Xem Nhiều 2/2023 #️ Kinh Nghiệm Phát Triển Thị Trường Xuất Khẩu Nông Sản # Top 3 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Kinh Nghiệm Phát Triển Thị Trường Xuất Khẩu Nông Sản # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Kinh Nghiệm Phát Triển Thị Trường Xuất Khẩu Nông Sản mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phát triển thị trường xuất khẩu nông sản là cơ sở để các nước nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, mở rộng các hoạt động kinh tế đối ngoại. Kinh nghiệm của một số nước châu Á xuất khẩu nông sản của khu vực sẽ là bài học hữu ích đối với Việt Nam để mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản, thúc đẩy phát triển của đất nước.

1. Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực về phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản

Trung Quốc và Thái Lan là những nước có tiềm năng sản xuất nông sản, có điều kiện sinh thái tương tự như Việt Nam. Cách đây hơn 20 năm, tình hình sản xuất và tiêu thụ nông sản của Trung Quốc và Thái Lan ở trình độ như Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của họ đã vượt xa so với Việt Nam; hàng nông sản Thái Lan và Trung Quốc đã có uy tín và chỗ đứng vững chắc trên thị trường thế giới. Vì vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Trung Quốc và Thái Lan sẽ rút ra nhiều bài học mang ý nghĩa thực tiễn cho hoạt động này của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc là nước có đất tự nhiên rộng lớn người đông, nhưng tỷ trọng đất canh tác trong tổng số diện tích tự nhiên nhỏ (chiếm 10,8%), đất canh tác bình quân đầu người rất thấp (0,11 ha/ người). Tuy vậy, nông nghiệp của Trung Quốc trong thời gian dài liên tiếp được mùa và đã đạt được những thành tựu rất quan trọng. Hiện tại, Trung Quốc là nước có sản lượng nông sản lớn so với Châu Á và thế giới.

Trung Quốc đã lựa chọn và thực hiện chiến lược khai thác thị trường nông sản thế giới theo hai hướng: Tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới và gia tăng kim ngạch xuất khẩu tại các thị trường hiện có. Chiến lược này được ban hành từ năm 2000, Trung Quốc phân chia thị trường theo nhiều tiêu thức như trình độ phát triển, dung lượng thị trường và vị trí địa lý. Việc phân loại thị trường thế giới theo các tiêu thức khác nhau đã giúp Trung Quốc đề ra kế sách khai thác thị trường một cách hợp lý, hiệu quả hơn. Bên cạnh chiến lược khai thác thị trường “cơ bản”, Trung Quốc còn thực hiện chiến lược “bổ khuyết” để tìm cho mình một phương hướng thị trường thích hợp. Theo thuyết “ bổ khuyết”, Trung Quốc phát triển thị trường và mặt hàng mới cho xuất khẩu hàng hoá của mình theo cả hai hướng: Vừa mở rộng thị trường xuất khẩu hiện có với những hàng hoá có sức cạnh tranh cao, vừa phát triển sản xuất các sản phẩm mới.

a) Tăng cường khai thác thị trường xuất khẩu hiện có

Trong khi triển khai chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu theo hướng khai thác thị trường hiện có, Trung Quốc đã kiên trì theo đuổi hai sách lược cơ bản là: (1) Đi theo xu hướng toàn cầu hoá để khai thác tiềm lực của thị trường hiện đã chiếm lĩnh nhằm tăng cường xuất khẩu tới mức tối đa; (2) Không tập trung quá mức vào một thị trường đặc biệt nào, thông qua việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu để đảm bảo phát triển ổn định.

Hiện nay, Trung Quốc đã xuất khẩu hàng nông sản đến khoảng 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Các thị trường nhập khẩu hàng nông sản của Trung Quốc rất đa dạng, từ các nước công nghiệp phát triển đến các nước đang và kém phát triển ở nhiều châu lục… Thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Trung Quốc tập trung vào thị trường các nước phát triển (Mỹ, Nhật), Hồng Kông và các nước ASEAN (Thái lan, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a). Giai đoạn 2008-2014, 10 nước và vùng lãnh thổ này chiếm khoảng 62% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản của Trung quốc, trong đó riêng thị trường Mỹ chiếm tới 16%. Điều này cũng cho thấy Trung Quốc đã khai thác tương đối tốt các thị trường hiện có của mình.

Trung Quốc thực hiện chiến lược đa dạng hoá thị trường xuất khẩu theo cả chiều rộng và chiều sâu. Khu vực APEC, chiếm khoảng 80% giá trị hàng nông sản xuất khẩu của Trung Quốc; thị trường Bắc Mỹ, Đông Nam Á và Tây Âu là ba trung tâm mậu dịch lớn của Trung Quốc. Trung Quốc coi các thị trường này là các thị trường trọng điểm cần tiếp tục khai thác, còn các thị trường cấp hai khác có tiềm lực lớn như Châu Phi và Trung Đông có thể là những thị trường tiềm năng Trung Quốc cần khai thác trong những năm sắp tới.

b) Mở rộng thị trường xuất khẩu thông qua tham gia các liên kết kinh tế khu vực và thế giới

Từ sau cải cách mở cửa nền kinh tế (1979) cho đến nay, Trung Quốc đã tích cực hợp tác kinh tế thương mại với nhiều quốc gia, ký kết hàng trăm hiệp định thương mại song phương và đa phương. Đặc biệt vào giai đoạn cuối thế kỷ XX, Trung Quốc lại càng quan tâm nhiều hơn tới vấn đề hội nhập và đa phương hóa quan hệ. Gia nhập WTO và thành lập Khu vực thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) là những cố gắng hội nhập kinh tế khu vực và thế giới gần đây của Trung Quốc.

Với tư cách là thành viên của WTO, Trung Quốc đã mở ra cánh cửa tới nhiều khu vực thị trường trên thế giới, mở ra “con đường bằng phẳng hơn” cho hàng hóa Trung Quốc xâm nhập vào thị trường của các nước thành viên. Kim ngạch xuất khẩu nông sản của Trung Quốc duy trì tốc độ tăng trưởng 9.37% trong giai đoạn hậu khủng hoảng 2008-2014.

c) Đa dạng hóa hàng nông sản xuất khẩu và nâng cao chất lượng sản phẩm theo hướng toàn diện

Đa dạng hóa sản phẩm nông sản xuất khẩu, cải thiện chất lượng và hiệu quả kinh tế được coi là định hướng cơ bản của Trung Quốc trong quá trình điều chỉnh sản xuất nông nghiệp. Trung Quốc đã có những chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp theo hướng xuất khẩu tập trung sản xuất sản phẩm có ưu thế.

Mặt khác, Trung Quốc rất coi trọng đầu tư và ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ vào phát triển nông nghiệp. Chính phủ Trung Quốc đã khẳng định rằng con đường căn bản để phát triển nông nghiệp Trung Quốc là lấy khoa học kỹ thuật làm vũ khí; lấy công nghiệp hiện đại làm chỗ dựa; lấy thị trường để hướng dẫn chuyển từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp hiện đại; lấy khoa học kỹ thuật hiện đại làm nền tảng.

Những chương trình thành công là “Chương trình Đốm lửa” và “ Chương trình bó đuốc” đã tạo ra nền tảng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp và đã được Liên hiệp quốc đánh giá cao. Tính đến cuối năm 2014, Trung Quốc đã có 54 khu khai thác ngành nghề kỹ thuật cao và mới cấp Nhà nước với khoảng 12.000 doanh nghiệp tương ứng, trong đó có hơn 1.400 doanh nghiệp sử dụng vốn nước ngoài. Tổng thu nhập từ các thành tựu mới về kỹ thuật – công nghiệp – mậu dịch trong năm 2014 đạt tới hơn 94 tỷ nhân dân tệ, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 1,27 tỷ USD [2, t 111].

Để tăng sức cạnh tranh của hàng hoá Trung Quốc nói chung và hàng nông sản nói riêng, chính phủ Trung Quốc luôn kiểm soát chặt chẽ sự tăng hay giảm giá của đồng NDT. Trên thực tế, đồng NDT bị cáo buộc là yếu hơn giá trị thực, song Trung Quốc vẫn duy trì tỷ giá hối đoái không đổi đối với đồng USD để đảm bảo sự ổn định của đồng tiền và giữ vững khả năng cạnh tranh. Đây được coi là một trong những yếu tố chính nhằm hỗ trợ hàng hoá xuất khẩu nước này xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường nước ngoài.

Tóm lại, Trung Quốc đã có chiến lược phát triển sản phẩm nông sản xuất khẩu phù hợp với thực tiễn và biến động trên thị trường thế giới. Trung Quốc không chạy theo số lượng và khối lượng như trước đây mà chuyển sang nâng cao chất lượng và hiệu quả. Chú trọng nâng cao giá trị gia tăng của hàng nông sản xuất khẩu vừa giúp tăng trưởng nhanh kim ngạch xuất khẩu vừa làm giảm tranh chấp thương mại và nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất, giảm lượng sản xuất dư thừa.

d) Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản

Từ khi cải cách mở cửa, hoạt động ngoại giao và thương mại quốc tế của Trung Quốc phát triển không ngừng. Cùng với việc tăng cường trao đổi mậu dịch qua lại với các nước trên thế giới, Trung Quốc đã đẩy mạnh hoạt động ngoại thương ngày càng sôi động thông qua việc thành lập các cơ quan Thương vụ tại các nước có và chưa có quan hệ ngoại giao. Biện pháp này nhằm giới thiệu “một nước Trung Quốc mới” tới các nước và khu vực trên thế giới. Những năm qua các cơ quan Thương vụ Trung Quốc đã đạt được những kết quả đáng kể trong việc phát triển hoạt động ngoại thương thông qua việc liên hệ với các ngành, giới kinh doanh của các nước sở tại, tham gia tích cực vào việc đàm phán và ký kết các hiệp định mậu dịch thương mại, bảo vệ quyền lợi đáng được hưởng của nước mình trong mậu dịch kinh tế ở các nước sở tại, giúp đỡ các tổ chức đoàn thể hoạt động ngoại thương ở trong nước sang làm việc, trao đổi và buôn bán với nước ngoài. Tính đến nay, Trung Quốc đã có 222 cơ quan thương vụ ở hầu hết các nước và khu vực trên thế giới.

Những năm gần đây, Trung Quốc còn thành lập các cơ quan đại diện thường trú cho công ty ngoại thương tại nhiều nước nhằm mở rộng mối liên hệ với giới kinh doanh ở nước ngoài, tăng cường xuất khẩu hàng hóa và mua vật tư cần thiết cho trong nước. Từ một số ít các công ty đại diện được thành lập ở Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, đến nay đã lên tới con số hàng trăm cơ quan tương tự ở khắp các nước trên thế giới. Các cơ quan này đã phát huy tác dụng trong việc xây dựng “cửa sổ thương mại” ngoài nước góp phần thúc đẩy giao lưu, trao đổi và buôn bán giữa các địa phương trong nước và ngoài nước một cách rộng rãi.

Bên cạnh việc mở rộng mạng lưới cơ quan xúc tiến thương mại, Bộ thương mại Trung Quốc cũng bắt đầu xuất bản báo cáo thường niên về tiếp cận thị trường thế giới từ năm 2003. Báo cáo này nhằm giúp các doanh nghiệp Trung Quốc hiểu biết một cách rõ ràng và khách quan về cơ chế, chính sách thương mại và đầu tư của các nước đối tác cũng như thị trường thế giới để có thể cạnh tranh hiệu quả hơn.

e) Thu hút đầu tư nước ngoài gắn với phát triển thị trường xuất khẩu

Với tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài hướng về xuất khẩu đã tạo thuận lợi cho việc tiếp cận và mở rộng thị trường quốc tế, nâng cao năng lực xuất khẩu của Trung Quốc. Nhờ quy mô và khả năng tiếp cận với mạng lưới phân phối và mạng lưới marketing quốc tế, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài dễ dàng thâm nhập thị trường xuất khẩu hơn so với các công ty nội địa.

Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài hướng vào xuất khẩu đã thành công đáng kể. Trung Quốc đã trở thành nước nhận đầu tư lớn nhất trong số các nước đang phát triển từ năm 1993. Các nước đầu tư chính là Hồng Kông, Nhật Bản, Mỹ, Đài Loan, Xing-ga-po và Hàn Quốc cũng luôn nằm trong số 10 nước nhập khẩu hàng hoá nói chung và hàng nông sản nói riêng nhiều nhất từ Trung Quốc trong những năm qua

Khu vực đầu tư nước ngoài không chỉ góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu mà còn thúc đẩy việc cải thiện cơ cấu và nâng cấp sản phẩm xuất khẩu. Số liệu điều tra mới đây cho thấy, hơn 60% các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Trung Quốc áp dụng những công nghệ mới được đưa ra trong ba năm gần nhất.

1.2. Kinh nghiệm của Thái Lan

Thái Lan là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á, vốn là một nước nông nghiệp truyền thống, có diện tích canh tác 19,62 triệu ha, gấp 2,62 lần so với Việt Nam. Trong khi đó dân số theo số điều tra năm 2014 có 67 triệu dân, bình quân đất canh tác trên đầu người gấp 4 lần so với Việt Nam. Ngành nông nghiệp đóng góp khoảng 13% vào tổng GDP của Thái Lan, trong đó lĩnh vực trồng trọt đóng góp khoảng 68% vào tổng giá trị sản xuất nông nghiệp. Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu nông sản của Thái Lan đạt 20,14 tỷ USD, đứng thứ 6 trên thế giới [3]. Hiện nay, 5 mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng nhất của Thái Lan là gạo (luôn đứng đầu thế giới); sắn (xuất khẩu nhiều nhất thế giới); ngô (xuất khẩu 4-5 triệu tấn/năm); cao su (đứng thứ 3 thế giới); rau quả (đứng thứ 2 khu vực châu Á – Thái Bình Dương, sau Trung Quốc).

Sự thành công trong xuất khẩu hàng nông sản của Thái Lan chính là nhờ vào chính sách đổi mới của chính phủ trên quan điểm phát triển nông nghiệp, nông thôn là xương sống của đất nước. Các chính sách nhằm phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Thái Lan được thể hiện trên các mặt sau:

a) Lựa chọn thị trường xuất khẩu trên cơ sở kết hợp chính sách đa dạng hoá thị trường và chính sách xây dựng thị trường trọng điểm

Một trong những biện pháp duy trì sự ổn định, hạn chế rủi ro trong hoạt động xuất khẩu nông sản của Thái Lan là xây dựng chiến lược đa dạng hoá thị trường xuất khẩu theo hướng cả chiều rộng và cả chiều sâu. Thái Lan nỗ lực gia tăng số lượng thị trường xuất khẩu và tăng thị phần trên các thị trường xuất khẩu hiện có. Để đạt được mục tiêu đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, Thái Lan vừa tìm cách duy trì, thắt chặt quan hệ với các thị trường truyền thống, vừa đặc biệt quan tâm đến mở các thị trường mới, nhất là tăng cường đi sâu vào các quan hệ láng giềng để khai thác các lợi thế về địa lý- kinh tế, địa lý- văn hoá… Đặc biệt, Thái Lan tận dụng rất tốt cơ hội để xâm nhập vào các thị trường ngách. Chẳng hạn, nhận thức được Trung Quốc là một đối thủ cạnh tranh lớn, có lợi thế về quy mô sản xuất và thị trường, Thái Lan đã xúc tiến chương trình thâm nhập vào các khâu sản xuất và thị trường ngách, những lĩnh vực mà Thái Lan có lợi thế hơn so với Trung Quốc. Thái Lan cũng đã xúc tiến xây dựng hệ thống nhà hàng ăn uống tại Trung Quốc trong kế hoạch “Thái Lan là bếp ăn của thế giới”.

Hiện nay hàng nông sản Thái Lan đã có mặt tại 225 thị trường trên thế giới. Các thị trường nhập khẩu hàng nông sản của Thái lan rất đa dạng, từ các nước công nghiệp phát triển đến các nước đang phát triển trên thế giới. Bên cạnh thị trường truyền thống là các nước công nghiệp phát triển, Thái Lan chú trọng tới thị trường các nước đang phát triển gồm 6 nhóm nước thuộc các khu vực địa lý: ASEAN, Trung Quốc, Đông Âu, Trung Đông, Mỹ La tinh và Châu Phi.

Bên cạnh chính sách đa dạng hoá thị trường, Thái Lan xây dựng 10 thị trường xuất khẩu nông sản trọng điểm để mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước khác. Nâng số thị trường xuất khẩu trọng điểm từ 7 lên 10 để giảm bớt sự lệ thuộc quá lớn vào một vài thị trường riêng lẻ nhằm phân tán bớt rủi ro.

Nhằm thực hiện chính sách đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan tích cực đàm phán và ký kết các FTA, EPA song phương, khu vực với quan điểm tự do hóa thương mại song phương được đặt song song với tự do hóa thương mại đa phương. Tính đến năm 2014, Thái Lan đã tham gia vào 5 FTA song phương, 2 FTA khu vực, 4 EPA song phương và 1 EPA khu vực.

b) Phát triển thị trường thông qua chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu

Nhận thức rõ giải pháp căn bản và bền vững để mở rộng thị trường là nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu, chính phủ Thái Lan đã xây dựng chiến lược phát triển các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu dựa trên sự kết hợp giữa kinh nghiệm truyền thống và khoa học công nghệ hiện đại, đa dạng hoá sản phẩm nông sản xuất khẩu theo cả chiều rộng và chiều sâu, trọng tâm là đa dạng hoá theo chiều sâu. Thái Lan tăng số lượng, chủng loại, sản phẩm xuất khẩu và tìm kiếm các sản phẩm xuất khẩu mới. Đa dạng hoá sản phẩm được thực hiện theo hướng tăng các sản phẩm có chất lượng, tiện dụng, giá cả hợp lý và thân thiện với môi trường nhằm đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn và tình hình thị trường nông sản thế giới.

Các biện pháp của Chính phủ Thái Lan nhằm thực hiện Chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng nông sản: Quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm thông qua việc thực hiện chính sách “Mỗi làng một sản phẩm” nhằm phát huy lợi thế so sánh của mỗi địa phương; Hỗ trợ về tài chính nhằm khuyến khích xuất khẩu nông sản, đặc biệt là xây dựng Chương trình bảo lãnh tín dụng xuất khẩu đã khuyến khích được các doanh nghiệp mạnh dạn xuất khẩu nông sản sang các thị trường mới như Châu Phi và Trung Đông; Thực hiện tốt chính sách giá cả hàng nông sản, chính sách thu hút FDI vào lĩnh vực nông nghiệp…

c) Mở rộng thị trường thông qua việc hoàn thiện kênh phân phối hàng hóa

Thái Lan xây dựng kho nông sản tại các thị trường nhập khẩu nhằm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa, hiểu rõ và nắm bắt kịp thời nhu cầu của thị trường. Các kho ngoại quan này được xây dựng ở quốc gia có vị trí địa lý trung tâm, thuận tiện xuất khẩu đi các nước lân cận hoặc có thể xuất ngay tại nước đó. Hiện nay, Thái Lan đã xây nhà máy đánh bóng gạo và kho chứa trái cây tại Pháp để xuất khẩu sang Hà Lan, Đức. Các doanh nghiệp xuất khẩu nước sau khi thu mua trong nước là vận chuyển sang kho ngoại quan, khi thấy thị trường Pháp hoặc các nước châu Âu có nhu cầu sẽ đáp ứng kịp thời hơn.

Một cách phân phối nông sản hiệu quả nữa của Thái Lan là thông qua Chợ trung tâm mua bán nông sản (Taladd Thai) tại thị trường nội địa. Tất cả nông sản của 76 tỉnh thành của Thái Lan đều được đưa về đây để tiêu dùng và xuất khẩu. Talaad Thai được biết đến như là cửa ngõ xuất khẩu nông sản của Thái Lan. Từ Talaad Thái ra cảng biển, sân bay rất thuận tiện và các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu cũng rất phong phú và hiệu quả. Trung tâm Dịch vụ xuất khẩu nông sản một cửa (Perishable One Stop Service Export Center – POSSEC) đáp ứng mọi thủ tục cho xuất hàng ngay tại Talaad Thai từ hoàn tất thủ tục hải quan, nhận giấy chứng nhận xuất xứ (C/O), chứng nhận kiểm dịch thực vật, kiểm tra an toàn vệ sinh đến những dịch vụ chiếu xạ, kho vận đóng gói, thông tin tư vấn về thị trường, luật lệ…

Ngoài ra, Thái Lan là đất nước có lượng khách du lịch hàng năm lớn nên các nhà kinh doanh nông sản đã tận dụng lợi thế này để xuất khẩu tại chỗ với kim ngạch đáng kể. Mặt khác đây cũng là một hình thức tiếp thị, quảng bá thương hiệu nông sản Thái Lan có hiệu quả.

2. Bài học rút ra cho Việt Nam

Theo dự báo của của IMF, WB và OECD nền kinh tế thế giới đang phục hồi và sẽ bước vào giai đoạn tăng trưởng mới từ năm 2015. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan như biến đổi khí hậu, mâu thuẫn tôn giáo, sắc tộc, khủng bố,… sẽ dẫn tới sự biến động khó dự đoán trước của thị trường thế giới. Cùng với đó, rào cản kỹ thuật của các quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển dựng lên ngày càng tinh vi, khó vượt qua hơn đối với hàng nông sản xuất khẩu của các nước đang phát triển. Vì vậy, những kinh nghiệm lựa chọn thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Trung Quốc và Thái lan trong thời kỳ sau khủng hoảng kinh tế thế giới sẽ là những bài học quý đối với Việt Nam trong việc phát triển thị trường hàng nông sản xuất khẩu trong giai đoạn tới.

2.1. Bài học thành công có thể vận dụng

Thứ nhất, lựa chọn chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu phù hợp với lợi thế của đất nước và tình hình thực tiễn thị trường xuất khẩu, nhờ đó mà cả hai nước đã mở rộng được thị trường xuất khẩu và gia tăng kim ngạch. Cả Thái Lan và Trung Quốc đều thực hiện đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nông sản theo cả chiều rộng và chiều sâu, chủ yếu định hướng theo chiều sâu. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với tất cả các nước, hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới và khu vực thông qua việc tăng cường đàm phán và ký kết các FTA, EPA song phương và khu vực.

Thứ hai, hai nước đều thực hiện tái cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng nông sản theo hướng tương đối cân bằng giữa các khu vực thị trường nhằm giảm bớt rủi ro so với những nước quá tập trung vào một khu vực thị trường xuất khẩu nào đó. Đồng thời, Chính phủ hai nước đều xây dựng 10 thị trường xuất khẩu nông sản trọng điểm đóng vai trò điều tiết đối với toàn bộ cơ cấu thị trường xuất khẩu và làm bàn đạp để mở rộng thị trường xuất khẩu.

Thứ ba, thực hiện đa dạng hóa sản phẩm nông sản xuất khẩu theo cả chiều rộng và chiều sâu, chú trọng đa dạng hóa theo chiều sâu nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu. Hàng nông sản xuất khẩu được cơ cấu theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng nguyên liệu thô và sản phẩm sơ chế, tăng tỷ trọng sản phẩm có hàm lượng chế biến cao nhằm nâng cao giá trị hàng nông sản xuất khẩu.

Thứ tư, tùy thuộc vào điều kiện thực tế của nước mình mà Trung Quốc và Thái Lan đều đưa ra các giải pháp linh hoạt và hiệu quả để thực hiện phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản

Thứ năm, chú trọng xây dựng chiến lược tiêu thụ, quảng bá và phát triển thương hiệu nông sản cả trong nước và nước ngoài. Trên cơ sở mặt hàng có lợi thế cạnh tranh, mỗi quốc gia có cách thức riêng nhằm xây dựng hình ảnh, thương hiệu cho mình.

2.2. Bài học thất bại cần tránh

Mặc dù sau nhiều năm thực hiện chính sách phát triển thị trường xuất khẩu, cả hai nước đều đạt được mức tăng trưởng xuất khẩu nông sản ấn tượng nhưng chủ yếu là tăng trưởng theo chiều rộng, chưa thực sự gắn với tăng trưởng và phát triển bền vững. Cụ thể là:

Thứ nhất, phát triển thị trường hàng nông sản chưa tính đến những ảnh hưởng từ rủi ro chính trị. Trong bối cảnh khủng hoảng nền kinh tế thế giới, Trung Quốc đã chuyển trọng tâm xuất khẩu sang thị trường châu Á, đặc biệt chú trọng đến thị trường các nước láng riềng. Tuy nhiên, vấn đề tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc với Nhật Bản (trên biển Hoa Đông) và một loạt các nước Phi-lip-pin, Việt Nam, Bru-nây, Ma-lai-xi-a (khu vực biển Đông) và vùng lãnh thổ Đài Loan đã khiến kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc sang các thị trường này giảm mạnh.

Thứ hai, phát triển thị trường xuất khẩu nông sản chưa chú trọng đến bảo vệ môi trường. Yêu cầu thực hiện tiêu chuẩn thực tiễn nông nghiệp tốt (GAP) hoặc nền nông nghiệp hữu cơ đang rất được các nước phát triển chú trọng kiểm soát đối với hàng nông sản từ các nước đang phát triển. Mặc dù những yêu cầu này đã và đang được cả hai nước thực hiện nhưng còn mang tính thụ động và chưa triệt để.

Thứ ba, vấn đề sản xuất và xuất khẩu hàng nông sản tại Trung Quốc và Thái Lan chưa mang tính bền vững, đặc biệt vấn đề xã hội chưa được quan tâm thỏa đáng. Thực tiễn cho thấy vấn đề đảm bảo an toàn cho người sản xuất, an toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế đã làm giảm uy tín và gây ra không ít thiệt hại cho các nhà sản xuất và xuất khẩu nông sản.

Tài liệu tham khảo

Đỗ Thu Hằng (2017). Phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

Bộ Công thương (2011), Nghiên cứu thị trường nông sản của Trung Quốc và khả năng xuất khẩu một số sản phẩm nông sản của Việt Nam, Đề tài khoa học cấp bộ, mã số chúng tôi NN&PTNT (2002), Triển vọng nông sản thế giới thời kỳ 2003 – 2010, Hà Nội

Thị Trường Xuất Khẩu Nông Sản Việt Nam

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU ……………………………………………………………………………………………………….. ………………………………………………………………………………………………………….. 1 CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN ……………………………………………………………………………………….. 3 1. Khái niệm và lợi ích của xuất khẩu nông sản đối với Việt Nam………………………….. 3 1.1.

Khái niệm xuất khẩu hàng hóa………………………………………………………………… 3

1.2. Tầm quan trọng của xuất khẩu đối với Việt Nam. ………………………………………… 6 2. Đặc điểm của mặt hàng nông sản. ………………………………………………………………………. 7 2.1. Nông sản chịu ảnh hưởng lớn của các điều kiện tự nhiên: …………………………….. 7 2.2. Nông sản mang tính thời vụ:………………………………………………………………………… 7 2.3. Nông sản mang tính phân tán:……………………………………………………………………… 8 2.4. Các mặt hàng nông sản có tính tươi sống:…………………………………………………….. 8 2.5. Nông sản phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người: ……………………………….. 8 2.6. Nông sản rất phong phú và đa dạng về chủng loại và chất lượng: …………………. 9 3. Đặc điểm thị trường hàng nông sản thế giới. ………………………………………………………. 9 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM …. 13 1. Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam trong những năm gần đây. … 13 1.1. Kết quả xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong những năm gần đây…………. 13 1.2. Kết quả xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của Việt Nam sau khi gia nhập WTO ……………………………………………………………………………………………………………….. 19 2. Cơ hội và thách thức với xuất khẩu nông sản Việt Nam. ……………………………………. 28 2.1. Cơ hội ……………………………………………………………………………………………………….. 28 2.2. Thách thức ………………………………………………………………………………………………… 31 CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHO CÁC MẶT HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM ……………………………………… 34 1. Định hướng phát triển trong thời gian tới ……………………………………………………….. 34 2. Giải pháp xúc tiến phát triển hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam ……………. 37 KẾT LUẬN ………………………………………………………………………………………………………… 42 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………………….. 43

LỜI NÓI ĐẦU

Ngày nay hoạt động xuất khẩu trở nên vô cùng quan trọng trong hoạt động thương mại đối với bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới. Thông qua hoạt động xuất khẩu, các quốc gia khai thác được lợi thế của mình trong phân công lao động, tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho đất nước, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và đặc biệt là tạo công ăn, việc làm cho người lao động. Đối với Việt Nam, hoạt động xuất khẩu thực sự có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, tạo tiền đề vững chắc để thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Có đẩy mạnh xuất khẩu, mở cửa nền kinh tế thì Việt Nam mới có điều kiện thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và ổn định đời sống nhân dân. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam xây dựng và phát triển thị trường trong nước, hoà nhập thị trường thế giới để khai thác nguồn lực thị trường toàn diện cả trong và ngoài nước. Đặc biệt Việt Nam hiện là một nước trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, 80% dân số làm nông nghiệp nên các sản phẩm nông nghiệp khá dồi dào. Nếu các doanh Việt Nam nghiệp kinh doanh xuất khẩu thực hiện tốt việc xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp ra thị trường thế giới sẽ góp phần nâng cao thu nhập và đời sống cho các vùng sản xuất nông nghiệp tạo nhiều công ăn việc làm và làm lành mạnh hoá cán cân thanh toán của nền kinh tế tạo cơ hội cho nền kinh tế tăng trưởng toàn diện . Từ đặc điểm có nền kinh tế của một nước nông nghiệp với dân số chủ yếu tham gia vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp, Việt Nam đã xác định nông sản là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhằm tạo nguồn thu ban đầu rất cần thiết cho phát triển kinh tế đất nước. Chính vì vậy, nhà nước đã tạo 1

điều kiện thuận lợi khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xuất khẩu hàng nông sản. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế nhất định. Vì vậy, em xin được lựa chọn đề tài : ” Thị trường xuất khẩu nông sản Việt Nam- thực trạng và giải pháp phát triển” Đề tài này đã tổng kết được những lý luận cơ bản về hoạt động xuất khẩu, phân tích và đánh giá tình hình xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam. Trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị và giải pháp cơ bản để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam. Kết cấu đề án ngoài mở đầu và kết luận gồm 3 chương: Chương I : Những vấn đề cơ bản về thị trường xuất khẩu hàng nông sản. Chương II : Thực trạng xuất khẩu nông sản ở Việt Nam . Chương III : giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu cho các mặt hàng nông sản của Việt Nam.

2

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN

1.

Khái niệm và lợi ích của xuất khẩu nông sản đối với Việt Nam.

1.1. Khái niệm xuất khẩu hàng hóa. Xuất khẩu: Xuất khẩu hàng hóa là việc đưa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Hoặc đưa vào khu vực dặc biệt nằm trên lãnh thồ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Theo quan niệm của các doanh nghiệp thì xuất khẩu là việc bán hàng hóa, sản vật ra thị trường nước ngoài nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng nước ngoài. Như vậy có thể hiểu xuất khẩu là việc bán hàng hóa, dịch vụ ra nước ngoài dựa trên lợi thế so sánh của mình nhằm mục đích kiếm lợi. Hoạt động xuất khẩu là việc bán hàng hóa, dịch vụ cho các quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Tiền tệ có thể là ngoại tệ với một hoặc cả hai quốc gia. Hàng hóa xuất khẩu: Là hàng hóa sản xuất để đưa ra thị trường , mua bán trao đổi trên thị trường nhưng là thị trường nước ngoài . Hàng hóa này phải di chuyển qua biên giới của quốc gia. Đồng thời cũng phải đáp ứng được tiêu chuẩn, chất lượng mà thị trường nhập khẩu đó đòi hỏi. Như vậy so với hàng hóa sản xuất để bán trên thị trường nội địa nó phức tạp hơn nhiều. Giá cả xuất khẩu: Là mức giá của hàng hóa xuất khẩu, nó được đưa ra dựa trên mức giá quốc tế và có sự chấp nhận của cả hai bên xuất nhập khẩu. Kim ngạch xuất khẩu: Được hiểu là tổng giá trị hàng hjóa xuất khẩu của một doanh nghiệp, một đơn vị kinh tế hay một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định. 3

Hạn ngạch xuất khẩu: Là một công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước, được hiểu là quy định của nhà nước về sản lượng hay giá trị của một mặt hàng, hay nhóm mặt hàng sang một thị trường nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định thông qua hình thức cấp giấy phép xuất khẩu ( Quota xuất khẩu ). Hợp đồng xuất khẩu: Là hợp đồng mua bán hàng hóa được kí kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài. Các chủ thể của hợp đồng là ngừơi mua, người bán phải có trụ sở đăng kí kinh doanh tại các nước khác nhau, thông thừơng là có quốc tịch khác nhau. Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương, đã xuất hiện rất lâu và ngày càng phát triển. Nó diễn ra trên tất mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện. Từ lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng cho đến lĩnh vực công nghệ khoa học. Dù ở lĩnh vực nào nó cũng nhằm đem lại lợi ích cho các quốc gia. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rộng cả về không gian và rhời gian. Nó có thể diễn ra trong thời ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm. Nó có thể được tiến hành trên phạm vi lãn thổ của một quốc gia hoặc nhiều quốc gia khác nhau. Các hình thức xuất khẩu: Xuất khẩu trực tiếp: Là hình thức xuất khẩu hàng hóa dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước tới các khách hàng nước ngoài thông qua các tổ chức của mình mà không cần qua các tổ chức trung gian. Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là các doanh nghiệp có thể liên hệ trực tế với nhau, biết được nhu cầu của khách hàng và tình hình bán hàng để có thể chủ động trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Hình rhức này giúp các doanh nghiệp giảm được khoản chi phí trung gian. Xuất khẩu ủy thác: Đơn vị xuất khẩu (bên nhận ủy thác) nhận xuất khẩu một lô hàng nhất định với danh nghĩa của mình và được hưởng một khoản theo thỏa thuận với đơn vị có hàng xuất khẩu (bên ủy thác). Đơn vị có hàng 4

xuất khẩu khong phải bỏ ra một khoản vốn lớn để đầu tư vào vircj bán hàng ra nước ngoài nên rủi ro kinh doanh không cao, nhưng họ không trực tiếp liên hệ với khách hàng và thị trường nước ngoài nên không thể chủ động sản xuất hàng hóa. Buôn bán đối lưu: Là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, bên bán hàng đồng thời là bên mua hàng và lượng hàng hóa mang ra trao đổi thường có giá trị tương đương nhau. Mục đích xuất khẩu không nhằm thu về một khoản ngoại tệ mà là nhằm mục đích có được một lô hàng có giá trị tương đương với lô hàng xuất khẩu. Giúp doanh nghiệp tránh được những biến động của tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối đồng thời có lợi khi doanh nghiệp không có đủ ngoại tệ để thanh toán cho lô hàng nhập khẩu của mình. Xuất khẩu theo nghị định thư: Đây là hình thức mà doanh nghiệp xuất khẩu theo chỉ tiêu của nhà nước một hoặc một số hàng hóa nhất định cho chính phủ nước ngoài trên cơ sở nghị định thư đã được kí giữa 2 chính phủ. Cho phép doanh nghiệp tiết kiệm được các khoản chi phí trong việc nghiên cứu thị trường, tìm kiếm bạn hàng, và thường không có rủi ro trong thanh thư. Xuất khẩu tại chỗ: Là hình thức kinh doanh mà hàng hóa xuất khẩu không cần vượt qua biên giới quốc gia khách hàng vẫn có thể mua được. Doanh nghiệp xuất khẩu không cần phải đích thân ra nước ngoài đàm phán với người mua mà chính người mua lại tìm đến với doanh nghiệp. Hình thức này thường được áp dụng với các quốc gia có thế mạnh về du lịch và có nhiều tổ chức nước ngoài đóng tại quốc gia đó. Gia công quốc tế là hình thức xuất khẩu trong đó có một một bên nhập nguyên liệu hoặc bán sản phẩm (bên nhận gia công) của bên khác (bên đặt gia công) dể chế tạo ra thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và qua đó thu 5

được một khoản lệ phí như thỏa thuận của cả 2 bên. Bên nhận gia công thường là các nước đang phát triển có lực lượg lao động dồi dào, có tài nguyên phong phú. Tái xuất khẩu: Với hình thức này một nước sẽ xuất khẩu những hàng hóa đã nhập từ một nước khác sang nước thứ 3. Hình thức này được áp dụng khi có sự khó khăn trong quan hệ quốc tế giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu. Doanh nghiệp ở nước tái xuất khẩu có thể thu được một khoản lợi nhuận lớn mà không phải tổ chức kinh doanh. 1.2. Tầm quan trọng của xuất khẩu đối với Việt Nam. Việt Nam là nước nông nghiệp, với 80% dân số tham gia vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Có khí hậu nhiệt đới gió mùa là điều kiện rất tốt cho cây nông nghiệp và sản phẩm vùng nhiệt đới phát triển. Khi xuất khẩu các mặt hàng nông sản ra thị trường thế giới sẽ đem lại cho Việt Nam nhiều lợi ích. Về luận Việt Nam có thể hưởng được các kết quả trong lý thuyết về lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối và học thuyết về sự cân đối giữa các yếu tố trong kinh doanh quốc tế. Như lao động rẻ, dồi dào, tỷ lệ lao động tham gia vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp lớn, có kinh nghiêm sản xuất lâu đời; có điều kiện tự nhiên thích hợp với sự sinh trưởng và phát riển của nhiều loại sản phẩm nông nghiệp… Liên kết các hoạt động kinh tế của Việt Nam với nền kinh tế thế giới vì hoạt động ngoại thương là bước đầu tiên để thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp cận với những tiến bộ của khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới. Giúp Việt Nam thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khu vực hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế Việt Nam. Tạo điều kiện để tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho nông dân. Thúc đẩy các ngành phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như nghành phân bón,

6

công nghiệp chế biến nông sản phát triển. Tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động. Qua xuất khẩu nông sản giúp cho Việt Nam thúc đẩy tiến bộ công nghệ khoa học trong sản xuất chế bíến và bảo quản các mặt hàng nông sản sau thu hoạch, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế, thúc đẩy cuộc cách mạng đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi loại bỏ các sản phẩm kếm hiệu quả, chất lượng, thực hiện tốt yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Về mặt thương mại sẽ giúp cho Việt Nam phát triển công nghệ kinh doanh, nắm bắt và làm quen với các thông lệ quốc tế đi đến thực hiện tốt các quan hệ thương mại quốc tế. 2. Đặc điểm của mặt hàng nông sản. 2.1. Nông sản chịu ảnh hưởng lớn của các điều kiện tự nhiên: Đất đai , khí hậu thời tiết, địa hình nguồn nước… hay nói một cách cụ thể hơn là các điều kiện tự nhiên tác động trực tiếp đến sự tăng trưởng và phát triển của cây trồng. Từ đó tác động trực tiếp đến năng suất, chất lượng, giá cả, nguồn hàng nông nghiệp cho xuất khẩu. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi thì năng suất và chất lượng sẽ cao. Và ngược lại, nếu thời tiết không thuận lợi thì năng xuất và chất lựng nông sản đều giảm và giá cao. 2.2. Nông sản mang tính thời vụ: Việc sản xuất thu hoạch nông sản thường được tiến hành theo mùa vụ rõ ràng, cụ thể với từng loại cây và từng khu vực nhằm đảm bảo phù hợp với điều kiện thời tiết ở nơi sản xuất. Năng suất, chất lượng, giá cả của nông sản có sự biến động tùy thuộc vào từng mùa vụ. Vào chính vụ sản lượng lớn, chất lượng đồng đều, phong phú về chủng loại, giá rẻ. Trái vụ hoặc thời tiết không thuận lợi thì sản lượng thấp, chất lượng không đồng đều, giá cao.

7

2.3. Nông sản mang tính phân tán: Mỗi loại cây khác nhau phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu khác nhau. Do đó sẽ trồng và phát triển ở những vùng khác nhau như: chè phù hợp trồng ở vùng núi phía Bắc, cà phê phù hợp với các vùng đất ở Tây Nguyên, Đắc Lắc, Đắc Nông, gạo được trồng ở các vùng đồng bằng, trung du ( đồng bằng bắc bộ, đồng bằng sông cửu long,) … Nông sản phân tán ở các vùng nông thôn và trong tay hàng triệu nông dân, nhưng sức tiêu thụ lại tập trung ở thành phố và các khu công nghiệp. Phương thức lưu thông hàng nông sản là phân tán -tập trung, nông thôn-thành thị. Vì vậy việc bố trí thu mua, chế biến, vận chuyển phải phù hợp với các đặc điểm nói trên. 2.4. Các mặt hàng nông sản có tính tươi sống: Dễ bị hỏng, kém chất lượng. Hơn nữa chủng loại, số lượng, chất lượng cũng rất khác nhau. Vì vậy khi thu mua cần đặc biệt lưu phân lý loại, chế biến bảo quản, vận chuyển, có phương thức kinh doanh phù hợp với đặc điểm của từng loại. Thu mua nhanh chóng, kịp thời tránh hao tổn. Giá cả hàng nông sản xuất khẩu phụ thuộc vào chất lượng. chất lượng hàng nông sản không những phụ thuộc vào khâu sản xuất mà còn phụ thuộc rất nhiều vào khâu bảo quản chế biến. Vì vậy các doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm đến việc chế biến và bảo quản nông sản. 2.5. Nông sản phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người: Chất lượng hàng nông sản tác động trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng. Nên yêu cầu về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm được đặc biệt coi trọng và được quy định chặt chẽ trong quá trình sản xuất chế biến, bảo quản. Ngày nay chất lượng trở thành công cụ cạnh tranh khá hiệu quả và để xâm nhập vào các thị trường khó tính thì đòi hỏi sản phẩm phải có chất lượng cao, đáp ứng được các tiêu chuẩn cần thiết mà thị trường nhập khẩu đặt ra.

8

2.6. Nông sản rất phong phú và đa dạng về chủng loại và chất lượng: Mỗi loại hàng khác nhau thì có điều kiện sinh trưởng, phát triển khác nhau, thu mua chế biến theo cách rỉêng. Vì vậy chất lượng không đồng đều . Ngay trong mỗi mặt hàng thì chất cũng đã được quy định rất nhiều loại khác nhau. Thói quen tiêu dùng và sự đánh giá trên về cùng một mặt hàng trên thị trường thế giới cũng rất khác nhau. VD: Đối với mặt hàng gạo hiện nay được chia làm 6 loại chính. Thị trường Châu Âu quen tiêu dùng gạo ngon, hạt dài. Thị trường Châu Á lại quen tiêu dùng loại gạo chất lượng trung bình hạt dài. Thị trường Châu Phi quen tiêu dùng gạo hấp (luộc sơ) có chất lượng không cao và không được chấp nhận ở các thị trường còn lại. Thị trường Trung Đông quen tiêu dùng gạo thơm. Thị trường Lào quen tiêu dùng gạo nếp… 3. Đặc điểm thị trường hàng nông sản thế giới. Hầu hết các mặt hàng nông sản phục vụ cho nhu cầu ăn, uống của con người. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhu cầu hàng nông sản có phẩm cấp cao ngày càng tăng, nhu cầu hàng có phẩm cấp thấp ngày càng giảm xuống. Tuy nhiên hàng nông sản phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người vẫn giữ vai trò quan trọng và không thể thiếu được đối với sự tồn tại của con người. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quốc gia xuất khẩu hàng nông sản. nhưng các nước đang phát triển là những nước xuất khẩu hàng nông sản chủ yếu. Tuy nhiên hàng nông sản được xuất khẩu từ các nước này chủ yếu là các mặt hàng thô hoặc mới chỉ qua sơ chế nên có gía trị xuất khẩu chưa cao. Những nước không có điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp là những nước chính nhập khẩu hàng nông sản. Đây có thể là các nước chậm phát triển, đang phát triển hoặc phát triển. Tuy nhiên nhu cầu của mỗi nước đối với hàng nông sản rất khác nhau. Thông thường các nước chậm phát triển và đang phát triển có nhu cầu nhập khẩu một số lượng lớn sản phẩm lương 9

thực. Những sản phẩm này có yêu cầu về chất lượng không cao, giá rẻ và chỉ cần một sự thay đối nhỏ về giá cả sẽ dẫn đến sự thay đổi lớn trong hành vi tiêu dùng của người dân tại các nước này. Ngược lại, tại các nước phát triển, người tiêu dùng chỉ chấp nhận sản phẩm có chất lượng cao mặc dù giá đắt. Thị trường nhập khẩu hàng nông sản đã và đang bị thu hẹp lại. Hiện tại các nước phát triển có nhu cầu nhập khẩu hàng nông sản lớn nhất thế giới. Tuy nhiên các nước này đã và đang thực hiện một cách phổ biến và sâu rộng chế độ trợ cấp cho sản xuất nông nghiệp ở mức độ cao, bảo hộ thị trường nông sản nội địa dưới nhiều hình thức. Chẳng hạn: Năm 1995,1996 số tiền trợ giá cho nông sản xuất khẩu chỉ riêng của EU đã bằng 80% tổng số tiền trợ giá của tất cả các thành viên thuộc WTO. Cơ chế trợ cấp và trợ giá quá cao cho hàng nông sản ở các nước đang phát triển đã gây sự bóp méo giá cả hàng nông sản xuất khẩu, hạn chế tác động của quy luật thị trường và giảm đi ưu thế cạnh tranh hàng nông sản của các nước đang phát triển vốn nhờ vào lao động rẻ. Cơ chế này không những làm tăng khả năng xuất khẩu hàng nông sản của các nước này mà còn hạn chế nhập khẩu nông sản của các nước này. Đây thực tế là một bất lợi lớn đối với sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu khẩu nông sản của các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam). Trước sức ép của xu hướng tự do hoá thương mại buộc các nước phát triển phải nhất trí sự cần thiết giảm trợ giá cho các mặt hàng nông sản xuất khẩu, mở rộng tự do hoá thị trường nông sản thế giới ở một cuộc họp tại Mỹ vào tháng 11 năm 1999. Điều này dường như dẫn tới một tương lai sáng sủa hơn cho sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu nông sản của các nước đang phát triển. Tuy nhiên, giờ đây sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu nông sản của các nước đang phát triển lại phải đối mặt với những rào chắn khác, đó là những quy định chặt chẽ về vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường sinh thái mà trong nhiều trường hợp người ta xem đó là hình thức bảo hộ trá hình nhằm 10

ngăn cản hàng nông sản của các nước đang phát triển tràn vào thị trường các nước phát triển. Các nước Châu Phi cũng có nhu cầu nông sản lớn nhưng khả năng thanh toán hạn hẹp. Trong khi đó Liên Hợp Quốc chỉ còn hỗ trợ nhập khẩu lương thực cho những nước có khủng hoảng chính trị. Tình hình trên làm cho thị trường nông sản bị thu hẹp trong khi nguồn cung cấp nông sản khá dồi dào ở các nước Châu á, Mỹ La Tinh, Tây Âu, Bắc Mỹ đã đẩy kinh doanh nông sản trên thị trường thế giới vào tình trạnh cạnh tranh quyết liệt khiến cho giá nông sản xuất khẩu trên thị trường thế giới giảm, gây bất lợi cho những người sản xuất nông nghiệp và cho những nước xuất khẩu nông sản. Theo như đã phân tích ở trên, thị trường nông sản thế giới đang bị thu hẹp, nguồn cung cấp hàng nông sản trên thị trường thế giới ngày càng dồi dào, cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu nông sản nguyên liệu diễn ra ngày càng gay gắt buộc các nước đang phát triển phải xuất khẩu nông sản nguyên liệu cho các nước phát triển với giá thấp (các nước đang phát triển sẽ chế biến lại để xuất khẩu). Mặt khác hàng nông sản chế biến sâu của các nước đang phát triển lại phải cạnh tranh với hàng nông sản xuất khẩu cùng loại của các nước phát triển ở thế yếu hơn do hạn chế về công nghệ chế biến và khả năng đầu tư cho công nghệ chế biến nông sản xuất khẩu. Trong những điều kiện này, ưu thế cạnh tranh trên thị trường thế giới thuộc về các nước phát triển. Các nước này đã trở thành người chi phối và chiếm ưu thế trong quan hệ buôn bán nông sản trên thị trường. Hiện tại thiệt thòi đang thuộc về các nước đang phát triển. Tuy nhiên theo đánh giá của tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên Hợp Quốc 11

(FAO) với tốc độ phát triển như hiện nay (dân số thế giới tăng trưởng với tốc độ cao nhưng đất đai sử dụng cho nông nghiệp lại giảm cùng với quá trình công nghiệp hoá làm cho tốc độ tăng bình quân nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp lớn hơn tốc độ tăng bình quân sản lượng nông sản trên thị trường thế giới) thì đến năm 2010 cầu về hàng nông sản trên thị trường thế giới sẽ vượt xa cung. Điều này mở ra một cơ hội mới cho các nước đang phát triển xuất khẩu nông sản nói chung và Việt Nam nói riêng có thể đẩy mạnh xuất khẩu nông sản trong tương lai.

12

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM 1. Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam trong những năm gần đây. 1.1. Kết quả xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong những năm gần đây. Trong bối cảnh mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu của các nước là thước đo đánh giá kết quả của quá trình hội nhập quốc tế và phát triển trong mối quan hệ tùy thuộc vào nhau giữa các quốc gia. Sự độc lập phát triển của mỗi quốc gia là sự phụ thuộc của quốc gia đó vào thế giới phải cân bằng với sự phụ thuộc của thế giới vào quốc gia đó. Hoạt động xuất nhập khẩu là yếu tố quan trọng nhằm phát huy mọi nguồn nội lực, tạo thêm vốn đầu tư để đổi mới công nghệ, tăng thêm việc làm, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Những năm qua, hoat động xuất khẩu nông sản của Việt Nam đã có những chuyển biếm tích cực như: Sự tăng lên về kim nghạch xuất khẩu, Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu cũng được cải thiện theo chiều hướng đa dạng hóa, giảm tỷ trọng loại hàng hóa chưa qua chế biến tăng tỷ trọng hàng đã qua chế biến. Thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam càng ngày càng mở rộng và thay đổi về cơ cấu thị trường. Sự thay đổi đó thể hiện rất rõ ở kết quả xuất khẩu nông sản cuả Việt Nam năm 2007, 2008, và những tháng đầu năm 2009. Trong những năm qua, hoat động xuất khẩu nông sản đã có những chuyển biếm tích cực như sự tăng lên về kim nghạch xuất khẩu, Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu cũng được cải thiện theo chiều hướng đa dạng hóa, giảm tỷ trọng loại hàng hóa chưa qua chế biến tăng tỷ trọng hàng đã qua chế biến.

13

Thị trường xuất khẩu hàng húa của Việt Nam càng ngày càng mở rộng và thay đổi về cơ cấu thị trường. Trong số các nước ở Châu Á như Nhật Bản và ASEAN đóng vai trò lớn, tuy nhiên tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của ta sang các nước đó cũng đó thay đổi theo hướng giảm dần và tăng ở các nước khối EU và Châu Mỹ. Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2007 là năm thành công trong xuất khẩu nông sản. Đến thời điểm 12/12/2007, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của cả nước đã đạt 11,5 tỷ USD, tăng 19,5% so cùng kỳ năm trước, vượt kế hoạch cả năm 5,6%. Trong đó, kim ngạch nông sản ước đạt khoảng 5,7 tỷ USD, so cùng kỳ năm trước tăng 24%, thủy sản ước đạt 3,4 tỷ USD, tăng 11,8% so cùng kỳ và đạt 95% kế hoạch, lâm sản ước đạt trên 2,3 tỷ USD, tăng 20% so cùng kỳ và đạt 99% kế hoạch. Tính đến hết tháng 11/2007, các mặt hàng đều có kim ngạch xuất khẩu tăng so cùng kỳ năm trước, nhiều mặt hàng tăng rất mạnh như cà phê tăng 1,7 lần, mặt hàng lạc, đường, dầu mỡ động thực vật tăng 2-3 lần. So kế hoạch năm, gạo, cà phê, điều và sản phẩm gỗ đã đạt và vượt kế hoạch năm cả về lượng và giá trị, một số mặt hàng khác khó đạt được mục tiêu kế hoạch là rau quả, cao su và lạc. Đặc biệt, đến hết tháng 11/2007, xuất khẩu gạo đã hoàn thành chỉ tiêu với sản lượng xuất khẩu xấp xỉ năm trước (4,5 triệu tấn) nhưng kim ngạch xuất khẩu tăng 18% (kim ngạch 1,45 tỷ USD). Cà phê Việt Nam vượt ngưỡng xuất khẩu 1 triệu tấn với tổng giá trị kim ngạch 1,63 tỷ USD (cao hơn mức dự kiến xuất khẩu của cả năm là 26%). Như vậy, cà phê là mặt hàng có mức tăng trưởng xuất khẩu mạnh nhất trong tất cả các mặt hàng nông lâm thủy sản so với dự kiến kế hoạch năm 2007. Hiện đã có tới 5 mặt hàng là thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ, cà phê, gạo và cao su đạt giá trị xuất khẩu từ 1-3 tỷ USD.

14

Kim ngạch xuất khẩu của nước ta trong năm 2007 đã đạt được những kết quả tích cực cả về quy mô và tốc độ tăng trưởng. Tổng kim nghạch xuất khẩu cả năm đạt 48,387 tỷ USD, tăng 21,5% so với năm 2006 ( kế hoạch của chínhnh phủ đề ra là 46,7 tỷ USD, tăng 17,4%). Trong đó tỷ trọng hàng húa chế biến, chế tạo, có hàm lượng công nghệ và chất xám cao tăng dần, tỷ trọng hàng hóa chưa qua chế biến giảm dần. Nông nghiệp Việt Nam vẫn phátt triển theo hướng tích cực với tốc độ tăng trưởng 3,25%, giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 19,8% GDP cả nước. Sau một năm gia nhập WTO, bức tranh xuất khẩu nông sản đẹp hơn bao giờ hết với tổng giá trị xuất khẩu ước đạt 12,6 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2006, chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và đó vượt mục tiêu đề ra cho năm 2010 tới 1,5 tỷ USD. Tuy thị trường xuất khẩu năm 2008 có nhiều biến động, nhưng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản năm 2008 đạt 16,24 tỷ USD, tăng 22,7% so với năm 2007, đạt mức tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay. Trong đó các mặt hàng nông sản ước 8,42 tỷ USD, tăng 34%; lâm sản và gỗ đạt 3,0 tỷ USD, tăng 13,4%; mặt hàng thuỷ sản 4,5 tỷ USD, tăng 19,6%. 6 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD cụ thể là: gạo 2,87 tỷ USD, cà phê 2,0 tỷ USD, cao su 1,6 tỷ USD, đồ gỗ 2,8 tỷ USD, tôm gần 1,5 tỷ USD, cá tra trên 1 tỷ USD. Đặc biệt, mặt hàng điều có kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh, đạt trên 908 triệu USD, tăng 38,8% so với năm 2007. Hầu hết hàng nông sản năm nay đều xuất khẩu tăng mạnh với nhiều mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD trở lên như thủy sản, gạo, cà phờ, cao su, sản phẩm gỗ. Nhưng Việt Nam vẫn bị thất bại trong việc tìm kiếm, trinh phục thị trường mới. Khó khăn ở cỏc thị trường truyền thống buộc doanh nghiệp phải tìm tòi, xâm nhập thị trường mới, nhưng kết quả khụng mấy lạc quan. Vỡ vậy các doanh nghiệp quyết định quay về các thị trường truyền thống như: Nga, Đông Âu, Tây Âu, Trung Đông và Ai Cập, Đài Loan, Mỹ. Nhật Bản… Tuy nhiờn khối lượng nhập khẩu vào các thị 15

trường nay cũng rất hạn chế. Theo ông William Troy, Công ty Thương mại Toàn cầu (Mỹ) cho biết, sỡ dĩ khả năng thâm nhập thị trường Mỹ của hàng nụng sản Việt Nam cũn hạn chế, chính là do năng lực cạnh tranh kém. Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu hàng nụng sản của Việt Nam sang các nước thuộc khối ASEAN vẫn luụn phập phù, dao động từ 400 – 900 triệu USD/năm với mặt hàng chủ yếu là gạo Kết quả xuất khẩu một số mặt hàng nông sản năm 2008 Triệu USD

STT

Trị giá

Số lượng

1

Thủy sản

2

Gạo

4,500

3

Cà phê

1,100

4

Rau quả

5

Cao su

730

2,000

780

6

Hạt tiêu

100

350

120

7

Nhân điều

170

940

190

8

Chè các loại

115

155

130

9

Mây, tre, cói & thảm

2,700

3,500

10

Sản phẩm gỗ

2,800

3,200

1,200

370

Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản 3 tháng đầu năm năm 2009 đạt 3,47 tỷ USD, tăng 3,1% so với Quý I năm 2008. Trong đó, Các mặt hàng xuất khẩu chính như: gạo, xuất khẩu quý I đạt trên 1,7 triệu tấn, kim ngạch 785 triệu USD, tăng 71% về lượng và 76% về kim ngạch so cùng kỳ 16

năm ngoái. Tổng lượng cà phê xuất khẩu 419 nghìn tấn với giá trị 634 triệu USD, tăng 21,37 % về lượng. Cao su ước 115 ngàn tấn với trị giá 158 triệu USD. Sản phẩm chè với tổng xuất khẩu đạt 22 nghìnn tấn và 28 triệu USD, cả khối lượng và giá trị đều tăng hơn 5% so với cùng kỳ năm 2008. Hạt điều xuất khẩu ước 29 nghìn tấn với trị giỏ 130 triệu USD. Hạt Tiêu xuất khẩu tháng 3 năm 2008 đạt 9 nghin tấn, đưa khối lượng tiêu xuất khẩu quý I lớn 24 nghìn tấn với giá trị trên 60 triệu USD, tăng 58% về lượng. Tổng kim ngạch xuất khẩu lâm sản và đồ gỗ ước 572 triệu USD; trong đó, gỗ và sản phẩm gỗ 527 triệu USD; sản phẩm mây tre, cuối tháng 42 triệu USD. Giá trị xuất khẩu thuỷ sản tháng 3 đạt 300 triệu USD, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu quý I lờn 744 triệu USD. Kế hoạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản năm 2009 STT

Mặt hàng xuất khẩu

Triệu USD

Trị giá

1

Thủy sản

Tr USD

4,500

2

Gạo

1000 T

2,850

4,500

3

Cà phê

1000 T

2,300

1,200

4

Rau quả

Tr USD

370

5

Cao su

1000 T

2,000

780

6

Hạt tiêu

1000 T

350

120

7

Nhân điều

1000 T

940

190

8

Chè các loại

1000 T

155

130

9

Mây, tre, cói & thảm

Tr USD

230

110

Sản phẩm gỗ

Tr USD

2800

17

Số lượng

Trong kế hoạch điều hành năm 2009, Bộ Công Thương Việt Nam dự kiến cơ cấu thị trường xuất khẩu năm 2009, như sau: Khu vực thị trường châu Á và châu Đại Dương: Dự báo xuất khẩu vào các thị trường chính như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan sẽ giảm so với năm 2008, đặc biệt là thị trường ASEAN do xuất khẩu xăng dầu sang thị trường này giảm. Kế hoạch năm 2009, xuất khẩu hàng hóa vào thị trường châu Á đạt 31,6 tỷ USD, tăng 13% so với năm 2008; khu vực thị trường châu Đại Dương dự kiến giảm còn bằng 91,8% so với năm 2008 đạt 3,9 tỷ USD cũng bởi nguyên nhân xuất khẩu xăng dầu sang thị trường này giảm. Việc thực hiện đầy đủ các cam kết theo CEPT/AFTA đã và đang tạo điều kiện cho hàng hóa Việt Nam thâm nhập vào thị trường các nước nêu trên, song do kim ngạch xuất khẩu vào ASEAN tăng chậm so với tốc độ tăng trưởng bình quân, trong khi kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN tăng tương đối nhanh nên nhập siêu từ khu vực này tiếp tục tăng. Khu vực thị trường châu Âu: Năm 2009, xuất khẩu những hàng hóa chủ yếu vào thị trường EU dự báo sẽ giảm như dệt may, giày dép vì nhu cầu tiêu dùng giảm do khủng hoảng kinh tế các mặt hàng có khả năng tăng là sản phẩm nhựa, hàng điện tử, hàng thủy sản. Tổng kim ngạch xuất khẩu dự kiến đạt 13,3 tỷ USD, tăng 15%. Khu vực thị trường châu Mỹ: Do cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ nên tăng trưởng nhập khẩu của Hoa Kỳ năm 2009 dự báo sẽ giảm (trừ những nhóm hàng nhiên liệu và một số nông sản có thể vẫn tăng do vẫn có nhu cầu tiêu dùng và tăng giá) nhất là đối với các nhóm hàng xuất khẩu chính của Việt Nam như may mặc, giày dép, vali, túi xách, đồ gỗ, đồ điện tử, cáp điện, sản phẩm nhựa, hạt điều, cà phê. Dự kiến, kim ngạch xuất khẩu năm 2009 đạt

18

Một Số Giải Pháp Phát Triển Sản Xuất, Thúc Đẩy Xuất Khẩu

Ngày 31 tháng 08 năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 25/CT-TTg về một số nhiệm vụ, giải pháp phát triển sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu. Cụ thể như sau:

1. Cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính, t giảm chi phí, loại bỏ những nút thắt, rào cản đối với xuất khẩu. Có giải pháp giảm thời gian xem xét hồ sơ xin hoàn thuế VAT giúp giảm chi phí cho doanh nghiệp; xem xét có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp chế biến lâm sản tương tự như đối với doanh nghiệp nông sản, thủy sản; xem xét khả năng cho phép nhập khẩu đối với các loại máy móc, thiết bị chế biến gỗ đã qua sử dụng nhiều năm nhưng vẫn có giá trị sử dụng cao để giúp ngành chế biến gỗ xuất khẩu tiếp tục hạ giá thành; rà soát lại các loại phí và mức phí thu vào hàng hóa xuất nhập khẩu, nhất là hàng xuất khẩu, để tiếp tục giảm phí cho doanh nghiệp; v.v…

2. Tăng cường công tác giúp định hướng sản xuất phục vụ xuất khẩu

– Định kỳ 6 tháng một lần phát hành Báo cáo đánh giá thị trường nông, thủy sản, trong đó đưa ra những thông tin, dự báo và đánh giá về tình hình cung cầu, giá cả, thị trường của một số nông, thủy sản xuất khẩu chính để doanh nghiệp và người dân có thông tin định hướng cho hoạt động sản xuất, xuất khẩu (Bộ Công thương chủ trì).

– Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lập cơ sở dữ liệu về các biện pháp an toàn thực phẩm tại các thị trường xuất khẩu chính, công bố để các doanh nghiệp tham khảo.

– Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét, công bố thông tin về năng suất lao động chi tiết theo ngành kinh tế cấp 3 hoặc 4 đối với một số ngành, lĩnh vực có tiềm năng phát triển xuất khẩu để làm cơ sở cho các bộ, ngành, địa phương, Hiệp hội, doanh nghiệp xây dựng định hướng phát triển sản xuất phù hợp.

3. Đẩy mạnh cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp gắn với nhu cầu thị trường, nâng cao chất lượng, đáp ứng các yêu cầu về an toàn thực phẩm; tập trung các giải pháp tháo gỡ khó khăn để thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp có thế mạnh là thủy sản, rau quả, cà phê, điều, hồ tiêu, gạo, sắn.

4. Phát triển sản xuất công nghiệp gắn với điều kiện cụ thểcủa từng vùng, từng địa phương; gắn với phát triển quy mô lớn, công nghệ cao; phát triển công nghiệp hỗ trợ để nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng trong sản phẩm xuất khẩu; tập trung các giải pháp tháo gỡ khó khăn để thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp có thế mạnh là dệt may, da giầy, điện tử, gỗ và sản phẩm gỗ.

5. Tăng cường công tác đàm phán, hội nhậpđể phát triển thị trường và tháo gỡ rào cản để thâm nhập các thị trường mới. Đẩy nhanh tiến độ rà soát pháp lý để tiến tới ký chính thức Hiệp định FTA Việt Nam – EU trong năm 2018, hướng đến phê chuẩn và thực thi Hiệp định vào vào cuối năm 2018 hoặc đầu năm 2019; hoàn thành hồ sơ xin phê chuẩn để sớm trình Quốc hội phê chuẩn Hiệp định CPTPP; nỗ lực yêu cầu các nước xóa bỏ tối đa thuế nhập khẩu và các rào cản phi thuế đối với hàng hóa của Việt Nam trong quá trình đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) v.v…

6. Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu: hỗ trợ phát triển các thị trường ngách đối với một số sản phẩm có giá trị gia tăng cao như bạch trà, cà phê hòa tan, gạo hữu cơ, tiêu trắng… sang Trung Đông, Liên bang Nga, Nam Trung Quốc; đẩy mạnh hoạt động phát triển thương hiệu cho sản phẩm và doanh nghiệp xuất khẩu thông qua chương trình Thương hiệu quốc gia

7 . Đẩy mạnh các biện phá p về thanh toán, tín dụng, đảm bảo nguồn vốn phục vụ xuất khẩu. Đẩy mạnh thực hiện Chương trình kết nối doanh nghiệp tại các địa phương nhằm tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận vốn vay, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.

8. Phát triển dịch vụ phục vụ xuất khẩu hàng hóa. Các bộ, ngành, địa phương triển khai Chương trình hành động thực hiện Kế hoạch nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14 tháng 02 năm 2017.

9. Tăng cường các Hiệp hội ngành hàng, phát huy vai trò trong việc liên kết các hội viên, đại diện để bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của các hội viên trong thương mại quốc tế; thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa cơ quan quản lý nhà nước với các doanh nghiệp, phối hợp và hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước trong triển khai tổ chức đào tạo và tiếp nhận, sử dụng lao động sau đào tạo (Hồng Liên).

Phát Triển Bền Vững Thủy Sản Xuất Khẩu Của Việt Nam

Tổng quan tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam thời gian gần đây

Trong 5 năm qua, ngành Thủy sản Việt Nam đã nắm bắt được điều kiện thuận lợi, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu để đạt được kết quả ấn tượng, đóng góp đáng kể vào GDP quốc gia, giải quyết việc làm cho hàng trăm ngàn lao động địa phương, tạo ra nhiều doanh nghiệp (DN) mũi nhọn đối với nền kinh tế và làm thay đổi bộ mặt phát triển nhiều địa phương trong cả nước. Từ 2012 đến 2016, ngành Thủy sản có “bước phát triển vàng” với tổng giá trị xuất khẩu đạt khoảng 46 tỷ USD, lớn hơn nhiều tổng giá trị xuất khẩu trong 11 năm trước đó.

Giai đoạn này, Việt Nam đã mở rộng xuất khẩu hàng thủy sản đến 50 thị trường trên thế giới. Những thị trường chính đem lại nguồn lợi lớn là Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Canada, Đức, Australia… Trong đó, Mỹ là thị trường tiêu thụ lớn nhất mặt hàng thủy sản Việt Nam và Trung Quốc là thị trường tiềm năng của nước ta.

Để đảm bảo nguồn cung cho thị trường, thời gian qua Chính phủ và các cơ quan chức năng có nhiều chính sách về khai thác, đánh bắt bền vững nguồn thủy sản biển, mở rộng quy mô nền sản xuất. Việt Nam cũng tập trung đối phó các vấn đề pháp lý, chính sách bảo hộ thương mại và tác động từ thị trường đến nền sản xuất – xuất khẩu thủy sản của nước ta.

Bên cạnh các yếu tố thuận lợi, ngành Thủy sản nước ta cũng gặp phải không ít khó khăn, trong đó, phải kể đến là tình trạng chênh lệch giữa quy mô, khối lượng sản xuất và giá trị xuất khẩu, đời sống của người lao động chưa được cải thiện và ô nhiễm môi trường gia tăng.

Từ nay đến năm 2020, Chính phủ đề ra mục tiêu phấn đấu giữ ổn định sản lượng khai thác thủy sản ở mức 2,4-2,6 triệu tấn/năm, tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân 11%/năm. Để đạt được mục tiêu này, Chính phủ sẽ nỗ lực, tạo điều kiện về chính sách hỗ trợ, thúc đẩy phát triển ngành Thủy sản. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện nay, có nhiều yếu tố khách quan, chủ quan tác động tới sự phát triển bền vững của ngành Thủy sản xuất khẩu:

– Về tác động tích cực: Việt Nam có nhiều yếu tố thiên nhiên ban tặng như đường bờ biển dài, hệ thống sông, hồ đa dạng rất thuận lợi cho nuôi trồng các loại thủy sản. Biển của Việt Nam có nhiều dòng hải lưu nóng, lạnh khác nhau nên nguồn cá, hải sản khá phong phú. Ngư dân Việt Nam có truyền thống đi biển khai thác hải sản lâu đời, hình thành các làng nghề đánh cá xa bờ cũng như có đặc điểm tính cách phù hợp với phát triển ngư nghiệp.

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã quan tâm và tập trung phát triển ngành kinh tế mũi nhọn này, tạo lập hệ thống sản xuất – kinh doanh có chiến lược, bài bản. Nhờ đó, hải sản Việt Nam đã xây dựng được thương hiệu uy tín, được người tiêu dùng trong khu vực và thế giới ưa chuộng.

– Về tác động tiêu cực: Ngành Thủy sản nước ta hiện nay đang phải đối mặt với yếu tố thời tiết, biến đổi khí hậu, tác động nghiêm trọng tới quy hoạch, cơ cấu sản xuất và tập quán nuôi trồng thủy sản của người dân. Đặc biệt, tình trạng ô nhiễm môi trường ở sông, hồ, một số vùng biển khiến thủy sản chết hàng loạt.

Tình trạng tăng trưởng “nóng” của một số thị trường thủy sản cũng để lại nhiều hệ lụy, nhất là “tình trạng được mùa mất giá”. Ngoài ra, sự thay đổi tỷ giá, biến động thị trường cũng tác động mạnh đến DN và toàn ngành Thủy sản.

Ưu tiên phát triển bền vững xuất khẩu thủy sản

Những năm gần đây, Chính phủ và các cơ quan chức năng đã tập trung xây dựng và ban hành nhiều chính sách, văn bản quy định nhằm phát triển xuất khẩu thủy sản bền vững. Cụ thể là Chính phủ đã tập trung vào 3 lĩnh vực trụ cột như: Nâng cao chất lượng tăng trưởng; Gắn việc sản xuất – xuất khẩu thủy sản với công tác bảo vệ môi trường (BVMT); Đồng thời, sản xuất – kinh doanh thủy sản phải góp phần đảm bảo an sinh xã hội.

Với quốc gia có tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế cao như Việt Nam, Quốc hội đã sớm ban hành Luật Thủy sản (11/2003) quy định về hoạt động thủy sản, bao gồm các hoạt động khai thác, nuôi trồng, vận chuyển thủy sản; bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản; dịch vụ trong hoạt động thủy sản; điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.

Đáng chú ý, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 phê duyệt đề án Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Trong đó, ngành Thủy sản điều chỉnh sản xuất từ phát triển theo số lượng sang nâng cao chất lượng, hiệu quả nhằm tăng giá trị và lợi nhuận. Chính phủ cũng khuyến khích DN áp dụng công nghệ cao, quy trình thực hành nuôi tốt (GAP) phù hợp quy chuẩn quốc tế khác để nâng cao giá trị hàng thủy sản xuất khẩu.

Cơ quan chức năng cũng đã nghiên cứu và tham mưu Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Quy hoạch chỉ rõ bất cập trong tỷ trọng xuất khẩu nguyên liệu thô chiếm phần lớn giá trị xuất khẩu thủy sản, đề ra mục tiêu, định hướng và một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thủy sản bền vững; Đồng thời, ban hành một số chính sách phát triển mặt hàng xuất khẩu chủ lực, có giá trị như cá tra, tôm…

Để thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường lớn, Việt Nam cũng đề ra các chính sách khuyến khích sản xuất các mặt hàng thủy sản xuất khẩu đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, BVMT. Các quy định này khá cụ thể, nhất là Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điệu kiện an toàn thực phẩm đối với các mặt hàng thủy sản xuất khẩu; Quy phạm thực hành VietGAP nhằm kiểm soát lĩnh vực an toàn thực phẩm, giảm tác động đến môi trường.

Ngoài ra, còn có nhiều chính sách hiệu quả khác về mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu thủy sản, tăng cường xúc tiến thương mại; về quản lý, giám sát chất lượng, an toàn thực phẩm, kiểm dịch thủy sản; chính sách tín dụng; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, hậu cần dịch vụ thủy sản phục vụ xuất khẩu.

Bên cạnh các chính sách nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, nền sản xuất thủy sản của Việt Nam cũng được đặt trong sự thống nhất, gắn kết với các chính sách, quy định về BVMT. Luật BVMT được Quốc hội thông qua năm 2005 là cơ sở pháp lý quan trọng để phát triển nền thủy sản bền vững.

Chính phủ ban hành Nghị định 51/2014/NĐ-CP ngày 21/5/2014 nêu rõ, cấm sử dụng công cụ mang tính hủy diệt môi trường nước để khai thác; quy định khai thác, đánh bắt thủy sản trưởng thành nhằm tránh tận diệt nguồn thủy sản; cấm đánh bắt thủy sản quý hiếm, nguy cơ tuyệt chủng; quy định về việc giao các khoán các khu vực biển cho tư nhân khai thác phải đảm bảo yếu tố môi trường… nhằm tăng cường công tác BVMT trong hoạt động sản xuất và xuất khẩu thủy sản.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành một số văn bản có những nội dung quy định rõ về việc hạn chế khai thác tài nguyên, bảo tồn nguồn lợi thủy sản như Thông tư 64/2010/TT-BNNPTNT ngày 04/11/2010; Thông tư 39/2013/TT-BNNPTNT ngày 12/8/2013; Quyết định 375/QĐ-TTg ngày 1/3/2013.

Cơ quan chức năng cũng tích cực tham mưu Chính phủ ban hành nhiều chính sách kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm về BVMT trong hoạt động sản xuất – xuất khẩu thủy sản. Các quy định trên góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, BVMT, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản…

Ngoài những nội dung trên, Việt Nam luôn nhất quán quan điểm: Một nền xuất khẩu thủy sản bền vững thì phải góp phần đảm bảo an sinh – xã hội. Do đó, Chính phủ đã đề ra nhiều chính sách gắn hoạt động sản xuất, nuôi trồng thủy sản cùng với giải quyết các vấn đề xã hội ở cấp độ vi mô và vĩ mô.

Chính phủ đặc biệt quan tâm tới các đối tượng dễ bị tổn thương trước những rủi ro trong sản xuất nông nghiệp như người nông dân, các trang trại, DN vừa và nhỏ. Nhiều trường hợp chịu thiệt hại nặng dẫn tới không thể tái sản xuất, lâm vào cảnh phá sản, nợ xấu.

Để hỗ trợ hiệu quả nhóm đối tượng này, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định 01/2012/QĐ-TTg ngày 9/1/2012 về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng Quy trình thực hành GAP trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.

Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 182/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định về mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở DN, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động; Nghị định 66/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 có các quy định về đảm bảo an toàn cho người và tàu cá hoạt động thủy sản.

Bên cạnh các ưu đãi này, Chính phủ thông qua các thiết chế, chính sách để đảm bảo chia sẻ lợi ích hợp lý giữa những người tham gia quá trình sản xuất – xuất khẩu thủy sản; đảm bảo lợi ích hài hòa giữa người nông dân, DN, giới tiểu thương…

Thách thức với ngành Thủy sản và kiến nghị đặt ra

Trong tăng trưởng chất lượng xuất khẩu, thách thức lớn với ngành Thủy sản thời gian tới là các DN, hộ nuôi trồng thủy sản phá vỡ quy hoạch; không tuân thủ các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh, môi trường. Quá trình sản xuất chưa chú trọng quy hoạch phát triển theo chiều sâu gắn với thị trường tiêu thụ.

Thực trạng này đã tồn tại từ lâu song chưa thể cải thiện nhanh trong thời gian tới. Các DN thủy sản chưa làm tốt công tác tổ chức sản xuất, chưa xây dựng chuỗi liên kết giữa sản xuất nguyên liệu đầu vào với chế biến xuất khẩu; thị trường nguyên liệu thủy sản trong nước có nguy cơ bị thâu tóm bởi thương lái Trung Quốc.

Về thị trường, trong thời gian tới, chủ nghĩa bảo hộ thương mại sẽ tiếp tục diễn biến tiêu cực đối với hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Trong đó, các biện pháp rào cản kỹ thuật ngày càng khắt khe hơn và chính sách, thủ tục nhập khẩu của nhiều nước cũng sẽ thường xuyên được điều chỉnh ở nhiều cấp độ trong khi việc cạnh tranh nguồn cung cũng khốc liệt.

Đối với những thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, nguy cơ lượng hàng thủy sản bị trả về tăng cao, gây thiệt hại cho các DN và uy tín của ngành Thủy sản Việt Nam.

Với cơ cấu tỷ trọng xuất khẩu thủy sản Việt Nam hiện nay, mặt hàng có giá trị xuất khẩu trong thời gian tới còn thấp, DN sẽ phải nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất và chế biến xuất khẩu, đồng nghĩa là sẽ làm giảm lợi nhuận và sức cạnh tranh của hàng thủy sản Việt.

Cơ hội về thu nhập và việc làm dựa vào xuất khẩu thủy sản chưa thật sự bền vững. Nguyên nhân chủ yếu là do chất lượng lao động trong sản xuất – xuất khẩu thủy sản chưa cao, thiếu kiến thức kinh doanh, không đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Dù vậy, có tín hiệu đáng mừng là lợi ích từ sản xuất – xuất khẩu sẽ được cải thiện, phân phối đồng đều hơn cho các bên tham gia trong thời gian tới, góp phần kéo gần khoảng cách giàu nghèo và giảm mâu thuẫn lợi ích giữa các bên.

Từ những thách thức trên, Việt Nam cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các chính sách, văn bản hướng dẫn về phát triển bền vững ngành Thủy sản theo hướng thiết thực, bám sát diễn biến thực tiễn.

Đồng thời, tập trung chủ yếu vào 3 trụ cột quan trọng là nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất khẩu thủy sản; gắn tăng trưởng thủy sản với yêu cầu, nhiệm vụ BVMT; nuôi trồng thủy sản xuất khẩu phải góp phần giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, nâng cao đời sống của người lao động.

Thứ nhất, triển khai các nhóm giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất khẩu thủy sản cần được ưu tiên hàng đầu. Hiện nay, các DN và người nông dân rất cần định hướng trong nuôi trồng và xuất khẩu thủy sản để tăng lợi nhuận nhưng giảm quy mô đầu tư.

Đây là vấn đề sống còn trong cạnh tranh thương mại với đối thủ kinh doanh khác. Chính phủ sớm ban hành các văn bản định hướng, tạo lập các chiến lược, kế hoạch cụ thể đối với từng vùng nhằm phát triển các mặt hàng thủy sản có giá trị. Cơ quan chức năng cần làm việc với các DN và hỗ trợ họ trong tìm kiếm thị trường nhập khẩu hàng thủy sản giá trị cao.

Mở rộng thị trường xuất khẩu, Chính phủ và cơ quan chức năng cần rà soát lại các thủ tục hành chính phiền hà, phức tạp, giảm thời gian kiểm nghiệm, cấp chứng thư; đẩy mạnh áp dụng việc đăng ký điện tử thông quan hàng hóa. Tuy nhiên, các chính sách cần đảm bảo không để thất thoát thuế, phí mà vẫn tạo thuận lợi cho DN.

Ngoài ra, để tăng cường chất lượng tăng trưởng xuất khẩu thủy sản, sớm đề ra chính sách đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, quản lý và chất lượng nguồn nhân lực; khuyến khích các DN phát huy sáng kiến, ứng dụng giải pháp công nghệ trong sản xuất. Chính phủ và Bộ Thông tin Truyền thông sớm có chính sách nâng cao năng lực của các trung tâm khuyến ngư, phổ biến kiến thức khoa học, kinh nghiệm về đánh bắt, nuôi trồng thủy sản.

Thứ hai, đề cao yêu cầu, nhiệm vụ BVMT trong chính sách xuất khẩu thủy sản. Để có chính sách bám sát tình hình thực tế, trước hết cơ quan chức năng sớm hoàn thiện cơ sở dữ liệu về thăm dò các nguồn tài nguyên thủy sản ở các vùng biển của Việt Nam; Xây dựng bản đồ số hóa về phân bổ nguồn lợi hải sản tạo cơ sở để cơ quan chức năng dự báo, tham mưu các biện pháp phát triển ngành Thủy sản với nhiệm vụ BVMT.

Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương tiếp tục thực hiện hiệu quả, thực chất các đề án, dự án bảo vệ, phục hồi và phát triển nguồn lợi thủy sản, bảo tồn đa dạng sinh học; áp dụng mô hình chuyển đổi nghề khai thác thủy sản ven bờ không thân thiện với môi trường sang các ngành nghề khác có hiệu quả kinh tế cao. Bộ Công an và các bộ, ngành khác tham mưu Chính phủ ban hành chế tài “mạnh tay” hơn trong kiểm soát các loại thủy sản bị cấm xuất khẩu; thực hiện nghiêm quy định xử phạt theo Luật BVMT.

Thứ ba, tình hình phân phối lợi ích trong quá trình sản xuất và xuất khẩu thủy sản hiện nay còn nhiều bất cập, giá trị thu được từ tăng trưởng xuất khẩu thủy sản chưa đóng góp nhiều vào giải quyết vấn đề xã hội. Do đó, cơ quan chức năng sớm tạo lập các chính sách mới, hiệu quả để giải quyết tồn tại này.

Thứ tư, trong quá trình sản xuất và xuất khẩu thủy sản bền vững, DN đóng vai trò rất quan trọng, là nguồn lực chính để thúc đẩy tăng trưởng. Vì vậy, Chính phủ tăng cường chỉ đạo, định hướng, kết nối và khai thông các vướng mắc trong hoạt động của DN, trong đó chú trọng các chính sách thúc đẩy liên kết sản xuất, chế biến thủy sản xuất khẩu; quy hoạch lại sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm, đảm bảo phát triển đồng bộ. Các chính sách mới nên tập trung vào biện pháp nâng cao sức cạnh tranh, đa dạng hóa thị trường và sản xuất thủy sản xuất khẩu, xây dựng và phát triển thương hiệu cho sản phẩm thủy sản Việt Nam.

Bạn đang xem bài viết Kinh Nghiệm Phát Triển Thị Trường Xuất Khẩu Nông Sản trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!