Xem Nhiều 1/2023 #️ Lạm Phát Năm 2022 Cơ Bản Nằm Trong Tầm Kiểm Soát Của Chính Phủ # Top 3 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Lạm Phát Năm 2022 Cơ Bản Nằm Trong Tầm Kiểm Soát Của Chính Phủ # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Lạm Phát Năm 2022 Cơ Bản Nằm Trong Tầm Kiểm Soát Của Chính Phủ mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Toàn cảnh Hội thảo. ẢNh Thuỳ Linh.

Diễn biến CPI 6 tháng nằm trong kịch bản thấp

Theo báo cáo của Cục Quản lý giá, Bộ Tài chính, mặt bằng giá cả thị trường nửa đầu năm 2019 biến động theo hướng tương đối cao trong tháng diễn ra Tết Nguyên đán, giảm nhẹ trong tháng 3, tăng dần trở lại trong hai tháng tiếp theo và giảm trở lại vào tháng 6.

Thống kê của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy, CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2019 so với cùng kì năm 2018 tăng 2,64%. Như vậy, diễn biến chỉ số giá tiêu dùng trong 6 tháng đầu năm tương đối sát với dự báo từ đầu năm và nằm trong kịch bản CPI thấp.

Theo phân tích của TS. Nguyễn Ngọc Tuyến, Học viện Tài chính, lương thực, thực phẩm; nhà ở và vật liệu xây dựng; giao thông… là các nhóm sản phẩm, dịch vụ có biến động gía lớn nhất, tác động tới tăng chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2019.

“6 tháng đầu năm, ngoài biến động lớn của giá lương thực, thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán và tác động ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi thì yếu tố tác động lớn tới chỉ số giá tiêu dùng chính là giá điện và giá xăng dầu. Theo đó, gía xăng dầu thế giới biến động khá phức tạp và nhà nước đã điều chỉnh giá xăng dầu nhiều lần. Giá điện tăng 8,6% trong tháng 5 đã làm cho giá nhà ở và vật liệu xây dựng tăng mạnh với mức tăng 1,28% so với tháng 4 và nhóm sản phẩm, dịch vụ bình quân 6 tháng đã tăng 2,7%. Điều này cũng góp phần làm tăng chỉ số giá tiêu dùng bình quân trong 6 tháng”, ông Nguyễn Ngọc Tuyến phân tích.

Theo TS. Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế – Tài chính, lạm phát trung bình 6 tháng đầu năm ở mức thấp bất chấp các đợt tăng sốc giá điện và xăng dầu vào tháng 3 và tháng 4. Thậm chí, lạm phát so với cùng kỳ năm trước của tháng 6 còn giảm xuống mức 2,61%.

Theo ông Nguyễn Đức Độ, có nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát thấp như hiện nay. Thứ nhất, lạm phát cơ bản mặc dù có xu hướng tăng nhẹ nhưng vẫn thấp hơn mức 2%. Đây là xu hướng chủ đạo đã diễn ra trong nhiều năm gần đây. Thứ hai, giá xăng dầu sau khi tăng hồi đầu năm đã giảm trong các tháng 5 và tháng 6. Thứ ba, tỷ giá được Ngân hàng Nhà nước điều hành ổn định, chỉ tăng 1% trong 6 tháng đầu năm 2019.

Tại Hội nghị, nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng 6 tháng đầu năm 2019 kinh tế nước ta đứng trước những thách thức không nhỏ từ kinh tế thế giới và những khó khăn trong nước. Tuy nhiên, với quyết tâm của Chính phủ trong việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, sự chủ động điều hành giá các mặt hàng thiết yếu, cộng với nguồn cung đáp ứng nhu cầu là những yếu tố góp phần làm cho chỉ số giá tiêu dùng thấp.

CPI bình quân năm 2019 sẽ trong mức khoảng 3,3-3,9%

Nhận định về diễn biến giá cả 6 tháng cuối năm, Cục Quản lý giá cho rằng, công tác điều hành giá, kiểm soát lạm phát trong các tháng còn lại năm 2019 đặt trong bối cảnh kinh tế thế giới đang có xu hướng chững lại, cùng với đó, căng thẳng về tình hình chính trị thế giới vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt tác động làm gía nhiều loại nguyên, nhiên liệu như xăng dầu có biến động phức tạp, khó dự báo.

“Căn cứ về cập nhật diễn biến CPI 6 tháng đầu năm cơ bản diễn biến theo kịch bản đã đề ra và ở mức thấp, với các dự báo về các yếu tố tác động đến CPI 6 tháng cuối năm, dự báo CPI bình quân năm 2019 sẽ trong mức khoảng 3,3-3,9%. Như vậy có thể đánh giá việc thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2019 cơ bản vẫn nằm trong tầm kiểm soát của Chính phủ nếu không có các diễn biến quá bất thường từ tinh hình kinh tế – chính trị và thị trường thế giới”, Cục Quản lý giá nhận định.

Chuyên gia Ngô Trí Long cũng cho rằng, thời gian tới, các yếu tố có thể ảnh hưởng tới chỉ số giá tiêu dùng đó là giá thực phẩm trong nước vẫn dự báo cao. Hơn nữa, trong tháng 7, Nhà nước sẽ thực hiện tăng lương (thêm 6,92%) trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng trước đó đối với 8 đối tượng. Trong tháng 9, thời điểm vào năm học mới sẽ có những yếu tố tác động đến chỉ số giá tiêu dùng.

Đáng chú ý, theo dự báo giá xăng dầu thế giới trong thời gian tới diễn biến phức tạp và có xu hướng tăng nhẹ. Tuy nhiên, ông Ngô Trí Long cũng cho rằng, vừa qua giá xăng dầu sau nhiều kỳ liên tiếp giảm giá đã góp phần bình ổn giá cả thị trường, kéo giảm lạm phát nên trong những tháng còn lại gía xăng dầu sẽ không còn là “mối đe doạ” đối với chỉ số giá tiêu dùng.

Để đảm bảo mục tiêu kiểm soát CPI bình quân năm 2019, hỗ trợ cho tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, từ nay đến cuối năm, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục chủ động phối hợp với các Bộ ngành, địa phương tập trung triển khai nghiêm túc các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ – Trưởng ban Chỉ đạo điều hành gía.

Chuyên gia Ngô Trí Long cũng kiến nghị, Chính phủ cần kiên trì triển khai những nhóm giải pháp lớn nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và tăng trưởng. Trong đó tiếp tục chính sách tiền tệ, tài khoá linh hoạt, chủ động để kiểm soát lạm phát. Ngoài ra cũng cần tăng tốc độ giải ngân vốn đầu tư công, giải quyết kịp thời vướng mắc tại các dự án.

“Để giữ mức CPI bình quân năm 2019 dưới 4%, các bộ ngành cần tiếp tục rà soát để đẩy nhanh thực hiện giảm giá các mặt hàng có khả năng giảm giá. Đối với các mặt hàng giá thị trường có xu hướng tăng trong thời gian tới đây như lương thưc, thịt lợn… cần chủ động rà soát, cân đối cung cầu, sử dụng hợp lý quỹ bình ổn giá để bình ổn thị trường”, chuyên gia Ngô Trí Long kiến nghị.

Đặc biệt, đối với giá xăng dầu, vị chuyên gia này cho rằng, Bộ Công thương phải chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính điều hành giá, sử dụng hợp lý quỹ bình ổn với liều lượng thích hợp, chủ động có kịch bản ứng phó nếu giá tăng cao, để tạo dư địa lợi nhuận cho việc kiểm soát mặt bằng giá cả năm.

Cách Nào Kiểm Soát Lạm Phát Năm 2022?

Cách nào kiểm soát lạm phát năm 2020?

Tổng cục Thống kê vừa công bố, lạm phát cơ bản bình quân 2 tháng đầu năm 2020 tăng 3,1% so với bình quân cùng kỳ năm 2019. Đây là mức tăng cao kỷ lục so với cùng kỳ của 3 năm qua. Đặc biệt, chỉ số giá tiêu dùng tháng 2 (CPI) đạt mức cao nhất trong vòng 7 năm trở lại đây.

Giá thịt lợn gây sức ép

Đánh giá về nguyên nhân khiến lạm phát tăng cao, bà Đỗ Thị Ngọc (Vụ Thống kê giá, Tổng cục Thống kê) cho biết, nguyên nhân chính đến từ việc giá thịt lợn giữ ở mức cao so với các năm trước. Cùng kỳ năm 2019, trung bình giá thịt lợn ở mức 100.000 đồng/kg nhưng năm nay lên tới 170.000 đồng/kg.

Trước đó, cú sốc giá thịt lợn tăng hơn 50% trong quý 4/2019 khiến triển vọng kiềm chế lạm phát dưới 4% trong năm 2020 không còn chắc chắn. Theo TS Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Kinh tế – Tài chính, lạm phát năm 2020 phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ giảm giá thịt lợn trong thời gian tới. Theo ông Độ, trường hợp xấu nhất, dịch tả lợn châu Phi chưa thể kết thúc trong nửa đầu năm 2020 và lạm phát so với cùng kỳ năm trước chỉ bắt đầu giảm từ giữa năm 2020. Điều này khiến việc kiểm soát lạm phát dưới 4% là tương đối khó khăn. Bởi lẽ, lạm phát cơ bản đã tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ các năm trước. (Lạm phát cơ bản là sự thay đổi trong chi phí của hàng hóa và dịch vụ nhưng không bao gồm những chi phí từ các ngành thực phẩm và năng lượng do giá của chúng thường xuyên biến động-PV).

Ngày 2/3, theo khảo sát của Tiền Phong tại các chợ dân sinh, chợ truyền thống của Hà Nội, giá thịt lợn vẫn neo giữ ở mức cao, từ 150.000 đồng – 180.000 đồng/kg (tùy từng loại thịt). Trong khi đó, giá thịt lợn hơi tại các tỉnh như Hưng Yên, Nam Định, Vĩnh Phúc, Phú Thọ có dấu hiệu tăng 2.000 – 4.000 đồng, lên mức giá 86.000 đồng/kg, cao hơn 1 tuần trước khoảng 10.000 đồng.

Bên cạnh tác động của giá thịt lợn, một nguyên nhân khác khiến CPI tăng cao là do dịch Covid-19 bùng phát từ cuối tháng 1/2020 làm nhóm thuốc các loại tăng 0,18%.

Cần điều hành linh hoạt các chính sách

Theo đánh giá của Bộ KH&ĐT, dịch Covid -19 có thể làm tăng giá thuốc y tế, giá điện sinh hoạt. Theo kịch bản 1, dịch bệnh được kiểm soát trong quý 1/2020, chỉ số CPI năm 2020 tăng 3,96% so năm 2019 và theo kịch bản thứ 2 tăng 4,86% (dịch Covid- 19 được kiểm soát trong quý 2/2020).

Để đạt mục tiêu lạm phát đã đề ra, ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Thống kê kiến nghị, Chính phủ cần theo dõi sát diễn biến giá cả và có các giải pháp về kiểm soát các dịch bệnh để ổn định nguồn cung thực phẩm, hạn chế tăng giá các mặt hàng này. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành giữ ổn định lãi suất và tỷ giá, giữ mức lạm phát cơ bản trong khoảng 2 – 2,5%. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền và kiểm soát thông tin mạng để hạn chế thông tin không đúng gây nên lạm phát kỳ vọng.

Theo chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long, chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2020 chịu nhiều áp lực hiện hữu từ tác động của dịch tả lợn châu Phi, dịch Covid -19. Các bộ, ngành và địa phương chưa chủ động kiểm soát, phối hợp chặt chẽ với nhau trong điều hành giá cả các mặt hàng.

Tại cuộc họp vừa diễn ra cuối tháng 2/2020, Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia khẳng định, tiếp tục thực hiện nhất quán mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, tạo nền tảng cho phát triển bền vững.

Tổng Cục Thống Kê: Năm 2022, Thành Công Trong Kiểm Soát Lạm Phát

BNEWS Năm 2016 được coi là thành công trong việc kiểm soát lạm phát trong điều kiện giá một số mặt hàng thiết yếu tăng trở lại …

Phát biểu tại cuộc họp báo công bố tình hình kinh tế – xã hội năm 2016 của Tổng cục Thống kê – Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức sáng 28/12, tại Hà Nội, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Bích Lâm nhấn mạnh, năm 2016 được coi là thành công trong việc kiểm soát lạm phát trong điều kiện giá một số mặt hàng thiết yếu tăng trở lại nhưng vẫn tạo điều kiện để điều chỉnh giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý tiệm cận dần theo giá thị trường.

Năm 2016 bình quân mỗi tháng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,4%; CPI bình quân năm 2016 so với năm 2015 tăng 2,66%; CPI tháng 12 năm 2016 tăng 4,74% so tháng 12 năm 2015, thấp hơn so với mục tiêu 5% của Quốc hội đặt ra.

Giải thích một số yếu tố gây tăng giá trong năm 2016, bà Đỗ Thị Ngọc, Phó Vụ trưởng, Vụ Thống kê giá cho biết, do điều hành của Chính phủ, giá dịch vụ y tế tăng theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính có hiệu lực từ ngày 1/3/2016, nên giá các mặt hàng dịch vụ y tế tăng 77,57% làm cho chỉ số CPI tháng 12/2016 tăng khoảng 2,7% so với tháng 12 năm trước.

Bên cạnh đó, thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ, cả nước có 53 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tăng học phí các cấp học làm cho chỉ số giá nhóm giáo dục tháng 12 năm 2016 tăng 12,5% so với tháng 12 năm trước. Điều này tác động tới chỉ số CPI năm 2016 tăng khoảng 0,58% so tháng 12 năm trước.

Mức lương tối thiểu vùng áp dụng cho người lao động ở các doanh nghiệp tăng từ ngày 1/1/2016 nên giá một số loại dịch vụ như: dịch vụ sửa chữa đồ dùng gia đình, dịch vụ bảo dưỡng nhà ở, dịch vụ điện, nước; dịch vụ thuê người giúp việc gia đình có mức tăng từ 1-2,5% so với năm trước.

Ngoài ra, trong năm, vào dịp Tết Nguyên đán, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, kỳ lễ 30/4-1/5 và 2/9 đều được nghỉ kéo dài nên nhu cầu mua sắm, vui chơi giải trí tăng cao, giá các mặt hàng lương thực, thực phẩm đều tăng.

Tổng cục Thống kê cũng cho biết, tính đến ngày 20/12/2016 giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh 12 đợt tăng.

Theo đó, giá xăng dầu trong quý II tăng 1,1%, quý III tăng 6,5% và quý IV tăng 5,69% so với quý trước.

Thời tiết khắc nghiệt, rét hại, rét đậm vào tháng 2 năm 2016 trên toàn miền Bắc, lũ lụt tại các tỉnh miền Trung vào tháng 10, tháng 11, tháng 12 năm 2016 đã ảnh hưởng đến giá rau xanh, rau tươi tăng từ 15-50%.

Trong tháng 4 và tháng 5, tác động của khô hạn ở miền Trung, Tây Nguyên và xâm nhập mặn tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đã đẩy giá lúa gạo trên thị trường tăng. Chỉ số giá nhóm lương thực tháng 12 năm 2016 tăng 2,57% so với tháng 12 năm trước…

Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố gây tăng giá, trong năm 2016 cũng có những yếu tố góp phần kiềm chế chỉ số CPI.

Đó là: chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống năm 2016 (nhóm chiếm tỷ trọng lớn nhất trong 11 nhóm hàng chính) chỉ tăng 2,36% so với năm trước, thấp hơn nhiều so với mức 4% của năm 2014 hay mức 8,12% của năm 2012.

Bên cạnh đó, giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới khá ổn định, một số mặt hàng có xu hướng giảm mạnh trong quý I và quý III như giá nhiên liệu, chất đốt, sắt thép nên chỉ số giá nhập khẩu năm 2016 so năm 2015 giảm 5,35%, chỉ số giá xuất khẩu giảm 1,83%; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp (PPI) giảm 0,49%.

Năm 2016, giá xăng dầu bình quân giảm 15,95% so với năm trước và giảm 3,35% so tháng 12 năm trước, kéo theo chỉ số giá nhóm hàng “giao thông” năm 2016 giảm 7,31% so với năm trước và giảm 1,12% so tháng 12 năm trước.

Giá gas sinh hoạt trong nước cũng được điều chỉnh theo giá gas thế giới, tháng 12 năm 2016 giá gas giảm 1,63% so với tháng 12 năm trước.

Theo đánh giá của Tổng cục Thống kê, lạm phát cơ bản (CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống; năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) tháng 12/2016 tăng 0,11% so với tháng trước, tăng 1,87% so với cùng kỳ; năm 2016 lạm phát cơ bản tăng 1,83% so với năm 2015.

Bình quân năm 2016 so với năm 2015, lạm phát chung có mức tăng cao hơn lạm phát cơ bản, điều này phản ánh biến động giá do yếu tố thị trường có mức tăng cao, đó là giá lương thực thực phẩm, giá xăng dầu và yếu tố điều hành giá cả qua việc điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế và giáo dục. Mức tăng của lạm phát cơ từ tháng 1 đến tháng 12 năm nay so cùng kỳ có biên độ dao động trong khoảng khá hẹp từ 1,64% đến 1,88%, điều này thể hiện chính sách tiền tệ đang được điều hành ổn định, giúp ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Bộ Tài chính tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, tổ chức các đoàn công tác liên ngành kiểm tra tình hình triển khai thực hiện quản lý bình ổn giá tại một số địa phương.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành lãi suất và tỷ giá linh hoạt phù hợp với tình hình kinh tế vĩ mô.

Với phương thức điều hành tỷ giá mới, năm 2016, tỷ giá VND/USD trên thị trường khá ổn định trong 11 tháng của năm, tuy nhiên tháng 12 do áp lực cuối năm cùng với các sự kiện chính trị thế giới và việc tăng lãi suất của Cục Dữ trữ Liên bang (FED) vào ngày 14/12/2016 làm cho tỷ giá VND/USD tháng 12 biến động mạnh nhưng vẫn nằm trong biên độ giao dịch cho phép. Giá vàng trong nước đã tiệm cận và biến động cùng xu hướng với giá vàng thế giới, không có tình trạng “sốt vàng” gây bất ổn kinh tế – xã hội.

Bên cạnh đó, xu hướng tiêu dùng của người dân trong dịp Tết Nguyên đán những năm gần đây thay đổi so với những năm trước, người dân không mua dồn dập hàng hóa vào những ngày giáp Tết, không mua tích trữ vì ngày mùng 1 Tết đã có chợ, do đó không tạo áp lực lên giá cả hàng hóa vào tháng Tết.

Để kiểm soát lạm phát năm 2017 với mục tiêu tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân khoảng 4%, Tổng cục trưởng Nguyễn Bích Lâm cho biết, Tổng cục Thống kê kiến nghị Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần chủ động và phối hợp chặt chẽ trong đánh giá tình hình giá cả, xây dựng các phương án điều hành giá (giá dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục, giá điện, giá nước sinh hoạt), lãi suất và tỷ giá để chủ động kiểm soát lạm phát.

Đối với hai mặt hàng xăng dầu và điện, Bộ Công Thương và Bộ Tài chính cần theo dõi sát diễn biến giá xăng dầu thế giới, sử dụng quỹ bình ổn giá xăng dầu phù hợp để hạn chế mức tăng giá mặt hàng này đến CPI chung.

Bộ Công Thương chủ động đưa ra các phương án tăng giá điện để tính toán các mức độ ảnh hưởng đến chỉ số CPI, chỉ số giá sản xuất và tăng trưởng GDP.

Bên cạnh đó, Tổng cục Thống kê đề nghị thực hiện các đợt điều chỉnh giá các mặt hàng dịch vụ y tế, giáo dục trùng với các thời điểm đã điều chỉnh trong năm 2016 để chỉ số bình quân năm hạn chế tăng cao; đề nghị thời gian thực hiện điều chỉnh giá các loại mặt hàng nhà nước quản lý tách ra các tháng khác nhau để giảm thiểu sự tác động lan tỏa lên chỉ số CPI, ông Nguyễn Bích Lâm nhấn mạnh./.

Thuận Lợi Và Thách Thức Trong Kiểm Soát Lạm Phát

Một số đặc điểm chính về lạm phát tại Việt Nam

Diễn biến lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2016 có thể được chia theo các thời kỳ chính như sau:

Giai đoạn từ 2000 đến 2003: Lạm phát tương đối thấp (dưới 4%), do tác động trễ của khủng hoảng tài chính châu Á (1997-1998), khiến cầu trong nước và thế giới sụt giảm mạnh, kéo theo giá cả sụt giảm.

Giai đoạn từ 2004 đến 2011: Lạm phát tăng vọt (từ 6,6% -19,9%), nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO (1/1/2007). Đặc biệt, lạm phát tăng cao kỷ lục vào năm 2008. Cụ thể: 7 tháng đầu năm 2008, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã vượt 25%; Tháng 7/2008, khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra khiến CPI âm vào 5 tháng cuối năm 2008, kéo CPI cả năm xuống ở mức 19,9%.

Cũng do khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008-2009, CPI năm 2009 đã giảm xuống còn 6,9%. Tuy nhiên, thời gian sau đó CPI đã tăng mạnh trở lại, đạt khoảng 11,8% (năm 2010) và 18,1% (năm 2011), sau khi Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới đồng loạt “tung” gói kích cầu nhằm phục hồi kinh tế sau khủng hoảng, đẩy giá trong nước và thế giới tăng cao.

Giai đoạn từ 2012 đến 2015: Lạm phát giảm mạnh sau khi Chính phủ thực hiện quyết liệt chính sách kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Điển hình như: Khởi đầu là Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011, tiếp sau đó các Nghị quyết 01/NQ-CP (ngày 3/1/2012), Nghị quyết 01/NQ-CP (ngày 7/1/2013), Nghị quyết 01/NQ-CP (ngày 2/1/2014) lần lượt ra đời.

Cùng với các chính sách kiềm chế lạm phát, Chính phủ còn đưa ra nhiều biện pháp đồng bộ và mạnh mẽ nhằm kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó chủ chốt là chính sách tiền tệ thắt chặt và tài khóa chặt chẽ. Nhờ đó, chỉ số CPI đã giảm mạnh từ 18,1% năm 2011 xuống 6,8% năm 2012; 6% năm 2013; 1,8% năm 2014 và 0,6% năm 2015.

Giai đoạn từ năm 2016 đến nay: Với việc kinh tế Việt Nam dần phục hồi, lạm phát đã có xu hướng tăng trở lại (CPI năm 2016 lên đến 4,74%).

Từ những phân tích trên, có thể rút ra một số đặc điểm chính của lạm phát ở Việt Nam như sau:

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế cao đi liền với lạm phát cao và các bất ổn vĩ mô khác. Đây là đặc điểm chung của nhiều nền kinh tế đang phát triển, song được thể hiện rất rõ ở Việt Nam. Nguyên nhân chính là do mô hình tăng trưởng theo chiều rộng của Việt Nam dựa trên lao động giá rẻ, song năng suất lao động thấp, xuất khẩu tài nguyên, nông lâm thủy sản là chủ yếu và còn dưới dạng thô; sản phẩm công nghiệp chủ yếu là gia công lắp ráp, sử dụng công nghệ lạc hậu vừa lãng phí nguyên nhiên liệu, vừa gây ô nhiễm môi trường.

Để thúc đẩy tăng trưởng, mô hình này dựa vào các chính sách tài khóa nới lỏng để mở rộng đầu tư (đặc biệt đầu tư công) và chính sách tiền tệ nới lỏng (tăng cung tiền và tăng tín dụng).

Xét trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2010 – giai đoạn có mức tăng trưởng GDP cao (bình quân 7,3% năm) cho thấy, đây là giai đoạn lạm phát cao (bình quân 10,9% năm). Nguyên nhân chủ yếu là Chính phủ hướng tới đạt tăng trưởng GDP cao, trong khi nền kinh tế kém hiệu quả và năng suất lao động thấp.

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội của giai đoạn này lên đến bình quân 42,2% GDP/năm và tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân lên đến 35,9%/năm, đây là mức rất cao xét trong khu vực và cả trên thế giới. Tổng mức tăng cung tiền M2 cả giai đoạn này là 210%, gấp hơn 4 lần tổng tăng trưởng GDP với 51,3%.

Đầu tư và tăng trưởng tín dụng cao, gây mất cân đối nghiêm trọng trong nhiều năm giữa lượng tiền tung ra (thể hiện qua tốc độ tăng M2) và hàng hóa sản xuất ra (biểu hiện qua tốc độ tăng trưởng GDP). Đây chính là những nguyên nhân chính gây ra lạm phát cao giai đoạn trên. Bên cạnh, các bất ổn vĩ mô bộc lộ rõ như: nhập siêu cao, tỷ giá biến động mạnh, dự trữ ngoại hối giảm, lãi suất tiết kiệm tăng vọt.

Thứ hai, lạm phát Việt Nam phụ thuộc ngày càng lớn vào lạm phát thế giới. Độ mở của nền kinh tế nước ta hiện thuộc nhóm cao nhất thế giới, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hiện đạt khoảng 180% GDP. Với độ mở nền kinh tế lớn, mọi biến động giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới phần lớn được chuyển vào Việt Nam thông qua nhập khẩu.

Thứ ba, những năm gần đây lạm phát bị tác động không nhỏ của việc tăng giá một số nhóm hàng theo lộ trình. Trước đây, giá dịch vụ y tế và giáo dục được duy trì ở mức rất thấp trong nhiều năm, do vậy ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ và nguồn vốn tái đầu tư cho các lĩnh vực này.

Năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị định 85/2012/NĐ-CP cho phép các cơ sở khám chữa bệnh tăng giá dịch vụ y tế. Cũng trong năm này, Chính phủ ban hành Nghị định 86/2012/NĐ-CP cho phép các cơ sở đào tạo tăng giá dịch vụ giáo dục… Mục tiêu là vừa để nâng cao chất lượng dịch vụ, vừa để các cơ sở tự trang trải chi phí nhằm giảm phụ thuộc vào ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, việc tăng giá điện theo lộ trình được thực hiện từ năm 2013 theo Quyết định 69/QĐ-TTg ngày 19/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ cũng là yếu tố tác động đến CPI. Việc điều hành giá điện cũng được chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường.

Thuận lợi và thách thức trong kiểm soát lạm phát năm 2017

Chỉ tiêu lạm phát Quốc hội đặt ra cho năm 2017 là dưới 4%. Trong quá trình thực hiện mục tiêu trên, nền kinh tế Việt Nam có nhiều thuận lợi sau:

Thứ nhất, lạm phát trong những năm gần đây được kiềm chế ở mức tương đối thấp. Trước sự quyết liệt của Chính phủ trong việc thực hiện các giải pháp kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, từ năm 2012 lạm phát bắt đầu giảm mạnh và từ năm 2014 đến nay, chỉ số CPI luôn ở dưới 5%.

Đặc biệt, lạm phát lõi, tức lạm phát đã loại trừ biến động giá của các nhóm hàng lương thực – thực phẩm và nhóm năng lượng ở mức khá thấp, dưới 2% (lạm phát lõi năm 2016 là 1,84%). Lạm phát thấp trong những năm gần đây là tiền đề thuận lợi đối với công tác quản lý, điều hành kiểm soát lạm phát năm 2017.

Thứ hai, kinh tế vĩ mô tương đối ổn định. Sau hàng chục năm liên tục nhập siêu, cán cân thương mại Việt Nam đã đảo chiều sang xuất siêu trong 3 năm liên tiếp từ năm 2012 đến năm 2014. Mặc dù, năm 2015 nhập siêu quay lại với mức 3,5 tỷ USD, song năm 2016 Việt Nam lại tiếp tục xuất siêu 2,7 tỷ USD. Xuất siêu đã tạo thuận lợi giúp tỷ giá ổn định, qua đó giảm áp lực lên lạm phát.

Dự trữ ngoại hối liên tục tăng và đạt mức kỷ lục 41 tỷ USD cuối năm 2016. Mức dự trữ ngoại hối cao đã góp phần giúp Ngân hàng Nhà nước ổn định tỷ giá. Thực tế, tỷ giá ngoại hối tương đối ổn định trong năm 2016, ngay cả trong bối cảnh đồng USD liên tục tăng giá mạnh.

Tỷ giá ổn định phần nào làm giảm áp lực lạm phát. Kinh tế vĩ mô ổn định cũng đã tạo điều kiện và dư địa để Chính phủ tiếp tục ban hành các chính sách kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý.

Thứ ba, nguồn cung hàng hóa trong nước, đặc biệt là về lương thực – thực phẩm, khá dồi dào, đảm bảo không xảy ra biến động lớn về giá. Giá lương thực – thực phẩm ổn định giúp kiềm chế lạm phát, nhất là trong điều kiện của Việt Nam khi nhóm hàng lương thực – thực phẩm hiện chiếm tỷ trọng lớn (gần 40%) trong rổ hàng hóa tính chỉ số CPI.

Những khó khăn và thách thức

Tuy có nhiều điều kiện thuận lợi, song để đạt được chỉ tiêu lạm phát năm 2017 dưới 4% là không mấy dễ dàng, bởi nền kinh tế nước ta vẫn đang phải đối diện với không ít khó khăn và thách thức.

Thứ nhất, mặc dù lạm phát từ năm 2014 đến nay luôn dưới 5%, song từ năm 2016 có xu hướng tăng mạnh (từ 1,84% năm 2014 và 0,63% năm 2015 lên 4,74% năm 2016). Nếu không có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ, lạm phát có thể sẽ quay trở lại.

Thứ hai, cùng với chỉ tiêu lạm phát năm 2017 dưới 4%, Quốc hội cũng đưa ra chỉ tiêu tăng trưởng GDP năm 2017 khá cao, là 6,7%. Trong điều kiện Việt Nam chưa chuyển đổi hoàn toàn mô hình tăng trưởng kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu, để đạt mức tăng trưởng đó, chính sách tiền tệ phải có sự điều chỉnh và nới lỏng nhất định để hỗ trợ tăng trưởng GDP.

Cụ thể, tăng trưởng tín dụng năm 2017 có thể lên đến 20%, cao nhất từ 2011 đến nay. Cung tiền M2 có thể đạt mức 20%. Tăng trưởng tín dụng và cung tiền khá cao sẽ tạo sức ép lên lạm phát, như đã từng xảy ra trong giai đoạn 2004-2010.

Thứ ba, giá điện, dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục năm 2017 tiếp tục tăng theo lộ trình sẽ đẩy chỉ số CPI tăng.

Thứ tư, bội chi ngân sách khá cao (trên 5%) và liên tục trong nhiều năm tạo sức ép rất lớn lên lạm phát.

Thứ năm, giá hàng hóa thế giới (đặc biệt là các hàng hóa đầu vào cho nền kinh tế Việt Nam), sau một thời gian khá dài tăng thấp, thậm chí giảm, được dự báo sẽ tăng trở lại năm 2017. Việt Nam hiện là nền kinh tế gia công xuất khẩu dựa trên nhập khẩu phần lớn nguyên phụ liệu, linh phụ kiện và máy móc thiết bị. Giá hàng hóa thế giới tăng được nhập khẩu vào Việt Nam cũng đã đẩy giá trong nước tăng theo…

Giải pháp kiểm soát lạm phát

Xét từ những đặc điểm của lạm phát ở Việt Nam cũng như các yếu tố thuận lợi và thách thức trong việc thực hiện mục tiêu kiềm chế CPI dưới 4%, bài viết xuất một số giải pháp để kiểm soát lạm phát năm 2017.

Thứ nhất, tiếp tục chính sách kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Để đảm bảo kiểm soát lạm phát dưới 4%, đồng thời phục hồi tăng trưởng kinh tế ở mức 6,7% trong năm 2017, cần tiếp tục thực hiện chính sách kiềm chế lạm phát và ổn đinh kinh tế vĩ mô được thực hiện từ năm 2011 đến nay. Đồng thời, kết hợp thực hiện các chính sách phục hồi tăng trưởng như: hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn, nới lỏng chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa (đầu tư công) ở mức độ nhất định.

Trong dài hạn, để đảm bảo kiểm soát lạm phát và duy trì kinh tế vĩ mô ổn định, đồng thời phục hồi tăng trưởng kinh tế, đặc biệt cần mạnh mẽ tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều rộng (dựa trên mở rộng đầu tư và tín dụng, sử dụng lao động giản đơn giá rẻ, khai thác tài nguyên, xuất khẩu nguyên liệu thô, gia công xuất khẩu) sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu (dựa trên trình độ công nghệ cao, năng suất lao động cao, nhân lực trình độ cao, kỹ năng quản trị hiện đại, xuất khẩu sản phẩm giá trị gia tăng cao).

Thứ ba, kiểm soát tốt cơ cấu và chất lượng tín dụng. Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2017 tương đối cao (khoảng 20%) để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng Nhà nước cần thực hiện các biện pháp giám sát chặt chẽ, nhằm đảm bảo tín dụng được đưa vào sản xuất – kinh doanh và tránh không đổ quá mức vào các lĩnh vực mang tính đầu cơ, tiềm ẩn nhiều rủi ro và dễ trở thành bong bóng, gây sức ép đẩy giá cả lên cao, như bất động sản và chứng khoán…

Bạn đang xem bài viết Lạm Phát Năm 2022 Cơ Bản Nằm Trong Tầm Kiểm Soát Của Chính Phủ trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!