Xem Nhiều 1/2023 #️ Khủng Hoảng Venezuela: Giải Pháp Nào? # Top 7 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Khủng Hoảng Venezuela: Giải Pháp Nào? # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Khủng Hoảng Venezuela: Giải Pháp Nào? mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Năm thập niên về trước, Venezuela từng là một quốc gia giàu mạnh và dân chủ vững chắc nhất trong vùng, trong đó có tự do truyền thông, hệ thống chính trị rộng mở và các đảng chính trị cạnh tranh thay nhau nắm quyền trong hòa bình. Hạ tầng cơ sở của Venezuela thời đó thuộc hạng nhất Nam Mỹ. Mặc dầu nó vẫn còn nhiều vấn đề như tham nhũng, bất công và sai trái, Venezuela đã hơn xa bất cứ một quốc gia đang phát triển khác. Nhưng vài thập niên sau, Venezuela trở thành một nước nghèo đói, một nhà nước hoàn toàn thất bại và tội phạm hóa mà lãnh đạo là những kẻ chuyên quyền và phụ thuộc nặng nề vào các thế lực ngoại bang, nhất là Cuba, Nga, Trung Quốc, và Thổ Nhĩ Kỳ.

Vì sao ra nông nỗi này?

Một cách tóm tắt, chủ nghĩa xã hội, dân túy, giá dầu, cũng như các chính sách điều hành quốc gia độc đoán và sai lầm bởi lãnh đạo bất tài, là những yếu tố đã đưa Venezuela đến khủng hoảng lâu nay.

Vào thập niên 1970, Venezuela là một trong hai mươi quốc gia giàu nhất thế giới, tổng sản lượng quốc gia (GDP) cao hơn cả Tây Ban Nha, Hy Lạp, Do Thái, và chỉ thua Anh 13 phần trăm. Nhưng vào đầu thập niên 1980, giá dầu sụt giảm và cả thị trường dầu hỏa suy yếu đã chấm dứt thời kỳ vàng son của nước này. Một nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào dầu hỏa này khi suy yếu đã tác động sâu xa lên bao nhiêu lĩnh vực khác, từ giáo dục, y tế, tiền tệ, lạm phát, ngân hàng, thất nghiệp v.v… Sau một thập niên trì trệ kinh tế, người dân Venezuela trước đó quen sống sung sướng trở thành bất mãn và vỡ mộng. Thời thế đã tạo anh hùng … giả. Hugo Chávez thực hiện cuộc đảo chánh nhưng không thành ngày 4 tháng Hai năm 1992, vì thế bị giam tù rồi trở thành anh hùng dân gian không tưởng tại Venezuela. Sau khi được trả tự do, Chávez đã tranh cử và đắc cử tổng thống năm 1998, chấm dứt hệ thống dân chủ lưỡng đảng kéo dài 40 năm tại Venezuela. Những gì diễn ra sau đó là lịch sử. Và Nicolás Maduro là người được Hugo Chávez chọn làm thừa kế.

Kể từ khi Maduro lên cầm quyền, mọi thứ đều trở nên tồi tệ hơn nữa. Tổng sản lượng quốc gia của Venezuela năm 2013 là 234,4 tỷ đô la Mỹ, năm 2018 chỉ còn 96,3 tỷ, giảm hơn một nửa. Chưa có quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát ở kỷ lục cao như Venezuela, 1,37 triệu phần trăm. Nghĩa là nếu một người có được trong tay 10 ngàn đô la dành dụm vào đầu năm thì đến cuối năm chỉ còn trị giá 73 xu (Tạp chí The Economist cho rằng tỷ lệ lạm phát lên đến 1,7 triệu phần trăm, cho nên 10 ngàn thì chỉ còn 59 xu). Sự thiếu hụt triền miên về thức ăn, thuốc men và điện nước đã làm cho khoảng ba triệu người Venezuela bỏ nước ra đi kể từ năm 2014, trong đó gần nửa triệu đã đến hai quốc gia Mexico và Hoa Kỳ. Tỷ lệ thất nghiệp hiện nay là 34,3 phần trăm. 8 trên 10 người Venezuela được khảo cứu cho biết họ không có đủ thức ăn tại nhà. Tỷ lệ giết người tại Venezuela là thuộc cao nhất thế giới, 58 trên 100 ngàn người. Các dịch vụ công căn bản như giáo dục, y tế và an ninh cũng không còn được bảo đảm nữa. Vào năm 1961, Venezuela được xem là quốc gia đã loại trừ được bệnh sốt rét, thì giờ đây nó đã trở lại, ảnh hưởng hơn 400 ngàn người vào năm 2017. Bệnh sởi cũng trở lại nước này.

Tóm lại, chính quyền Nicolás Maduro tại Venezuela đã thất bại hoàn toàn trong việc điều hành quản trị kinh tế và mọi mặt đời sống, đẩy người dân vào đường cùng của đói nghèo, thất học, bệnh tật và tội phạm. Nhưng Maduro chỉ là người thừa kế. Người đã đưa Venezuela vào con đường tội lỗi này chính là Hugo Chávez. Một chế độ và lãnh đạo bất tài, thối nát và thất bại toàn diện như thế không có bất cứ một lý do chính đáng nào để tồn tại, bởi nó thách đố mọi lôgích, lý lẽ và tình cảm của con người.

Giải pháp quân sự?

Sẽ không có một giải pháp chính trị nào hoàn hảo cho tình hình chính trị phức tạp và lắm chia rẽ như tại Venezuela. Những hệ lụy mà chính quyền Nicolás Maduro, hay người tiền nhiệm Hugo Chávez, để lại hơn hai thập niên qua là chồng chất.

Các cuộc biểu tình rầm rộ lên đến vài trăm ngàn người tại Venezuela, có khi cả triệu người trên toàn quốc, trong những năm qua cũng như cuối tháng Giêng vừa qua thể hiện sự bất mãn tột cùng của người dân với chế độ cầm quyền. Nhưng biểu tình thôi dường như chưa thay đổi được điều gì sâu sắc. Vì thế mà nhiều người cho rằng chỉ có lật đổ chế độ này bằng bạo lực thì mới giải quyết được vấn đề. Nhưng quân đội bấy lâu nay vẫn đứng về phía cầm quyền. Vì thế khi nghe tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump gợi ý về giải pháp quân sự cho Venezuela, hiển nhiên nhiều người vui mừng và hoan nghênh ý tưởng này.

Nhưng can thiệp bằng quân sự, do Hoa Kỳ lãnh đạo, có phải là một giải pháp tốt cho Venezuela? Có thể sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ chỉ cần một ngày là hạ sập được chế độ Maduro, nhưng không có gì bảo đảm là Hoa Kỳ có khả năng duy trì và ổn định an ninh nơi này trong thời gian ngắn rồi mọi chuyện sẽ ổn thỏa. Cuộc chiến Iraq và sau đó Afghanistan cũng như các bài học về chiến tranh trước đây đã làm cho Hoa Kỳ ngày nay rất ngần ngại trong việc tham chiến bất cứ nơi nào. Sau George W Bush, Barack Obama chủ trương hạn chế sự can thiệp về quân sự của Hoa Kỳ, đặc biệt tại những nơi không có tính cách chiến lược hay ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và an ninh quốc gia của Hoa Kỳ.

Donald Trump cũng chủ trương giới hạn các hoạt động quân sự, đề cao chủ trương giao dịch (transactional approach). Tuy Trump tuyên bố “chúng ta có nhiều giải pháp cho Venezuela kể cả một giải pháp quân sự khả dĩ, nếu cần thiết”, tức ngược lại với chủ trương bình thường của mình, phần lớn các thành viên trụ cột của chính quyền Hoa Kỳ không tán thành giải pháp này (tuy John Bolton có ám chỉ can thiệp bằng quân sự). Lý do dễ hiểu, bởi vì ngoài khả năng có thể bị sa lầy thêm lần nữa, giải pháp quân sự sẽ tốn kém về tài chánh lẫn nhân mạng, uy tín và chính nghĩa của Hoa Kỳ sẽ tiếp tục bị tổn hại, và qua đó ảnh hưởng sâu đậm lên các chiến lược ưu tiên hiện nay của Hoa Kỳ, trong đó có mục tiêu đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis từng nói “Khủng hoảng tại Venezuela không phải là một vấn đề quân sự”.

Thêm vào đó, mọi giải pháp quân sự chỉ là nhất thời, bởi nó không phải là giải pháp cho một bài toán phức tạp tại Venezuela, và chắc chắn không phải là giải pháp mang lại dân chủ. Các nước láng giềng Venezuela đều chống lại giải pháp quân sự. Đó là một tiền lệ mà họ đều e ngại bởi rằng nếu Hoa Kỳ làm được với Venezuela thì cũng có thể đối với họ. Ngoài ra, xây dựng lại quốc gia này với một nền kinh tế kiệt quệ, một quân đội ảnh hưởng quá sâu rộng lên mọi lĩnh vực công, và sự bắt đầu khôi phục lại các dịch vụ căn bản như y tế, giáo dục và thực thi pháp luật, là một thử thách cực kỳ lớn. Giải pháp cho bài toán của Venezuela phải tính thật kỹ đến toàn bộ đến các yếu tố này, nếu không thì giá phải trả sẽ rất đắt đỏ.

Chiến lược nào cho Venezuela?

Giải pháp tối hảo cho Venezuela là ông Nicolás Maduro chính thức từ nhiệm và rời khỏi nước càng sớm càng tốt (ông cùng gia đình và một số thuộc hạ thân tín nhất); quân đội Venezuela đứng ngoài và không can thiệp vấn đề chính trị quốc gia; và ông Juan Guaido tổ chức lại cuộc tổng tuyển cử toàn quốc càng sớm càng tốt với sự giám sát của quốc tế.

Tất cả tùy thuộc khả năng ứng biến chính trị của phe đối lập, đứng đầu là Juan Guaido.

Những rủi ro phải cân nhắc

Hoa Kỳ và các nước Nam Mỹ khác chắc chắn không muốn nhìn thấy một khủng hoảng Venezuela. Nếu cuộc đấu tranh chính trị của phe đối lập, đứng đầu là Juan Guaido, kỳ này không thành thì hậu quả để lại sẽ tàn khốc, và sẽ mất một thời gian rất lâu nữa để có một cơ hội khác có đầy đủ các yếu tố thuận lợi như hiện nay. Không thành công kỳ này thì Venezuela sẽ trở thành một nước phá sản toàn diện để rồi hậu quả nội địa lan tràn sang các nước khác và trong vùng.

Nếu điều trên xảy ra, tình thế sẽ trở nên phức tạp, do đó cần tính trước mọi bước để tiên liệu và đối phó hiệu quả. Chẳng hạn, Hoa Kỳ và các quốc gia công nhận Juan Guaido có thái độ nào, và sẽ làm gì cụ thể, để bảo vệ Juan Guaido và các nhân sự đối lập chủ chốt, nếu chính quyền Maduro sử dụng bạo lực để đàn áp?

Vài lời kết

Có rất nhiều điều đáng suy ngẫm và có thể rút tỉa cho công cuộc vận động dân chủ tại Việt Nam nếu quan sát kỹ diễn biến tại Venezuela, mặc dầu có rất nhiều khác biệt giữa hai quốc gia này. Nhưng đây là đề tài cho một dịp khác.

Sau cùng chúng ta có quyền hy vọng rằng chính nghĩa sẽ thắng hung tàn, chí nhân sẽ thay cường bạo, và lẽ phải sẽ đánh bại họng súng, lần này.

(Úc Châu, 01/02/2019)

Giải Pháp Nào Cho Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Ở Châu Âu?

Liệu chính sách thắt chặt tiền tệ, giảm nợ công có thể giúp các nước thuộc khu vực đồng tiền chung Châu Âu thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế đã kéo dài từ năm 2008 không?

Sự cần thiết của chính sách thắt chặt tiền tệ

Vào năm 2010, đứng trước tình trạng nợ công trầm trọng của một số nước thuộc khu vực đồng tiền chung (Eurozone) như Hy Lạp với khoản nợ công lên đến khoảng 120% GDP và thêm vào đó là một khoản thâm hụt ngân sách lên đến 12% GDP hay như Ireland, với một khoản thâm hụt ngân sách lên đến 32% GDP. Trước tình hình nguy cấp này, nếu các nền kinh tế eurozone không đưa ra những phương án kịp thời thì điều này sẽ làm mất niềm tin của các nhà đầu tư vào sự ổn định của đồng euro. Trước thực trạng đó, nhiều chuyên gia kinh tế đã lo ngại rằng, cuộc khủng hoảng nợ công ở Eurozone sẽ làm cho đồng euro biến mất. Chính vì thế mà Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) cùng với Quỹ Tiền Tệ quốc tế (IMF) đã ngay lập tức yêu cầu các nước trên phải thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm đưa chỉ số thâm hụt ngân sách về mức 2% GDP cho phép bởi hiệp ước Maastrich nếu những nước này muốn được hưởng khoản hỗ trợ của những tổ chức trên.

Không chỉ những nước đang gặp nhiều khó khăn như Hy Lạp, Tây Ban Nha hay gần đây nhất là Cộng hòa Síp mới phải áp dụng các chính sách tiền tệ thắt chặt mà ngay cả những nền kinh tế hàng đầu như Pháp, Ý cũng đã phải thông qua những chính sách tươgn tự nhằm đưa chỉ số thâm hụt ngân sách về gần 2% GDP từ nay cho đến cuối năm 2014. Theo Thủ tướng Đức Angela Merkel thì các chính sách tiền tệ thắt chặt có thể giúp cho các nền kinh tế phát triển một cách bền vững, ổn định hơn và sự tăng trưởng của kinh tế Đức trong giai đoạn khủng hoảng này là một minh chứng rõ ràng.

Tuy nhiên chúng ta cũng không nên quên rằng, Đức đã quá quen với các chính sách tiền tệ thắt chặt, giảm chi tiêu, tăng thuế thu nhập nhằm hạn chế lạm phát. Một trong những lý do của việc này đó là sau Thế chiến thứ nhất, Đức đã phải đối mặt với hiện tượng siêu lạm phát, điều này luôn là nỗi ám ảnh lớn đối với nền kinh tế đầu tàu của EU. Hơn nữa, khác với những nước khá cứng nhắc trong các chính sách tăng giảm lương như Pháp, thì các doanh nghiệp Đức lại có thể dễ dàng giảm lương của nhân viên. Đây là một yếu tố quan trọng giúp các doanh nghiệp Đức cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài, đó cũng là lý do tại sao Đức lại có một cán cân thương mại thăng dư.

Tuy cần nhưng chưa đủ để đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế.

Liệu có thể nói chính sách thắt chặt tiền tệ là đáp án tối ưu nhất của bài toán tăng trưởng kinh tế không khi mà một số nước Châu Âu như là Pháp, Tây Ban Nha,…vẫn đang phải đối mặt với tỉ lệ người thất nghiệp rất cao?. Việc lượng người thất nghiệp còn cao khiến cho sức mua giảm mạnh. Do nhu cầu của thị trường thấp, các doanh nghiệp không có nhiều động lực để đầu tư phát triển sản xuất. Ngoài ra các chính sách tài khóa như tăng thuế thu nhập cũng được áp dụng để tăng nguồn ngân sách của nhà nước. Các chính sách này vừa có ảnh hưởng xấu đến sản xuất lẫn tiêu dùng.

Cũng như các nước Châu Âu, Mỹ cũng đã và đang chịu nhiều ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế từ cuối năm 2008, nhưng thay vì chỉ áp dụng các chính sách tiền tệ thắt chặt để, chính phủ Mỹ đã nới lỏng chính sách tiền tệ để khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn, tuyển dụng nhiều hơn để sản xuất. Tỉ lệ thất nghiệp giảm cũng đồng nghĩa với việc sức mua tăng mạnh và điều nay lại thúc đấy sản xuất. Kinh tế Mỹ đã tăng trưởng trở lại và tỉ lệ thất nghiệp hiện nay là 7.6%, mức thấp nhất kể từ năm 2008. Điều này cho thấy rằng các chính sách tiền tệ nới lỏng có thể giúp một nền kinh tế duy trì được sự tăng trưởng. Gần đây, trong một chuyến công du, Bộ Trưởng tài chính Hoa Kỳ Jack Lew đã nhấn mạnh rằng các nước châu Âu cần nới lỏng chính sách tiền tệ hơn để khuyến khích sản xuất và tiêu dùng. Đối với Mỹ, châu Âu là một trong những đối tác thương mại hàng đầu và sự suy thoái của nền kinh tế Châu Âu cũng có nhiều ảnh hường đến sự tăng trưởng của kinh tế Mỹ.

Khuyến khích tiêu dùng

Ngay cả ở trong khu vực Eurozone cũng có nhiều ý kiến trái chiều về việc áp dụng các chính sách thắt chặt tiền tệ. Pháp, Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha luôn thể hiện quan điểm rằng các nước cần nới lỏng các chính sách tiền tệ để có thể đưa nên kinh tế châu Âu tăng trưởng trở lại. Liệu các nước trên và Mỹ có thể gây sức ép lên Ủy Ban Châu Âu và Đức để nới lỏng các chính sách tiền tệ không? Điều này là hoàn toàn có thể khi sự tăng trưởng của kinh tế Đức phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu. Do đó việc kinh tế các nước trong khu vực đồng tiền chung châu Âu tăng trưởng trở lại sẽ là đòn bẩy cho sự tăng trưởng của kinh tế Đức. Một số chuyên gia cũng đưa ra nhận định rằng chỉ cần Đức áp dụng một chính sách khuyến khích tiêu dùng ví dụ như tăng lương thì điều này co thể sẽ là một cú hích cho nền kinh tế của các nước láng giềng.

Suy cho cùng thì trong hoàn cảnh mà mức nợ công và thâm hụt ngân sách của các nước thuộc khu vực đồng tiền chung là rất lớn đến mức mà nhiều người đã từng lo ngại về tương lai của đồng euro thì việc cần làm lúc đó là giảm nợ công và thâm hụt ngân sách. Nhưng một khi tình hình đã được cải thiện thì cần ưu tiên sản xuất và tiêu dùng vì hai yếu tố trên có thể giúp nền kinh tế tăng trưởng trở lại. Các chính sách phải được áp dụng một cách linh hoạt, phù hợp theo từng giai đoạn.

Phương Anh

Khủng Hoảng Tài Chính : 4 Nguyên Tắc Giải Cứu

Sau cuộc khủng hoảng Phố Wall, những “rung động” tài chính tại Hi Lạp cũng đang khiến thế giới đứng trước nhiều lựa chọn mới. Hơn thế, thế giới đang đối diện với ngày càng nhiều cuộc khủng hoảng đủ loại mang tính toàn cầu, liên đới nhiều nước dù phát triển nhất thế giới hay đang và chậm phát triển. Chính vì vậy, tìm ra những nguyên tắc chính để giải quyết khủng hoảng tài chính là một trong những điều đầu tiên cần làm của các nhà hoạch định chính sách.

Bảo đảm lòng tin và duy trì ổn định dòng vốn huy động và cho vay qua hệ thống các ngân hàng thương mại nói riêng, thị trường tài chính trong nước và quốc tế nói chung ngày càng là điều kiện tiên quyết cho lối thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế

Những nỗ lực giải cứu cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu hiện đang được soạn thảo và bàn cãi trong các nghị trường quốc gia, cũng như trên diễn đàn kinh tế thế giới… Mặc dầu còn chưa rõ ràng và còn cần hoàn thiện thêm, song có thể nhận dạng một số thông điệp và nguyên tắc sau:

Phối hợp “bàn tay” Nhà nước và thị trường”

Thực tế cho thấy, không chỉ nền kinh tế do nhà nước chỉ huy tập trung thái quá không mang lại hiệu quả như mong đợi, mà ngay cả thị trường tự do cao độ cũng không

giải phóng triệt để tài năng sáng tạo của cá nhân, không khắc phục được sự bất bình đẳng trong thu nhập và tài sản giữa các tầng lớp, giai cấp trong mỗi nước và giữa nước này với nước khác.

Hơn nữa, sự chủ động của tư nhân và tự do cạnh tranh thị trường vì mục tiêu lợi nhuận ích kỷ thuần tuý, thiếu kiểm soát, có thể trực tiếp và gián tiếp tích tụ ngày càng đậm những xung lực phát triển thiếu bền vững, lãng phí, gây ra những làn “sóng thần” khủng hoảng và tổn thất to lớn, toàn diện cho mỗi quốc gia và toàn nhân loại… Nói cách khác, khi “bàn tay hữu hình” của nhà nước hoặc nắm quá chặt, hoặc bị buông lỏng quá mức, thì cũng đồng nghĩa với quá trình

đã, đang và sẽ từng ngày từng giờ tạo ra những

nguồn lực và thị trường “ảo”, gây đổ vỡ và tổn thất nặng nề cho đời sống kinh tế-xã hội và môi trường…

Những mắc mớ tài chính hiện nay chứng tỏ rằng, các khiếm khuyết của thị trường tự do phải được sửa chữa bằng sự can thiệp chủ động và tích cực của nhà nước, để các quy luật kinh tế khách quan vận động có lợi nhất cho xã hội. Thế giới đang cần một hướng đi

mới trong hành trình

tìm kiếm vai trò, xác định liều lượng và

các công cụ can thiệp của mô hình

nhà nước kiểu mới, mang tính đại diện cao hơn cho các lợi ích chung của nhân loại. Trong đó, sẽ có yêu cầu cao hơn về tăng cường vai trò của luật pháp, chế tài, điều tiết nhà nước, kiểm soát các thể chế thị trường và cho vay tín dụng, thiết lập hệ thống thông tin công khai, minh bạch, phát triển các công cụ dự báo, cảnh báo và trừng phạt các sai trái và gian lận… sao cho vừa tuân thủ các yêu cầu và lợi ích thị trường,

vừa không làm xấu đi sự ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm hài hòa các lợi ích trong quá trình phát triển, nhất là không lạm dụng sức chịu đựng và đổ gánh nặng khủng hoảng lên người dân, người tiêu dùng.

Đa dạng hoá và phối hợp các nguồn lực

Để giải cứu vững chắc nền kinh tế thế giới thoát khỏi những hệ luỵ như hiện nay, Tổng thống Pháp đã kêu gọi phải “tái xây dựng một chủ nghĩa tư bản điều chỉnh”. Tổng thống Nga thì nhấn mạnh: “…Ngày nay thế giới cần một hệ thống tài chính mới công bằng hơn. Thời gian thống trị của một nền kinh tế và một đồng tiền đã lùi vào dĩ vãng. Chúng ta cần hợp tác để tiến tới xây dựng một hệ thống kinh tế – tài chính mới công bằng hơn trên thế giới dựa trên những nguyên tắc đa cực, luật pháp và có tính đến các lợi ích chung”. Còn Thủ tướng Ấn Độ đi xa hơn khi chỉ rõ: “Cần một sáng kiến quốc tế mới để cải cách cơ cấu và hệ thống tài chính thế giới với những quy định có hiệu quả hơn và hệ thống giám sát đa phương mạnh hơn. Cải cách cơ cấu càng mở rộng càng tốt”. Bản thân nước Mỹ, qua tuyên bố mới đây của cả Tổng thống và Ngoại trưởng nước này, cũng tự nhận thấy đã qua rồi thời kỳ nước Mỹ không cần lắng nghe ai và tự tiện hành động theo ý mình…

Có thể nói, thế giới hiện đại và ngày càng “phẳng” hơn đang làm cho các nước xích lại gần nhau hơn bởi những quan tâm chung trong cuộc chiến với những vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống, cũng như các cuộc khủng hoảng toàn cầu. Giải cứu cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu hiện nay không thể chỉ trông cậy vào một nguồn lực và trong phạm vi một quốc gia, mà đòi hỏi cần có sự đa dạng hoá và phối hợp chặt chẽ các nguồn lực toàn quốc và toàn cầu. Vấn đề then chốt để giải cứu một nền kinh tế thành công là các chính sách phát triển được lựa chọn phải phù hợp cả với bối cảnh quốc tế, lẫn các điều kiện lịch sử cụ thể trong nước, cho phép khai mở, cộng hưởng cao nhất các tiềm năng và hiệu quả các nguồn lực phát triển trong và ngoài nước, tham gia sớm, ngày càng chặt chẽ và hiệu quả vào “chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu”. Đồng thời, cần chủ động tham khảo, đan xen và phối hợp chính sách giữa các quốc gia trong phạm vi khu vực, cũng như toàn cầu, trước hết trong các lĩnh vực thương mại, đầu tư, dịch vụ và lao động; coi trọng các yêu cầu và thúc đẩy hoàn thiện các định chế quốc gia và quốc tế quản lý các quá trình phối hợp và trao đổi đó, để gia tăng sức mạnh, khả năng và hiệu quả giải quyết các vấn đề quốc gia, khu vực và toàn cầu.

Chú ý tính hai mặt của chính sách

Do nhiều nguyên nhân dẫn đến những bất ổn của tình hình tài chính mỗi nước, nên trong quá trình giải cứu, cần chú ý đến việc phối hợp đồng bộ các giải pháp chính sách phù hợp, nhất là “liệu pháp kích cầu” . Về bản chất, đó là việc chủ động sử dụng “bàn tay nhà nước” tác động tích cực tới tổng cung và tổng cầu xã hội thống nhất, có tổ chức và có chủ đích, theo hướng khuyến khích đầu tư và mở rộng quy mô tiêu dùng, kích hoạt và tăng động lực phát triển kinh tế của DN, nhất là khu vực kinh tế tư nhân…

Đặc trưng của những công cụ được dùng chủ yếu trong liệu pháp kích cầu ở các nền kinh tế thị trường thường là: Áp dụng chính sách nới lỏng ở các mức độ khác nhau cả chính sách tài chính, lẫn tiền tệ và tín dụng, như miễn, giảm, hoàn thuế, khoanh nợ, giãn nợ, nới lỏng các điều kiện tín dụng, giảm lãi suất và tăng quy mô dư nợ tín dụng ngân hàng cho các hoạt động kinh doanh và tiêu dùng, tăng lương, tăng phát hành tiền và trái phiếu nợ chính phủ, gia tăng quy mô và phạm vi các hoạt động chi tiêu công và đầu tư nhà nước… Gia tăng mức độ tự do hoá trong kinh doanh, giảm bớt và thu hep lĩnh vực độc quyền nhà nước, mở rộng tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài và tư nhân trong các DN cổ phần có vốn nhà nước; khuyến khích các hoạt động mua lại, sáp nhập và tái cấu trúc cơ cấu kinh tế vĩ mô và vi mô… Giảm bớt

rào cản thủ tục hành chính các loại cho hoạt động kinh doanh và tiêu dùng; khuyến khích giảm giá, đồng thời có thể có sự gia tăng các hình thức bảo bộ phi thuế quan

đi đôi với

kiểm soát an toàn vĩ mô đối với thị trường nội địa…

Vũ khí chủ lực trong “liệu pháp kích cầu” thường là các “gói kích cầu”, tức quỹ tài chính của chính phủ trực tiếp chi cho các hoạt động kích cầu đầu tư và tiêu dùng, chống suy giảm, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội theo kế hoạch được các cấp có thẩm quyền định đoạt. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu năm 2009, sự xuất hiện các “gói kích cầu” này là phổ biến ở các quốc gia, dù phát triển hay đang phát triển, lẫn ở các tổ chức khu vực và quốc tế như IMF, EU, ASEAN, với quy mô ngày càng tăng, từ hàng ngàn tỷ USD như ở Mỹ, hàng trăm tỷ USD như ở Nhật, Trung Quốc, Nga và các nước thành viên EU…

Đồng thời, vai trò của công tác thông tin, dự báo và giám sát, cảnh báo an toàn, nhất là an toàn hệ thống tài chính-ngân hàng, là hết sức quan trọng và không thể coi nhẹ trong bất luận trường hợp nào và vào thời điểm nào… Ngoài ra, cần luôn tỉnh táo ngăn chặn, giảm thiểu các tác động

lan tỏa, dây chuyền có tính hai mặt của các biến cố và chính sách kinh tế đang và sẽ có mặt trên thị trường trong nước và quốc tế.

Giữ vững lòng tin cho khu vực kinh tế tư nhân

Có lẽ chưa

bao giờ yếu tố thông tin và lòng tin, nhất là trong khu vực kinh tế tư nhân và thị trường tài chính, lại có vai trò nhạy cảm và quan trọng như hiện nay, cả trong phát triển và quản lý khủng hoảng kinh tế. Cả trên cấp độ quốc gia và toàn cầu, vi mô và vĩ mô, khi tình trạng các thông tin bất đối xứng, bị hạn chế, chậm trễ, thiếu thốn và thiếu chính xác càng nặng nề và phổ biến, thì

tình trạng

khủng hoảng càng trầm trọng và kéo dài. Đặc biệt, bảo đảm lòng tin và duy trì ổn định dòng vốn

huy động và cho vay qua hệ thống các ngân hàng thương mại nói riêng, thị trường tài chính trong nước và quốc tế nói chung,

ngày càng là điều kiện tiên quyết cho lối thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế.

Trưởng phòng nghiên cứu Kinh tế –

Viện Nghiên cứu phát triển KT – XH Hà Nội



Australia Tìm Giải Pháp Giải Quyết Khủng Hoảng Rác Thải Nhựa

Australia đang nỗ lực xây dựng giải pháp phù hợp và đề ra chiến lược giải quyết cuộc khủng hoảng rác thải nhựa.

Australia có kế hoạch tổ chức một hội nghị quốc gia vào tháng 3/2020 nhằm tìm giải pháp cho vấn đề rác thải nhựa đang ngày càng trở nên nổi cộm ở nước này.. Đây sẽ là hội nghị đầu tiên về rác thải nhựa diễn ra ở Australia.

Theo phóng viên TTXVN tại Sydney, trong thông báo ngày 30/12, Bộ trưởng Môi trường Australia Sussan Ley cho biết hội nghị sẽ quy tụ các nhà bán lẻ, nhà nghiên cứu, nhà khoa học và đại diện chính phủ nhằm xây dựng giải pháp phù hợp và đề ra chiến lược giải quyết cuộc khủng hoảng rác thải nhựa.

Bà Ley cho rằng hội nghị sẽ là cơ hội để các thành viên tham gia có thể đưa ra các sáng kiến và ý tưởng mới, cũng như khuyến khích người dân quan tâm hơn tới vấn đề môi trường và rác thải nhựa.

Bà nhấn mạnh việc nâng cao ý thức của người tiêu dùng mới là yếu tố cốt lõi và lâu dài đối với vấn đề rác thải nhựa, theo đó làm sao để giới trẻ Australia có thể nhận thức được vấn đề và tìm cách thay đổi để cải thiện.

Cũng theo Bộ trưởng Môi trường Australia, nhiệm vụ cần thiết nhất mà mỗi quốc gia nên làm là ngăn chặn tình trạng rác thải nhựa tiếp tục đổ ra đại dương.

Điều này đòi hỏi những hành động thực tiễn, từ nhỏ nhất trên phạm vi cá nhân cho tới những hành động có quy mô toàn cầu.

Dự kiến, bắt đầu từ năm 2021, Australia sẽ ngừng hoàn toàn hoạt động xuất khẩu rác thải nhựa ra nước ngoài. Tuy nhiên, lượng nhựa sử dụng trong sinh hoạt và thương mại của nước này dự báo vẫn sẽ tăng lên gấp đôi trong vòng hai thập kỷ tới.

Các nhà khoa học dự đoán tới năm 2050, lượng rác thải nhựa trôi dạt ra đại dương sẽ nhiều hơn tổng số lượng cá sinh sống.

Ông cho rằng tỷ lệ 12% rác thải nhựa được tái chế tại Australia là quá thấp và cam kết cải thiện tỷ lệ này, cũng như ban hành lệnh cấm xuất khẩu rác thải nhựa bắt đầu từ năm 2021.

Lệnh cấm được cho là đã mở đầu cho một cuộc khủng hoảng tại các cấp tiểu bang và vùng lãnh thổ Australia trong việc xử lý và tái chế rác thải nhựa ngày càng tăng.

Chỉ riêng trong năm tài khóa 2018, Australia xuất khẩu 4,5 triệu tấn rác thải có thể tái chế ra nước ngoài, trong đó phần lớn là tới các nước châu Á. Tổng chi phí để trả cho các hoạt động này lên đến 2,8 tỷ AUS (1,88 tỷ USD).

Theo TTXVN

Bạn đang xem bài viết Khủng Hoảng Venezuela: Giải Pháp Nào? trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!