Xem Nhiều 2/2023 #️ Khung Pháp Lý Và Thực Trạng Nợ Công Ở Việt Nam # Top 5 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Khung Pháp Lý Và Thực Trạng Nợ Công Ở Việt Nam # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Khung Pháp Lý Và Thực Trạng Nợ Công Ở Việt Nam mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

(BKTO) – Luật Quản lý nợ công (QLNC) mới đã được Quốc hội thông qua năm 2017 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2018 thay thế cho Luật QLNC năm 2009, đây là khuôn khổ pháp lý rất quan trọng cho hoạt động quản lý nợ công hiện nay.

Nhiều thay đổi trong Luật Quản lý nợ công 2017 

Luật Quản lý nợ công (QLNC) mới đã được Quốc hội thông qua năm 2017 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2018 thay thế cho Luật QLNC năm 2009, đây là khuôn khổ pháp lý rất quan trọng cho hoạt động quản lý nợ công hiện nay. 

So với năm 2009, Luật QLNC 2017 đã bổ sung các tiêu chuẩn, chuẩn mực quốc tế về các công cụ quản lý nợ công, đặc biệt là các chỉ tiêu an toàn nợ công. Ngoài ra, kế hoạch vay – trả nợ công 5 năm, chương trình quản lý nợ công 3 năm và kế hoạch vay – trả nợ công hằng năm cũng được Luật quy định rất rõ. 

Về cơ quan quản lý nợ công, Luật QLNC 2017 đã có bước thay đổi rõ rệt khi quy định Bộ Tài chính là cơ quan chủ quản giúp Chính phủ quản lý nợ công và Bộ Tài chính cũng là cơ quan đầu mối duy nhất huy động vốn vay thay vì phân cấp cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước như Luật cũ. Bên cạnh đó, Luật mới cũng đã tăng cường thẩm quyền của Quốc hội và Chính phủ, trong đó: Quốc hội quyết định kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm, hạn mức bảo lãnh chính phủ 5 năm và quyết định hạn mức cho vay lại. Như vậy, Luật mới đã phát huy nguyên tắc chung là tăng thẩm quyền của tập thể và hạn chế thẩm quyền. 

Một điểm nữa là Luật QLNC 2017 đã bổ sung nhiều quy định để tăng cường quản lý, siết chặt đối tượng cho vay lại, trong đó chỉ tập trung cho vay lại với chính quyền địa phương và DN, đơn vị sự nghiệp công lập với các điều kiện thắt chặt, đảm bảo khả năng trả nợ. Đồng thời, Luật cũng bổ sung quy định tăng cường công tác thẩm định, đánh giá và quản lý rủi ro bảo lãnh chính phủ, rủi ro cho vay lại; quy định đảm bảo khả năng trả nợ công, bao gồm: huy động vốn vay trong khả năng trả nợ, bảo đảm các chỉ tiêu an toàn nợ công, các khoản vay mới chỉ được thực hiện sau khi đánh giá tác động đến quy mô, khả năng trả nợ; quy định cụ thể quản lý và xử lý rủi ro nợ công. 

Mục tiêu quản lý nợ công được xác định là phải đảm bảo nhiệm vụ huy động vốn vay để đáp ứng nhu cầu cân đối NSNN và phát triển kinh tế – xã hội với mức độ chi phí, rủi ro phù hợp. Như vậy, ngoài vay cho bù đắp bội chi thì Việt Nam có thêm hoạt động cho vay lại, bao gồm các đối tượng vay lại là DN, chính quyền địa phương và đơn vị sự nghiệp công lập. Ngoài ra, việc quản lý nợ công còn phải đảm bảo việc các DN được tiếp cận vốn thông qua bảo lãnh chính phủ. Trong nhiều năm qua, hoạt động này đã hỗ trợ rất nhiều DNNN huy động vốn vay trong và ngoài nước để đầu tư. Mục tiêu thứ hai của quản lý nợ công là kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu an toàn nợ công được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong từng thời kỳ. Mục tiêu thứ ba là thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn trong nước. Đây là mục tiêu phải có của quản lý nợ công để tạo ra đường cong lãi suất cho thị trường trái phiếu trong nước.

Tái cơ cấu để đảm bảo an toàn nợ công 

Năm 2016, nợ công của Việt Nam đã lên mức báo động, gần 64%/GDP (trần nợ công Quốc hội cho phép là 65%) và còn báo động hơn khi tốc độ gia tăng nợ công cao gấp 2,5 lần so với tốc độ tăng GDP. Trong bối cảnh đó, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững; thông qua hàng loạt các biện pháp về kiềm chế tốc độ tăng nợ công, kiềm chế thâm hụt ngân sách, cắt giảm bảo lãnh chính phủ. Sau đó, nợ công của Việt Nam đã có xu hướng giảm và còn giảm hơn kỳ vọng của cơ quan quản lý nợ công. Tính đến hết năm 2018, nợ công ở mức 58%/GDP và khoản bảo lãnh chính phủ gần như đã cắt giảm hoàn toàn, chỉ duy trì nợ chính phủ.

Về cơ cấu huy động vốn vay, nhiều năm qua, cơ cấu vay thông qua trái phiếu chính phủ tại thị trường trong nước tăng lên đáng kể trong tổng lượng vốn vay. Đây cũng là một trong những thành công về việc phát triển thị trường vốn trong nước, đảm bảo mục tiêu quản lý nợ công và phát triển thị trường vốn nói chung. 

Về cơ cấu nợ của Chính phủ, những năm qua Chính phủ đã rất thành công trong việc chuyển từ phụ thuộc nhiều vào vay nước ngoài sang vay trong nước. Cụ thể: trước đây, tỷ lệ khoản vay nợ nước ngoài chiếm khoảng 60% tổng nợ chính phủ, nhưng hiện nay chỉ còn khoảng 38%. Trong đó, nợ nước ngoài chủ yếu là vay ODA và vay ưu đãi (khoảng 98%) từ Nhật Bản, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). 

Mặc dù nợ công đã thoát khỏi tình trạng báo động nhưng chúng ta đang phải đối mặt với một số khó khăn, bởi Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình thấp từ năm 2008, không thuộc diện hỗ trợ của Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) từ năm 2017, điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam phải trả nợ nhanh gấp đôi cho các khoản vay từ IDA (khoảng 15 tỷ USD). Cùng với đó, khả năng tiếp cận vốn ODA, vốn vay ưu đãi giảm, thay thế bằng các khoản vay kém ưu đãi hơn.

Một vấn đề nữa là hiệu quả sử dụng vốn vay, KTNN từ lâu đã rất quan tâm và tập trung kiểm toán đánh giá vấn đề này. 

Để quản lý nợ công một cách hiệu quả, Bộ Tài chính đã xác định một số biện pháp cụ thể sau:

Bên cạnh đó, để đảm bảo trần nợ công, Bộ Tài chính sẽ kiểm soát tốc độ gia tăng dư nợ công thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế; tuân thủ mức bội chi NSNN và lộ trình cắt giảm bội chi trong trung và dài hạn, duy trì bội chi thấp hơn dự toán được Quốc hội cho phép; siết chặt bảo lãnh chính phủ và quản lý chặt chẽ cho vay lại; đảm bảo cân đối, bố trí đủ nguồn để trả nợ đầy đủ, đúng hạn.

THÙY LÊ (ghi) Theo Báo Kiểm toán số 30 ra ngày 25-7-2019

Nợ Công Ở Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp Tăng Cường Quản Lý

Thứ hai, 29 Tháng 10 2018 18:15

(LLCT) – Nợ công của Việt Nam hiện nay vẫn trong giới hạn an toàn, cơ cấu nợ công được điều chỉnh theo hướng bền vững song quy mô nợ công đang có xu hướng tăng nhanh, tỷ lệ nợ công so với GDP tăng nhanh, nợ nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn, hiệu quả sử dụng nợ công chưa cao… Trên cơ sở đánh giá thực trạng nợ công Việt Nam, bài viết đề xuất một số giải pháp chủ như: hạch toán nợ công theo chuẩn quốc tế, kiểm soát và quản lý chặt chẽ việc vay vốn, cân đối nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài… nhằm tăng cường quản lý và kiểm soát nợ công, đảm bảo nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội đất nước.

1. Thực trạng nợ công và quản lý nợ công ở Việt Nam

Theo Luật Quản lý nợ công số 20/2017/QH14:nợ công ở Việt Nam bao gồm nợ Chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của Chính quyền địa phương. Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài được ký kết, phát hành nhân danh nhà nước, nhân danh chính phủ, bao gồm: nợ do chính phủ phát hành công cụ nợ; nợ do Chính phủ ký thỏa thuận vay trong nước, nước ngoài; nợ của ngân sách Trung ương vay từ quỹ dự trữ tài chính của nhà nước, ngân quỹ nhà nước, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách. Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ do doanh nghiệp, ngân hàng chính sách của nhà nước vay được Chính phủ bảo lãnh, bao gồm: nợ của doanh nghiệp được chính phủ bảo lãnh; nợ của ngân hàng chính sách của nhà nước được chính phủ bảo lãnh. Nợ của chính quyền địa phương là khoản nợ phát sinh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh vay, bao gồm: nợ do phát hành trái phiếu của chính quyền địa phương; nợ do vay lại vốn ODA hoặc vay ưu đãi nước ngoài; nợ của ngân sách địa phương vay từ ngân hàng chính sách của nhà nước, quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh, ngân quỹ nhà nước và vay khác theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Theo cách xác định nợ công như trên, tính đến cuối năm 2017, nợ công của Việt Nam là 3.126 nghìn tỷ đồng, chiếm 62,6% GDP. Trong đó, nợ chính phủ chiếm 82,7%; nợ chính phủ bảo lãnh chiếm 16,12 % và nợ của chính quyền địa phương chiếm 1,12% (năm 2016).

Xét theo cơ cấu loại tiền: đồng Việt Nam chiếm tỷ trọng 55%; USD chiếm tỷ trọng 16%; yên Nhật 13%; EURO chiếm 7%; các đồng tiền khác chiếm 9%.

Xét theo nguồn gốc vay nợ, nợ trong nước chiếm 60%; nợ nước ngoài chiếm 40%.

Xét về kỳ hạn nợ: nợ trong nước chủ yếu phát hành trái phiếu với kỳ hạn nợ có xu hướng tăng lên. Nếu trong giai đoạn 2011-2013 phần lớn là nợ ngắn hạn thì đến năm 2014 kỳ hạn nợ là 3 năm; năm 2015 kỳ hạn nợ là 4,4 năm; năm 2016 kỳ hạn là 5 năm. Năm 2017, Chính phủ đã phát hành 159,9 nghìn tỷ đồng trái phiếu với kỳ hạn bình quân là 13,53%/năm. Đối với các khoản vay nước ngoài, chủ yếu là các khoản vay ưu đãi hỗ trợ phát triển chính thức đến từ các nước phát triển và các định chế tài chính quốc tế như Nhật Bản, Hàn Quốc, WB, IMF… với kỳ hạn tương đối dài (khoảng 30-40 năm) và lãi suất vay ưu đãi. Các khoản nợ nước ngoài của khu vực công hiện nay chủ yếu tập trung vào 4 loại ngoại tệ đó là USD, JPY, EURO, SDR; trong đó chủ yếu bằng đồng USD vẫn là đồng tiền chủ chốt (chiếm tới 50% trong giai đoạn 2006-2016).

Nhìn chung, cơ cấu nợ công Việt Nam xét trên nhiều khía cạnh đã từng bước được điều chỉnh theo hướng bền vững, phù hợp với chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn 2030. Trong tổng nợ công của Việt Nam, tỷ trọng nợ nước ngoài có xu hướng giảm; tỷ trọng nợ trong nước có xu hướng tăng giúp nợ công Việt Nam có thể tránh được các nguy cơ tiềm ẩn rủi ro về tỷ giá, lãi suất, đồng thời giúp củng cố, phát triển bền vững hơn thị trường tài chính trong nước.

Trong những năm gần đây, nợ công Việt Nam tăng nhanh do nhiều nguyên nhân như tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm; hiệu quả đầu tư công thấp; tình trạng lãng phí, thất thoát trong đầu tư công; việc huy động, phân bổ vốn vay còn dàn trải nhưng chủ yếu do hai nguyên nhân chính:

Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình phát triển nên cần vốn cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội. Giai đoạn 2001-2005, đầu tư toàn xã hội chiếm 39,1% GDP; giai đoạn 2006-2010 chiếm 39,2% GDP; giai đoạn 2011-2017 chiếm 31,7% GDP. Đầu tư ở mức cao trong khi tỷ lệ tiết kiệm của nền kinh tế còn thấp, do vậy đi vay bù đắp hiếu hụt nguồn vốn cho đầu tư đã làm gia tăng nợ công.

Trong cơ cấu đầu tư chung toàn xã hội, vốn đầu tư khu vực nhà nước chiếm tỷ trọng cao, bình quân giai đoạn 2011-2015 chiếm 39,1% GDP; giai đoạn 2016-2017 chiếm khoảng 36% GDP. Trong những năm gần đây, mặc dù tỷ trọng đầu tư của khu vực nhà nước có xu hướng giảm nhưng trong một số ngành, vốn đầu tư nhà nước chiếm tỷ trọng quá lớn trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội như giáo dục – đào tạo, y tế, sản xuất và phân phối điện, khí đốt, thông tin và truyền thông, khoa học công nghệ…

Bội chi ngân sách gia tăng trong thời gian dài khiến vay nợ trở thành nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước. Trong những năm gần đây, tốc độ tăng chi ngân sách của Việt Nam quá nhanh trong khi nguồn thu ngân sách không tăng tương ứng dẫn đến thâm hụt ngân sách, làm tăng nợ công. Trong cơ cấu chi ngân sách nhà nước, chi đầu tư có xu hướng ngày càng giảm, trong khi chi thường xuyên lại có xu hướng tăng đã không tạo nền tảng cho sản xuất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn để mang lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Mặc dù tỷ trọng chi đầu tư phát triển trên tổng chi ngân sách nhà nước giảm dần qua các năm: 26,4% (2011); 27,47% (2012); 24,97% (2013); 23,3% (2014); 20,12% (2015); 19,72% (2016) nhưng đầu tư vốn ngân sách nhà nước lại chủ yếu dựa vào nguồn bội chi ngân sách thông qua vay nợ trong nước và vay nợ nước ngoài.

Bên cạnh một số mặt tích cực, quản lý nợ công Việt Nam thời gian qua, đặc biệt là việc quản lý và kiểm soát nợ công ở nước ta đang đặt ra những vấn đề cần xem xét một cách nghiêm túc, cụ thể:

Cách tính nợ công: hiện nay cách xác định nợ công của Việt Nam có sự khác biệt so với quốc tế. Theo Luật Quản lý nợ công số 29/20009/QH12 thông qua ngày 17-6-2009 và Luật Quản lý nợ công số 20/2017/QH14 thông qua ngày 23-11-2017, nợ công gồm: nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương. Với cách tính này, nợ công của Việt Nam hiện nay chưa bao gồm nợ của các doanh nghiệp nhà nước nên chưa phù hợp với cách tiếp cận của thế giới về phạm vi nợ công. Do vậy, nếu tính cả nợ của Ngân hàng nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, bảo hiểm xã hội… thì nợ công của Việt Nam có thể cao hơn mức công bố. Trong tình huống xấu nhất, nếu các tổ chức này không trả được nợ hoặc các doanh nghiệp nhà nước bị phá sản sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và vị thế quốc gia. Khi đó Chính phủ sẽ phải nhận trách nhiệm trả nợ thay cho những tổ chức hoặc doanh nghiệp trên.

Quy mô nợ công:Tỷ lệ nợ công so với GDP của Việt Nam trong thời gian qua tăng khá nhanh, đặc biệt trong giai đoạn 2012-2016 từ 50,8% lên 63,7% GDP), có thể vượt ngưỡng cho phép (65% GDP), tiềm ẩn rủi ro về khủng hoảng nợ công trong tương lai. Hiện nay, nghĩa vụ trả nợ so với thu ngân sách khá cao và có xu hướng tăng nhanh.

Riêng trong năm 2017, nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ khoảng 260.150 tỷ đồng (trong đó trả nợ trong nước là 214.878 tỷ đồng và trả nợ vay nước ngoài là 45.272 tỷ đồng). Do áp lực về nghĩa vụ trả nợ, Chính phủ đã phải áp dụng phương pháp vay đảo nợ (vay nợ mới để trả nợ cũ) để có nguồn tiền trả nợ: năm 2013 đảo nợ 47 nghìn tỷ đồng; năm 2014 đảo nợ là 106 nghìn tỷ đồng; năm 2015 đảo nợ là 125 nghìn tỷ đồng và năm 2016 đảo nợ là 95 nghìn tỷ đồng.

Nợ nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nợ công: Trong cơ cấu nợ công của Việt Nam, tỷ lệ nợ nước ngoài/GDP khá cao: Năm 2010, nợ nước ngoài chiếm 31% GDP (khoảng 44,349 tỷ USD), đến năm 2017 chiếm khoảng 45,2% GDP (khoảng 109,9 tỷ USD). Tỷ lệ nợ nước ngoài cao không chỉ phản ánh khả năng tích lũy vốn trong nước hạn chế, phụ thuộc nhiều vào bên ngoài mà còn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro thanh khoản ngoại tệ cho các tổ chức tài chính, đặc biệt là hệ thống ngân hàng thương mại nếu vấn đề kiểm soát dòng vốn ngoại tệ không hiệu quả. Các khoản nợ nước ngoài trước đây chủ yếu là nợ trung và dài hạn nhưng những năm gần đây (đặc biệt giai đoạn 2010 đến nay), tỷ lệ nợ ngắn hạn có xu hướng tăng lên (dưới 5 năm) do Việt Nam đã ra khỏi nhóm nước có thu nhập thấp nên các ưu đãi vay bị cắt giảm, phải chuyển sang vay thương mại, gây khó khăn cho ngân sách nhà nước do tỷ lệ trả lãi vay và nợ gốc so với tổng thu, chi ngân sách ở mức cao. Mặc khác, nợ nước ngoài trong cơ cấu nợ công của Việt Nam hiện nay chủ yếu tập trung vào 4 loại ngoại tệ USD, JPY, EURO, SRD có thể tạo ra các nguy cơ rủi ro tiềm ẩn gắn với sự biến động giá trị của các đồng tiền này.

Hiệu quả sử dụng nợ chưa cao:Phần lớn nợ công Việt Nam được sử dụng cho mục đích đầu tư, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế bền vững nhưng việc sử dụng các khoản nợ đó chưa đạt hiệu quả cao. Vẫn còn tình trạng chậm trễ, không đồng bộ trong giải ngân vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và nguồn trái phiếu Chính phủ. Theo tổng cục thống kê, ước tính vốn đầu tư của khu vực nhà nước năm 2017 khoảng 594,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,7% tổng vốn đầu tư xã hội nhưng hiệu quả đầu tư chưa cao. Điều này được thể hiện thông qua chỉ số ICOR (Bảng 6).

Tình trạng lãng phí, thất thoát trong đầu tư công còn phổ biến; tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải vẫn chưa được khắc phục; nhiều dự án thời gian thi công kéo dài, chậm tiến độ làm tăng vốn đầu tư gây thất thoát nguồn lực tài chính của Nhà nước. Nguyên nhân là do cơ chế quản lý đầu tư công còn yếu kém; pháp luật đầu tư công chưa hoàn thiện, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn quản lý đầu tư công, gây khó khăn trong việc thực hiện đã làm chậm quá trình cải thiện hiệu quả đầu tư công ở nước ta.

2. Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý và kiểm soát nợ công

Hai là, kiểm soát và quản lý chặt chẽ việc vay vốn, chỉ thực hiện cho vay đối với những dự án khả thi, có khả năng trả nợ; gắn trách nhiệm trả nợ cho đối tượng đầu tư và sử dụng vốn vay; thẩm định kỹ các khoản đầu tư, dự án cần vay vốn. Các công trình, dự án đang sử dụng nguồn vốn vay cần phải được thường xuyên kiểm soát tiến độ thực hiện, tránh thất thoát lãng phí.

Ba là, cần quy định cụ thể về thời điểm công bố thông tin, về số liệu nợ công; tăng cường kiểm tra, giám sát và minh bạch thông tin về nợ công; thường xuyên nghiên cứu đánh giá mức độ an toàn, bền vững nợ công để kịp thời điều chỉnh cơ cấu nợ công phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội, thu chi ngân sách và khả năng trả nợ.

Năm là, ban hành các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của nợ công, bao gồm các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán và khả năng thanh khoản của nợ công, đồng thời giám sát chặt chẽ việc tuân thủ; cải cách mạnh mẽ công tác quản lý đầu tư công ở tất cả các khâu của chu kỳ dự án từ quy hoạch, lựa chọn dự án, giám sát thực hiện dự án đến đánh giá dự án qua việc nâng cao chất lượng thể chế quản lý đầu tư công.

Sáu là,chủ động điều hành ngân sách theo hướng siết chặt kỷ luật tài khóa, đẩy mạnh việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc chi tiêu, đảm bảo đúng chế độ, chính sách quy định, đúng dự toán được giao và khả năng thu ngân sách nhà nước; giữa bội chi ngân sách trong giới hạn cho phép; phấn đấu tăng thu, tiết kiệm chi để giảm bội chi ngân sách nhà nước.

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2018

1. Phạm Thế Anh & Nguyễn Hồng Ngọc: Hiệu ứng nợ công với tăng trưởng kinh tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam, Tạp chí Những vấn đề kinh tế & Chính trị thế giới,số 10 (234)/2015, tr.47-54.

2. Kinh tế 2017 -2018: Việt Nam & Thế giới, Thời báo Kinh tế Việt Nam, Nxb Thông tin & Truyền thông.

3. Luật Quản lý nợ công số 20/2017/QH14.

4. Nguyễn Trọng Tài: Nợ công với sự ổn định thị trường tài chính, Tạp chí Ngân hàng,số 4-2017, tr.2-12.

5. Nguyễn Xuân Trường & Phạm Thị Khánh Vân: Xác định ngưỡng nợ nước ngoài an toàn cho Việt Nam đến năm 2020 theo mô hình đường cong Laffer nợ, Tạp chí Ngân hàng, số 9-2013, tr.13-16.

Đoàn Ngọc Phúc

Trường Đại học Tài chính Marketing

Thất Nghiệp Ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp.

Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp., Tiểu Luận Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay Thực Trạng Và Giải Pháp, Tiểu Luận Về Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay Thực Trạng Và Giải Pháp, Thất Nghiệp ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp, Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Tại Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp, Tiểu Luận Về Thất Nghiệp ở Việt Nam. Thực Trạng Giải Pháp, Thực Trạng Thực Hiện Pháp Luật ở Việt Nam Hiện Nay, Thực Hiện Dân Chủ ở Cấp Xã Thực Trạng Và Giải Pháp, Khoa Học, Công Nghệ Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp, Quan Điểm, Thực Trạng, Giải Pháp Đổi Mới Giáo Dục Đại Học Việt Nam, Giải Pháp Đẩy Mạnh Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Gắn Với Phát Triển Kinh Tế Tri Thức, Nhập Khẩu Tư Bản Trong Điều Kiện Việt Nam- Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Nguồn Lực , Nhập Khẩu Tư Bản Trong Điều Kiện Việt Nam- Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Nguồn Lực, Thực Trạng áp Dụng Pháp Luật Hiện Nay, Thực Trạng Giáo Dục Việt Nam Hiện Nay, Thực Trạng, Nguyên Nhân Hậu Quả Giải Pháp, Thực Trạng Nhân Cách Con Người Việt Nam Hiện Nay, Thực Trạng Công Tác Chính Sách ở Việt Nam Hiện Nay, Năng Lượng Tái Tạo Tại Việt Nam – Hiện Trạng Và Thách Thức, Tiểu Luận Thực Trạng Giáo Dục Việt Nam Hiện Nay, Thuc Trang Va Giai Phap Kham Chua Benh, Thực Trạng Giải Pháp Xây Dựng Khu Vực Phogphongf Thủ Huyện, Thực Trạng Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Xã Hội, Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Cán Bộ ở Cơ Quan, Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Cán Bộ ở Đia Phương, Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Hiến Pháp:bảo Đảm Thục Hiện Văn Hóa Giáo Dục Của Con Người Trong Hiến Pháp 2013, Công Tác Tham Mưu Của Phòng Tổ Chức Cán Bộ, Thực Trạng Và Giải Pháp, Thuc Trang Va Giai Phap Ve Cai Cach Hanh Chinh Tai Dia Phuong, Thực Trạng Chất Lượng Các Doanh Nghiệp Việt, Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thuc Trang Va Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Tiếp Tục Cuộc Vận Động Học Tập Làm Theo Hcm, Về Thực Trạng Sản Xuất Và Khả Năng ứng Dụng Công Nghệ Cao Trong Nông Nghiệp Hiện Nay ở Nước Ta, Thực Trạng Sản Xuất Và Khả Năng ứng Dụng Công Nghệ Cao Trong Nông Nghiệp Hiện Nay ở Nước Ta, Thực Trạng Quảng Bá Thương Hiệu Của Doanh Nghiệp Việt, Thuc Trang Va Giai Phap Cong Tac Cai Cach Hanh Chinh Tai Dia Phuong Cap Huyen, Tiểu Luận Thực Trạng Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Đảng Viên, Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Cán Bộ, Công Viên Chức ở Cơ Quan, Có Thể Thực Hiện Giải Pháp Nào Sau Đây Trong Mạch Dao Động Anten?, Bai Hoc Cua Khoan Ho, Thuc Trang Va Huong Di Cho Nong Nghiep Viet Nam Trong Tuong Lai, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Tiếp Tục Cuộc Vận Động Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức Hồ Chí Minh, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Bài Thu Hoach Thưc Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Gắn Với An Ninh Quốc Phòng, Văn Bản Pháp Luật Nào Điều Chỉnh Quá Trình Ký Kết Thực Hiện Và Giải Quyết , Tham Luận Giai Phap Thuc Hien Tot Ke Hoach Duoc Khonggiao, Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Chủ Trương Đường Lối Thoát, Cong Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa Gắn Với Phát Triển Kinh Tế Tri Thức ở Việt Nam, Thực Trạng, Phân Tích Và Đề Xuất Những Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Đội Ngũ Lãnh Đạo Cấ, Thực Trạng, Phân Tích Và Đề Xuất Những Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Đội Ngũ Lãnh Đạo Cấ, Đồng Chí Hãy Phân Tích, Đánh Giá Thực Trạng Và Đưa Ra Các Kiến Nghị, Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượn, Đồng Chí Hãy Phân Tích, Đánh Giá Thực Trạng Và Đưa Ra Các Kiến Nghị, Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượn, Thuc Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Hội Họp, Tổ Chức Sự Kiện Cấp Phòng, Giai Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Quân Đội, Thực Trạng Thực Hiện Các Nguyên Tắc Giáo Dục Trong Nhà Trường Phổ Thông Hiện Nay, Tìm Hiểu Chủ Trương Và Kết Quả Thực Hiện Đổi Mới Cơ Chế Quản Lý Sản Xuất Nông Nghiệp Trong Giai Đoạn, Tìm Hiểu Chủ Trương Và Kết Quả Thực Hiện Đổi Mới Cơ Chế Quản Lý Sản Xuất Nông Nghiệp Trong Giai Đoạn, Thực Trạng Và Những Giải Pháp Chính Nhằm Kiện Toàn Hệ Thống Bảo Tàng Trong Phạm Vi Cả Nước, Phương Thức Giải Quyết Các Tranh Chấp Kinh Tế Theo Qui Định Của Pháp Luật Hiện Nay, Bai Thu Hoạch Những Nhiệm Vụ Giải Pháp Để Thực Hiện Tốt Chủ Đề 2020 Về Tăng Cường Khối Đại Đoàn Kế, Bai Thu Hoạch Những Nhiệm Vụ Giải Pháp Để Thực Hiện Tốt Chủ Đề 2020 Về Tăng Cường Khối Đại Đoàn Kế, Công Tác Lãnh Đạo Thực Hiện Chủ Chương Của Đảng , Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Và Thực Hien Chỉ, Công Tác Lãnh Đạo Thực Hiện Chủ Chương Của Đảng , Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Và Thực Hien Chỉ, Cong Tac Lanh Đạo Thực Hiện Chủ Truong Của Đang Chính Sach Pháp Luạt Nhà Nươc Va Thực Hiện Chỉ Thj N, Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nâng Cao Công Tác Quản Trị Nhân Lực Công Ty, Đề Xuất Kiến Nghị Những Giải Pháp Để Tổ Chức Thực Hiện Nghị Quyết Trong Thời Gian Tới, Đề Xuất Kiến Nghị Các Giải Pháp Tổ Chức Thực Hiện Nghị Tư 5 Khóa 12 Tại Cơ Quan Trường Thcs Quyết Tr, Tham Luan Ve Thuc Trang Trang Thiet Bi Ky Thuat Nghiep Vu, Pháp Luật Về Tuyển Dụng Viên Chức ở Vn Hiện Nay Trạg Và Giải Pháp, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay. , Phân Tích Những Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Hiện Trang Nuôi Tôm Công Nghiệp, Quy Định Pháp Luật Về Khiếu Nại Là Cơ Sở Pháp Lý Để Công Dân Thực Hiện Qu, Báo Cáo Tổng Kết Thực Hiện Chiến Lược Cán Bộ Thời Kỳ Đẩy Mạnh Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Đất Nước, Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Và Sứ Mệnh Lịch Sử Của Nó Trong Giai Đoạn Hiện Nay, De Tài Cuối Khóa Thuc Trang Chung Thục Tai Ubnd Xã Và Bien Phap Khắc Phuc, Thực Hiện Tăng Trưởng Kinh Tế Gắn Với Đảm Bảo Công Bằng Xã Hội ở Việt Nam Hiện Nay, Hướng Dẫn Thực Hiện Thống Kê Kiểm Kê Đất Đai Và Xây Dựng Bản Đồ Hiện Trạng Sử Dụng Đất, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Nhiệm Vụ Và Giai Pháp Xây Dựng Đẳn Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Thực Trạng Hôn Nhân Hiện Nay, Phân Tích Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Hực Trạng Sản Xuất Và Khả Năng ứng Dụng Công Nghệ Cao Trong Nông Nghiệp Hiện Nay ở Nước Ta, Hãy Phân Tích Khả Năng Và Hiện Trạng Phát Triển Cây Công Nghiệp Và Cây Đặc Sản Trong Vùng, Hiện Trạng Phát Triển Và Phân Bố Nông Nghiệp Vùng Duyên Hải Miền Trung., Công Tác Lãnh Đạo Thực Hieenjchur Trương Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Nhà Nwowcsvaf Thực Hiện Chỉ T, Thực Trạng Đói Nghèo ở Thạch Hà Hiện Nay, Báo Cáo Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Hiến Pháp, Hiến Pháp Mới Nhất Của Việt Nam, Luật Hiến Pháp Việt Nam, Bài Giải Tài Chính Doanh Nghiệp Hiện Đại, Nhiẹm Vu Giải Pháp Xây Dụng Đảng Hiên Nay, Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa ở Việt Nam, Hãy Giải Thích 5 Mục Đích Của Việc Thực Hiện Nhập Các Biểu Thức Hay Các Tiê, Bài Giải Chương 7 Tài Chính Doanh Nghiệp Hiện Đại, Hướng Dẫn Thực Hiện Chế Độ Trang Bị Phương Tiện Bảo Vệ Cá Nhân, Thực Trạng Giao Tiếp ứng Xử Của Nhân Viên Y Tế Hiện Nay, Tiểu Luận Hiện Trạng Sử Dụng Thuốc Bảo Vệ Thực Vật,

Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp., Tiểu Luận Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay Thực Trạng Và Giải Pháp, Tiểu Luận Về Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay Thực Trạng Và Giải Pháp, Thất Nghiệp ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp, Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Tại Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp, Tiểu Luận Về Thất Nghiệp ở Việt Nam. Thực Trạng Giải Pháp, Thực Trạng Thực Hiện Pháp Luật ở Việt Nam Hiện Nay, Thực Hiện Dân Chủ ở Cấp Xã Thực Trạng Và Giải Pháp, Khoa Học, Công Nghệ Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp, Quan Điểm, Thực Trạng, Giải Pháp Đổi Mới Giáo Dục Đại Học Việt Nam, Giải Pháp Đẩy Mạnh Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Gắn Với Phát Triển Kinh Tế Tri Thức, Nhập Khẩu Tư Bản Trong Điều Kiện Việt Nam- Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Nguồn Lực , Nhập Khẩu Tư Bản Trong Điều Kiện Việt Nam- Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Nguồn Lực, Thực Trạng áp Dụng Pháp Luật Hiện Nay, Thực Trạng Giáo Dục Việt Nam Hiện Nay, Thực Trạng, Nguyên Nhân Hậu Quả Giải Pháp, Thực Trạng Nhân Cách Con Người Việt Nam Hiện Nay, Thực Trạng Công Tác Chính Sách ở Việt Nam Hiện Nay, Năng Lượng Tái Tạo Tại Việt Nam – Hiện Trạng Và Thách Thức, Tiểu Luận Thực Trạng Giáo Dục Việt Nam Hiện Nay, Thuc Trang Va Giai Phap Kham Chua Benh, Thực Trạng Giải Pháp Xây Dựng Khu Vực Phogphongf Thủ Huyện, Thực Trạng Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Xã Hội, Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Cán Bộ ở Cơ Quan, Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Cán Bộ ở Đia Phương, Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Hiến Pháp:bảo Đảm Thục Hiện Văn Hóa Giáo Dục Của Con Người Trong Hiến Pháp 2013, Công Tác Tham Mưu Của Phòng Tổ Chức Cán Bộ, Thực Trạng Và Giải Pháp, Thuc Trang Va Giai Phap Ve Cai Cach Hanh Chinh Tai Dia Phuong, Thực Trạng Chất Lượng Các Doanh Nghiệp Việt, Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thuc Trang Va Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Tiếp Tục Cuộc Vận Động Học Tập Làm Theo Hcm, Về Thực Trạng Sản Xuất Và Khả Năng ứng Dụng Công Nghệ Cao Trong Nông Nghiệp Hiện Nay ở Nước Ta, Thực Trạng Sản Xuất Và Khả Năng ứng Dụng Công Nghệ Cao Trong Nông Nghiệp Hiện Nay ở Nước Ta, Thực Trạng Quảng Bá Thương Hiệu Của Doanh Nghiệp Việt, Thuc Trang Va Giai Phap Cong Tac Cai Cach Hanh Chinh Tai Dia Phuong Cap Huyen, Tiểu Luận Thực Trạng Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Đảng Viên, Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Cán Bộ, Công Viên Chức ở Cơ Quan, Có Thể Thực Hiện Giải Pháp Nào Sau Đây Trong Mạch Dao Động Anten?, Bai Hoc Cua Khoan Ho, Thuc Trang Va Huong Di Cho Nong Nghiep Viet Nam Trong Tuong Lai, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Tiếp Tục Cuộc Vận Động Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức Hồ Chí Minh, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Bài Thu Hoach Thưc Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Gắn Với An Ninh Quốc Phòng, Văn Bản Pháp Luật Nào Điều Chỉnh Quá Trình Ký Kết Thực Hiện Và Giải Quyết , Tham Luận Giai Phap Thuc Hien Tot Ke Hoach Duoc Khonggiao, Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Chủ Trương Đường Lối Thoát, Cong Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa Gắn Với Phát Triển Kinh Tế Tri Thức ở Việt Nam,

Thực Trạng Và Giải Pháp Cải Cách Hành Chính Ở Việt Nam

1. Giới thiệu

Cải cách hành chính (CCHC) là một trong những nội dung chủ yếu của khoa học hành chính, không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn mang tính thực tiễn cao.

Bộ máy hành chính nhà nước là một bộ phận không tách rời khỏi bộ máy nhà nước nói riêng và hệ thống chính trị của một quốc gia nói chung, nên nó chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các yếu tố chính trị, yếu tố kinh tế – xã hội, cũng như mang tính đặc trưng khác của mỗi quốc gia như truyền thống văn hóa, lịch sử hình thành và phát triển… CCHC ở các nước khác nhau nên cũng mang sắc thái riêng, được tiến hành trên những cấp độ khác nhau, ở nội dung khác nhau. Ở Việt Nam, CCHC được xác định là một bộ phận quan trọng của công cuộc đổi mới, là trọng tâm của tiến trình cải cách nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Nội dung cải cách hành chính ở Việt Nam

– Cải cách thể chế hành chính nhà nước.

– Cải cách thủ tục hành chính (TTHC).

– Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước.

– Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

– Cải cách tài chính công

3. Kết quả và đánh giá 3.1 Kết quả đạt được 3.1.1 Cải cách thể chế hành chính nhà nước

Triển khai thực hiện Hiến pháp 2013, các bộ, ngành, địa phương đã tích cực rà soát, hệ thống hóa trên 100.000 văn bản quy phạm pháp luật các loại, đề xuất, kiến nghị các cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, ban hành mới trên 17.000 văn bản, nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ, khả thi. Trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII, Chính phủ đã xây dựng, trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua 64 luật, 19 luật sửa đổi, bổ sung; Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua 01 pháp lệnh và 04 pháp lệnh sửa đổi, bổ sung. Một loạt luật quan trọng được ban hành đã tiếp tục bổ sung, hoàn thiện thể chế về lĩnh vực kinh tế, dân sự, tổ chức bộ máy và nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Thể chế về tổ chức bộ máy của hệ thống hành chính; về mối quan hệ giữa Nhà nước với người dân tiếp tục được hoàn thiện, đổi mới và quan tâm xây dựng, triển khai thực hiện. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của Nhân dân, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của người dân.

3.1.2 Cải cách thủ tục hành chính

Năm 2018 tiếp tục ghi nhận những nỗ lực trong đẩy mạnh cải cách TTHC của Chính phủ và các bộ, ngành, đặc biệt là việc quyết liệt triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp. Tại Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Chính phủ đã yêu cầu các bộ trưởng, chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải trực tiếp chỉ đạo và tổ chức thực hiện các giải pháp và nhiệm vụ cụ thể quy định tại Nghị quyết theo thẩm quyền được giao.

Giá trị trung bình của lĩnh vực cải cách TTHC năm 2018 của các bộ đạt 81,78%, cao hơn 5,48% so với năm 2017 (năm 2017 giá trị là 76,30%). Có 12 bộ đạt kết quả Chỉ số thành phần cải cách TTHC trên mức giá trị trung bình đạt được của 18 bộ, bao gồm: Bộ Tài chính; Ngân hàng Nhà nước; Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Tư pháp; Bộ Công Thương; Bộ Ngoại giao; Thanh tra Chính phủ; Bộ Xây dựng; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Thông tin và Truyền thông. Bộ Y tế tiếp tục đứng cuối Chỉ số thành phần cải cách TTHC, với kết quả là 49,12% (Năm 2017 kết quả là 49,78%).

3.1.3 Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước

Các nội dung cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước trong những năm vừa qua đã tập trung cho việc rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, phân định và làm rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ, cơ quan ngang bộ, cũng như xác định rõ hơn việc thực hiện chức năng xây dựng, ban hành thể chế, kế hoạch, chính sách, quản lý vĩ mô đối với sự phát triển kinh tế – xã hội. Ngoài ra, việc phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ trưởng cũng là một trong những kết quả nổi bật của nội dung cải cách tổ chức bộ máy. Các bộ đã tiến hành rà soát chức năng, nhiệm vụ, sắp xếp tổ chức bộ máy của các cơ quan, đơn vị, bước đầu khắc phục những chồng chéo, trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ, đã chuyển cho các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ hoặc doanh nghiệp làm những công việc về dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp thực hiện.

Nhìn chung, cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã được sắp xếp, góp phần xây dựng một bộ máy tinh gọn, hợp lý, tương xứng với chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước của mỗi cơ quan; định rõ tính chất và các loại hình tổ chức trực thuộc để tham mưu và thực thi pháp luật.

3.1.4 Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức

Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức tiếp tục nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương là một trong những trọng tâm của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020. Trong giai đoạn 2012 – 2015, giá trị trung bình của Chỉ số thành phần xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức năm 2015 đạt cao nhất, với giá trị 65,99%. Điều này cho thấy, các nội dung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức của các bộ đã từng bước được cải thiện, đáp ứng bước đầu cho việc xây dựng và phát triển của bộ, ngành nói riêng, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước nói chung.

Giá trị trung bình của Chỉ số thành phần xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức đạt 88,14%. Đây là Chỉ số thành phần cao nhất trong số 7 Chỉ số thành phần của Chỉ số CCHC năm 2018, và đạt giá trị cao nhất trong 7 năm triển khai xác định Chỉ số CCHC. Như vậy, 11 đơn vị có kết quả điểm số trên mức giá trị trung bình, trong đó, 08 bộ đạt Chỉ số thành phần trên 90%, bao gồm: Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Ngoại giao (năm 2017 chỉ có 05 đơn vị có Chỉ số thành phần trên 90%). Bộ Xây dựng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài nguyên và Môi trường là 03 đơn vị đứng cuối Chỉ số thành phần xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức với giá trị thấp dưới 80%, lần lượt là 78,46%, 78,05% và 76,12%.

Trong năm 2018, các bộ tiếp tục đẩy mạnh cải cách công vụ, công chức, trong đó, tập trung triển khai thực hiện các thể chế về quản lý công chức, viên chức, tiếp tục triển khai thực hiện xác định vị trí việc làm, tập trung xây dựng và hoàn thiện bản mô tả công việc và khung năng lực của từng vị trí việc làm các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tạo cơ sở cho việc tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng và quản lý công chức. Bên cạnh đó, các bộ cũng tập trung triển khai thực hiện nghiêm quy định về quản lý công chức, viên chức do các cơ quan có thẩm quyền ban hành, triển khai nhiều biện pháp nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính tại các cơ quan, đơn vị trực thuộc, bảo đảm sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật, củng cố niềm tin của nhân dân.

Cụ thể, là thực hiện Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 05/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong các cơ quan nhà nước các cấp. Các bộ cũng đã tập trung triển khai thực hiện các quy định về đánh giá, phân loại công chức, viên chức, tạo tiền đề cho việc tinh giản biên chế; cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức. Một số đơn vị triển khai thực hiện Đề án thí điểm đổi mới cách tuyển chọn lãnh đạo, quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng theo quy định tại Kết luận số 202-TB/TW ngày 26/5/2015 của Bộ Chính trị, trong năm 2018, theo đó, các đơn vị đã tổ chức thành công việc thi tuyển đối với một số chức danh lãnh đạo, quản lý cấp vụ, như là: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế và Bộ Nội vụ…

Nhìn chung, các bộ có xu hướng tăng điểm số qua các năm, tuy nhiên, tỷ lệ còn chưa đồng đều giữa các năm và giữa các bộ. Có 10 đơn vị có Chỉ số thành phần giảm hơn so với năm 2017, đó là các bộ: Công Thương, Giao thông vận tải, Khoa học và Công nghệ, Ngoại giao, Nội vụ, Tài nguyên và Môi trường, Thông tin và Truyền thông, Xây dựng, Y tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Điều này cho thấy, những kết quả và nỗ lực đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức của các bộ, ngành Trung ương chưa thực sự được quan tâm một cách đầy đủ. Giá trị trung bình Chỉ số thành phần đạt được qua 7 năm xác định Chỉ số CCHC của các bộ chưa đạt đến 80%. Cơ cấu số lượng lãnh đạo cấp phòng thuộc Vụ, Cục, Tổng cục còn chưa hợp lý, vẫn còn tình trạng lãnh đạo nhiều hơn số lượng công chức không giữ chức vụ lãnh đạo. Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế còn khó khăn, vướng mắc, chưa đạt yêu cầu đề ra, kỷ luật, kỷ cương công vụ chưa nghiêm vẫn là những tồn tại, hạn chế trong thời gian vừa qua.

3.1.5 Cải cách tài chính công

Lĩnh vực cải cách tài chính công tại Chỉ số CCHC cấp bộ năm 2018, thay đổi tiêu chí “Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính” bằng tiêu chí “Tổ chức thực hiện công tác tài chính – ngân sách”, đồng thời, bổ sung thêm 01 tiêu chí và 08 tiêu chí thành phần, nâng tổng số tiêu chí và tiêu chí thành phần của lĩnh vực này là 04 tiêu chí và 14 tiêu chí thành phần.

Thực hiện giải ngân kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước hàng năm; tổ chức thực hiện các kiến nghị sau thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhà nước về tài chính, ngân sách và thực hiện cơ chế tự chủ về sử dụng kinh phí quản lý hành chính tại bộ. Đối với tiêu chí bổ sung “Công tác quản lý, sử dụng tài sản công” được đánh giá trên 04 tiêu chí thành phần: Ban hành quy định về phân cấp quản lý tài sản công thuộc phạm vi quản lý theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công; ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng diện tích chuyên dùng theo quy định tại Nghị định số 152/2017/NĐ-CP của Chính phủ; ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng theo quy định tại Quyết định số 50/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các quy định về quản lý tài sản công.

Giá trị trung bình các bộ đạt được ở lĩnh vực này là 82,94%. Có 10 bộ đạt Chỉ số thành phần cải cách tài chính công trên mức giá trị trung bình, bao gồm: Bộ Tài chính; Thanh tra Chính phủ; Ngân hàng Nhà nước; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; Bộ Công Thương; Bộ Giao thông vận tải; Bộ Tư pháp và Bộ Y Tế. Năm 2018 tiếp tục có 03 đơn vị có kết quả dưới 70%, bao gồm: Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Nội vụ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, với giá trị lần lượt là: 68,92%; 67,69% và 60,44%. Đây là 03 đơn vị đứng cuối của Chỉ số thành phần cải cách tài chính công.

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành một số chỉ thị để chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh triển khai có hiệu quả các giải pháp hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp; nâng cao chất lượng giải quyết TTHC; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong việc chấp hành pháp luật về ngân sách nhà nước và đã tiếp tục có nhiều chỉ đạo yêu cầu làm rõ và xử lý các thông tin về vi phạm kỷ luật, kỷ cương hành chính và các sai phạm trong tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức do cơ quan báo chí đăng tải.

Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ đã phát huy được hiệu quả trong việc theo dõi, đôn đốc các bộ, cơ quan, địa phương thực hiện các nhiệm vụ, kết luận, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng. Với việc chỉ đạo quyết liệt từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp, công tác cải CCHC đã được triển khai một cách đồng bộ, hệ thống, kết quả CCHC đạt được toàn diện trên các lĩnh vực đã đóng góp quan trọng vào thành tựu chung phát triển kinh tế – xã hội, hội nhập quốc tế của đất nước trong giai đoạn vừa qua.

Việc đánh giá kết quả CCHC thông qua Chỉ số CCHC đã được các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quan tâm, triển khai đồng bộ ở các cơ quan, đơn vị trực thuộc, trở thành công cụ hữu ích trong công tác chỉ đạo, điều hành CCHC của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị. Bộ Nội vụ với vai trò cơ quan thường trực CCHC của Chính phủ, chủ trì việc theo dõi, đánh giá CCHC đã thường xuyên nghiên cứu, cải tiến, đổi mới nội dung, phương pháp xác định Chỉ số CCHC hàng năm, để Chỉ số CCHC luôn được hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu đánh giá khách quan, trung thực, sát thực tế cải CCHC của các bộ, ngành, địa phương.

Kết quả Chỉ số CCHC 2018 tiếp tục phản ánh tương đối sát tình hình triển khai cải CCHC tại các bộ, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương việc triển khai và kết quả đạt được trên những nội dung trọng tâm và 6 nhiệm vụ cải CCHC theo yêu cầu của Chính phủ. Đồng thời, kết quả Chỉ số CCHC 2018 tiếp tục có tính tổng hợp, đa chiều, gắn kết việc đánh giá bên trong nội bộ của các cơ quan hành chính nhà nước với đánh giá khách quan từ phía người dân, tổ chức và các đối tượng khác chịu tác động của cải CCHC; gắn kết giữa đánh giá kết quả cải CCHC hàng năm với đánh giá tác động của cải cách lên sự hài lòng của người dân, tổ chức và các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

3.2.2 Hạn chế

– Chất lượng văn bản quy phạm pháp luật trên một số lĩnh vực còn hạn chế. Công tác theo dõi thi hành pháp luật còn một số bất cập, thiếu nguồn lực để triển khai, chưa thu hút được sự tham gia của các cá nhân, tổ chức chính trị – xã hội và tổ chức xã hội khác.

– Việc công khai quy định hành chính, TTHC trên Trang thông tin điện tử của một số bộ, ngành và của một số cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và đơn vị hành chính cấp huyện tại một số địa phương chưa được thực hiện đầy đủ. TTHC trên một số lĩnh vực còn rườm rà, phức tạp, cần phải tiếp tục rà soát, đơn giản hóa. Tình trạng trễ hẹn trong giải quyết và trả kết quả giải quyết hồ sơ TTHC vẫn còn phổ biến ở một số lĩnh vực trọng tâm, như: đất đai, xây dựng, lao động – thương binh và xã hội. Nhiều địa phương còn vướng mắc trong kết nối liên thông phần mềm tại Trung tâm Hành chính công và Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả với các phần mềm chuyên ngành, như các lĩnh vực: đất đai, công an, thuế…; dẫn đến khó khăn trong việc chia sẻ dữ liệu thông tin để theo dõi, đôn đốc tình hình giải quyết TTHC cho người dân, doanh nghiệp. Việc triển khai hoạt động của Văn phòng đăng ký đất đai một cấp tại địa phương còn nhiều hạn chế, bất cập.

– Tiến độ thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp quan trọng quy định tại Nghị quyết số 36a/NQ-CP còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu đề ra, như: Chưa đề xuất cơ chế tài chính phù hợp cho đầu tư, ứng dụng công nghệ thông tin, thiết lập các hệ thống thông tin nền tảng cho phát triển Chính phủ điện tử; việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến mới chỉ bước đầu được triển khai, kết quả đạt được còn hạn chế (ít người sử dụng, số hồ sơ được gửi/nhận trực tuyến không cao). Việc ban hành Kiến trúc Chính phủ điện tử cấp bộ, cấp tỉnh còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. Tại một số cơ quan, đơn vị đã quán triệt chỉ đạo, điều hành qua môi trường điện tử, hạn chế sử dụng văn bản giấy, nâng cao hiệu lực quản lý, năng suất lao động và giảm chi phí hành chính. Tuy nhiên, việc sử dụng hệ thống quản lý văn bản và điều hành tại nhiều nơi chưa mang lại hiệu quả cao, chủ yếu chỉ sử dụng trong việc gửi, nhận văn bản, hỗ trợ công tác văn thư, mà chưa thực hiện chức năng quản lý, chỉ đạo, điều hành qua mạng.

– Quá trình triển khai còn lúng túng. Nhiệm vụ đề ra nhiều nhưng chưa thực sự gắn với các biện pháp và điều kiện bảo đảm cần thiết. Việc tổ chức mô hình thí điểm còn có nơi làm chưa đồng bộ, thiếu tổng kết, rút kinh nghiệm kịp thời.

– Nguồn lực và những điều kiện bảo đảm cần thiết cho cải CCHC còn nhiều haṇ chế.

– Vai trò, trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính đối với cải CCHC tại một số cơ quan, đơn vị còn hạn chế. Tình trạng cửa quyền, quan liêu, tham nhũng vẫn còn, tính công khai minh bạch của nền hành chính còn nhiều thách thức, một bộ phận cán bộ, công chức suy giảm lý tưởng, lối sống và vi phạm đạo đức công vụ, gây bất bình trong nhân dân.

4. Bài học kinh nghiệm

Nhằm nâng cao chất lượng cải cách hành chính trong thời gian tới, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp trọng tâm sau:

– Tiếp tục nâng cao nhận thức, coi trọng công tác tuyên truyền, quán triệt sâu rộng các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải CCHC. Bảo đảm sự nhất quán, kiên trì, liên tục trong triển khai cải CCHC của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương và các địa phương.

– Nâng cao vai trò của cơ quan chủ trì tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong công tác điều phối chung, tổng hợp, đôn đốc và theo dõi việc thực hiện các nhiệm vụ cải CCHC.

– Các định các mục tiêu cải CCHC mang tính định lượng với mức độ phù hợp, thiết thực để bảo đảm tính khả thi; Coi trọng công tác thí điểm và kết quả của môṭ số mô hình trong triển khai cải CCHC.

– Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá quá trình triển khai thực hiện công tác cải CCHC; Tăng cường, phát huy vai trò giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đối với công tác cải CCHC. Nâng cao năng lực của đội ngũ công chức làm công tác cải CCHC; bố trí đủ nguồn lực tài chính cho cải CCHC.

Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020; Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 13/6/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020; Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử; Quyết định số 225/QĐ-TTg ngày 04/2/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016 – 2020; Bộ Nội vụ (2018), Báo cáo chỉ số cải cách hành chính – PAR INDEX 2018 của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố thực thuộc Trung ương; Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ (2016), Tài liệu Hội nghị sơ kết công tác cải cách hành chính giai đoạn 2011-2015 và triển khai kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2016-2020; Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị – hành chính (2018), Những vấn đề cơ bản về quản lý hành chính Nhà nước, NXB Lý luận chính trị; Nguyễn Xuân Thắng (2018), Tài liệu bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho cán bộ thuộc diện Ban thường vụ huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy thuộc tỉnh và tương đương quản lý (đối tượng 4), NXB Lý luận chính trị.

Bạn đang xem bài viết Khung Pháp Lý Và Thực Trạng Nợ Công Ở Việt Nam trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!