngữ cũng như đối tượng áp dụng, áp giải là biện pháp mang tính cưỡng chế cao hơn dẫn giải. Do đó, những người nghiên cứu có thể suy đoán mức độ cưỡng chế được sử dụng đối với hai biện pháp này. Mặc dù vậy, điều này không được thể hiện trong BLTTHS năm 2015. Thật vậy, theo khái niệm các nhà làm luật đưa ra, bản chất của hai biện pháp không có gì khác nhau ngoài đối tượng áp dụng ([10]). Tuy nhiên, Điều 127 cũng không nêu rõ mức độ cưỡng chế, biện pháp, công cụ có thể sử dụng khi cưỡng chế trong hai trường hợp này. Có quan điểm sẽ cho rằng, những vấn đề kỹ thuật, cụ thể nêu trên có thể được quy định trong các văn bản dưới luật như nghị định, hoặc thông tư, thông tư liên tịch. Tác giả không đồng ý với quan điểm này. Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 6 đã thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng về tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bổ sung nhiều nguyên tắc tư pháp tiến bộ, bổ sung và làm rõ hơn nhiệm vụ của Tòa án và Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng Hiến định. Những sửa đổi, bổ sung này đòi hỏi phải được cụ thể hóa trong BLTTHS (sửa đổi)([11]). Do đó, nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp và xác lập căn cứ pháp lý để kiểm soát chặt chẽ việc áp dụng các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân, một trong các quan điểm chỉ đạo khi xây dựng BLTTHS sửa đổi là quy định mọi biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong quá trình giải quyết vụ án phải được quy định trong BLTTHS. Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện rất rõ quan điểm này, theo đó mọi biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân cần phải được quy định bởi luật – hình thức văn bản quy phạm pháp luật chỉ Quốc hội có thẩm quyền ban hành ([12])./.

Quang Minh / Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Hiến pháp năm 2013; 2. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; 3. Nguyễn Thái Phúc, Biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế, in trong Sách chuyên khảo Những nội dung mói trong BLTTHS năm 2015 do chúng tôi Nguyễn Hòa Bình chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia; 4. Báo cáo tổng kết số 11/BC-VKSTC ngày19/11/2015 tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003; 6. Tờ trình số 11/ TTr-VKSTC-V8 ngày 23/3/2015 về dự án Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi).

([1]) Nguyễn Thái Phúc, Biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế, in trong Sách chuyên khảo Những nội dung mói trong BLTTHS năm 2015 do chúng tôi Nguyễn Hòa Bình chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, tr.237;

([2]) Báo cáo tổng kết số 11/BC-VKSTC ngày 19/11/2015 tổng kết thực tiễn thi hành 10 năm BLTTHS năm 2003, tr.31;

([4]) Nguyễn Thái Phúc, Biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế, in trong Sách chuyên khảo Những nội dung mói trong BLTTHS năm 2015 do chúng tôi Nguyễn Hòa Bình chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, tr.237;

([5]) Báo cáo số 11/BC-VKSTC, tlđd, tr.20, tr.22;

([6]) Báo cáo số 11/BC-VKSTC, tlđd, tr. 22;

[7] Xem Điều 127, BLTTHS năm 2015;

[8] Ngược lại, ở những quốc gia này, tiêu biểu như Hoa Kỳ, chương trình bảo vệ nhân chứng rất phát triển;

[9] Xem khoản 1 Điều 68 BLTTHS năm 2015;

([10]) chúng tôi Nguyễn Thái Phúc cũng có cùng nhận định như trên. Xem Nguyễn Thái Phúc, Biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế, in trong Sách chuyên khảo Những nội dung mới trong BLTTHS năm 2015 do chúng tôi Nguyễn Hòa Bình chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, tr.237;

Điều 4. Giải thích từ ngữ

k) Áp giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử. l) Dẫn giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người làm chứng, người bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử hoặc người bị hại từ chối giám định.

([11]) Tờ trình số 11/ TTr-VKSTC-V8 ngày 23/3/2015 về dự án Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi), tr.2;

([12]) Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định “2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”

Quy Định Về Biện Pháp “Áp Giải”, “Dẫn Giải” Trong Bltths Năm 2022

Khi nói đến biện pháp áp giải, dẫn giải với tư cách là biện pháp cưỡng chế, cần phân biệt với hoạt động với hoạt động giải người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người đang bị truy nã hoặc các trường hợp khác đến cơ quan có thẩm quyền. Thực tế, các hoạt động trên vẫn thường được gọi là “áp giải”, “dẫn giải” nhưng không được xem là biện pháp cưỡng chế áp giải, dẫn giải trong tố tụng hình sự.

Trong BLTTHS năm 2003 áp giải và dẫn giải được quy định rải rác trong các Chương IV, X, XI. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 đã quy định dẫn giải, áp giải thành một chương riêng và được xem là biện pháp cưỡng chế. Căn cứ theo quy định tại các điểm k, l, khoản 1, Điều 4, Điều 127 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS năm 2015), thì:

Áp giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử. Dẫn giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người làm chứng, người bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử hoặc người bị hại từ chối giám định.

Áp giải, dẫn giải là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng nhằm bảo đảm sự có mặt của người tham gia tố tụng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Mặc dù, áp giải và dẫn giải đều là biện pháp cưỡng chế nhưng áp giải và giải dẫn có nhiều điểm khác biệt. Áp giải là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc hơn so với dẫn giải. Biện pháp áp giải là biện pháp dẫn giải có vũ trang, người bị áp giải “có thể” bị khóa tay, xích chân trong quá trình áp giải. Người thi hành quyết định dẫn giải không được khóa tay, xích chân người bị dẫn giải

2. Đối tượng áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải

Đối tượng bị áp dụng biện pháp áp giải khác đối tượng bị áp dụng dẫn giải.

2.1. Đối tượng áp dụng biện pháp áp giải

Đối tượng bị áp giải có thể là:

– Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.

– Người bị buộc tội. (Người bị buộc tội gồm: người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo).

2.2. Đối tượng áp dụng biện pháp dẫn giải

Đối tượng bị dẫn giải có thể là:

– Người làm chứng trong trường hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan.

– Người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.

Trong đó:

” Lý do bất khả kháng ” được hiểu là lý do khách quan, xảy ra không phụ thuộc vào ý chí của bản thân họ, làm cho người được triệu tập không thể có mặt theo sự triệu tập, yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Ví dụ: người được triệu tập chịu ảnh hưởng của các hiện tượng xuất phát từ thiên nhiên gây ra, như lũ lụt, hỏa hoạn, bão, động đất, sóng thần,… các hiện tượng xã hội như chiến tranh, bạo loạn, đảo chính, đình công, cấm vận,…

” Trở ngại khách quan ” được hiểu là những trở ngại, khó khăn do hoàn cảnh khách quan tác động, gây ra nhưng không có lỗi của họ, làm cho người được triệu tập không thể có mặt theo theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Ví dụ: Người được triệu tập đi công tác xa, không kịp có mặt như thời gian yêu cầu.

2.3. Những người không được áp giải và dẫn giải

Không được áp giải và dẫn giải người già yếu, người bị bệnh nặng có xác nhận của Cơ quan y tế.

3. Người có thẩm quyền quyết định và thi hành dẫn giải, áp giải

3.1. Thẩm quyền quyết định việc áp giải và dẫn giải

Các chủ thể có thẩm quyền quyết định dẫn giải, áp giải bao gồm:

Quyết định áp giải, quyết định dẫn giải phải ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị áp giải, dẫn giải; thời gian, địa điểm người bị áp giải, dẫn giải phải có mặt và các nội dung quy định tại khoản 2, Điều 132 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

3.2. Cơ quan, người thi hành dẫn giải, áp giải

Cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân có thẩm quyền có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định áp giải, dẫn giải.

4. Trình tự, thủ tục tiến hành dẫn giải và áp giải

Quyết định áp giải và dẫn giải phải được lập thành văn bản.

Người thi hành quyết định áp giải, dẫn giải phải đọc, giải thích quyết định và lập biên bản về việc áp giải, dẫn giải theo quy định.

Nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch, cũng như bảo đảm an toàn trong quá trình áp giải và dẫn giải, pháp luật quy định việc áp giải và dẫn giải không được thực hiện vào ban đêm.

Việc áp giải, dẫn giải chỉ được thực hiện khi có quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và chỉ khi có quyết định áp giải, dẫn giải của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đối với người tham gia tố tụng thì mới được coi là hoạt động áp giải, dẫn giải. Nói cách khác, khi nói đến áp giải, dẫn giải với tư cách là biện pháp cưỡng chế, cần phân biệt với hoạt động với hoạt động giải người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người đang bị truy nã hoặc các trường hợp khác đến cơ quan có thẩm quyền. Trong thực tế, các hoạt động trên vẫn thường được gọi là “áp giải”, “dẫn giải” nhưng không được xem là biện pháp cưỡng chế áp giải và dẫn giải trong tố tụng hình sự.

Bạn hỏi – Luật sư trả lời

Câu hỏi 1

Vai trò của biện pháp áp giải và dẫn giải là gì?

Trả lời:

Với tư cách là một biện pháp cưỡng chế nên dẫn giải, áp giải cũng có đầy đủ các vai trò của một biện pháp cưỡng chế.

Thứ hai, giúp quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được diễn ra một cách nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật, tiết kiệm thời gian, chi phí.

Câu hỏi 2

Các yếu tố để phân biệt áp giải và dẫn giải bao gồm những yếu tố nào?

Trả lời:

Để phân biệt áp giải và dẫn giải, có thể căn cứ vào các tiêu chí: Về khái niệm, về đối tượng áp dụng, các trường hợp áp dụng và tính nghiêm khắc của từng biện pháp.

Chủ Trương Và Giải Pháp Tiếp Tục Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Nước Ta

Từ Đại hội VI, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng nghiên cứu đổi mới nhận thức, lý luận, có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp xây dựng và hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN, luôn coi đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp đổi mới phát triển đất nước. Đại hội X của Đảng xác định tiếp tục hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách để: “phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”. Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 30/01/2008 về tiếp tục hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN. Đây là một Nghị quyết có tầm chiến lược và mang tính đột phá, được triển khai thực hiện khá đồng bộ, nghiêm túc, sâu rộng; huy động được cả hệ thống chính trị tham gia tích cực.

Quá trình thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN đến nay đã nhận thức ngày càng rõ hơn về mục tiêu, đặc trưng và cơ chế vận hành của nền KTTT định hướng XHCN. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách tiếp tục được hoàn thiện, tạo khung khổ pháp lý đồng bộ, thuận lợi hơn cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện, bình đẳng và thông thoáng hơn, nâng cao hơn vai trò, sức cạnh tranh của các chủ thể, các loại hình doanh nghiệp; huy động tốt hơn các nguồn lực trong và ngoài nước; tạo nhiều việc làm mới, góp phần nâng cao sức sản xuất của xã hội. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường được hình thành ngày càng đầy đủ, đồng bộ hơn, gắn kết với thị trường khu vực và quốc tế. Hầu hết các loại giá đã vận hành theo nguyên tắc thị trường; thực hiện cơ chế giá thị trường có sự quản lý của Nhà nước đối với một số loại hàng hóa – dịch vụ thiết yếu. Vai trò của Nhà nước được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường, ngày càng phát huy dân chủ trong đời sống kinh tế – xã hội. Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng. Đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế. Tích cực xây dựng Cộng đồng ASEAN và hoàn thiện thị trường trong nước đầy đủ hơn theo cam kết WTO; đã và đang đàm phán, ký kết và thực hiện nhiều hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương thế hệ mới.

Tuy nhiên, cho đến nay đã bộc lộ một số hạn chế, yếu kém. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chưa hoàn chỉnh và đồng bộ với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện ba đột phá chiến lược. Quyền tự do kinh doanh chưa được tôn trọng đầy đủ; môi trường kinh doanh chưa thực sự bảo đảm cạnh tranh công bằng, lành mạnh; việc gia nhập, hoạt động và rút khỏi thị trường còn nhiều rào cản. Quản lý, điều hành giá cả một số hàng hóa, dịch vụ thiết yếu còn lúng túng, chưa thật sự tuân thủ theo nguyên tắc thị trường. Doanh nghiệp nhà nước còn chưa thể hiện được đầy đủ vai trò nòng cốt trên thực tế. Hầu hết doanh nghiệp ngoài nhà nước quy mô còn nhỏ, thiếu liên kết. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn hoạt động chủ yếu trong các ngành sử dụng nhiều lao động, khai thác tài nguyên và còn hạn chế trong chuyển giao công nghệ. Trình độ phát triển của các loại thị trường còn thấp;Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao, kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm; Hội nhập kinh tế quốc tế còn chưa phát huy tốt nhất các nguồn lực bên ngoài để phát triển. Các nỗ lực đổi mới kinh tế trong nước chưa thực sự đáp ứng yêu cầu các cam kết hội nhập. Nhiều bộ, ngành, địa phương, hiệp hội, doanh nghiệp chưa chủ động tận dụng cơ hội và khắc phục khó khăn, thách thức trong quá trình hội nhập.

Nguyên nhân những hạn chế, yếu kém trên là do nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn có một số vấn đề chưa rõ. Chưa thực sự phát huy đầy đủ quyền tự do kinh doanh của người dân theo quy định của Hiến pháp, pháp luật. Cơ chế thực thi và phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong tổ chức quán triệt, thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật còn kém hiệu lực, hiệu quả. Cơ chế kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, rút kinh nghiệm, năng lực phân tích, dự báo và điều chỉnh chính sách vẫn còn nhiều hạn chế.

Kế thừa Cương lĩnh và Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI, trên cơ sở tổng kết 30 năm đổi mới, chúng tôi xin đóng góp một số nội dung cơ bản để tiếp tục nghiên cứu, cụ thể là:

(1)- Tiếp tục đổi mới tư duy và nhận thức về thể chế KTTT và phát triển nền KTTT định hướng XHCN; đồng thời tiếp tục nghiên cứu để làm rõ nội dung mô hình kinh tế tổng quát về phát triển nền KTTT định hướng XHCN. Nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta là nền kinh tế tuân theo các quy luật của KTTT có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đó là nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế, có hệ thống đầy đủ, đồng bộ các loại thị trường; các chủ thể thị trường được cạnh tranh tự do theo pháp luật; giá cả được hình thành trên cơ sở cung – cầu và quy luật giá trị; thị trường ngày càng đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ các nguồn lực phát triển và là một bộ phận hữu cơ của thị trường thế giới; Nhà nước đóng vai trò phục vụ, tạo khung khổ pháp lý, hỗ trợ và quản lý phát triển nền kinh tế, tôn trọng các nguyên tắc và các quy luật của KTTT. Các nguồn lực của Nhà nước được phân bổ theo chiến lược, kế hoạch, quy hoạch và theo cơ chế thị trường.

Phát triển nền KTTT định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, định hướng, cùng với các công cụ và chính sách khác để Nhà nước điều tiết nền kinh tế đảm bảo phát triển bền vững. Kinh tế tư nhân là một động lực phát triển quan trọng của nền kinh tế. Khuyến khích phát triển các loại hình doanh nghiệp, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh với sở hữu hỗn hợp, nhất là các doanh nghiệp cổ phần. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp.

– Trong thiết kế và vận hành thể chế KTTT định hướng XHCN, cần phải tiếp tục hoàn thiện đồng bộ 3 bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế có quan hệ hữu cơ: (1) Hệ thống pháp luật, quy tắc, chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi và giao dịch kinh tế; (2) Các thể chế về chủ thể và các yếu tố, các loại thị trường trong nền kinh tế; (3) Cơ chế thực thi, kiểm tra, giám sát, điều chỉnh và xử lý vi phạm trong nền kinh tế.

(2)- Tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp. Thể chế hóa quyền tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân đã được xác lập trong Hiến pháp năm 2013. Bảo đảm minh bạch về nghĩa vụ và trách nhiệm trong thủ tục hành chính nhà nước và dịch vụ công; quyền quản lý, thu lợi của Nhà nước đối với tài sản công và quyền bình đẳng trong việc tiếp cận tài sản công của mọi chủ thể trong nền kinh tế. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền sở hữu, nhất là các thiết chế giải quyết tranh chấp dân sự, tranh chấp kinh tế.

Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trên cơ sở đẩy mạnh cổ phần hóa, bán vốn mà Nhà nước không cần nắm giữ theo nguyên tắc thị trường. Hoàn thiện thể chế định giá tài sản, kể cả đất đai, tài sản vô hình trong cổ phần hóa. Tách bạch nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh và nhiệm vụ chính trị, công ích. Tách chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước và chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Khẩn trương nghiên cứu để sớm thành lập cơ quan chuyên trách ngang bộ làm đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước. Mở rộng chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công về tổ chức bộ máy, biên chế, nhân sự và tài chính. Áp dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp cho các đơn vị sự nghiệp công có nhu cầu và điều kiện. Tiếp tục đổi mới kinh tế hợp tác và khu vực hợp tác xã, phát triển, nhân rộng các hợp tác xã kiểu mới, nhất là trong nông nghiệp, tăng cường chính sách thu hút các nguồn lực từ bên ngoài, chủ động lựa chọn và ưu đãi đối với các dự án đầu tư nước ngoài có trình độ quản lý, công nghệ hiện đại, có vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu, có liên kết với các doanh nghiệp trong nước trong phát triển công nghiệp hỗ trợ.

(3)- Phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường; đẩy mạnh cơ cấu lại thị trường tài chính, nhất là tái cơ cấu thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm, hệ thống ngân hàng thương mại và xử lý nợ xấu của nền kinh tế (bao gồm nợ xấu của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp…). Thực hiện các chính sách tín dụng, lãi suất, tỉ giá, các công cụ của Ngân hàng Nhà nước theo nguyên tắc thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để thị trường bất động sản được vận hành thông suốt, phù hợp cung – cầu. Đổi mới chính sách để khai thác có hiệu quả nguồn lực tài chính từ đất đai và tài sản, kết cấu hạ tầng trên đất. Xây dựng các thể chế hình thành thị trường sơ cấp, thứ cấp về đất đai, kể cả đất nông nghiệp thay thế cho cách thức giao đất, cho thuê đất, bảo đảm thị trường về đất đai hoạt động công khai, minh bạch và trật tự. Hoàn thiện thể chế về giá, phí, về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh. Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường; bảo đảm tính đúng, tính đủ và công khai minh bạch các yếu tố hình thành giá đối với hàng hóa, dịch vụ công thiết yếu; đồng thời có chính sách hỗ trợ phù hợp cho người nghèo, đối tượng chính sách. Không lồng ghép các chính sách xã hội trong giá. Hoàn thiện pháp luật về phí và lệ phí; rà soát, chuyển đổi chính sách phí, lệ phí đối với một số dịch vụ công sang áp dụng chế độ giá dịch vụ. Mở rộng cơ chế đấu thầu, đấu giá, thẩm định giá. Hoàn thiện thể chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

(4)- Hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ công bằng xã hội trong từng chương trình, dự án; trong từng bước, từng chính sách phát triển và bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Chú trọng nghiên cứu, ban hành đồng bộ các chính sách trợ giúp đối tượng bảo trợ xã hội. Phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, đa tầng, thống nhất, tăng tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân.

(5)- Hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế vùng và liên kết vùng, quy hoạch và phân công, phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương. Xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế vùng trên cơ sở lợi thế so sánh của từng địa phương, khắc phục không gian kinh tế bị chia cắt bởi địa giới hành chính. Tạo lập thể chế kinh tế đặc thù, đẩy mạnh cho các địa phương, vùng kinh tế trọng điểm thực sự trở thành đầu tàu, động lực lan tỏa vùng ngoại vi và cả nước. Hoàn thiện thể chế phân công, phân cấp giữa Trung ương và địa phương, vừa bảo đảm tập trung thống nhất của nền kinh tế, vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương. Đổi mới hệ thống chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia và địa phương.

(6)- Đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế. Chủ động hội nhập quốc tế, tham gia và khai thác có hiệu quả lợi ích kinh tế các hiệp định tự do hóa kinh tế song phương và đa phương, gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác cụ thể. Hoàn thiện thể chế phòng ngừa và giảm thiểu tranh chấp quốc tế; sớm hoàn thiện tương trợ tư pháp phù hợp với pháp luật quốc tế.

(7)- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về kinh tế – xã hội và phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế – xã hội. Tiếp tục điều chỉnh, hoàn chỉnh chức năng, nhiệm vụ và tổ chức hoạt động của các cấp ủy, chính quyền trong phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước tập trung ổn định kinh tế vĩ mô; thiết lập khung khổ pháp luật, chính sách và bộ máy thực thi bảo đảm các loại thị trường liên tục được hoàn thiện và hoạt động có hiệu quả, có cạnh tranh công bằng, bình đẳng và kiểm soát hiệu quả độc quyền kinh doanh dưới mọi hình thức; tổ chức cung ứng các loại dịch vụ công ích, thiết yếu; giảm bất công, bất bình đẳng về thu nhập, phúc lợi và thực hiện các nhiệm vụ xã hội khác. Tăng cường năng lực thiết kế tổng thể và giám sát quá trình thực hiện đổi mới thể chế kinh tế. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp, cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh hấp dẫn, có sức cạnh tranh cao. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân; bảo đảm quyền tự do, dân chủ trong hoạt động kinh tế của người dân theo quy định của Hiến pháp, pháp luật. Bảo đảm sự tham gia có hiệu quả của các tổ chức chính trị, xã hội, xã hội – nghề nghiệp trong xây dựng thể chế kinh tế và phát triển kinh tế – xã hội.

Nguồn Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam

Giải Pháp Hoàn Thiện Marketing Online

Giải Pháp Hoàn Thiện Marketing Online, Giải Pháp Hoàn Thiện Hoạt Động Marketing Cho Dòng Sản Phẩm Acnes Của Công Ty Rohto Mentholatum, Giải Pháp Marketing Online, Báo Cáo Thực Tập Giải Pháp Marketing Online, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Giải Pháp Hoàn Thiện Kỹ Năng Mềm, Các Giải Pháp Hoàn Thiện Công Tác Bán Hàng, Giải Pháp Hoàn Thiện Quy Trình Nhập Khẩu, Giải Pháp Hoàn Thiện Kỹ Năng Mềm Cho Sinh Viên Trường Đại Học Thương Mại, Đề Tài Đề Xuất Giải Pháp Hoàn Thiện Kỹ Năng Mềm Cho Sinh Viên Thương Mại, Luận Văn Thạc Sĩ Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Công Tác Quản Trị Nguồn Nhân L, Giải Pháp Hoàn Thiện The Chế Gan Ket Tang Truong Kinh Kinh Tế, Đề án Hoàn Thiện Khung Pháp Lý Để Quản Lý Xử Lý Đối Với Các Loại Tài Sả, Các Nhiệm Vụ Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền, Không Ngừng Hoàn Thiện Luật Pháp Về Tôn Giáo, Hoàn Thiện Pháp Luật Về Giáo Dục Đại Học ở Việt Nam Hiện Nay, Hoàn Thiện Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Hoàn Thiện Pháp Luật Thi Hành án Dân Sự ở Việt Nam Hiện Nay, Báo Cáo Đề án Xây Dựng, Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Về Phòng Chống Tội Phạm, Đề án Xây Dựng, Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Về Phòng, Chống Tội Phạm, Tiêu Chí Đánh Giá Xây Dựng Và Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật ở Việt Nam Hiện, Nghị Quyết Về Chiến Lược Xây Dựng Và Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Việt N, Báo Cáo Kết Quả Thực Hiện Đề án Xây Dựng, Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Về Phòng, Chống Tội Phạm, Hoàn Thiện Công Tác Quản Lý Đầu Tư Tỉnh Bắc Kạn Giai Đoạn 2016 2020, Giải Pháp E Marketing, Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Marketing Mix, Giải Pháp Marketing Trong Logistic Luận án Thạc Sĩ, Báo Cáo Marketing Online, Online Marketing, Chi Phí Marketing Online, Marketing Online, Mẫu Cv Xin Việc Marketing Online, Luận án Marketing Online, Cơ Sở Lý Thuyết Marketing Online, Báo Cáo Thực Tập Marketing Online, Cẩm Nang Marketing Online, Tài Liệu Marketing Online, Marketing Online Khách Sạn, Sách Học Marketing Online, Kế Hoạch Marketing Online, Kế Hoạch Online Marketing, Kế Hoạch Online Marketing Mẫu, Quy Trình Online Marketing, Luận Văn Online Marketing, Sách Marketing Online, Marketing Online Đối Với Công Ty Du Lịch, Chương Trình Đào Tạo Marketing Online, Khóa Luận Marketing Online, Chuyên Đề Thực Tập Marketing Online, Khóa Luận Về Marketing Online, Đề Cương Khóa Luận Marketing Online, Đánh Giá Hoạt Động Marketing Online, Khóa Luận Tốt Nghiệp Marketing Online, Khóa Luận Tốt Nghiệp Về Marketing Online, Luan An Chien Luoc Marketing Online, 3.3.5. Điều Kiện Để Thực Hiện Marketing Online, Điều Kiện Để Thực Hiện Marketing Online, Hoàn Thiện Văn Hóa ẩm Thực, Dự Toán Hoàn Thiện Nhà, 7 Bước Để Lập Kế Hoạch Marketing Hoàn Hảo, Một Kế Hoạch Marketing Hoàn Chỉnh, Phân Tích Thực Trạng Marketing Online Bất Động Sản, Hoàn Thiện Công Tác Quản Trị Rủi Ro, Hoàn Thiện ẩm Thực Nhật, Dự Toán Hoàn Thiện Biệt Thự, Tờ Trình Xin Hỗ Trợ Thiệt Hại Do Thiên Tai, Hỏa Hoạn, Hoàn Thiện Công Tác Kế Toán, Hoàn Thiện Công Tác Quản Trị Bán Hàng, Hoàn Thiện Kế Toán Nguyên Vật Liệu, Hoàn Thiện Quy Trình Quản Lý Đơn Hàng May, Hoàn Thiện Chương Trình Giáo Dục, Luận Văn Hoàn Thiện Công Tác Đãi Ngộ Nhân Sự, Bài Thu Hoạch Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Truong, Khóa Luận Hoàn Thiện Văn Hóa ẩm Thực, Tcvn Thi Công Và Nghiệm Thu Hoàn Thiện, Mẫu Văn Bản Chấp Thuận Hoàn Thiện Ký Kết Hợp Đồng, Hoàn Thiện Công Tác Kế Toán Nguyên Vật Liệu, Hoàn Thiện Công Tác Tuyển Dụng Nhân Sự, Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng, Báo Cáo Thực Tập Hoàn Thiện Công Tác Tuyển Dụng, Hoàn Thiện Chương Trình Trưng Bày Sản Phẩm, Đề Xuất Hoàn Thiện Về Công Tác Văn Phòng Tại Ubnd, Đề Tài Hoàn Thiện Quy Trình Check Out Tại Bộ Phận Lễ Tân Của Khách Sạn, Khoá Luận Hoàn Thiện Quy Trình Bán Hàng, Khóa Luận Hoàn Thiện Văn Hóa ẩm Thực Nhật Bản, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Tw 5 Khóa 12 (bài Đã Hoàn Thiện), Việc Củng Cố Và Hoàn Thiện Đội Ngũ Cán Bộ Làm Công Tác Thể Thao, Hoàn Thiện Công Tác Tuyển Dung Nhân Lực , Hoàn Thiện Quy Trình Quản Lý Đơn Hàng May Gia Công Cmt, Luận Văn Hoàn Thiện Hệ Thống Kiểm Soát Nội Bộ, Thành Tựu Và Hạn Chế Sau 30 Năm Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Xã Hội Chủ Nghĩa, Luận Văn Hoàn Thiện Tổ Chức Công Tác Kế Toán, Luận Văn Thạc Sĩ Hoàn Thiện Công Tác Quản Lý Dự An Đầu Tư Xây Dựng, Hoàn Thiện Chương Trình Trưng Bày Sản Phẩm Tại Nhà Thuốc, Khóa Luận Hoàn Thiện Công Tác Tuyển Dụng, Hoàn Thiện Chương Trình Trưng Bày Sản Phẩm Tại Nhà Thuốc Và, Luận Văn Hoàn Thiện Công Tác Tuyển Dụng Nhân Sự, Hoàn Thiện Công Tác Đào Tạo Và Phát Triển Nguồn Nhân Lực, Yêu Cầu Và Nguyên Tắc Hoàn Thiện Tiêu Thụ Và Xác Định Kết Quả Kinh Doanh,

Giải Pháp Hoàn Thiện Marketing Online, Giải Pháp Hoàn Thiện Hoạt Động Marketing Cho Dòng Sản Phẩm Acnes Của Công Ty Rohto Mentholatum, Giải Pháp Marketing Online, Báo Cáo Thực Tập Giải Pháp Marketing Online, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Giải Pháp Hoàn Thiện Kỹ Năng Mềm, Các Giải Pháp Hoàn Thiện Công Tác Bán Hàng, Giải Pháp Hoàn Thiện Quy Trình Nhập Khẩu, Giải Pháp Hoàn Thiện Kỹ Năng Mềm Cho Sinh Viên Trường Đại Học Thương Mại, Đề Tài Đề Xuất Giải Pháp Hoàn Thiện Kỹ Năng Mềm Cho Sinh Viên Thương Mại, Luận Văn Thạc Sĩ Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Công Tác Quản Trị Nguồn Nhân L, Giải Pháp Hoàn Thiện The Chế Gan Ket Tang Truong Kinh Kinh Tế, Đề án Hoàn Thiện Khung Pháp Lý Để Quản Lý Xử Lý Đối Với Các Loại Tài Sả, Các Nhiệm Vụ Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền, Không Ngừng Hoàn Thiện Luật Pháp Về Tôn Giáo, Hoàn Thiện Pháp Luật Về Giáo Dục Đại Học ở Việt Nam Hiện Nay, Hoàn Thiện Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Hoàn Thiện Pháp Luật Thi Hành án Dân Sự ở Việt Nam Hiện Nay, Báo Cáo Đề án Xây Dựng, Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Về Phòng Chống Tội Phạm, Đề án Xây Dựng, Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Về Phòng, Chống Tội Phạm, Tiêu Chí Đánh Giá Xây Dựng Và Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật ở Việt Nam Hiện, Nghị Quyết Về Chiến Lược Xây Dựng Và Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Việt N, Báo Cáo Kết Quả Thực Hiện Đề án Xây Dựng, Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Về Phòng, Chống Tội Phạm, Hoàn Thiện Công Tác Quản Lý Đầu Tư Tỉnh Bắc Kạn Giai Đoạn 2016 2020, Giải Pháp E Marketing, Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Marketing Mix, Giải Pháp Marketing Trong Logistic Luận án Thạc Sĩ, Báo Cáo Marketing Online, Online Marketing, Chi Phí Marketing Online, Marketing Online, Mẫu Cv Xin Việc Marketing Online, Luận án Marketing Online, Cơ Sở Lý Thuyết Marketing Online, Báo Cáo Thực Tập Marketing Online, Cẩm Nang Marketing Online, Tài Liệu Marketing Online, Marketing Online Khách Sạn, Sách Học Marketing Online, Kế Hoạch Marketing Online, Kế Hoạch Online Marketing, Kế Hoạch Online Marketing Mẫu, Quy Trình Online Marketing, Luận Văn Online Marketing, Sách Marketing Online, Marketing Online Đối Với Công Ty Du Lịch, Chương Trình Đào Tạo Marketing Online, Khóa Luận Marketing Online, Chuyên Đề Thực Tập Marketing Online,

Bạn đang xem bài viết Hướng Nghiên Cứu, Hoàn Thiện Chế Định Áp Giải, Dẫn Giải Trong Bltths 2022 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!