Xem Nhiều 2/2023 #️ Làm Gì Để Phát Triển Năng Lượng Bền Vững Tại Việt Nam? # Top 5 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Làm Gì Để Phát Triển Năng Lượng Bền Vững Tại Việt Nam? # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Làm Gì Để Phát Triển Năng Lượng Bền Vững Tại Việt Nam? mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Làm gì để phát triển năng lượng bền vững tại Việt Nam?

Ông Lê Tuấn Phong

Ông Lê Tuấn Phong, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Năng (Bộ Công Thương): “Vốn đầu tư của ngành năng lượng rất lớn”

Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức trong lĩnh vực năng lượng như nhu cầu năng lượng tăng trưởng cao gây áp lực rất lớn đến việc đảm bảo an ninh năng lượng, đồng thời cũng tạo sức ép lớn cho nền kinh tế Việt Nam về vốn đầu tư cho ngành năng lượng. 

Việt Nam cần nỗ lực, thực hiện nhiều giải pháp để cải thiện việc hoạch định chiến lược phát triển ngành năng lượng, quy hoạch năng lượng, xây dựng thị trường năng lượng cạnh tranh để cải thiện hiệu quả và năng suất của ngành năng lượng, tăng tỷ trọng các nguồn năng lượng sạch và năng lượng tái tạo, thúc đẩy các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

  Ông Tô Quốc Trụ

Ông Tô Quốc Trụ, Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học năng lượng VEA (VESB): Phát triển và khai thác hợp lý các nguồn năng lượng

Để đảm bảo phát triển năng lượng bền vững, Việt Nam cần hết sức quan tâm đến điều hành, quản lý, phát triển và khai thác hợp lý các nguồn năng lượng.

Chính sách sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cần được nhấn mạnh và đưa ra biện pháp mạnh để thực hiện. Trên phương diện tổng thể, Việt Nam cần ưu tiên phát triển các ngành kinh tế – xã hội nói chung và ngành công nghiệp nói riêng có cường độ năng lượng thấp, áp dụng công nghệ mới sản xuất các trang thiết bị hiệu suất cao, khuyến khích về thuế cho các doanh nghiệp tiết kiệm năng lượng, miễn giảm thuế thu nhập hàng hóa và thiết bị tiết kiệm năng lượng…

Ông Nguyễn Tài Anh

Ông Nguyễn Tài Anh, Phó Tổng giám đốc EVN: Thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội

Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã và đang nỗ lực hết sức mình để thực hiện các trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội, thực hiện các mục tiêu công ích, an sinh xã hội, đưa điện lưới quốc gia về tới 99,8% số xã, 98,76% số hộ dân nông thôn, đảm nhận cấp điện cho 9/12 huyện đảo trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.

Cùng với việc bảo đảm đủ điện cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước, trước những yêu cầu ngày càng khắt khe của khách hàng về chất lượng, dịch vụ, thực hiện các trách nhiệm về môi trường, EVN đang xây dựng chương trình tái cấu trúc lại tổ chức, nâng cao năng lực quản trị, năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Tỷ lệ tổn thất điện năng bao gồm cả lưới điện truyền tải và phân phối điện của EVN đã giảm từ 10,15% năm 2010 xuống còn 7,94% năm 2015, mục tiêu đến năm 2020 là dưới 6,5%. Các chỉ tiêu về độ tin cậy cung cấp điện liên tục được cải thiện: Chỉ số thời gian cắt điện trung bình (SAIDI) giảm từ 8.077 phút năm 2012 xuống còn 2.110 phút năm 2015. EVN đặt mục tiêu phấn đấu năm 2.016 phút còn dưới 400 phút/năm, tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực.

   Ông Nguyễn Văn Biên

Ông Nguyễn Văn Biên, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than & Khoáng sản Việt Nam (TKV): Phát triển ngành than gắn với bảo vệ môi trường

Mặc dù TKV đã tích cực và đang phải tiếp tục triển khai mạnh mẽ các giải pháp nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí nhưng Tập đoàn cũng rất cần sự chia sẻ, thấu hiểu của các nhà làm chính sách đảm bảo lợi ích hài hòa giữa nộp ngân sách, lợi nhuận để đầu tư phát triển doanh nghiệp như ngành mỏ các nước đã thực hiện nhiều năm nay.

Các nhà làm chính sách cần sớm điều chỉnh thuế, chi phí tương đương với các nước trong khu vực để cạnh tranh giữ vững thị trường và năng lực sản xuất của ngành, góp phần phát triển bền vững. 

Ngoài ra cũng cần triển khai các giải pháp theo Quy hoạch phát triển ngành than như: Các bộ, ngành phối hợp với các địa phương xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ cơ chế, chính sách đặc thù đảm bảo đủ điều kiện để phát triển ngành than theo Quy hoạch; cần tìm kiếm các cơ hội và thu xếp nguồn vốn để thực hiện việc đầu tư thăm dò, khai thác than ở nước ngoài bằng nhiều hình thức…

Giải Pháp Phát Triển Năng Lượng Bền Vững Tại Việt Nam

BNEWS Ngày 18/11, tại Hà Nội, Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam phối hợp với Bộ Công Thương đã tổ chức Tuần lễ năng lượng tái tạo Việt Nam năm 2016.

Đây là dịp để các chuyên gia, cơ quan chức năng trong nước đánh giá lại việc sử dụng nguồn năng lượng nào để giảm thiểu nguy hại đến môi trường cũng như sức khỏe con người và hướng đến một tương lai bền vững.

Kinh tế càng phát triển, nhu cầu năng lượng càng cao. Đối với vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), mục tiêu phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 là xây dựng vùng ĐBSCL trở thành “Trung tâm công nghiệp chế biến nông, thủy sản, công nghiệp điện năng, công nghiệp phụ trợ nông nghiệp” và là “Trung tâm dịch vụ, du lịch sinh thái cảnh quan đặc trưng vùng hạ lưu sông Mê Kông.

Để thực hiện mục tiêu này, một loạt các nhà máy nhiệt điện sử sụng than đã đang và sẽ được xây dựng. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, vùng ĐBSCL có tiềm năng lớn nhất cả nước về năng lượng mặt trời, gió… đặc biệt là tiềm năng điện sinh khối. Ông Steven VonEife, Quản lý chương trình tái tạo năng lượng tại Việt Nam cho rằng, Việt Nam có nhiều tiềm năng cho năng lượng tái tạo… nhưng chưa phát triển mạnh mẽ do giá năng lượng tái tạo hiện vẫn còn thấp trong khi giá thành đầu tư cho năng lượng tái tạo lại cao hơn so với giá năng lượng khác hiện nay.

Hiện Bộ Công Thương đã trình Chính phủ chiến lược phát triển năng lượng tái tạo Việt Nam; trong đó, có đặt ra các mục tiêu cụ thể là trong điều chỉnh Quy hoạch điện VII cũng tăng tỷ trọng nguồn điện từ năng lượng tái tạo.

Đại diện Tổng cục Năng lượng (Bộ Công Thương) cho hay, Bộ đã xây dựng cơ chế giá khuyến khích để tạo tín hiệu cho doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này. Hiện nay, Bộ đang hoàn thiện các báo cáo. Thời gian qua, cũng có nhiều văn bản tập trung phát triển năng lượng tái tạo như chiến lược phát triển năng lượng quốc gia.

Bộ sẽ phải xây dựng lộ trình và cơ chế để thúc đẩy chương trình này. Hi vọng thời gian tới, cơ chế giá về năng lượng mặt trời được thông qua thì sẽ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch và phát thải khí nhà kính. Theo ông Phạm Trọng Thực, Vụ trưởng Vụ Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương), sự tham gia của năng lượng tái tạo ngoài đáp ứng nhu cầu an ninh năng lượng, còn giúp khai thác nguồn tài nguyên năng lượng tái tạo rất dồi dào ở Việt Nam. Việt Nam có thể thành lập Quỹ phát triển năng lượng bền vững sử dụng các nguồn từ ngân sách, phí môi trường đối với nhiên liệu hóa thạch.

Thứ hai là có chính sách giá điện tốt và đảm bảo hấp dẫn các nhà đầu tư, hoặc chú trọng phát triển cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, ban hành hợp đồng mua bán điện mẫu và có điều khoản Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) mua hết sản phẩm từ năng lượng tái tạo…

Cơ chế chính sách giá điện và đảm bảo đầu tư, là điểm nghẽn khi phát triển năng lượng tái tạo hiện nay. Nhiều nhà đầu tư vẫn đang cảm thấy gặp rủi ro cao về tài chính trong đầu tư hay những hạn chế về năng lực chế tạo, lắp đặt và vận hành nên chi phí đầu tư điện mặt trời cao hơn so với đầu tư vào điện đốt than và khí.

Do vậy, các chuyên gia cho rằng, cần có sự ưu tiên trong hình thành, phát triển thị trường, trong quy hoạch và các chính sách ưu đãi và hỗ trợ tài chính để phát triển năng lượng tái tạo. Qua đó, góp phần bảo tồn năng lượng và giảm thiểu ô nhiễm, giảm thiểu biến đổi khí hậu, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế bền vững./.

Bàn Giải Pháp Để Phát Triển Bền Vững Ngành Hàng Không Việt Nam

Toàn cảnh Hội thảo “Vượt qua khủng hoảng, phát triển bền vững ngành hàng không Việt Nam” (ngày 26/11/2020).

Hội thảo có sự tham dự của ông Lê Anh Tuấn – Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải; ông Phạm Việt Dũng – Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hàng không Việt Nam và đại diện các doanh nghiệp ngành hàng không: Vietnam Airlines, Vietjet Air, Bamboo Airways, Tổng Công ty Quản lý bay.

Mở đầu hội thảo, ông Phạm Việt Dũng – Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hàng không Việt Nam cho biết, trong những năm qua, ngành Hàng không Việt Nam đã duy trì sự phát triển ổn định, tăng trưởng với tốc độ cao.

Theo số liệu thống kê, từ năm 1995 đến nay, tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành Hàng không Việt Nam luôn ở mức cao. Trong đó, luân chuyển hành khách tăng bình quân 13%/năm và luân chuyển hàng hóa tăng bình quân 12%/năm. Tuy nhiên, từ đầu năm 2020 đến nay, đại dịch Covid-19 bùng phát đã ảnh hưởng trực tiếp tới ngành Hàng không dân dụng Việt Nam.

Thống kê cho thấy, đến hết tháng 10/2020, số chuyến bay thương mại của Việt Nam chỉ bằng 66% so với cùng kỳ năm 2019. Nếu tính riêng từ tháng 4 đến hết tháng 10/2020, số các chuyến bay thương mại ở Việt Nam chỉ bằng 52% so với cùng kỳ năm 2019. Ở những tháng dịch bệnh bùng phát, tỷ lệ này chỉ bằng 13% vào tháng 4/2020 hoặc 28% vào tháng 9/2020.

Nêu bật tầm quan trọng của ngành Hàng không trong việc vận chuyển hành khách và hàng hóa, tại hội thảo, ông Lê Anh Tuấn – Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải cho biết, tỷ trọng luân chuyển hàng hóa qua đường hàng không đã chiếm tới 31,44% tổng luân chuyển hành khách của 5 phương thức vận tải tại Việt Nam. Năng lực điều hành bay cũng không ngừng được nâng cao, năm 2019, Tổng công ty Quản lý bay đã điều hành hơn 900.000 chuyến bay… Những chỉ số trên cho thấy, nỗ lực không ngừng của cán bộ, nhân viên ngành Hàng không Việt Nam.

Do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, các hoạt động vận tải hàng không trong nhiều chịu tác động bởi chính sách “giãn cách xã hội”, “khoanh vùng dập dịch” nên dừng vận chuyển hành khách. Trong hoàn cảnh đó, các doanh nghiệp hàng không, các tổ chức kinh tế – xã hội trong ngành Hàng không Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để vượt qua những khó khăn, tác động tiêu cực của dịch bệnh.

Thứ trưởng Lê Anh Tuấn cho biết, thời gian tới, Bộ Giao thông Vận tải sẽ tiếp tục nghiên cứu tham mưu với Chính phủ ban hành những chính sách để giúp ngành Hàng không sớm phục hồi. Tuy nhiên, dự báo, sắp tới ngành Hàng không vẫn đứng trước khó khăn to lớn, khi dịch bệnh trên thế giới vẫn chưa được kiểm soát kéo theo hoạt động vận tải hàng không quốc tế tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức. Do đó, các doanh nghiệp và các nhà quản lý cần phối hợp để cùng bàn thảo đưa ra những giải pháp thích hợp.

Nhìn nhận ở góc độ doanh nghiệp hàng không về tác động của dịch Covid-19 đến hoạt động vận chuyển hành khách, ông Nguyễn Tiến Hoàng – Phó Trưởng Ban Kế hoạch phát triển, Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) chia sẻ, sự bùng phát của dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các hãng hàng không, trong đó có Vietnam Airlines.

Dẫn chứng cụ thể hơn, ông Hoàng thông tin, tác động của Covid-19 đến Vietnam Airlines là vô cùng lớn, theo đó 9 tháng năm 2020, doanh thu của Vietnam Airlines giảm hơn một nửa so với cùng kỳ năm 2019; thâm hụt dòng tiền khoảng hơn 7.358 tỷ đồng. Ước thực hiện cả năm 2020, doanh thu của Vietnam Airlines giảm hơn một nửa so với năm 2019, số lỗ hợp nhất vào khoảng từ 14.000 -15.000 tỷ đồng, dòng tiền thâm hụt khoảng 15.000 tỷ đồng.

Còn theo bà Hồ Ngọc Yến Phương – Phó Tổng giám đốc Hãng hàng không Vietjet Air, trước đại dịch Covid-19, hàng năm, tăng trưởng của Vietjet Air đã đạt bình quân trên 30% đến năm 2019. Tích lũy Vietjet Air đã phục vụ 100 triệu hành khách, đóng góp thuế, phí, lệ phí tích lũy xấp xỉ 9.000 tỷ đồng.

Tuy nhiên, dịch Covid-19 đã làm dòng tiền của hãng giảm sụt. Do đó, để tăng cường nguồn lực tài chính cho hàng không, Vietjet đã chuyển nhượng các khoản đầu tư tài chính tích luỹ trong nhiều năm.

Cùng với đó, hãng hàng không này đã triển khai các giải pháp như: Mở rộng dịch vụ kinh doanh vận chuyển hàng hóa, phát triển các dịch vụ phụ trợ, tự phục vụ mặt đất tại cảng hàng không Nội Bài… Tuy nhiên, với tình hình khó khăn hiện nay, ước tính Vietjet Air thiếu hụt 7.000 – 10.000 tỷ đồng để hỗ trợ hoạt động kinh doanh.

Trước khó khăn trên, bà Hồ Ngọc Yến Phương đề xuất các cơ quan chức năng giảm và kéo dài thời gian ưu đãi thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay; giảm phí, lệ phí và các chi phí dịch vụ cảng hàng không…

Tại Hội thảo, đại diện các cơ quan chức năng cũng như chuyên gia và đại diện DN đều cùng quan điểm cần đưa ra những giải pháp mang tính dài hơn để giúp ngành hàng không Việt Nam vượt qua khủng hoảng, phát triển bền vững trong thời gian tới.

Thống kê cho thấy, đến hết tháng 10/2020, số chuyến bay thương mại của Việt Nam chỉ bằng 66% so với cùng kỳ năm 2019. Nếu tính riêng từ tháng 4 đến hết tháng 10/2020, số các chuyến bay thương mại ở Việt Nam chỉ bằng 52% so với cùng kỳ năm 2019. Ở những tháng dịch bệnh bùng phát tỷ lệ này chỉ bằng 13% vào tháng 4/2020 hoặc 28% vào tháng 9/2020.

Phát Triển Bền Vững Về Kinh Tế Ở Việt Nam

(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển bền vững là khái niệm không chỉ bao gồm phát triển kinh tế mà trong các quan niệm về phát triển bền vững, phát triển kinh tế là nội dung được nhắc đến như một yếu tố gây ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến quá trình phát triển. Phát triển kinh tế tác động đến xã hội trên mọi chiều cạnh, cả tích cực lẫn tiêu cực.

Phát triển kinh tế bền vững

Phát triển kinh tế bền vững (PTKTBV) được hiểu là sự tăng tiến nhanh, an toàn và có chất lượng về mọi mặt của nền kinh tế (như quy mô sản lượng, sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế,…). Quá trình phát triển này đòi hỏi các chủ thể trong hệ thống kinh tế có cơ hội tiếp cận các nguồn lực và chia sẻ nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách bình đẳng. Các chính sách không chỉ tập trung mang lại lợi ích cho một số ít mà phải tạo ra sự thịnh vượng cho tất cả mọi người; đồng thời, bảo đảm trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái, không xâm phạm những quyền cơ bản của con người.

Yêu cầu đặt ra đối với một nền kinh tế bền vững là: (1) Nền kinh tế có tăng trưởng GDP và GDP đầu người đạt mức cao. Nước phát triển có thu nhập cao vẫn phải giữ nhịp độ tăng trưởng, nước càng nghèo có thu nhập thấp càng phải tăng trưởng mức độ cao. Các nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay cần tăng trưởng GDP vào khoảng 5%/năm thì mới có thể được xem có biểu hiện phát triển bền vững về kinh tế; (2) Cơ cấu GDP cũng là tiêu chí đánh giá phát triển bền vững về kinh tế và chỉ khi tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP cao hơn nông nghiệp thì tăng trưởng mới có thể đạt được bền vững; (3) Tăng trưởng kinh tế phải là tăng trưởng có hiệu quả cao, không chấp nhận tăng trưởng bằng mọi giá.

Chỉ tiêu để đánh giá tăng trưởng bền vững về kinh tế gồm:

– Mức độ đạt được hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cao và ổn định;

– Năng suất lao động xã hội cao, dựa trên nguồn lực lao động có thể lực và năng lực làm việc tốt;

– Mức giảm tiêu hao năng lượng để sản xuất ra một đơn vị GDP thấp;

– Chỉ số giá tiêu dùng trong tiêu chuẩn cho phép luôn ổn định;

– Cán cân vãng lai thặng dư ổn định.

Tại Việt Nam, định hướng mục tiêu PTKTBV giai đoạn 2016 – 2020 là:

– Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 6,5 – 7%/năm. Đến năm 2020 GDP bình quân đầu người đạt khoảng 3.200 – 3.500 USD.

– Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP trên 85%. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm bằng khoảng 32 – 34% GDP.

– Bội chi ngân sách nhà nước không quá 4% GDP.

– Yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng khoảng 25 – 30%.

– Năng suất lao động xã hội bình quân tăng 4 – 5%/năm.

– Tiêu hao năng lượng tính trên GDP bình quân giảm từ 1 – 1,5%/năm. Tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2020 đạt từ 38 – 40%.

Thực trạng phát triển kinh tế của Việt Nam

Đánh giá theo các tiêu chí và định hướng mục tiêu PTKTBV giai đoạn 2016 – 2020 tại Việt Nam, có nhiều chỉ số cho thấy, Việt Nam cơ bản đã đạt được như về tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cũng như kiểm soát ngày càng tốt hơn về nợ công…

Trong Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) giữa kỳ năm 2019, Chính phủ Việt Nam cũng nhận định, tình hình quốc tế và khu vực có nhiều diễn biến không thuận lợi, nhưng kinh tế Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực, là một trong những điểm sáng về tăng trưởng trong khu vực và thế giới. Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập cao nhất trong 5 năm qua, môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện và nhiều chỉ số của Việt Nam tăng mạnh, như chỉ số đổi mới sáng tạo.

Việt Nam tiếp tục khẳng định “phát triển nhanh và bền vững là chủ trương, quan điểm nhất quán và xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam”. Bên cạnh ưu tiên phát triển nhanh nhằm tránh tụt hậu, giảm khoảng cách thu nhập giữa Việt Nam và các nước đang phát triển trong khu vực là phải phát triển bền vững.

Xét về chỉ tiêu giám sát, đánh giá PTKTBV, cùng với việc đạt được những thành tựu về tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tích cực, song vẫn tồn tại những bất cập cho quá trình phát triển kinh tế, nhất là tạo ra những quan ngại cho PTKTBV do chịu tác động bởi nhiều yếu tố mà điển hình như năng suất, năng lực cạnh tranh, năng lực sáng tạo và các chính sách, quy định về đầu tư, kinh doanh.

– Về chất lượng tăng trưởng: chưa có sự thống nhất giữa quy mô phát triển với chất lượng tăng trưởng. Mặc dù tăng trưởng cao nhưng nền kinh tế còn dựa nhiều vào vốn đầu tư nước ngoài và thiếu tính bền vững. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) thực chất chưa tính đúng, tính đủ những chi phí đi kèm trong quá trình sản xuất – kinh doanh và tăng trưởng. Nền kinh tế xanh (GDP xanh) chưa được sử dụng trong đo lường phát triển.

Nhiều doanh nghiệp đóng thuế thu nhập trong nhiều năm không đủ bù đắp để xử lý vấn đề môi trường họ gây ra trong 1 năm. Mỗi năm, Việt Nam thiệt hại do ô nhiễm môi trường tương đương với 5% GDP, trong khi con số này của Trung Quốc là 10%. Tuy nhiên, nếu ô nhiễm môi trường theo đà tăng tiến như hiện nay, Việt Nam có thể vượt qua Trung Quốc về ô nhiễm1. Bên cạnh đó, còn nhiều dự án đầu tư triển khai cầm chừng trong nhiều năm chưa đi vào hoạt động.

Ngoài ra, trong toàn nền kinh tế, còn có nhiều dự án lớn khác đã và đang góp phần làm tăng GDP mà không thúc đẩy quá trình phát triển. Về nguyên lý, cứ có hoạt động chi tiền cho đầu tư, dù dự án hoàn thành hay chưa đều tính vào GDP hằng năm, do đó đã làm cho quy mô GDP liên tục tăng cao, năm sau cao hơn năm trước. Điều này tạo ra khoảng cách giữa con số tăng trưởng với sự phát triển thực tế ngày càng lớn.

– Vấn đề quản lý nợ công: đây là vấn đề phổ biến ở các quốc gia do chi tiêu chính phủ vượt quá nguồn thu từ thuế. Trong chỉ tiêu đánh giá PTKTBV, chỉ số nợ công là yếu tố quan trọng. Theo đó, nợ công cần được chính phủ kiểm soát, bảo đảm ngưỡng an toàn để ổn định, phát triển kinh tế.

Các chỉ số đánh giá mức độ an toàn nợ công bao gồm:

+ Chỉ số nợ nước ngoài/GDP mặc dù vẫn nằm trong giới hạn an toàn (với mức tin cậy là 95%) thì khi nợ nước ngoài tăng thêm đồng nghĩa mức tăng trưởng GDP sẽ bị sụt giảm. Vấn đề cần phải chú ý là ngưỡng nợ công so với GDP nhằm đánh giá đúng sức chịu đựng của một nền kinh tế. Khi Nhà nước vay nợ để đầu tư phát triển, có nghĩa là, khu vực đầu tư nước ngoài sẽ có đóng góp vào quy mô GDP hằng năm và do đó, nên thận trọng trong việc đưa ra ngưỡng an toàn và phải có sự kết hợp chặt chẽ với kiểm soát chỉ tiêu nợ Chính phủ/GDP.

+ Chỉ số nợ Chính phủ/GDP trong các hạng mục đầu tư công, đầu tư từ ngân sách nhà nước luôn chiếm tỷ trọng cao, dẫn đến nợ Chính phủ/GDP luôn khá cao (bắt đầu từ năm 2015, tỷ lệ nợ Chính phủ/GDP luôn trên 50% GDP). Và mặc dù được đánh giá là thấp hơn “ngưỡng” nợ Chính phủ/GDP quy định nhưng vẫn phản ánh quy mô nợ Chính phủ quá lớn và tốc độ tăng nhanh.

+ Nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ/thu ngân sách: tại Việt Nam, các áp lực trả nợ gia tăng nhanh từ sau năm 2012. Đối chiếu với quy định thì ngưỡng an toàn của chỉ tiêu này không được tuân thủ từ sau năm 2013 (luôn vượt ngưỡng 25%). Và khi một quốc gia bị thâm hụt ngân sách sẽ trở thành nước nhập khẩu ròng hàng hóa, dịch vụ và xuất khẩu ròng tài sản, kết quả là lượng tài sản trong nước được người nước ngoài nắm giữ sẽ ngày càng nhiều hơn 2. Thâm hụt ngân sách sẽ tác động đến khu vực tư nhân, khiến giảm lượng cung vốn ở khu vực tư nhân, tạo nguy cơ tăng lãi suất nội tệ. Nếu lãi suất nội tệ tăng sẽ thu hút dòng vốn quốc tế chảy vào, dẫn tới áp lực tăng giá nội tệ. Nhưng khi đồng nội tệ lên giá lại gây trở ngại cho hoạt động xuất khẩu trong nước.

Cũng cần thấy rằng, cán cân thương mại của Việt Nam những năm gần đây chủ yếu đo lường các hoạt động xuất, nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI với trọng số chiếm xấp xỉ 75%. Vì vậy, các hoạt động chi tiêu công của Chính phủ tác động không rõ ràng tới tình trạng của cán cân thương mại trong nước do các doanh nghiệp FDI hoạt động có tính chất độc lập tương đối. Đây chính là lý do giải thích tại sao thâm hụt ngân sách mang tính chất thường trực tại Việt Nam, nhưng cán cân vãng lai vẫn có sự cải thiện theo chiều hướng tích cực.

– Về năng suất lao động xã hội.

Báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho thấy, mặc dù tăng trưởng năng suất lao động đã phục hồi và tăng nhanh trong những năm gần đây, nhưng năng suất lao động của Việt Nam vẫn còn ở mức thấp so với nhiều nước ASEAN do quy mô nền kinh tế nhỏ, xuất phát điểm thấp, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực nhưng còn chậm. Do đó, để tăng trưởng GDP theo hướng tăng năng suất lao động tuy là thách thức lớn, nhưng là cần thiết để tạo ra tăng trưởng cao, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Đặc biệt, trong bối cảnh tự do hóa thương mại và Cách mạng công nghiệp 4.0 ngày càng phát triển, vừa là cơ hội để các nước phát triển kinh tế, nhưng cũng có thể đưa đến nguy cơ làm cho một quốc gia dễ “bị bỏ lại xa hơn” các quốc gia trên thế giới nếu không có định hướng phát triển đúng và giải pháp hiệu quả. Do đó, để thúc đẩy tăng trưởng, cần phải quan tâm đến việc cải thiện năng suất lao động 3.

– Về quản lý và sử dụng tài nguyên: công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên tại Việt Nam còn nhiều yếu kém, sử dụng chưa hiệu quả, nhất là tài nguyên đất đai, tài nguyên nước, một số loại tài nguyên bị lạm dụng, khai thác quá mức dẫn đến suy thoái, cạn kiệt. Ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục gia tăng, nhất là tại các khu đô thị, thành phố lớn, ảnh hưởng lớn tới đời sống, sinh hoạt của người dân, trở thành vấn đề bức xúc của xã hội.

Bên cạnh đó, vẫn còn tình trạng thu hút đầu tư thiếu chọn lọc, không cân nhắc, xem xét các yếu tố, tiêu chí về môi trường. Việc triển khai nghiên cứu và ứng dụng khoa học – công nghệ gắn với yêu cầu ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường còn chậm. Công tác thanh tra, kiểm tra thực thi pháp luật về tài nguyên, bảo vệ môi trường chưa đáp ứng yêu cầu4.

Bên cạnh khai khoáng, công tác quản lý, sử dụng đất đai cũng còn nhiều yếu kém, gây thiệt hại không nhỏ cho nền kinh tế. Chính sách nhà đầu tư chiến lược tạo bất bình đẳng trong tiếp cận đất đai, tài nguyên, làm cho việc xác định giá quyền sử dụng đất không được tính đúng, tính đủ. Sự ưu tiên cho nhà đầu tư chiến lược, làm cho quyền sử dụng đất không được định giá theo thị trường, gây thất thu cho ngân sách nhà nước.

Mặt khác, các tập đoàn kinh tế lớn không chỉ hưởng lợi chủ yếu do cơ chế phân bổ nguồn lực bất bình đẳng mà còn chỉ tập trung vào khai thác, kinh doanh bất động sản, không phát triển bằng sản xuất – kinh doanh. Về nguyên lý, phát triển ngân sách bền vững là ngân sách dựa vào doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh chứ không phải khai thác tài nguyên để bán.

– Về quản lý đầu tư: vấn đề của Việt Nam hiện nay là cải thiện chất lượng và hiệu quả đầu tư nói chung, trong đó có đầu tư của ngân sách nhà nước. Điều đáng lưu ý là tình trạng thất thoát lãng phí trong đầu tư công vẫn phức tạp. Một số quá trình phân bổ vốn đầu tư chưa thực hiện đúng các quy định như: phân bổ vốn cho dự án không đáp ứng các nguyên tắc, tiêu chí và phân bổ vốn còn dàn trải, thời gian phân bổ kéo dài so với quy định.

Tình trạng nợ đọng trong xây dựng cơ bản còn chưa được xử lý triệt để. Nhiều dự án dở dang hoặc thời gian thi công kéo dài, chậm tiến độ, tăng tổng mức đầu tư gây lãng phí và thất thoát nguồn lực. Trong khi hệ thống thông tin theo dõi, giám sát các dự án đầu tư công tồn tại nhiều hạn chế. Một số bộ, ngành, địa phương chưa thực hiện nghiêm túc, đầy đủ chế độ báo cáo theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, quản trị doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam vẫn còn khoảng cách khá xa so với thông lệ quốc tế. Điều đó cũng tạo ra những bất cập trong điều hành quản lý và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.

– Chính sách thị trường: Nhà nước đã có những quy định về mở rộng, phát triển thị trường, nhưng thị trường đầu ra cho các sản phẩm sản xuất trong nước vẫn không ổn định. Tình trạng được mùa mất giá, thậm chí không bán được khá phổ biến và diễn ra nhiều năm liên tục. Thực tế, chính sách thị trường còn yếu kém, lệ thuộc nhiều vào một số thị trường, gây ảnh hưởng đến sản xuất – kinh doanh trong nước, như vấn đề nông sản và sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Thiếu các nhà máy chế biến để nâng cao giá trị nông sản. Sản phẩm sản xuất ra có tính cạnh tranh thấp, khó tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế nhanh và bền vững

Một là, cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, làm rõ những vấn đề lý thuyết kinh tế để cắt nghĩa rõ ràng và chỉ dẫn cụ thể cho quá trình quản lý kinh tế. Áp dụng các hình thức đo lường GDP thông qua tính toán đầy đủ lợi ích, chi phí, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo. Xây dựng và thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh. Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Đẩy mạnh áp dụng rộng rãi sản xuất sạch hơn để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên quốc gia. Quá trình phát triển kinh tế phải kết hợp giữa quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực.

Phát triển bền vững các vùng và địa phương cần tập trung ưu tiên phát triển trước các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời chú ý tới vùng kém phát triển và có điều kiện khó khăn hơn nhằm tạo ra sự phát triển cân đối.

Hai là, nâng cao chất lượng tăng trưởng, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là các chính sách tài chính, tiền tệ. Đồng thời, tiếp tục duy trì các chính sách tăng cường thu hút FDI để ngăn chặn tác động tiêu cực từ hiệu ứng “thâm hụt kép” gây ra cho nền kinh tế do cân đối ngân sách chưa có chiều hướng cải thiện tích cực.

Ba là, thiết lập môi trường đầu tư kinh doanh cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, chọn lọc các nhân tố tốt cho nền kinh tế với những nhà đầu tư, kinh doanh hiệu quả, sa thải những tổ chức kinh doanh yếu kém. Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư công năm 2014 để tăng cường cơ chế, chính sách quản lý đầu tư công trong cơ chế thị trường, làm rõ mục tiêu và các nguyên tắc quản lý đầu tư công, phân cấp quản lý trong đầu tư công, chính sách công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý đầu tư công, đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội trong đầu tư công… Chính sách đầu tư công cũng cần phải khắc phục những vướng mắc trong quá trình triển khai Luật Đầu tư công, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và tháo gỡ những khó khăn cho các bộ, ngành và địa phương…

Tổ chức thực thi chính sách phải bảo đảm công bằng trong tiếp cận các nguồn lực và phát triển, tạo động lực sản xuất – kinh doanh. Tăng cường sự tham gia giám sát của người dân vào quản lý tài nguyên, môi trường và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Trong một nền kinh tế mà thị trường còn non trẻ, với nhiều quan hệ kinh tế mới phát sinh bên cạnh những chính sách lạc hậu, bất cập, cần rà soát xóa bỏ những rào cản gia nhập thị trường, bổ sung các chính sách hỗ trợ những ngành công nghiệp non trẻ. Tháo gỡ vướng mắc, khuyến khích đầu tư, nhất là đầu tư hạ tầng kinh tế – xã hội và phát triển sản xuất – kinh doanh, giảm chi phí, nâng cao năng suất lao động, chất lượng các sản phẩm. Thông qua chính sách thuế và các đòn bẩy kinh tế, khuyến khích xuất khẩu, giảm nhập siêu, bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa thiết yếu phục vụ sản xuất và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, tiếp tục các chính sách tạo việc làm, giảm nghèo.

Để có nguồn thu ngân sách nhà nước bền vững và một nền kinh tế có vốn đầu tư mạnh, không lệ thuộc, cần tập trung vào phát triển khu vực tư nhân, đặc biệt cần ưu tiên , tạo điều kiện tốt cho các doanh nghiệp tư nhân bản địa. Chính sách nên chuyển từ ưu tiên các doanh nghiệp là công ty đa quốc gia sang các doanh nghiệp nhỏ và vừa bản địa. Cho phép khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng lớn hơn trong sản lượng quốc gia và các doanh nghiệp này cần trở thành lực lượng đóng vai trò lớn trong quá trình sản xuất. Bên cạnh đó, phát triển và hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa nội địa mở rộng thị trường quốc tế.

Năm là, nghiên cứu, đánh giá và có chính sách cụ thể cho phát triển nguồn nhân lực xã hội. Tổ chức đào tạo, nâng cao năng lực nghề nghiệp, văn hóa tổ chức, tác phong và kỷ luật lao động cho người lao động. Đồng thời, phải chú trọng đến phát triển thể chất và tinh thần cho người dân trong xã hội, xây dựng lại chính sách lương, thưởng và chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần, tạo động lực cho con người, tác động tích cực cho sự phát triển kinh tế, xã hội ổn định, lâu dài.

Sáu là, đầu tư cho phát triển khoa học – công nghệ trong nghiên cứu, hợp tác nghiên cứu các lĩnh vực ngành nghề trong nội hàm của “nền kinh tế xanh”, như: sử dụng năng lượng tái tạo, công nghệ sản xuất tiết kiệm tài nguyên, tiêu hao ít năng lượng; định hướng lại đầu tư, hướng tới mức đầu tư khoảng 2% tổng chi ngân sách hằng năm cho khôi phục hệ sinh thái và bảo vệ môi trường. Dành nguồn lực để đầu tư phát triển mạnh doanh nghiệp khoa học – công nghệ, đổi mới cơ chế quản lý khoa học và tranh thủ khai thác, ứng dụng công nghệ từ các quốc gia phát triển…

Tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạch định chính sách và tạo dựng “nền kinh tế xanh” ở Việt Nam, huy động các nguồn lực hỗ trợ của quốc tế, nhất là nguồn vốn đầu tư 2% GDP toàn cầu cho phát triển “kinh tế xanh”. Chú ý thiết lập các cơ chế tài chính cho phát triển rừng, biển… Tạo căn cứ pháp lý và điều kiện thuận lợi để Việt Nam cam kết và tham gia tích cực vào các hoạt động của các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, xây dựng nền sản xuất cacbon thấp, kiểm soát khí thải, bảo vệ tầng ô-zôn, đa dạng sinh học trên phạm vi khu vực và toàn cầu.

1. 80 Khu Công nghiệp Việt Nam vi phạm môi trường. https://tuoitre.vn, ngày 20/11/2016. 2. Kiểm soát chặt chẽ nợ công. http://dangcongsan.vn, ngày 30/9/2019. 3. Năng suất lao động Việt Nam thua Singapore, Malaysia, Thailan. https//vietnamnet.vn, ngày 06/8/2019. 4. Kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. http://nhandan.com.vn, ngày 29/8/2019.

Bạn đang xem bài viết Làm Gì Để Phát Triển Năng Lượng Bền Vững Tại Việt Nam? trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!