Xem Nhiều 2/2023 #️ Kinh Nghiệm Để Dạy Tốt Môn Tin Học Lớp 3 : Phòng Gd&Amp;Đt Mỹ Lộc # Top 3 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Kinh Nghiệm Để Dạy Tốt Môn Tin Học Lớp 3 : Phòng Gd&Amp;Đt Mỹ Lộc # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Kinh Nghiệm Để Dạy Tốt Môn Tin Học Lớp 3 : Phòng Gd&Amp;Đt Mỹ Lộc mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Kinh nghiệm để dạy tốt môn Tin học lớp 3

Kinh nghiệm để dạy tốt môn Tin học lớp 3

Cơ sở lý luận:

+ Nghị quyết 40/2000/QH10 và chỉ thị 14/2001/CT-TTg ngày 9/12/2000 về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông: Nội dung chương trình là tích cực áp dụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, ứng dụng CNTT vào dạy và học.

+ Thông tư số 14/2002/TT-BGD&ĐT ngày 1/4/2002 về việc hướng dẫn quán triệt chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông.

+ Chỉ thị 29/CT của Trung Ương Đảng về việc đưa CNTT vào nhà trường.

+ Trong nhiệm vụ năm học gần đây Bộ trưởng giáo dục đào tạo nhấn mạnh: Khẩn trương triển khai chương trình phát triển nguồn nhân lực CNTT từ nay đến năm 2010 của chính phủ và đề án dạy Tin học ứng dụng CNTT và truyền thông của ngành.

Cơ sở thực tiễn:

* Tác dụng của CNTT trong dạy học ở bậc tiểu học:

Qua quá thực tế giảng dạy môn tin học khối 3, 4, 5 tại trường Tiểu học Mỹ Phúc tôi thấy rằng môn tin học ở bậc tiểu học bước đầu giúp học sinh làm quen với một số kiến thức ban đầu về CNTT như: Một số bộ phận của máy tính, một số thuật ngữ thường dùng, rèn luyện một số kỹ năng sử dụng máy tính, …

Hình thành cho học sinh một số phẩm chất và năng lực cần thiết cho người lao động hiện đại như:

+ Góp phần hình thành và phát triển tư duy thuật giải.

+ Bước đầu hình thành năng lực tổ chức và xử lý thông tin.

+ Có ý thức và thói quen sử dụng máy tính trong hoạt động học tập, lao động xã hội hiện đại.

+ Có thái độ đúng khi sử dụng máy tính các sản phẩm Tin học.

+ Bước đầu hiểu khả năng ứng dụng CNTT trong học tập.

+ Có ý thức tìm hiểu CNTT trong các hoạt động xã hội.

* Đặc biệt khi học sinh học các phần mềm như:

+ Phần mềm soạn thảo văn bản: Học sinh ứng dụng từ các môn học Tập Làm Văn để trình bày đoạn văn bản sao cho phù hợp, đúng cách. ứng dụng soạn thảo văn bản để soạn thảo giải những bài toán đã học ở bậc Tiểu học.

+ Phần mềm vẽ: Học sinh ứng dụng trong môn Mỹ thuật, học được từ môn mỹ thuật để vẽ những hình ảnh sao cho sinh động, hài hoà thẩm mĩ.

+ Trong chương trình Tin học ở bậc tiểu học được phân bố xen kẽ giữa các bài vừa học, vừa chơi. Điều đó sẽ rèn luyện cho học sinh óc tư duy sáng tạo trong quá trình chơi những trò chơi mang tính bổ ích giúp cho học sinh thư giãn sau những giờ học căng thẳng ở lớp …

Đó là lý do tôi chọn đề tài một số biện pháp để dạy tốt tin học lớp 3.

* Một số thuận lợi và khó khăn khi thực hiện chuyên đề ở trường Tiểu học Mỹ Phúc:

Thuận lợi:

* Nhà trường:

– Tuy môn Tin học mới chỉ là môn học tự chọn nhưng nhà trường đã tạo điều kiện để học sinh có thể học từ khối lớp 3, tạo điều kiện sắm sửa máy móc, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học môn Tin học.

* Giáo viên:

Giáo viên được đào tạo những kiến thức cơ bản về tin học để đáp ứng yêu cầu cho dạy và học môn tin học trong bậc tiểu học.

* Học sinh:

Vì là môn học trực quan, sinh động, môn học khám phá những lĩnh vực mới nên học sinh rất hứng thú học, nhất là những tiết thực hành.

Khó khăn:

* Nhà trường:

Nhà trường đã có một phòng máy vi tính để cho học sinh học nhưng vẫn còn hạn chế về số lượng cũng như chất lượng, mỗi ca thực hành có tới 2 – 3 em ngồi cùng một máy nên các em không có nhiều thời gian để thực hành làm bài tập một cách đầy đủ. Hơn nữa nhiều máy cấu hình máy đã cũ, chất lượng không còn tốt nên hay hỏng hóc, ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng học tập của học sinh.

Đời sống kinh tế của địa phương còn gặp nhiều khó khăn, rất ít học sinh ở nhà có máy vi tính.

* Giáo viên:

Môn Tin học mới chỉ là môn tự chọn trong chương trình bậc tiểu học nên chương trình và sự phân phối chương trình bước đầu có sự thống nhất và đang hoàn chỉnh. Hiện nay Bộ giáo dục và đào tạo.

 Hơn nữa khi thực hành, máy móc gặp sự cố, trục trặc, giáo viên không xử lý kịp thời dẫn đến học sinh thiếu máy, không thực hành được.

* Học sinh:

Môn Tin học mới chỉ là môn tự chọn trọn nên phần lớn học sinh chưa mua sách giáo khoa để học, các em chỉ được học những kiến thức thông qua bài giảng của giáo viên dạy trên lớp.

Đa số các em học sinh chỉ được tiếp xúc với máy vi tính ở trường là chủ yếu, do đó sự tìm tòi và khám phá máy vi tính với các em còn hạn chế, nên việc học tập của học sinh vẫn còn mang tính chậm chạp.

Thực trạng:

          Trước khi thực hiện chuyên đề, tôi đã khảo sát khối lớp 3 thông qua giờ dạy lý thuyết, dạy thực hành, thông qua kiểm tra bài cũ. Khi tổng hợp kết quả thu được:

Mức độ thao tác Trước khi thực hiện chuyên đề

Số Hs Tỷ lệ

Thao tác nhanh, đúng 20/80 25%

Thao tác đúng 30/80 38%

Thao tác chậm 25/80 31%

Chưa biết thao tác 5/80 6%

Mục đích nghiên cứu:

          – Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của chuyên đề.

          – Đề ra một số biện pháp và việc dạy tin học trong bậc tiểu học.

Đối tượng nghiên cứu:

          – Môn tin học lớp 3.

          – Học sinh khối lớp 3 trường Tiểu học Mỹ Phúc.

Phương pháp nghiên cứu:

          – Phỏng vấn học sinh khối 3.

– Kiểm tra việc học tập của học sinh (bài cũ, bài mới).

– Sử dụng bảng biểu đối chiếu.

– Thăm lớp, dự giờ.

– Kiểm tra chất lượng sau giờ học.

6.2. Các giải pháp thực hiện

Giáo viên có kế hoạch bài dạy, xây dựng ý tưởng, thiết kế bài dạy phù hợp:

– Ngay từ bài học đầu tiên trong chương trình học Tin học, giáo viên phải xác định rõ cho học sinh nhận biết các bộ phận của máy tính và tác dụng của các bộ phận đó bằng cách cho học sinh quan sát ngay trong giờ giảng lý thuyết.

Ví dụ: Bài làm quen với máy tính (lớp 3).

Khi giáo viên giới thiệu bộ phận con chuột, giáo viên phải mô tả con chuột, có mấy loại con chuột, trên thân con chuột có những phím nào, chức năng của các phím đó, tay đặt lên con chuột đó như thế nào.

– Học sinh quan sát con chuột, quan sát thao tác của cô giáo khi sử dụng chuột trong quá trình học tập.

Giáo viên biết kết hợp giữa giờ lý thuyết và thực hành sao cho phù hợp, không nên xem nhẹ giờ dạy lý thuyết thì mới thực hành tốt được cũng như khi học sinh thực hành tốt thì sẽ hiểu sâu hơn về lý thuyết.

Ví dụ: Khi học bài thông tin được lưu trong máy tính như thế nào (khối 4). Giáo viên dạy phần lưu văn bản, mở văn bản. Khi học lý thuyết học sinh mới chỉ hiểu là lưu văn bản vào trong máy là để văn bản đó không bị mất đi, có thể mở ra được. Nhưng đến khi thực hành học sinh mới thực sự hiểu rằng khi lưu văn bản đó luôn luôn được lưu trữ và tồn tại trong máy, có thể mở ra bất cứ lúc nào để chỉnh, xem và chỉnh sửa.

– Giáo viên nên tận dụng những phương tiện sẵn có của môn tin học áp dụng vào trong giảng dạy lý thuyết để học sinh dễ quan sát và nhận biết, giúp cho buổi học thực hành của hiệu quả hơn.

Qua đợt khảo sát đầu năm học học với học sinh khối 3 (lớp 3B và lớp 3C) dạy bài các thao tác với tệp tin văn bản. Lớp 3B dạy có sử dụng đồ dùng trực quan bằng mát tính, thao tác trên máy tính. Còn lớp 3C dạy sử dụng đồ dùng trực quan bằng hộp thoại miêu tả hình ảnh trong máy tính.

Khi tổng hợp kết quả thu được:

Mức độ thao tác

Lớp 3B Lớp 3C

Số HS Tỉ lệ Số HS Tỉ lệ

Thao tác nhanh 20/40 50% 10/40 25%

Thao tác chậm 15/40 38% 20/40 50%

Chưa biết thao tác 5/40 12% 10/40 25%

Khi dạy thực hành, giáo viên giao bài tập cho học sinh một cách cụ thể, rõ ràng và kết hợp cả những kiến thức của bài học trước, hướng dẫn theo từng nhóm trước khi học sinh làm để học sinh quan sát và làm bài tập.

Ví dụ: Dạy bài vẽ đường thẳng, giáo viên giao bài tập thực hành, sau đó hướng dẫn (theo nhóm) trực tiếp trên máy cho học sinh dễ quan sát thao tác của cô và lời nói của cô. trong khi thực hành, nếu em học sinh nào chưa thực hành được, giáo viên lại hướng dẫn cho em đó hoặc bắt tay em đó và hướng dẫn các thao tác.

    Hệ thống các bài tập thực hành, các bài tập phù hợp với nội dung của bài giảng, liên hệ với một số môn học khác trong chương trình học của các em. Các bài tập không quá dài, nâng dần từ mức đơn giản đến phức tạp, ngoài ra giáo viên cũng phải kết hợp những bài đã học trước để học sinh ôn lại và vận dụng vẽ một cách có hệ thống.

    Ngoài vẽ đường cong một chiều ra học sinh còn phải sử dụng công cụ vẽ đường thẳng, màu vẽ đã học ở bài trước để vẽ và màu nền trang trí cho các hoa văn của hình con cá trên. Từ hình con cá các em sẽ liên tưởng đến bài học trang trí hình những hình lá, hình quả táo, hình cái chén (Môn mỹ thuật lớp 3) và sáng tạo vẽ một số hình thuyền buồm đã học ở môn Mỹ thuật 3.

      Trong giờ thực hành giáo viên nên tạo sự tranh đua giữa các nhóm bằng cách phân công các nhóm làm bài thực hành, sau đó các nhóm nhận xét, chấm điểm (dưới sự chỉ dẫn của giáo viên) của nhau để tạo được sự hào hứng học tập và sáng tạo trong quá trình thực hành.

      Tận dụng những nguồn tài nguyên sẵn có của máy vi tính, hoặc truy cập mạng để tìm kiếm thông tin, tìm kiếm tài nguyên trên Internet phục vụ cho quá trình dạy và học.

      Sưu tầm một số trò chơi có ích để rèn luyện về cách sử dụng chuột (Blocks), luyện ngón khi sử dụng bàn phím (Mario), phần mềm luyện tư duy, tính toán, nhanh nhạy, giải trí (Dots, Soukoban).

      Giáo viên có kế hoạch bồi dưỡng để nâng cao kiến thức bản thân đáp ứng được những yêu cầu đổi mới, cập nhật thông tin một cách đầy đủ, chính xác.

      Bên cạnh tìm hiểu kiến thức về Tin học, giáo viên cũng phải tìm hiểu các kiến thức khác như văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội, tiếng anh để tự nâng cao nhận thức của bản thân.

      Giáo án minh hoạ

      Vẽ đường cong

      Mục tiêu bài học:

                – Học sinh biết mở phần mềm Paint.

      – Học sinh biết sử dụng công cụ Đường cong  để vẽ đường cong. Từ đó vận dụng để vẽ và trang trí một số hình con cá, cái chén, thuyền buồm, hình lá, quả táo…

                – Liên hệ những hình đã học trong môn Mĩ thuật để vẽ, trang trí hình vẽ sao cho thẩm mĩ và hài hoà.

      Đồ dùng:

      Giáo viên: Đồ dùng dạy học công nghệ, tại phòng tin học.

      Học sinh: Bút, vở.

      các hoạt động dạy và học:

      Giáo viên Học sinh

      1. Kiểm tra bài cũ: (2 – 3’)- Em hãy nêu cách xoá một vùng trên hình?- Em hãy nêu cách di chuyển hình?2. Giảng bài mới:Vẽ đường cong

      1. Vẽ đường cong: (5 – 6’)

      H: – ở bài học trước muốn vẽ một đoạn thẳng ta sử dụng nút công cụ nào?

      – Khi vẽ các hình có đường cong thì em sử dụng công cụ nào?

      µ Giáo viên làm mẫu.

      + B1: Chọn công cụ Đường cong  .

      + B2: Chọn màu vẽ, nét vẽ.

      + B3: Kéo thả chuột từ điểm đầu tới điểm cuối của đường cong. Một đoạn thẳng được tạo ra.

      + B4: Đưa con trỏ chuột lên đoạn thẳng. Nhấn và kéo nút trái chuột để uốn cong đoạn thẳng, tới khi vừa ý thì thả nút chuột và nháy chuột lần nữa.

      H: – Em hãy nêu lại các bước vẽ đường cong?

      – Em hãy vẽ đường cong màu đỏ, nét vẽ đậm?

      H: Em hãy vẽ hình con cá có màu nền là mầu vàng?

      2. Sự khác nhau của cách vẽ đường cong và đường thẳng (4 – 5’)

      H: – Bước 1 khác nhau chọn công cụ gì?

      H: – Bước 4 khác nhau khi vẽ như thế nào?

      µ Giáo viên vẽ mẫu hình sau:

      + B1: Chọn công cụ đường cong và công cụ đường thẳng .

      + B2: Chọn màu xanh, màu tím, nét vẽ đậm.

      + B3: Dùng đường thẳng vẽ cái thuyền và cột của buồm thuyền.

      + B4: Dùng công cụ đường cong để vẽ cột buồm của thuyền.

      3. Luyện tập (20 – 21’)

      – Quan sát màn hình:

      H: – Trong hình trên, hình nào là đường cong?

      – Chia nhóm thực hành?

      – Quan sát màn hình.

      H: – Hình trên được trang trí bởi hình gì và những nét vẽ gì?

      * Giáo viên làm mẫu học sinh quan sát.

      – Chia nhóm thực hành.

      4. Củng cố, dặn dò: (2 – 3’)

      – Nêu lại các bước vẽ đường cong?

      – Khi vẽ xong đường cong thì thả nút chuột và làm gì nữa?

      – 2 – 3 HS trả lời. 

      – Sử nút công cụ vẽ đoạn thẳng.

      – HS quan sát một số hình mẫu.

      – HS quan sát.

      – HS trả lời (4 bước).

      – HS: Bước 1: + Vẽ đường thẳng thì chọn công cụ đường thẳng .

      + Vẽ đường cong thì chọn công cụ đường cong .

      – HS: Bước 4: Đường cong phải nhấn giữ và kéo nút trái chuột để uốn cong đoạn thẳng.

      – Hs quan sát.

      – Đường viền lá, gân lá.

      – Lần lượt từng nhóm lên thực hành.

      – Từng nhóm nhận xét bài làm của nhau, GV nhận xét, cho điểm.

      – HS quan sát.

      – Trang trí bởi đường cong.

      – HS quan sát.

      – Đại diện các nhóm nhận xét bài làm của nhau.

      – Giáo viên nhận xét, cho điểm.

      – 4 bước.

      – Nháy chuột lần nữa.

      * Dự kiến sai lầm học sinh hay mắc phải:

      – Học sinh vẽ đường cong được rồi nhưng khi thả nút chuột lại quên không nháy chuột một lần nữa.

                                                           Kết luận

      Kết quả

      Qua quá trình áp dụng vào giảng dạy tin học khối 3, so sánh với bảng tổng hợp trước đó đã thu được kết quả như sau:

      Mức độ thao tác Trước khi thực hiện chuyên đề Sau khi thực hiện chuyên đề

      Tỷ lệ tăng, giảm

      Số Hs Tỷ lệ Số Hs Tỷ lệ

      Thao tác nhanh, đúng 20/80 25% 30/80 38% Tăng: 13%

      Thao tác đúng 30/80 38% 40/80 50% Tăng: 12%

      Thao tác chậm 35/80 31% 10/80 12% Giảm: 19%

      Chưa biết thao tác 5/80 6% 0/80 0% Giảm: 6%

        Một số bài học kinh nghiệm

        Tìm tòi sáng tạo cách dạy, cách học tạo sự hứng thú tiếp thu bài.

        Yêu nghề, mến trẻ, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ…

        Thăm lớp dự giờ, hội thảo phương pháp giảng dạy các bộ môn khác.

        Tích cực tham mưu với nhà trường để tăng cường nâng cấp máy tính, trang thiết bị dạy học.

        Thực hiện tốt các quy định của ngành đề ra.

          Đề xuất kiến nghị

          Trong mỗi công việc nói chung và trong công tác giảng dạy tin học nói riêng, việc tự rút kinh nghiệm và khắc phục các khó khăn bằng các hình thức trợ giúp khác là rất cần thiết đối với bản thân người làm công tác đó, nhằm giúp hạn chế tối đa việc lặp đi lặp lại để giải thích mà vẫn không rõ ràng và hết được ý nghĩa nhất là trong công tác giảng dạy thì việc lặp đi lặp lại sẽ gây nhàm chán cho giáo viên, cho học sinh, học tập sẽ mệt mỏi và hiệu quả rất hạn chế, mỗi lần vấp phải tôi đều ghi chép để lần sau tìm cách khắc phục, tất cả chỉ mong muốn làm sao cho chính bản thân được thoải mái trong việc giảng dạy đồng thời học sinh tiếp thu kiến thức được nhanh chóng và tốt hơn.

          Xin chân thành cảm ơn!

          Skkk Một Số Biện Pháp Dạy Tốt Môn Tin Học Lớp 3

          SKKK: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY TỐT MÔN TIN HỌC LỚP 3Tác giả: Võ Thanh HùngĐơn vị công tác: Trường Tiểu Học Bồng Sơn A. MỞ ĐẦUI. Đặt vấn đề1. Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyếtNgày nay với sự phát triển nhảy vọt của khoa học công nghệ nói chung,của ngành tin học nói riêng, với những tính năng ưu việt của nó là một phầnkhông thể thiếu được của nhiều ngành trong cuộc sống xây dựng và phát triển xãhội. Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mởcửa và hội nhập, hướng tới nền kinh tế tri thức của nước ta nói riêng và thế giớinói chung.Chính vì xác định được tầm quan trọng như vậy, nên ngành giáo dục đãđưa môn tin học vào trong nhà trường và ngay từ bậc tiểu học, học sinh được tiếpxúc với môn tin học để làm quen dần với lĩnh vực công nghệ thông tin. Môn tinhọc ở bậc tiểu học bước đầu giúp học sinh làm quen với một số kiến thức ban đầuvề công nghệ thông tin như: Một số bộ phận của máy tính, một số thuật ngữthường dùng, rèn luyện một số kỹ năng sử dụng máy tính Tuy nhiên nội dung dạy học môn tin học ở tiểu học nói chung và nhất làlớp 3 nói riêng là rất mới mẻ đối với học sinh. Để hỗ trợ việc dạy học tốt các nộidung này, sách giáo khoa cũng có khá nhiều cách tập gõ bàn phím, vẽ tranh, tô

          màu. Nhiều giáo viên tâm huyết cũng đã sưu tầm và sử dụng thêm các phươngtiện bổ trợ như tranh, ảnh, sơ đồ, phần mềm Giáo viên hướng dẫn học sinh quansát, kèm theo lời mô tả, giải thích, với mục đích giúp cho học sinh hiểu bài hơn.Tuy nhiên, đối với những nội dung khó, yêu cầu dài, vẽ những hình phức tạp Mà giáo viên chỉ dùng lời nói và các hình ảnh để minh họa thì học sinh vẫn rấtTrang 1khó hình dung, việc tiếp thu bài của các em vẫn hạn chế. Nhiều học sinh rất thuộcbài mà không hiểu được bản chất của các sự vật, hiện tượng, kĩ năng gõ bàmphím chưa nhanh nhạy, còn sai sót, vận dụng thực tế chưa tốt. Chính vì lẽ đó bảnthân tôi là giáo viên dạy bộ môn tin học, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Một sốbiện pháp dạy tốt môn tin học lớp 3 “2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mớiNâng tầm vận dụng kiến thức của học sinh rộng hơn, đồng thời nâng caotính hiệu quả, thiết thực trong soạn thảo văn bản phù hợp ở đối tượng học sinhlớp 3 mới bước đầu làm quen với máy tính.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tàiTrong 2 năm học 2011 – 2012 và 2012 – 2013, tại trường tiểu học Bồng Sơn.II. Phương pháp tiến hành1. Cơ sở lý luận và thực tiễn có tính định hướng cho việc nghiên cứu, tìm giải pháp của đề tài1.1. Cơ sở lý luận:Nghị quyết 40/2000/QH10 và chỉ thị 14/2001/CT-TTg ngày 9/12/2000 vềviệc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông: Nội dung chương trình là tích cựcáp dụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, ứng dụng CNTTvào dạy và học.Thông tư số 14/2002/TT-BGD&ĐT ngày 1/4/2002 về việc hướng dẫn quántriệt chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông.Chỉ thị 29/CT của Trung Ương Đảng về việc đưa CNTT vào nhà trường.Trang 2Công văn số: 4987/BGDĐT-CNTT ngày 02/8/2012 về việc Hướng dẫnthực hiện nhiệm vụ công nghệ thông tin năm học 2012- 2013. 1.2. Cơ sở thực tiễn:Nhà trường đã có một phòng máy vi tính để cho học sinh học nhưng vẫnhạn chế, số máy vi tính để các em thực hành còn ít. Vì vậy cũng gây một số khókhăn cho việc học tập của học sinh. Môn tin học mới chỉ là môn tự chọn trong chương trình bậc tiểu học nênchương trình và sự phân phối chương trình bước đầu có sự thống nhất và đanghoàn chỉnh. Hiện nay trên cùng một huyện nhưng nhiều trường vẫn chưa có đủđiều kiện để đưa môn học này vào chương trình nên việc học tập và rút kinh

          nghiệm còn hạn chế.Đa số các em học sinh chỉ được tiếp xúc với máy tính ở trường là chủ yếu,do đó sự tìm tòi và khám phá máy vi tính với các em còn hạn chế, nên việc họctập của học sinh vẫn còn mang tính chậm chạp do chưa được thực hành nhiều.2. Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải phápBản thân tôi đã tìm tòi phần mềm luyện gõ bàn phím RapidTyping (NgoàiSGK) để các em tập gõ bàn phím. Phần mềm học vẽ ( Paint) để học sinh biết cáchtô màu và vẽ tranh. Tất cả nội dung trên được vận dụng vào trong giảng dạy hằngngày ở lớp, ở trường tiểu học Bồng Sơn.Trang 3B. NỘI DUNGI. Mục tiêu Hình thành cho học sinh một số phẩm chất và năng lực cần thiết cho học sinh như: + Góp phần hình thành và phát triển tư duy thuật giải.+ Bước đầu hình thành năng lực tổ chức và xử lý thông tin.+ Có ý thức thói quen sử dụng máy tính trong hoạt động học tập, lao động xã hội hiện đại.II. Mô tả giải pháp của đề tài1. Tính thuyết minh mới1.1. Sử dụng phần mềm luyện gõ bàn phím RapidTyping (Ngoài SGK)Trong giảng dạy và nghiên cứu tôi thấy ngoài việc hướng dẫn học sinh gõbàn phím như sách giáo khoa hiện hành còn nhiều bất cập, rất khó cho học sinhlớp 3, các em lúng túng, chậm chạp dẫn đến tiết dạy mất nhiều thời gian. Tôi đãhướng cho học sinh khi bắt đầu làm quen với với máy tính và muốn tập làm quenvới cách gõ 10 ngón trên bàn phím, bạn phải tận dụng hết 10 ngón tay của mìnhđể phối hợp với nhau trên bàn phím. Chính vì thế không cách nào khác hơn làluyện tập để các ngón tay hiểu nhau và không tranh giành vị trí với nhau. Đây làphần mềm mới và đưa vào thực hiện có hiệu quả cao do đó cần có các yêu cầusau:Giáo viên có kế hoạch bài dạy, xây dựng ý tưởng, thiết kế bài dạy phù hợp:Ngay từ bài học đầu tiên trong chương trình học tin học, giáo viên phải xácđịnh rõ cho học sinh nhận biết các bộ phận của máy tính và tác dụng của các bộphận đó bằng cách cho học sinh quan sát ngay trong giờ giảng lý thuyết và thựchành.Trang 4Phương pháp chung để luyện tập gõ bàn phím là qui định vị trí (các phím)cho các ngón tay của học sinh mới tiếp cận với bàn phím cần phải tuân theo quiđịnh sau: Bước 1: Đầu tiên phải giúp các em ghi nhớ các vị trí phím của cấu trúckeyboard tổng quát. Thông qua bài học: “Làm quen với bàn phím”

          Bước 2: Ghi nhớ 8 vị trí đặt ngón tay quan trọng (quan trọng nhất) – Với bàn tay trái : Ngón út đặt lên phím A, ngón áp út đặt lên phím S, ngón giữa đặt lên phím D, ngón trỏ đặt lên phím có gai F.– Với bàn tay phải : Ngón trỏ đặt lên phím có gai J, ngón giữa đặt lên phím K, ngón áp út đặt lên phím L, ngón út đặt lên phím ; .Trang 5Hai ngón cái bàn tay trái và bàn tay phải đặt ở phím cách.* Lưu ý trên hai phím F & J có một gờ nhở nổi lên để dễ đặt vào đúng vị thế ban đầu của hai ngón trỏ (còn gọi là hai phím có gai F & J).Hình sau mô tả cách đặt tay lên bàn phím:Khi thực hiện, ngón trỏ trái – Út trái và trỏ phải – Út phải không đượcphép đồng thời rời vị trí nhằm để định vị bàn phím cho các ngón khác. Ví dụ: Nếu ngón út phải rời vị trí thì trỏ phải phải đặt hờ vào vị trí J vàngược lại. Dao diện màn hình luyện tập gõ bàn phím của phần mềm RapidTypingTrang 6Tương tự như phần mềm Mario, RapidTyping cũng cung cấp lần lượt cácmức độ khó dễ để dành cho người bắt đầu làm quen.Tương ứng với mỗi ký tự trên bàn phím, RapidType sẽ hiển thị cách thứcđể sử dụng ngón tay nào cho phù hợp và đặt tay sao cho hợp lý. Từ đây, các emcó thể dần học được cách để sử dụng đồng thời cả 10 ngón tay để gõ phím.Sau khi hoàn tất 1 bài tập, RapidType sẽ hiển thị chi tiết khả năng gõ phímcủa bạn (tốc độ gõ, số lần gõ sai…) và đánh giá trình độ của bạn là tốt, hoặc chỉ làmới bắt đầu.Trang 7Để thay đổi mức độ khó của bài tập, các em chọn từ menu bên trái, sẽ baogồm 3 cấp: Beginner (dành cho người bắt đầu), Intermediate (dành cho người đãdần làm quen) và Expert (dành cho ai đã thành thạo). Tùy thuộc vào cấp độ củamình, các em có thể thử sức xem tốc độ gõ phím của mình đang đạt đến mức nào.Với cách gõ như trên và vận dụng phần mềm soạn thảo văn bản (Word):Học sinh ứng dụng từ các môn học tập làm văn để trình bày đoạn văn bản sao chophù hợp, đúng cách. Ứng dụng soạn thảo văn bản để soạn thảo giải những bàitoán đã học ở bậc tiểu học có hiệu quả cao nhất.Tính mới của cách gõ bàn phím theo phần mềm RapidTyping nó ưu việt vàhiệu quả hơn cách luyện gõ theo chương trình sách giáo khoa hiện hành ở chỗ là: – Giao diện của RapidTyping đơn giản, dễ sử dụng. Ngoài ra khi các emtiến hành tập gõ thì phần mềm có hình ảnh hai bàn tay trái và phải đặt ngay tạibàn phím, khi gõ phím nào thì ngón táy ấy tự vươn ra gõ phím đó. Điều này giúpTrang 8các em mới tiếp súc với bàn phím có thể nhìn thấy và làm theo hướng dẫn gõphím một cách dễ dàng, tránh trường hợp các em gõ ngón tay sai phím.– Một ưu điểm thứ hai của phần mềm RapidTyping là: Trên giao diện luyệntập gõ của phần mềm, hình ảnh của bàn phím được hiện ra trực tiếp, giúp các emcó thể vừa luyện gõ, vừa nhớ vị trí các phím trên bàn phím dễ dàng.1.2. Cách thức tổ chức một cách khoa học khi hướng dẫn học sinh thựchành các bài tập vẽ:Giáo viên dạy tô màu nền bằng nháy nút phải chuột, và tô màu vẽ bằng núttrái chuột nhưng học sinh chưa hiểu được màu sẽ được tô như thế nào. Chỉ khithực hành học sinh mới thực sự hiểu rằng tô màu nền ta nhấn nút chuột phải, khitô màu vẽ ta nhấn nút chuột trái.Giáo viên nên tận dụng những phương tiện sẵn có của môn tin học áp dụngvào trong giảng dạy lý thuyết để học sinh dễ quan sát và nhận biết, giúp cho buổithực hành có hiệu quả hơn. Hệ thống các bài tập thực hành phù hợp với nội dungcủa bài giảng, liên hệ với một số môn học khác trong chương trình học của cácem.Các bài tập không quá dài, nâng dần từ mức đơn giản đến phức tạp, ngoàira giáo viên cũng phải kết hợp những bài đã học trước để học sinh ôn lại và vậndụng tô màu một cách có hệ thống.Phần mềm học vẽ ( Paint): Học sinh ứng dụng môn mỹ thuật, học được từmôn mỹ thuật để vẽ những hình ảnh sao cho sinh động, hài hoà thẩm mĩ.Trong chương trình tin học ở bậc tiểu học được phân bố xen kẽ giữa cácbài vừa học, vừa chơi. Giáo viên giao bài tập thực hành, sau đó hướng dẫn trực tiếp trên máy bằngphần mềm Netopshool thay cho đèn chiếu để học sinh dễ quan sát thao tác củagiáo viên trong thực hành, nếu em học sinh nào chưa thực hành được, giáo viênTrang 9lại hướng dẫn cho em đó hoặc bắt tay em đó và hướng dẫn các thao tác ( gọi làcầm tay chỉ việc cho từng em).Ví dụ 1: Trong bài thực hành “Tập tô màu”. Hình a Hình bỞ hình a là một chiếc xe chưa được tô màu, học sinh phải vận dụng kiếnthức đã học để tô màu hình a sao cho giống hình b bằng màu nền và màu vẽ. Lúcnày các em mới nhận ra được tô màu nền là nháy nút chuột nào, tô bằng màu vẽem phải nháy nút chuột nào. Ngoài kiến thức tô màu học sinh phải vận dụng cáchphóng to thu nhỏ để tô vào những chỗ nhỏ nhất.Ví dụ 2: Trong một giờ thực hành với bài vẽ hình chiếc lá trong bài học:“Vẽ đường cong”. Trang 10

          Trang 17 Bồng Sơn, ngày … tháng … năm 2013

          Đề Tài Một Số Kinh Nghiệm Trong Giảng Dạy Chương Trình Phần Mềm Đồ Họa Paint Môn Tin Học Lớp 3

          Giới hạn của đề tài Nghiên cứu về cách tổ chức giảng dạy phần mềm đồ họa Paint của học sinh lớp 3A trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi xã Quảng Điền huyện Krông Ana tỉnh Đắk Lắk ( Năm học 2015-2016). Phương pháp nghiên cứu a. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận – Đọc các tài liệu, sách báo, truy cập internet nói về các phương pháp nghiên cứu, phương pháp dạy tin học tiểu học”. – Tham khảo các bài viết của các tác giả đăng trên tạp chí giáo dục, truy cập internet tham khảo các SKKN của các anh chị ở các trường bạn. b. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn – Phương pháp điều tra; Tìm hiểu thực trạng giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh trong việc lĩnh hội kiến thức mới nhằm phát hiện các vấn đề khó khăn cần giải quyết, xác định nguyên nhân, chuẩn bị cho các bước nghiên cứu tiếp theo. – Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;  Phương pháp này giúp tôi tổng kết những kinh nghiệm của bản thân và đánh giá rút ra những cái mới có giá trị, hỗ trợ thiết thực cho công tác giảng dạy trong môn này. – Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động; Thường xuyên theo dõi các hoạt động trong quá trình thực hiện để kịp thời nắm bắt, giải quyết các tình huống đặt ra sao cho có kết quả tốt nhất. – Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia; Phương pháp này giúp tôi có thêm nhiều phương pháp từ các ý kiến xây dựng, từ đó đúc kết cho mình một cách tích cực đạt kết quả cao nhất trong tổ chức và thực hiện. – Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm. Tổ chức triển khai thực hiện các giải pháp cải tiến để xem xét, đối chiếu với kết quả ban đầu có tiến bộ không? có phù hợp với ý đồ nghiên cứu của tác giả không? c. Phương pháp thống kê toán học Sử dụng phương pháp này để phân tích số liệu thống kê, kiểm tra và dự đoán ( dự đoán, điều tra, chọn mẫu). Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu đề tài này tôi còn sử dụng phối hợp nhiều phương pháp khác như: Tạo ra các trò chơi, các thủ thuật dạy thực hành chính xác. Phần nội dung Cơ sở lý luận Trong nhà trường, Tin học là một bộ môn mới áp dụng những năm gần đây, có đặc thù riêng, gây trí tò mò ham mê tìm hiểu với học sinh xong cũng không tránh khỏi gây ra những khó khăn cho người học. Do đó giáo viên cũng giống như một người nghệ sĩ, cần nhận biết một cách tinh tế, nhạy cảm để có thể tạo cho đối tượng học những hứng thú và niềm yêu thích đặc biệt với bộ môn mình phụ trách. + Nghị quyết Trung ương 2, khoá VII, đã quy định phương pháp dạy học thay đổi theo hướng “khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng những phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học”. Định hướng này đã được pháp chế hoá trong luật giáo dục điều 24, 25:” Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học. Bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh”. + Nghị quyết 40/2000/QH10 và chỉ thị 14/2001/CT-TTg ngày 9/12/2000 về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông: Nội dung chương trình là tích cực áp dụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, ứng dụng CNTT vào dạy và học. + Chỉ thị 29/CT của Trung Ương Đảng về việc đưa CNTT vào nhà trường. Theo Công văn 4323/BGDĐT-GDTH ngày 25/8/2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTH đưa ra nhiệm vụ cụ thể về môn Tin học như sau: “Tiếp tục thực hiện tổ chức dạy học môn Tin học theo Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ở những nơi có đủ điều kiện. Đẩy mạnh cách hoạt động giáo dục có nội dung Tin học – Công nghệ thông tin dưới hình thức các câu lạc bộ để học sinh được tiếp cận, hình thành các kĩ năng học tập, sử dụng sáng tạo”. Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra Công văn số 4983/BGDĐT-CNTT ngày 28/9/2015 về việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT với nhiều nhiệm vụ trọng tâm như: Công tác bồi dưỡng ứng dụng CNTT cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; Tập huấn, bồi dưỡng trực tuyến cho giáo viên, tổ chức họp trực tuyến; Triển khai chương trình công nghệ giáo dục và e-Learning; Hướng đến mô hình trực tuyến, phần mềm nguồn mở, học liệu mở cho giáo dục; Xây dựng mô hình giáo dục điện tử, trường học điện tử; Tăng cường đầu tư hạ tầng cơ sở CNTT Xuất phát từ quan điểm ” lấy người học làm trung tâm “, phương pháp dạy và học đã có những thay đổi căn bản. Người dạy không phải là người duy nhất nắm giữ kiến thức và truyền đạt kiến thức mà chỉ là người hướng dẫn, người hỗ trợ, người cố vấn, người kiểm tra… Người học không còn là người thụ động tiếp thu kiến thức mà là trung tâm của quá trình dạy học, chủ động sáng tạo trong quá trình học tập nhằm đạt được mục tiêu dạy học của mình. Dạy tin học thì việc đổi mới phương pháp dạy học là rất rõ ràng và quan trọng đặc biệt trong những tiết thực hành. Từ những luận điểm trên việc các em học sinh trực tiếp tham gia vào quá trình học tập, trực tiếp thực hành và sử dụng máy tính một cách tự nhiên và linh hoạt sẽ tạo được niềm vui, kích thích trí tò mò của các em. Thực trạng vấn đề nghiên cứu Qua công tác giảng dạy môn Tin học một số lớp chúng tôi được sự góp ý của các đồng nghiệp rút ra được một số nhận định sau: * Tiết 1: Bài dạy: Bài 5: Di chuyển hình Ngày dạy: 24/11/2015; Lớp: 3A; Giáo viên dạy: Đinh Ngọc Quốc. – Nội dung bài: hướng dẫn các em cách di chuyển hình Trong tiết này tôi thống kê được số liệu như sau: Tiết Lớp Sĩ số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành 1 3A 24 25 % 42 % 33 % Mức độ thao tác Trước khi thực hiện chuyên đề Số Hs Tỷ lệ Thao tác nhanh, đúng 4/24 25% Thao tác đúng 10/24 42% Thao tác chậm, chưa biết thao tác 10/24 33% Ưu điểm + Giáo viên – Dạy chuẩn kiến thức kỹ năng. – Chuẩn bị phương tiện dạy học, đầy đủ. – Dạy có kèm minh hoạ thực tiễn trên máy tính. + Học sinh – Tập trung theo dõi bài, lắng nghe khi giáo viên giảng. – Các em rất thích di chuyển hình ảnh để ghép hình. b. Khuyết điểm + Giáo viên – Phân bố thời gian chưa hợp lý giữa lý thuyết và thực hành. – Đa số tập trung hướng dẫn các em học sinh giỏi, khá. + Học sinh – Còn bỡ ngỡ khi tiếp xúc bài mới. – Một số em còn lo ra xem nhẹ môn Tin học. – Một số em không thích thú môn học. c. Nguyên nhân + Giáo viên – Do chú trọng phần giảng dạy lí thuyết hơn nên thời gian thực hành chưa nhiều gây nhàm chán cho học sinh. – Trong quá trình thực hành chưa quán xuyến hết các em học sinh. – Chưa khai thác tư duy, sáng tạo của học sinh. – Chưa làm cho học sinh say mê hứng thú với môn học. + Học sinh – Các em chưa được tiếp xúc với phần mềm Paint lần nào, về nhà các em không có máy tính. – Các em còn nhỏ nên hay mê chơi không chú ý vào bài học. – Chưa thấy được tầm quan trọng của môn học này nên còn lơ là trong việc học. – Đa số phụ huynh học sinh ít được học môn Tin học nên không thể hướng dẫn con em mình. Do môn Tin học là môn mới đưa vào chưong trình giảng dạy nên trong quá trình giảng dạy môn Tin học ở các lớp trong khối 3 luôn tồn tại những ưu điểm, khuyết điểm khác nhau. Do đó tôi luôn tự học hỏi, dự giờ rút kinh nghiệm để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, nâng cao chất lượng học sinh, giúp các em sử dụng phần mềm một các thành thạo hơn. Nội dung và hình thức của giải pháp Mục tiêu của giải pháp Giải pháp, biện pháp được nêu trong đề tài nhằm giúp học sinh học và thực hành trên phần mềm Paint một cách hiệu quả, hoàn thiện và thành thạo các thao tác khi tương tác với phần mềm, linh hoạt trong khi sử dụng các công cụ vẽ của phần mềm. Giúp học sinh tăng cường khả năng tư duy trong cách thực hiện các thao tác để thể hiện khả năng vận dụng kiến thức, hình thành cho học sinh kĩ năng thực hành các đề tài mở nhằm thúc đẩy sự sáng tạo của học sinh, từ đó học sinh tò mò, khám phá thế giới xung quanh, say mê, hứng thú, yêu thích môn học. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp Trong đề tài này, tôi sẽ chia sẻ những kinh nghiệm và giải pháp giúp học sinh học say mê hứng thú, yêu thích môn học, biết vận dụng kiến thức của mình vào cuộc sống, hoàn thiện và thành thạo các thao tác khi tương tác với phần mềm Paint, linh hoạt trong khi sử dụng các công cụ vẽ của phần mềm. + Giải pháp 1: Giáo viên có kế hoạch bài dạy, xây dựng ý tưởng, thiết kế bài dạy phù hợp, sử dụng các phần mềm, các thiết bị dạy học hợp lí. – Giáo viên biết kết hợp giữa giờ lý thuyết và thực hành sao cho phù hợp, không nên xem nhẹ giờ dạy lý thuyết thì mới thực hành tốt được cũng như khi học sinh thực hành tốt thì sẽ hiểu sâu hơn về lý thuyết. – Khi dạy thực hành, giáo viên giao bài tập cho học sinh một cách cụ thể, rõ ràng và kết hợp cả những kiến thức của bài học trước, hướng dẫn theo từng nhóm cho các em phân tích yêu cầu của bài và để đạt được bài như yêu cầu thì các em phải làm những công việc gì? trước khi học sinh làm để học sinh quan sát, thực hành chính xác và nhanh hơn. Ví dụ: Bài 14: Mẫu đồng hồ treo tường (phần mềm Paint), giáo viên giao bài tập thực hành cho từng nhóm, sau đó hướng dẫn (theo nhóm) phân tích, tiếp theo giáo viên hướng dẫn trực tiếp trên máy cho học sinh dựa trên phần mềm Netop School hoặc sử dụng máy chiếu để học sinh dễ quan sát thao tác của giáo viên. Trong khi thực hành, nếu em học sinh nào chưa thực hành được, giáo viên lại hướng dẫn cho em đó hoặc cầm tay em đó và hướng dẫn các thao tác. Sử dụng phần mềm Netop School để giảng dạy cho học sinh Bài 15: Thực hành vẽ ngôi nhà (phần mềm Paint) – Đầu tiên chia lớp thành 4-5 nhóm. – Yêu cầu các nhóm phân tích xem để hoàn tất ngôi nhà theo mẫu. + Các em cần vẽ những gì? + Sử dụng những công cụ nào để vẽ? + Có cần sao chép hình nào không? + Thực hiện phối màu như thế nào cho hợp lý hay em thích màu như hình mẫu. – Sau khi các nhóm xác định xong gọi một vài nhóm trình bày. – Nhận xét và bắt đầu cho các em bắt tay vào vẽ. * Giáo án minh họa Tuần 15: Thứ hai ngày 12 tháng 12 năm 2015 Tiết: 29, 30 PHẦN III. CÔNG CỤ VẼ PAINT BÀI 15. MẪU NGÔI NHÀ VÀ KHU VƯỜN I. MỤC TIÊU – Sử dụng các mẫu vẽ, sử dụng các công cụ trong phần mềm để vã một khu vườn. – Nắm được kỹ năng sao chép giữa hai tệp tin, thực hành các bức tranh vẽ. – Say mê, hứng thú, yêu thích môn học, biết bảo vệ máy tính của mình. II. CHUẨN BỊ – Giáo viên: Bài giảng điện tử, máy tính thực hành, máy chiếu, máy tính xách tay, phần mềm Paint. – Học sinh: SGK, tập, bút. III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH 1.Ổn định lớp. – Kiểm tra phần mềm Netop School. 2. Bài mới * Hoạt động 1: Khám phá – Giáo viên hướng dẫn học sinh khởi động phần mềm Paint, giới thiệu hình vẽ cho học sinh quan sát. Em sử dụng công cụ hay mẫu vẽ nào để thực hiện mẫu ngôi nhà như hình bên? Cho học sinh hoạt động nhóm Sau khi quan sát xong, học sinh điền dấu tích vào các ô trống trước các công cụ. Nhận xét – chốt ý *Hoạt động 2: Vẽ theo mẫu – Vẽ mái nhà. – Vẽ khung nhà. – Xoá chi tiết thừa. – Vẽ cửa cái – ráp cửa cái. – Sao chép và ráp cửa sổ – Vẽ ống khói, vẽ khói – ráp vào mái nhà. – Tô màu hoàn chỉnh. Em hãy sắp xếp lại đúng thứ tự các bước thực hiện bằng cách ghi số vào các ô tròn. – Kiểm tra kết quả. *Hoạt động 3: Sáng tạo – Học sinh tự thiết kế và trang trí ngôi nhà của mình với màu sắc riêng. – Giáo viên nhận xét *Hoạt động 4: Học sinh tự nhận xét 3. Củng cố – dặn dò: – Nhận xét tiết học. – Về nhà hãy thực hành phần mềm Paint và vẽ tranh tặng người thân. – Ổn định – Quan sát và lắng nghe. Báo cao kết quả – Kiểm tra chéo bài của bạn – Thực hành thiết kế và trang trí ngôi nhà của mình với màu sắc riêng. – Tự thực hành và trao đổi kết quả với bạn cùng lớp. * Qua tiết dạy tôi được sự góp ý của các đồng nghiệp rút ra được một số nhận định sau: – Nội dung bài: Hướng dẫn các em cách để vẽ một ngồi nhà đơn giản. Trong tiết này tôi thống kê được số liệu như sau: Tiết Lớp Sĩ số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành 1 3A 24 60 % 30 % 10% * Ưu điểm + Giáo viên – Dạy chuẩn kiến thức kỹ năng. – Chuẩn bị phương tiện dạy học, đầy đủ. – Phương pháp dạy phù hợp, Phân bố thời gian lý thuyết và thực hành hợp lí. – Khả năng quan sát lớp tốt, giao bài tập hợp lí cho đối tượng học sinh. + Học sinh – Tập trung theo dõi bài, lắng nghe khi giáo viên giảng. – Say mê hứng thú, yêu thích môn học. – Kỹ năng thực hành nhanh nhẹn. – Thao tác chuột và bàn phím tốt. * Khuyết điểm + Giáo viên Phần cũng cố nên tạo trò chơi để học sinh ôn lại kiến thức đã học. + Học sinh – Một số em thao tác còn chậm. Giải pháp 2: Giáo viên khai thác tất cả các công cụ trong phần mềm đồ họa Paint để hướng dẫn cho học sinh. Trong phần mềm đồ họa Paint có rất nhiều công cụ hỗ trợ cho việc vẽ, thiết kế các hình ảnh phong phú và đa dạng. Vậy làm thế nào để hướng dẫn cho học sinh dễ hiểu, dễ sử dụng là một khâu vô cùng quang trọng, yêu cầu giáo viên phải nắm chắc các bước tiến hành, hướng dẫn một cách chi tiết đặc biệt là học sinh yếu, vì các em mới đầu tiếp xúc với phần mềm. Ví Dụ: Bài Vẽ hình chữ nhật, hình vuông – Để vẽ được hình như trên cần sử dụng các công cụ nào trong họp công cụ? Hộp công cụ Hộp màu Để Vẽ hình chữ nhật, hình vuông như trên ta cần sử dụng các công cụ nào, các màu nào phù hợp? nêu cách thực hiện. Giải pháp 3. Giáo viên nên khai thác đề tài mở cho học sinh Trong quá trình giảng dạy giáo viên không nên áp đặt cho học sinh phải vẽ theo mẫu trong sách giáo khoa hoặc cho học sinh vẽ theo mẫu đã cho, mà nên khai thác các đề tài mở cho học sinh vận dụng kiến thức đã học trong chương trình đồ họa Paint. Nên khai thác tối đa sự tư duy sáng tạo của học sinh. Để làm được như vậy giáo viên phải nắm được khả năng vận dụng của học sinh, nắm được cách đặt vấn đề cho học sinh đễ nhớ dễ hiểu và dễ thực hiện. Ví dụ: Em hãy sử dụng tất cả các công cụ trong phần mềm đồ họa Paint hãy vẽ bức tranh tả cảnh cánh đồng quê hương em đang vào mùa thu hoạch lúa. Như yêu cầu trên thì sẽ khai thác tối ưu việc vận dụng khả năng tư duy một cách sáng tạo để giải quyết vấn đề học sinh không bị ràng buộc và đó cũng là căn cứ để giáo viên có thể ra đề kiểm tra theo Thông tư 22/2016/TT-BGĐT vấn đề này ở mức vận dụng cao (mức 4). Chẳng hạn: Ở địa phương có cánh đồng lúa thì yêu cầu học sinh vẽ bức tranh về cách đồng lúa, ở địa phương có vườn cà phê thì vẽ bức tranh về cà phê, hoặc có thể vẽ bức tranh mô tả cảnh giờ ra chơi trường em là hợp lí nhất. Tóm lại: Khai thác đề tài mở trong chương trình đồ họa Paint cho học sinh, phải gắn liền với sự hiểu biết của học sinh, tránh gây khó khăn cho học sinh. Giờ học thực hành phần mềm đồ họa Paint của học sinh lớp 3A Trường TH Nguyễn Văn Trỗi Giải pháp 4: Sử dụng một số phần mềm hỗ trợ soạn giảng và giảng dạy, tổ chức các trò chơi nhằm cũng cố cho học sinh. Qua quá trình công tác, tôi thường sử dụng các phần mềm sau để hỗ trợ việc giảng dạy của mình. Đây là các phần mềm hay, đơn giản, dễ sử dụng. Giáo viên không chuyên công nghệ thông tin vẫn có thể sử dụng thành thạo các phần mềm này. (Có file cài đặt của các phần mềm đính kèm). – Phần mềm CamStudio: Phần mềm Camstudio để làm các đoạn phim hướng dẫn. Đây là chương trình miễn phí cho phép ghi lại toàn bộ hoạt động đang diễn ra trên màn hình của mình và xuất ra thành một đoạn phim. Bên cạnh đó, phần mềm có thể ghi âm chèn vào đoạn phim được ghi. Tải phần mềm tại trang web – Phần mềm Audacity: Phần mềm Audacity thay thế cho việc ghi âm bằng điện thoại, máy ghi âm như một số trường vẫn sử dụng. Phần mềm giúp ghi âm, thu âm, cắt nhạc, chỉnh sửa âm thanh miễn phí. Khi sử dụng với máy tính xách tay (laptop) không cần hỗ trợ thêm công cụ dùng để ghi âm mà chỉ cần ghi âm trực tiếp bằng loa có sẵn trong máy tính. Tải phần mềm tại trang web – Phần mềm LectureMAKER Phần mềm LectureMAKER là phần mềm thiết kế bài giảng e-Learning dễ sử dụng với giao diện thân thiện và mang nhiều nét tương đồng của chương trình làm slide MS PowerPoint. LectureMAKER sở hữu nhiều tính năng soạn giáo án điện tử mạnh mẽ như cho phép chèn nhiều định dạng file từ PowerPoint, Flash, PDF, nhúng trang web, video, ảnh…, hỗ trợ xuất nội dung ra nhiều định dạng như exe, web, SCORM… và đặc biệt có khả năng tương tác cao. Nhiều giáo viên khi cài đặt xong phần mềm, chưa bẻ khóa phần mềm thì khi xuất ra nhiều định dạng sẽ bị lỗi. Vì vậy, để sử dụng được hết các tính năng của phần mềm nên bẻ khóa phần mềm sau khi cài đặt. Cách bẻ khóa phần mềm như sau: Sau khi cài đặt xong phần mềm, nên đóng tất cả phần mềm lại. Copy file LM chúng tôi vào thư mục LectureMAKER2 theo đường dẫn sau: C/ Program Files/ DaulsSoft/ LectureMAKER2 Chạy file LM chúng tôi đợi khoảng 30 giây nhấn Done. – Phần mềm quản lý học sinh NetOpSchool 6.0 NetOpSchool là một phần mềm hỗ trợ giảng dạy trong trường học có chức năng nối nhiều máy tính với nhau trong một lớp học để tạo nên sự tương tác qua lại giữa máy tính của học sinh, giáo viên. Đây là một công cụ giảng dạy hiệu quả, giúp việc truyền đạt trở nên sinh động, trực quan và dễ hiểu hơn. Tải phần mềm tại Phần cũng cố là một phần quan trọng trong giờ dạy, nhằm kiểm tra kết quả của các em học sinh sau tiết học. Do vậy khuyến khích tổ chức các trò chơi sinh động hấp dẫn để kiểm tra sự hiểu biết, nắm bài của các em, như trò chơi “ô chữ”, trò chơi “chiếc nón kỳ diệu”…. Củng cố kiến thức bằng trò chơi chiếc nón kỳ diệu cho học sinh lớp 3A Trường TH Nguyễn Văn Trỗi Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp Bên cạnh việc đưa ra các giải pháp thực hiện đề tài phải có một biện pháp thực hiện cụ thể, thực hiện thực tế trên lớp học, từ đó thâm nhập tìm hiểu tinh thần học tập của học sinh. Như vậy qua các biện pháp như đã nêu trên thì biện pháp nào cũng quan trọng tuy nhiên giáo viên phải nắm bắt trình độ học sinh để có những biện pháp phù hợp với đối tượng học sinh song biện pháp “khai thác đề tài mở cho học sinh” làm biện pháp hữu hiệu nhất. Biện pháp này giúp học sinh tự khám phá, tư duy một cách sáng tạo, các em có thể thiết kế riêng cho mình một đề tài được thể hiện trên bản vẽ một cách tự do theo phong cách riêng của mình mà không phải ràng buộc theo mẫu, từ đó khai thác tối đa sự sáng tạo của học sinh dẫn đến các em yêu thích môn học, say mê hứng thú với phần mềm Paint để các em có thể trở thành những nhà kiến trúc giỏi sau này. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi và hiệu quả ứng dụng. Tổng số học sinh lớp 3A là 24 em. + Khả năng ghi nhớ lý thuyết Đánh giá học sinh Trước khi sử dụng giải pháp Sau khi sử dụng giải pháp Các bước thực hiện Các bước thực hiện Số lượng Đạt tỉ lệ Số lượng Đạt tỉ lệ Hoàn thành tốt 4 17% 10 42% Hoàn thành 9 38% 12 50% Chưa hoàn thành 11 45% 2 8% + Kĩ năng thực hành (Kĩ năng sử dụng chuột, hoàn thành bài tập theo yêu cầu của giáo viên) Đánh giá học sinh Trước khi sử dụng giải pháp Sau khi sử dụng giải pháp Thao tác trên phần mềm Thao tác trên phần mềm Số lượng Đạt tỉ lệ Số lượng Đạt tỉ lệ Hoàn thành tốt 5 21% 14 59% Hoàn thành 8 34% 9 37% Chưa hoàn thành 11 45% 1 4% Từ bảng kết quả trên cho thấy các biện pháp áp dụng vào việc dạy học Tin học ở lớp 3A trường TH Nguyễn Văn Trỗi đã trình bày ở trên giúp các em không những nắm vững được kiến thức cơ bản về tin học mà còn giúp các em học tập phấn khởi hơn, tiếp thu bài nhanh hơn, mạnh dạn hơn, sáng tạo trong học tập, say mê hứng thú, yêu thích môn học hơn. Thông qua việc tha

          Sáng Kiến Kinh Nghiệm:một Số Giải Pháp Trong Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Thể Dục Lớp 5 : Phòng Gd&Amp;Đt Thị Xã Ba Đồn

          Sáng kiến kinh nghiệm:Một số giải pháp trong đổi mới phương pháp dạy học môn thể dục lớp 5

          1.1 Lý do chọn đề tài…………………………………………………….2

          1.2 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm………………………..3

          1.3 Phạm vi áp dụng:………………………………………………………..4

          1.3.1 Đối tượng nghiên cứu……………………………………………4

          1.3.2 Phạm vi nghiên cứu…………………………………………………4

          Phần nội dung………………………………………………………….5

          2.1. Thực trạng………………………………………………………………………5

          2.1.1 Thuận lợi………………………………………………………………………5

          2.1.2 Khó khăn………………………………………………………………………5

          2.2 Nguyên nhân dẫn đến học sinh lớp 5 chưa học tốt môn thể dục…..5

          2.3 Những biện pháp và tổ chức thực hiện………………………………….6

          2.3.1 Giáo dục cho học sinh hiểu rõ tầm quan trọng của việc tập thể dục………….7

          2.3.2 Lựa chọn phương pháp giảng dạy hợp lý…………………………..7

          2.3.3 Hướng dẫn và làm mẫu chính xác kĩ thuật động tác………….8

          2.3.4 Sử dụng phương pháp thi đua một cách hiệu quả…………….9

          2.3.5 Sử dụng phương pháp luyện tập theo nhóm……………………10

          2.3.6 Phối hợp nhịp nhàng với giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh…10

          2.4 Kết quả thực hiện và triển khai…………………………………..11

          Kết luận……………………………………………………………12

          3.1 Ý nghĩa……………………………………………………………………12

          3.2 Đề xuất của bản thân……………………………………………..12

          Sáng kiến kinh nghiệmMột số giải pháp trong đổi mới phương pháp dạy học môn thể dục lớp 51.1. Lý do chọn đề tài

          Trong xã hội ngày nay sức khỏe được ví như vàng, nhưng cũng có khi hơn vàng bởi vì sức khỏe có thể làm ra vàng nhưng vàng không thể tạo cho cơ thể một sức khoẻ được. Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã nói “mỗi người dân khỏe mạnh sẽ làm cho đất nước khỏe mạnh”. Trình độ dân trí và tiềm lực khoa học công nghệ đã và đang trở thành nhân tố quyết định sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia trên thế giới. Cũng như đất nước ta đang ở trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ về mọi mặt như: kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội… Vì vậy, xã hội đang đặt ra những yêu cầu hết sức cấp bách với ngành giáo dục hiện nay.

          Môn thể dục là một trong những bộ phận của nền giáo dục, góp phần làm thay đổi mọi mặt của giáo dục toàn diện có ảnh hưởng rất lớn tới các mặt giáo dục khác, có vị thế hết sức quan trọng trong việc chuẩn bị cho học sinh có đầy đủ khả năng, sức khỏe để tham gia vào cuộc sống sản xuất và bảo vệ tổ quốc. Trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và coi trọng mục tiêu phát triển con người toàn diện, khẳng định tầm quan trọng. Vậy nên giáo dục thể chất đã được Đảng và Nhà nước ta coi là một trong những mục tiêu giáo dục toàn diện và nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân. Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 có ghi: “Quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học”. Điều này xuất phát từ ý nghĩa to lớn của giáo dục thể chất trong nhà trường. giáo dục thể chất được hiểu vì ” Quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ hoàn thiện về thể chất, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ của con người”.

          Giáo dục thể chất cũng như các loại hình giáo dục khác là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của nó và có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm. Giáo dục thể chất được chia thành hai mặt tương đối độc lập: Dạy học động tác và giáo dục tố chất thể lực.

          Trong hệ thống giáo dục, nội dung đặc trưng của giáo dục thể chất được gắn liền với giáo dục, trí dục, đức dục, mĩ dục và giáo dục lao động. Mục đích của giáo dục thể chất trong nhà trường tiểu học nhằm góp phần bảo vệ sức khoẻ, cung cấp những kiến thức cơ bản về phát triển cơ thể, môi trường, đồng thời hình thành ở người học những nhân cách sống của con người lao động mới trong thời đại mới. Giáo dục thể chất với nhiệm vụ “Phát triển toàn diện các tố chất thể lực và trên cơ sở phát triển các năng lực thể chất, hình thành hệ thống và tiến hành hoàn thiện đến mức cần thiết các kỷ năng, kỷ xảo quan trọng trong cuộc sống”. Không những thế, giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ là một mặt của giáo dục tiến bộ, là nhu cầu tất yếu khách quan của sự tồn tại và phát triển của một xã hội văn minh nói chung và của công việc xây dựng Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Tổ quốc nói riêng. Phân môn thể dục còn mang lại cho thế hệ trẻ cuộc sống vui tươi, lành mạnh và tác động mạnh mẽ đến nhiều mặt giáo dục khác. Đối với học sinh Tiểu học, các em còn nhỏ, hệ xương chưa phát triển đầy đủ. Hệ hô hấp ở độ tuổi này có đường hô hấp còn hẹp, hệ tuần hoàn hoạt động chưa được tốt, sự tập trung chú ý chưa bền vững, dễ bị phân tán, tính hưng phấn chưa cao, trí tưởng tưởng đang phát triển song còn tương đối nghèo nàn, ít có tổ chức, tư duy logic chưa cao, để chuẩn bị những kiến thức cơ bản cho các em lên cấp học cao hơn được tốt hơn. Từ thực tế giảng dạy và xuất phát từ mục tiêu trên, để đáp ứng được mục tiêu của giáo dục thể chất nói chung và ở trường tiểu học nói riêng. Với những mục tiêu và yêu cầu cấp bách đó bản thân tôi đã mạnh dạn lựa chọn chuyên đề: “Một số giải pháp trong đổi mới phương pháp dạy học môn thể dục lớp 5″.

          1.2 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:

          Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số giải pháp trong đổi mới phương pháp dạy học môn thể dục lớp 5”. Sáng kiến được áp dụng lần đầu tiên tại đơn vị, giúp giáo viên nắm chắc, tự tin trong dạy học, giúp học sinh học tập sôi nổi. Sau khi áp dụng sáng kiến vào quá trình giảng dạy bản thân tôi nhận thấy chất lượng giảng dạy có sự chuyển biến rõ rệt.

          Sáng kiến đã tìm ra được những nguyên nhân dẫn đến chất lượng dạy học chưa cao và từ đó đã tìm ra được 6 nhóm giải pháp cơ bản đó là:

          Giáo dục cho học sinh hiểu rõ tầm quan trọng của việc tập thể dục, lựa chọn phương pháp giảng dạy hợp lý, hướng dẫn và làm mẫu chính xác kỹ thuật động tác, sử dụng phương pháp thi đua một cách hiệu quả, sử dụng phương pháp luyện tập theo nhóm, phối hợp nhịp nhàng với giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh.

          Sáng kiến kinh nghiệm cũng đã đưa ra được những quy trình, biện pháp nhằm phục vụ cho công tác huấn luyện các đội tuyển năng khiếu đạt hiệu quả cao, giúp cho học sinh phát huy tính tự giác, tích cực trong học tập và tập luyện.

          1.3 Phạm vi áp dụng:1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:

          Học sinh khối 5 Trường tiểu học.

          1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:

          Đổi mới phương pháp dạy học giúp học sinh học tốt môn thể dục lớp 5.

          Giáo viên luôn nhiệt tình với công việc, có tinh thần làm việc tốt luôn say mê tìm tòi các tài liệu, sách báo về bộ môn để hoàn thành tốt công việc. Luôn quan tâm học sinh của mình, hiểu được tâm lí của các em đối với phân môn thể dục, nhằm đem lại hiệu quả trong công việc.

          2.1.2 Khó khăn :

          Sân bãi tập luyện bộ môn còn hạn chế, đồ dùng phục vụ cho việc giảng dạy còn chưa đầy đủ.

          Một số bộ phận phụ huynh và học sinh còn có suy nghĩ là môn phụ nên xem nhẹ việc động viên các em tập luyện thêm ở nhà.

          Trong trường chỉ có một giáo viên dạy thể dục nên việc dự giờ học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp còn hạn chế.

          2.2 Nguyên nhân dẫn đến học sinh lớp 5 chưa học tốt môn thể dục

          Thực tế qua việc giảng dạy các khối lớp ở cấp tiểu học thì các em ở các khối lớp nhỏ thích được hoạt động nên các em rất thích môn học, tích cực trong tập luyện. Còn các em ở khối lớp lớn còn chưa tập trung vào nội dung của buổi học vì một số nguyên nhân sau đây:

          Một số bộ phận học sinh còn xem môn thể dục là môn phụ nên chưa tích cực trong việc học.

          Các em chưa hiểu rõ tầm quan trọng của việc tập luyện thể dục đem lại cho sức khỏe những lợi ích gì.

          Sự phối hợp của giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh còn chưa nhịp nhàng.

          Một số học sinh không tập trung chú ý nên làm sai động tác dẫn đến đau chân, tay và một số bộ phận trên cơ thể khiến cho các em không hứng thú môn học.

          Nội dung chương trình của môn thể dục khối lớp 5 có phần nhàm chán như đội hình đội ngũ, bài thể dục phát triển chung, ở độ tuổi này các em thích các hoạt động tranh đua, sự cạnh tranh ở các nội dung tự chon như: đá cầu ném bóng hơn là phải giẫm chân đi đều.

          Nếu như sự thiếu tập trung của các em đối với bộ môn cứ kéo dài như vậy sẽ làm ảnh hưởng gì đối với các em và đối với chất lượng giảng dạy của giáo viên và sức khỏe của các em.

          Trước tiên sự thờ ơ, lơ là không chú ý của một số bộ phận học sinh sẽ làm cho lớp học mất trật tự, gây ảnh hưởng đến các học sinh khác và ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy của giáo viên.

          Các em không chú ý dẫn tới việc tập sai động tác ảnh hưởng đến sự phát triển về xương khớp của các em, không hứng thú với môn học sẽ làm cho các em lười tập thể dục ở nhà.

          Kết quả khảo sát cuối năm học: 2015 – 2016.

          2.3 Những biện pháp và tổ chức thực hiện

          Người lao động muốn làm ra sản phẩm tốt nhất cần phải có tư liệu sản xuất. cũng giống như người làm giáo dục muốn đạt kết quả như mong muốn, thì mỗi người giáo viên cần phải thay đổi phương pháp cho phù hợp với thực tiễn, người thầy phải luôn trau dồi kiến thức, phải tìm tòi các phương pháp hiệu quả nhất cho công việc của mình. Trước khi giảng dạy giáo viên cần phải chuẩn bị bài dạy chu đáo, chuẩn bị sân bãi, đồ dùng phục vụ cho việc dạy học, phải tận dụng tốt những điều kiện sẵn có, chủ động áp dụng những biện pháp tốt nhất.

          Qua thời gian giảng dạy bộ môn thể dục ở cấp tiểu học, để giúp học sinh lớp 5 hiểu được tầm quan trọng của môn thể duc đối với sức khỏe của các em nên bản thân tôi đã mạnh dạn áp dụng những biện pháp sau :

          2.3.1 Giáo dục cho học sinh hiểu rõ tầm quan trọng của việc tập thể dục

          Trong chương trình phân môn thể dục khối 5 gồm có 70 tiết học với thời gian 35 tuần, gồm có các nội dung:

          Đội hình đội ngũ, bài thể dục phát triển chung, các bài tập rèn luyện tư thế và kĩ năng vận động cơ bản, trò chơi vận động, và nội dung tự chọn là đá cầu , ném bóng.

          Dựa trên tiến trình đó mà giáo viên lên kế hoạch giảng dạy, bắt đầu mỗi phần giáo viên cần phải nói rõ cho học sinh hiểu ý nghĩa của việc tập luyện. chúng ta nên tập động tác này nhằm để làm gì, nó có tác dụng gì đối với cơ thể của chúng ta, tập luyện thể dục thường xuyên sẽ làm cho cơ thể các em phát triển nhanh hơn, toàn diện hơn, cân đối hơn. Ngoài việc phát triển cân đối tập luyện thể dục còn giúp cho các em nhanh nhẹn hơn, linh hoạt hơn, đầu óc thông minh hơn, giảm căng thẳng sau những giờ học mệt mỏi ở trong lớp. Ngoài những tác dụng trên việc tập luyện môn học còn giúp các em có những kiến thức cơ bản giúp các em lên lớp trên dễ dàng hơn khi học những nội dung khó hơn, vì các em đã có những kiến thức cơ bản.

          Ví dụ: Khi học các động tác về đội hình đội ngũ, giáo viên cần giải thích cho các em bết sự phối hợp nhịp nhàng của tay kết hợp với chân sẽ làm cho các nhóm cơ ở tay, chân phát triển. Khi thực hiện các trò chơi vận động sẽ giúp cho các cơ quan bộ phận trên cơ thể đều hoạt động giúp cơ thể các em phát triển cân đối.

          2.3.2 Lựa chọn phương pháp giảng dạy hợp lý.

          Trong công tác giảng dạy, giáo dục học sinh để có kết quả chúng ta phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, tuy nhiên không phải bài học nào, tiết học nào cũng sử dụng phương pháp đó, mà chúng ta phải sử dụng phương pháp hợp lý, phù hợp với bài học đó. Nếu như chúng ta sử dụng đúng phương pháp sẽ làm cho các em tiếp thu nhanh không gây sự nhàm chán cho các em.

          Ví dụ: Khi dạy bài thể dục phát triển chung tôi sử dụng các phương pháp: trực quan, làm mẫu, giải thích, thực hành. Tức là cho học sinh xem tranh, hình ảnh của động tác sau đó tôi làm mẫu cho học sinh quan sát, sau đó phân tích kĩ thuật động tác và cho học sinh thực hiện. Còn khi học trò chơi vận động tôi dùng phương pháp giải thích, làm mẫu và tập đồng loạt. Đối với học sinh lớp 5 tư duy của các em phát triển nhanh, phản xạ nhanh hơn các em ở lứa tuổi nhỏ do đó giáo viên nên chỉ giải thích ngắn gọn để khích lệ trí tuệ của các em.

          2.3.3 Hướng dẫn và làm mẫu chính xác kĩ thuật động tác.

          Để tiến hành bài học mới, sau khi quan sát tranh,ảnh, giáo viên phải nhấn mạnh những yếu lĩnh của động tác, những chi tiết mà học sinh thường hay mắc phải. Nếu như giáo viên hướng dẫn qua loa không chú ý đến những điểm yếu đó thì học si nh sẽ thành thói quen và sau này sẽ khó điều chỉnh, làm mất thời gian ảnh hưởng đến thời lượng tiết học. Khi làm mẫu thị phạm động tác giáo viên kết hợp phân tích cụ thể từng chi tiết, ngoài việc thị phạm động tác đúng thì giáo viên cũng có thể thị phạm động tác sai, sai chỗ nào mà các em dễ mắc phải khi thực hiện. Giáo viên có thể gọi những học sinh tiêu biểu lên thực hiện cho các bạn khác nhìn, hình thức này sẽ giúp cho các em thích thể hiện mình và tác động đến những học sinh khác tạo cho các em có sự ganh đua nhằm làm tốt hơn và hiệu quả hơn. Giáo viên phân tích ngắn gọn nhưng đầy đủ, không rườm rà làm sao cho các em dễ hiểu. Khi làm mẫu và giải thích kĩ thuật động tác thì giáo viên phải chọn vị trí thuận tiện cho học sinh dễ dàng quan sát và tất cả các học sinh đều quan sát được và nghe rõ. Ví dụ: Khi giải thích kĩ thuật giáo viên có thể đứng như sau:

          €€€€€€

          €€€€€€

          €€€€€€

          €€€€€€

          Khi học động tác mới hay một trò chơi mới thì việc làm mẫu là rất cần thiết, trước hết giáo viên nêu tên động tác, tên trò chơi, nếu học một trò chơi mới thì giáo viên nêu rõ luật chơi, cách chơi cho học sinh hiểu sau đó giáo viên làm mẫu rồi mới tiến hành cho học sinh chơi thử. Đối với những động tác khó giáo viên phải làm mẫu chậm, nhấn mạnh những điểm yếu, nếu như sau khi làm mẫu xong mà vẫn còn những học sinh làm sai thì giáo viên làm mẫu lại và lần làm mẫu này cũng làm chậm để học sinh quan sát. Thông thường thì khi làm mẫu cho học sinh thực hiện theo tức là tập dẫn dắt cho học sinh giáo viên quay lưng lại nhưng ở đây giáo viên có thể sử dụng làm mẫu theo kiểu “soi gương” để có thể quan sát được toàn bộ học sinh.

          Khi làm mẫu giáo viên phải cho học sinh đứng theo đội hình xen kẽ nhau sao cho các em đều quan sát được.

          2.3.4 Sử dụng phương pháp thi đua một cách hiệu quả.

          Đối với phân môn thể dục nói chung và môn thể dục khối 5 nói riêng thì lượng vận động ở mỗi tiết học không nhiều, số lượng bài tập ở mỗi tiết học thường đơn giản, do vậy đối với những học sinh giỏi, những học sinh tiếp thu nhanh dễ làm cho các em có sự nhàm chán. Chính vì vậy sử dụng phương pháp thi đua, giữa các nhóm sẽ làm cho các em có sự hưng phấn thích thú trong học tập, giúp cho tiết học đạt kết quả cao, đảm bảo cho các em có lượng vận động hợp lý.

          Ví dụ: Khi ôn những động tác đội hình đội ngũ, giẫm chân tại chỗ, đi đều vòng phải, vòng trái những động tác này tập mãi sẽ tạo cho các em có sự nhàm chán, thực hiện các động tác đánh tay không đều, sai nhịp hô. Nhưng nếu chúng ta cho các em về các tổ tự tập luyện sau đó cho lần lượt các tổ lên thực hiện xem tổ nào thực hiện tốt nhất và có sự khen ngợi, lúc đó các em sẽ tích cực tập luyện và có kết quả cao. Phương pháp này có hiệu quả cao trong các tiết luyện tập, áp dụng phương pháp này trong dạy học động tác sẽ giúp các em phát huy hết khả năng của mình.

          2.3.5 Sử dụng phương pháp luyện tập theo nhóm.

          Cũng giống như các môn học khác phương pháp luyện tập theo nhóm giúp học sinh tự tin, mạnh dạn giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Đối với phân môn thể dục khi giáo viên làm mẫu xong mà cứ cho các em tập luyện theo đội hình cả lớp thì sẽ tạo cho các em sự nhàm chán, giáo viên chỉ làm mẫu xong tiến hành cho các em tập chung một đến hai lần để uốn nắn động tác sau đó tiến hành cho các em về tập theo nhóm, các bạn trong nhóm sẽ giúp đỡ nhau góp ý cho nhau lúc đó giáo viên đi sửa sai cho học sinh khác mà không làm mất thời gian đối với những học sinh khác. Lợi thế của phương pháp luyện tập này là giúp các em chia sẻ cho nhau những kiến thức đã lĩnh hội được, qua đó giúp các em khắc sâu hơn vào trí nhớ những kiến thức đã học. Khi luyện tập theo nhóm tạo cho các em sự đoàn kết, giúp đỡ nhau trong học tập, gắn kết yêu thương, khi thực hiện những động tác khó kết hợp nhiều bộ phận trên cơ thể hình thức luyện tập theo nhóm sẽ giúp học sinh quan sát sửa sai cho nhau một cách tốt nhất.

          2.3.6 Phối hợp nhịp nhàng với giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh.

          Hầu hết ở các trường tiểu học các giáo viên bộ môn thường không làm công tác chủ nhiệm lớp. Số tiết dạy ở mỗi lớp cũng ít vậy nên thời gian tiếp xúc với học sinh chỉ ở những tiết học. Bên cạnh đó thì giáo viên chủ nhiệm dành nhiều thời gian hơn tiếp xúc nhiều hơn với các em cho nên học sinh thường vâng lời của cô chủ nhiệm nhiều hơn là các giáo viên bộ môn. Chính vì vậy mà việc phối hợp giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm lớp là rất cần thiết. Đối với những lớp có những học sinh cá biệt thường thì những học sinh này sợ giáo viên chủ nhiệm hơn là giáo viên bộ môn, chính vì vậy giáo viên bộ môn cần phải có sự phối hợp với giáo viên chủ nhiệm để giáo dục các em. Ngoài ra giáo viên bộ môn cần phải có sự phối hợp với cha mẹ học sinh, thông qua đó để biết tình hình sức khỏe của các em. Thời gian tập luyện trên lớp rất ít do đó, thông qua phụ huynh học sinh giáo viên biết được các em về nhà tập luyện như thế nào. Thông qua phụ huynh mà giáo viên biết được về đặc điểm tâm sinh lý của các em để điều chỉnh trong quá trình giảng dạy.

          2.4 Kết quả thực hiện và triển khai.

          Qua quá trình giảng dạy áp dụng những biện pháp trên bản thân tôi nhận thấy học sinh tích cực hơn trong học tập, buổi học trở nên sôi nổi hơn, tránh được sự nhàm chán ở những học sinh khá, giỏi và sự thiếu tích cực ở những học sinh bình thường. Học sinh nắm được tầm quan trọng của môn thể dục, và ý nghĩa của việc thường xuyên tập thể dục sẽ làm cho cơ thể chúng ta phát triển hoàn thiện hơn.

          Qua thời gian nghiên cứu và áp dụng vào thực tiễn bản thân tôi cảm thấy tự tin hơn trong việc giảng dạy của mình, khi áp dụng những phương pháp nay làm cho chất lượng các buổi học tốt hơn.

          Kết quả khảo sát cuối năm học: 2016 – 2017.

          Qua bảng số liệu trên cho thấy kết quả của môn thể dục đầu năm học so với thời gian cuối tháng 10 có sự thay đổi rõ rệt, số lượng học sinh hoàn thành tốt tăng lên.

          3.1 Ý nghĩa.

          Để đổi mới phương pháp giảng dạy có hiệu quả trong trường tiểu học hiện nay, bản thân tôi cảm thấy phải sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, nhằm tạo cho các em có sự hứng thú học tập, phát huy tính tự giác, giúp đỡ nhau trong học tâp.

          Đối với những động tác khó, trò chơi mới giáo viên phải làm mẫu chính xác, phân tích chính xác, nhưng đầy đủ học sinh dễ hiểu.

          Sử dụng phương pháp luyện tập theo nhóm, tổ tạo cho các em có cơ hội giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, giúp giáo viên có thời gian quan sát để sửa sai cho các em.

          Áp dụng phương pháp thi đua trong học tập giúp các em thể hiện hết mình, phát huy hết khả năng của bản thân thông qua việc thi đua giữa các nhóm.

          Trước khi lên lớp giáo viên phải chuẩn bị tâm thế tốt nhất, chuẩn bị các phương tiện phục vụ cho công tác giảng dạy có hiệu quả, sân bãi tập luyện và các đồ dùng dạy học phải chuẩn bị đầy đủ.

          Sau khi áp dụng các biện pháp trên vào giảng dạy học sinh lớp 5 bản thân tôi cảm thấy tự tin trong giảng dạy, lớp học trở nên sôi nổi hơn, học sinh tích cực tập luyện với lượng vận động lớn hơn. Đối với những học sinh khá giỏi các em thực hiện động tác chuẩn xác hơn, những học sinh yếu, cá biệt có sự hứng thú rõ rệt tích cực trong tập luyện, kết quả đã thể hiện rõ rệt.

          3.2 Đề xuất của bản thân.

          Để phục vụ tốt hơn cho phân môn thể dục, và áp dụng tốt những giải pháp trong việc giảng dạy. Bản thân tôi mong muốn được sự góp ý, chỉ đạo từ cấp trên. Nhà trường tạo điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy bộ môn được đầy đủ hơn.

          Tôi xin chân thành cảm ơn !

          GVTD: Hoàng Ngọc Ninh

          LỜI CAM ĐOAN

          Tôi xin cam đoan sáng kiến kinh nghiệm “Một số giải pháp trong đổi mới phương pháp dạy học môn thể dục lớp 5” là sáng kiến kinh nghiệm của bản thân tôi và do tôi tự viết.

          Bạn đang xem bài viết Kinh Nghiệm Để Dạy Tốt Môn Tin Học Lớp 3 : Phòng Gd&Amp;Đt Mỹ Lộc trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!