Xem Nhiều 2/2023 #️ Làm Sao Để Doanh Nghiệp Phát Triển Thị Trường Một Cách Hiệu Quả # Top 3 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Làm Sao Để Doanh Nghiệp Phát Triển Thị Trường Một Cách Hiệu Quả # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Làm Sao Để Doanh Nghiệp Phát Triển Thị Trường Một Cách Hiệu Quả mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phát triển thị trường là gì?

Phát triển thị trường là một bước chiến lược được thực hiện bởi một công ty để phát triển thị trường hiện tại thay vì tìm kiếm một thị trường mới.  Công ty tìm kiếm những người mua mới để đưa sản phẩm tới một bộ phận người tiêu dùng khác nhằm nỗ lực tăng doanh số.

Phát triển thị trường là một quá trình gồm 2 bước để khai thác thị trường chưa được khai thác.

Phát triển thị trường là gì

Một khía cạnh khác là giá cả của sản phẩm. Nếu có các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, bạn có thể phải định giá sản phẩm phù hợp hoặc đưa ra một sản phẩm thuộc cùng phân khúc nhưng khác về tính năng, chất lượng, v.v. để ra giá cao hơn. Để chống lại sự cạnh tranh, đội ngũ tiếp thị có thể nhìn vào giá thâm nhập nơi bạn có thể định giá mạnh mẽ sản phẩm bên dưới sản phẩm của đối thủ để giành thị phần. Thách thức lớn mà các công ty phải đối mặt, muốn phát triển thị trường, đó là một vấn đề tốn kém. Nó đòi hỏi vốn đầu tư lớn để giữ cho dự án tiếp tục. Nếu khoản đầu tư vào phân khúc mới không mang lại kết quả như mong muốn, thì toàn bộ bài tập hóa ra là vô giá trị.

Hình thức phát triển thị trường

Quản lý kinh doanh bán hàng hiệu quả với phần mềm Nhanh.vn 

Đăng ký dùng thử trải nghiệm miễn phí

Giá cả thực hiện cấu trúc giá và chiến lược để nhắm mục tiêu một nhóm khách hàng. 

Ví dụ, một hãng hàng không cung cấp gói vé giảm giá từ tháng 5 đến tháng 6 cho các nhóm lớn hơn 18 người cho các tuyến nội địa nhất định.  Chiến lược giá này nhằm thu hút số lượng lớn các trường học đi học vào tháng 5 và tháng 6. 

Phân phối Phát triển các kênh phân phối mới để tiếp cận khách hàng mục tiêu nơi họ mua sắm bao gồm các địa điểm vật lý và kỹ thuật số.  Ví dụ, một thương hiệu kính râm muốn bán cho người trượt tuyết phát triển thỏa thuận phân phối với các cửa hàng ván trượt tuyết. 

Xây dựng thương hiệu Phát triển một thương hiệu mới cho các sản phẩm để tiếp cận thị trường mục tiêu.  Ví dụ, một nhà sản xuất vớ ấm tạo ra một thương hiệu để thu hút người trượt tuyết.  

Xây dựng thương hiệu của bạn hiệu quả

Bán hàng Phát triển một hệ thống khách hàng tiềm năng, cơ hội và báo giá để đóng doanh số với thị trường mục tiêu.  Ví dụ, một công ty phần mềm có truyền thống bán cho các công ty lớn bắt đầu nhắm mục tiêu vào các công ty cỡ trung bình. 

Phát triển sản phẩm Phát triển một sản phẩm mới cho thị trường mục tiêu.  Đây có thể là một sự thay đổi của một sản phẩm hiện có như vớ ấm được thiết kế với màu sắc và hoa văn mới để thu hút người trượt tuyết. 

Ngoài ra, nó có thể là một sáng kiến ​​chính giúp tái tạo mô hình kinh doanh hoặc dòng sản phẩm của bạn.  

Phần kết

Các Giải Pháp Cho Doanh Nghiệp Để Phát Triển Thị Trường

Trong hoạt động kinh doanh, mục tiêu cuối cùng mà doanh nghiệp mong muốn đạt được đó chính là doanh số, chính xác hơn là mục tiêu lợi nhuận. Và để đạt được doanh số như mong muốn, bạn cần làm nhiều thứ: Tiến hành nghiên cứu, phân tích khách hàng – thị trường; phân tích lợi thế cạnh tranh của đối thủ, xác định phân khúc thị trường, và cả xây dựng chiến lược marketing nữa,… Bên cạnh đó, một hoạt động khác, không thể thiếu để giải được bài toán doanh số, đó là phát triển thị trường. Vậy doanh nghiệp của bạn đã xây dựng giải pháp gì để phát triển thị trường?

1. Chính sách sản phẩm

Chính sách sản phẩm được coi là một trong bốn sản phẩm cơ bản của Marketing – Mix. Theo cách hiểu chung nhất, đây là phương thức kinh doanh có hiệu quả đảm bảo nhu cầu thị trường và thị hiếu của khách hàng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chiến lược sản phẩm giữ một vai trò hết sức quan trọng. Nó là nền tảng của chiến lược nghiên cứu thị trường chiến sản phẩm, là vũ khí sắc bén trong cạnh tranh trên thị trường. Dưới sự tác động của tiến bộ khoa học, nhiều loại sản phẩm mới đã ra đời và đáp ứng được nhiều yêu cầu của khách hàng. Nếu như trước đây sự cạnh tranh trên thị trường chủ yếu hướng vào giá cả, thì ngày nay đã hướng vào chất lượng sản phẩm nhiều hơn. Do vậy điều có ý nghĩa quyết định đẫn đến thành công của doanh nghiệp chính là sản phẩm. Chỉ khi hình thành được chiến lược sản phẩm, doanh nghiệp mới có phương hướng để đầu tư, nghiên cứu thiết kế, sản xuất hàng loạt. Nếu chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp yếu kém doanh nghiệp không có thị trường tiêu thụ sản phẩm thì những hoạt động nói trên rất mạo hiểm, có thể dẫn doanh nghiệp đến những thất bại. Nếu chiến lược sản phẩm thực hiện tốt, các chiến lược phân phối và cổ động mới có điều kiện phát triển một cách có hiệu quả. Chiến lược sản phẩm đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện được các mục tiêu của chiến lược nghiên cưú thị trường. Mục tiêu lợi nhuận số lượng hay chất lượng của sản phẩm, sự mở rộng hay thu hẹp chủng loại của nó, chi phí sản xuất và giá cả của mỗi loại sản phẩm đều là những yếu tố có mối liên hệ hữu cơ với nhau và sẽ quyết định mức lợi nhuận mà xí nghiệp có thể thu được. Mục tiêu mở rộng sức tiêu thụ của sản phẩm xí nghiệp có tăng được doanh số, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm hay không tuỳ thuộc vào khả năng thâm nhập thị trường mở rộng chủng loại sản phẩm của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có lôi kéo được khách hàng hay không tuỳ thuộc vào chất lượng, nhãn hiệu uy tín của sản phẩm của chính họ. Mục tiêu an toàn: chiến lược sản phẩm thực hiện đúng đắn sẽ đảm bảo cho các doanh nghiệp một sự tiêu thụ chắc chắn, tránh được những rủi ro tổn thất trong kinh doanh, đảm bảo được mục tiêu an toàn của sản phẩm.

2. Chính sách giá cả

Giá cả được sử dụng như một công cụ sắc bén để củng cố chế độ tài chính, kinh tế nhằm thu được lợi nhuận cao. Do vậy khi sản xuất bất kỳ loại sản phẩm nào yêu cầu đầu tiên đối với nhà sản xuất là xây dựng cho được chính sách giá cả sao cho phù hợp với mục tiêu chung của doanh nghiệp. Mục tiêu của chính sách giá cả gồm: Tăng khối lượng bán sản phẩm. Bảo đảm sự ổn định cho xí nghiệp, tránh được những phản ứng bất lợi từ phía đối thủ cạnh tranh. Chính sách giá cả được định hướng chủ yếu vào hai hướng: Định hướng vào xí nghiệp. Chính sách này chủ yếu dựa vào những nhân tố bên trong xí nghiệp. Định hướng vào thị trường. Chính sách này dựa vào quan hệ cung cầu, tiềm năng của thị trường để quyết định một mức giá thích hợp trong khoảng thời gian nào đó. Đồng thời nó dựa vào sự cạnh tranh trên thị trường để tìm hiểu các phản ứng của đối thủ cạnh tranh qua đó định giá bán sản phẩm theo từng thời kỳ thích hợp nhằm bảo đảm sự tồn tại của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh.

3. Chính sách phân phối

Là phương hướng thể hiện cách thức doanh nghiệp cung ứng sản phẩm dịch vụ của mình trên thị trường mục tiêu. Chính sách phân phối có vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào. Việc xây dựng một chính sách phân phối hợp lý sẽ tạo sự an toàn, tăng cường khả năng liên kết trong kinh doanh, giảm được sự cạnh tranh và làm cho quá trình lưu thông hàng hoá được nhanh chóng. Chiến lược phân phối góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy nhu cầu của người tiêu dùng. Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, trong chính sách phân phối để mở rộng và phát triển thị trường có thể sử dụng các kênh phân phôí trực tiếp hoặc gián tiếp. Kênh phân phối trực tiếp. Theo hình thức này, doanh nghiệp có quan hệ trực tiếp với khách hàng không thông qua khâu tiêu thụ trung gian. Thông qua hình thức này doanh nghiệp có điều kiện để thu nhập, nắm bắt thông tin từ khách hàng về giá cả, chủng loại, quy cách, mẫu mã bao bì. Phân phối trực tiếp cho phép các doanh nghiệp khai thác các hợp đồng và các đơn hàng cá biệt. Tuy nhiên, sử dụng kênh phân phối trực tiếp công ty phải quan hệ với nhiều ban hàng nên tốc độ tiêu thụ chậm, tốc độ chu chuyển vốn chậm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của công ty. Kênh tiêu thụ gián tiếp. Là hình thức doanh nghiệp bán sản phẩm tới khách hàng, thông qua các kênh trung gian. Khâu trung gian có thể là người bán buôn, bán lẻ, các đại lý. Để phát triển thị trường theo hình thức này doanh nghiệp có thể liên kết với các đối tượng sau để làm người tiêu thụ trung gian.

Liên kết với nhà sản xuất sản phẩm phụ.

Liên kết hợp đồng với các nhà phân phối độc lập.

Mở đại lý ở một số địa phương.

Sử dụng hình thức này sản phẩm của doanh nghiệp sẽ được tiêu thụ nhanh trong thời gian ngắn nhất, tiết kiệm được chi phí bảo quản và hao hụt, thu hồi vốn nhanh nhưng thời gian lưu thông dài, chi phí tiêu thụ tăng, công ty khó kiểm soát được các khâu trung gian.

4. Chính sách chiêu thị bán hàng

Điều quan tâm chủ yếu của nhà sản xuất là làm sao để khách hàng chú ý thật nhiều đến sản phẩm của mình và sản phẩm làm ra được tiêu thụ nhanh chóng. Người tiêu dùng thì lại mong muốn nhu cầu của mình được thoả mãn đầy đủ, song không phải hai tư tưởng này lúc nào cũng gặp nhau nhất là trong thời đại ngày nay. Nhu cầu và ý muốn mua hàng của người tiêu dùng diễn biến khá phức tạp đồng thời sản xuất hàng hoá trên thị trường cũng không ngừng đổi mới nhanh chóng và rất phong phú. Xuất phát từ việc giải quyết hai vấn đề trên đòi hỏi phải có sự trao đổi thông tin nhằm giới thiệu, cung cấp và truyền tin về một sản phẩm hàng hóa, đặc điểm và lợi ích của nó đối với người tiêu dùng nhằm kích thích lòng ham muốn của khách hàng. Với chính sách này, các công ty có thể áp dụng một số hình thức:

Tăng cường công tác xâm nhập thị trường thông qua tiếp thị chào hàng.

Tổ chức các hình thức tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với khách hàng như qua hội chợ, triển lãm, hội nghị khách hàng.

Sử dụng cửa hàng giới thiệu sản phẩm.

Sử dụng các dịch vụ sau bán hàng.

Có khá nhiều các giải pháp để phát triển thị trường và doanh nghiệp cần phải có sự cân nhắc khi lựa chọn để có thể áp dụng và mang đến hiệu quả cao nhất.

Giải Pháp Kinh Doanh Phát Triển Thị Trường Cho Doanh Nghiệp Sme

Doanh nghiệp cung cấp sản phẩm/dịch vụ đến người tiêu dùng, thực hiện thu lợi nhuận từ việc bán hàng. Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có mong muốn bán được nhiều hàng hóa hơn nữa, đáp ứng tối đa nhu cầu tiêu dùng của khách hàng, tạo ra nguồn lợi nhuận dồi dào cho doanh nghiệp. Để thực hiện mục tiêu, phải vận dụng mọi nỗ lực vốn có, thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hóa,… Tất cả những nỗ lực này người ta gọi là giải pháp kinh doanh phát triển thị trường.

Trên thực tế có rất nhiều giải pháp phát triển thị trường khác nhau như: xâm nhập thị trường mới, thâm nhập thị trường cũ; phát triển sản phẩm, kênh phân phối, các phương tiện xúc tiến thương mại,… nhằm gia tăng hơn nữa thị phần của hiện tại doanh nghiệp. Nhìn nhận vấn đề một cách tổng quát thì giải pháp kinh doanh ở trên chỉ là một khía cạnh nào đó. Người ta chủ yếu chia giải pháp thị trường theo 2 cách tiếp cận sau: tiếp cận thị trường theo chiều rộng và tiếp cận thị trường thị trường theo chiều sâu.

Giải pháp kinh doanh hiệu quả làm gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

Giải pháp kinh doanh phát triển thị trường theo chiều rộng

Thay vì cung ứng hàng hóa trên một lãnh thổ duy nhất, doanh nghiệp có thể tìm hiểu thêm các địa phương khác – nơi có nhu cầu về sản phẩm/dịch vụ của mình. Sau đó thực hiện chiến lược xâm nhập thị trường mới nhằm thúc đẩy quá trình tiêu thụ hàng hóa. Giải pháp phát triển thị trường theo chiều rộng đòi hỏi nguồn lực sản xuất nhất định, cách thức quản lý trên quy mô lớn, kỹ thuật nghiên cứu thị trường, Marketing sản phẩm/dịch vụ,… sao cho chinh phục số đông khách hàng tiềm năng ở các thị trường khác nhau.

Mở rộng phạm vi cung ứng sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệ

p là giải pháp kinh doanh hiệu quả

Giải pháp kinh doanh phát triển thị trường theo chiều sâu

Phát triển thị trường theo chiều sâu là gì?

Từ “sâu” ở đây ý chỉ xoáy sâu và nhấn mạnh. Điều này muốn nói giải pháp phát triển thị trường theo chiều sâu cần tập trung vào những gì doanh nghiệp đang có. 

Việc khách hàng tin tưởng, tái sử dụng sản phẩm/dịch vụ nhiều lần minh chứng cho khả năng chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp. Giải pháp phát triển thị trường theo chiều sâu có phần phức tạp hơn so với chiều rộng. Bởi lẽ khách hàng trên thị trường vốn đã quen thuộc với sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp. Làm sao để kích thích nhu cầu mua sắm của khách hàng trên chính những sản phẩm/dịch vụ đã có? Đây là cả thách thức đối với doanh nghiệp.

Cải thiện sản phẩm/dịch vụ để thỏa mãn hơn nữa khách hàng hiện tại là giải pháp kinh doanh tốt

Các giải pháp phát triển thị trường theo chiều sâu

Giải pháp phát triển thị trường theo chiều sâu là tổng hòa các nỗ lực, cách thức, biện pháp. Nhằm kích thích nhu cầu tái sử dụng sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp. Tạo ra lợi nhuận thông qua việc cung ứng sản phẩm/dịch vụ cho khách hàng. 

Giải pháp kinh doanh

phát triển thị trường theo chiều sâu bao gồm những nội dung sau:

Không ngừng cải tiến sản phẩm/dịch vụ trên các phương diện: mẫu mã, bao bì, chất lượng, công năng sử dụng,… nhằm mang đến cho khách hàng những trải nghiệm mới mẻ nhất. Việc cải tiến này được thực hiện trên nguyên tắc: cái mới tốt hơn cái cũ, gia tăng giá trị cốt lõi của sản phẩm/dịch vụ, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng, thể hiện lợi thế cạnh tranh một cách toàn  vẹn,… Có như vậy khách hàng mới tin tưởng và tiếp tục mua sắm sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp. Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả của giải pháp phát triển thị trường theo chiều sâu.

Phát triển hoạt động Marketing thương mại, nhằm cung ứng sản phẩm/dịch vụ theo đúng thị hiếu. Nhu cầu tiêu dùng của con người không phải là yếu tố bất biến, có thể thay đổi vào bất kỳ thời điểm nào. Doanh nghiệp cần có chiến lược “bám sát” thị trường, tìm hiểu xu hướng trong tiêu dùng sản phẩm.

Hoạt động Marketing thương mại không chỉ dừng lại ở việc thiết kế sản phẩm. Hay cải tiến chất lượng dịch vụ đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng. Mà nó còn là tổng hòa các yếu tố khác như giá cả, kênh phân phối, PR quảng bá hình ảnh,… 

Giải pháp kinh doanh phát triển thị trường để nâng cao lợi nhuận và danh tiếng cho doanh nghiệp

Đơn vị tư vấn giải pháp kinh doanh toàn diện

Lựa chọn giải pháp kinh doanh nào, phát triển thị trường theo chiều rộng hoặc chiều sâu phụ thuộc vào nguồn lực thực tế của doanh nghiệp, cũng như bối cảnh thị trường trong nước và thế giới. Nếu doanh nghiệp của bạn chưa có lời giải đáp, hãy đến với ABCOACH – chuyên gia tư vấn và huấn luyện doanh nghiệp toàn diện cho các doanh nghiệp. 

ABCOACH tư vấn cho doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc: đánh giá năng lực hiện tại, hành động căn cứ nguồn lực, nâng cao hiệu suất vận hành, đề xuất giải pháp kinh doanh toàn diện, phù hợp với xu hướng phát triển chung của quốc gia và thế giới. Nếu doanh nghiệp của bạn cần đến sự tư vấn giải pháp kinh doanh hữu hiệu. Hãy liên vệ với ABCOACH theo địa chỉ sau: 

Hotline: 0886 886 556

Mail: ask@abcoach.vn

Fanpage: ABCoach – Tư vấn và huấn luyện doanh nghiệp

Tổng Quan Về Phát Triển Thị Trường Trái Phiếu Doanh Nghiệp Việt Nam

Từ khóa: Thị trường trái phiếu, doanh nghiệp, Việt Nam.

1. Đặt vấn đề

Trong giai đoạn mới thành lập, thị trường trái phiếu Việt Nam phát triển khá khiêm tốn. Tới năm 2009, hệ thống giao dịch chuyên biệt của trái phiếu Chính phủ (TPCP) được đưa vào hoạt động tại ở Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), quy trình đấu thầu, thanh toán và bù trừ được thiết kế một cách đồng bộ và hệ thống. Năm 2013, HNX xây dựng đường cong lợi suất chuẩn của TPCP, là thước đo tham khảo quan trọng cho các hoạt động giao dịch trái phiếu.

Đồng thời, những biện pháp tích cực như: đầu tư cơ sở hạ tầng tin học, tái cấu trúc các đợt phát hành TPCP… đã khiến tốc độ tăng trưởng trung bình năm của thị trường trái phiếu Việt Nam giai đoạn 2011-2015 lên mức 31%/năm. Hiện nay, TPCP chiếm từ 85-87% thị trường trái phiếu, còn trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) chỉ chiếm từ 13-15% thị phần. Riêng năm 2018, thị trường TPDN có sự phát triển mạnh mẽ, khối lượng phát hành tại thị trường sơ cấp là 224.000 tỷ đồng, gấp 2 lần năm 2017 và cao hơn khối lượng phát hành của thị trường TPCP, tổng dư nợ TPDN đạt mức 474.500 tỷ đồng, tương đương 8,6% GDP (Biểu 1).

Do đó, việc thực hiện các nghiên cứu để đánh giá sự phát triển của thị trường TPDN ở Việt Nam là cần thiết để tạo tiền đề cho các chính sách nhằm phát triển một thị trường TPDN ổn định và bền vững.

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tổng quan được thực hiện trên cơ sở thu thập và phân tích số liệu thống kê về thị trường trái phiếu nói chung và thị trường TPDN nói riêng. Đối tượng nghiên cứu là các cấu phần của thị trường TPDN gồm: thực trạng các hoạt động chính trên thị trường, quy mô thị trường, hoạt động công bố thông tin, cơ cấu kỳ hạn và cấu trúc nhà đầu tư,… Từ đó, đánh giá thực trạng của thị trường nhằm đưa ra các hàm ý chính sách cho sự phát triển thị trường trong thời gian tới.

3. Kết quả tổng hợp thực trạng phát triển thị trường TPDN Việt Nam

3.1. Hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp

Hoạt động phát hành trên thị trường TPDN hiện nay tuân thủ theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Chứng khoán 2006 và Nghị định số 163/2018/NĐ-CP. Theo Nghị định số 163/2018, các công ty có thể lựa chọn chào bán trái phiếu theo một trong các hình thức sau: (i) Đấu thầu phát hành trái phiếu; (ii) Bảo lãnh phát hành trái phiếu; (iii) Đại lý phát hành trái phiếu; (iv) Bán trực tiếp cho nhà đầu tư. Hiện nay, hầu hết các đợt phát hành TPDN được thực hiện thông qua hình thức bảo lãnh phát hành, chủ yếu là phát hành riêng lẻ.

Hình thức bán trực tiếp tới các nhà đầu tư chỉ áp dụng cho các tổ chức tín dụng và các TCTD này đồng thời phải tuân thủ các quy định của NHNN áp dụng cho việc phát hành TPDN. Ngoài ra, bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào khi phát hành TPDN cũng phải báo cáo kế hoạch phát hành lên đơn vị/bộ chủ quản để xin phê duyệt. Bên cạnh đó, những công ty muốn phát hành trái phiếu quốc tế đều phải báo cáo NHNN vì SBV được Chính phủ giao trách nhiệm kiểm soát trần giới hạn vay nợ nước ngoài hàng năm của quốc gia.

Sự ra đời của Nghị định số 163/2018/NĐ-CP với những quy định gia tăng tính minh bạch về thông tin phát hành và sự tham gia tích cực của các định chế trung gian phân phối đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thị trường TPDN. Bên cạnh đó, các chính sách của NHNN nhằm phòng ngừa rủi ro tín dụng cũng khiến các doanh nghiệp chuyển từ kênh huy động tín dụng ngân hàng sang kênh phát hành trái phiếu. Sự gia tăng cả hai phía cung và cầu đối với TPDN giúp thị trường TPDN phát triển sôi động hơn bao giờ hết (Biểu 2).

Trong giai đoạn 2010-2015 quy mô phát hành của thị trường TPDN Việt Nam tương đối ổn định, với khối lượng phát hành TPDN trung bình hàng năm dao động trong khoảng 30.000 – 35.000 tỷ đồng, trong đó khoảng 99% TPDN phát hành theo hình thức riêng lẻ. Quy mô phát hành TPDN có sự tăng đột biến từ năm 2016, đạt mức gần 130.000 tỷ đồng (tăng 203% so với năm 2015). Đặc biệt, năm 2018 ghi nhận con số đạt mức kỷ lục là 224.000 tỷ đồng phát hành TPDN riêng lẻ (tăng 94,5% so với năm 2017) và chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2019, quy mô phát hành TPDN riêng lẻ đạt mức gần 130.000 tỷ đồng 1.

3.2. Các yêu cầu về công bố thông tin TPDN

Với mục tiêu minh bạch hóa thông tin, bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, đã có nhiều quy định về việc công bố thông tin đối với doanh nghiệp phát hành trái phiếu được ban hành. Cụ thể, doanh nghiệp phải xây dựng phương án phát hành và được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận, phê duyệt. Phương án xây dựng phải bao gồm các nội dung cơ bản như: Thông tin chung về doanh nghiệp; Mục đích phát hành và phương án sử dụng vốn; Thông tin về trái phiếu dự kiến phát hành; Phương thức phát hành; Kế hoạch và phương thức thanh toán;… Doanh nghiệp phát hành có trách nhiệm công bố thông tin trước và sau phát hành; công bố thông tin định kỳ, thông tin bất thường; công bố thông tin của doanh nghiệp về trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm theo chứng quyền, mua lại trái phiếu trước hạn, hoán đổi trái phiếu.

Hoạt động giao dịch trái phiếu doanh nghiệp

Tổng dư nợ của thị trường TPDN Việt Nam vẫn ở mức khá khiêm tốn so với các nước trong khu vực. Theo báo cáo của VCBS, khối lượng trái phiếu doanh nghiệp hiện hành tăng mạnh từ 5,27% năm 2016 và 6,19% GDP năm 2017 lên 7,86% GDP năm 2018. Trong 8 tháng đầu năm 2019, với quy mô thị trường tăng lên mức khoảng 10,2% GDP (Biểu 3).

Cơ cấu kỳ hạn phát hành của TPDN có một sự tập trung ở các kỳ hạn 3-5 năm và trên 5 năm. Hai kỳ hạn này chiếm tỷ trọng khá lớn, đặc biệt cho thấy nhu cầu của tổ chức phát hành về công cụ nợ kỳ hạn dài này (Bảng 1).

Trong giai đoạn này, các NHTM là nhà đầu tư lớn nhất trên thị trường, với tỷ lệ nắm giữ TPDN cao hơn 70%. Tiếp theo là công ty chứng khoán (15,21%), quỹ đầu tư (2,57%) và công ty bảo hiểm (0,8%). Khác với TPCP, TPDN được các NHTM xếp vào nhóm tín dụng và thị trường do vậy mang nhiều bản chất của thị trường tín dụng hơn là thị trường vốn.

Do cơ chế giao dịch thứ cấp thị trường TPDN còn thiếu và chưa minh bạch, Quỹ Bảo hiểm xã hội của Việt Nam với lượng vốn dồi dào chỉ được phép đầu tư vào TPCP (chiếm 85% tổng tài sản) 2 và chưa tham gia vào thị trường TPDN. Bên cạnh đó, mặc dù các văn bản hướng dẫn thành lập các quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện đã ra đời (Thông tư 115/2013, Thông tư 130/2015, Nghị định 88/2016 và Thông tư 86/2017), nhưng cho tới nay mới chỉ có 6 công ty bảo hiểm thành lập quỹ hưu trí tự nguyện, với tổng số vốn đầu tư vào TPDN rất khiêm tốn trong giai đoạn 2014-2017 (tỷ trọng đầu tư vào TPDN có bảo lãnh ở mức 1-2%, vào cổ phiếu và TPDN không có bảo lãnh dưới 5% tổng tài sản) 3. (Bảng 2).

Cơ sở hạ tầng của thị trường TPDN

Chất lượng cơ sở hạ tầng được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhằm phát triển thị trường TPDN hiệu quả và có tính thanh khoản cao. Hiện nay, thị trường TPDN Việt Nam đã có Hệ thống giao dịch thỏa thuận OTC; Hệ thống giao dịch tại Sở và Hệ thống thanh toán. Tuy nhiên, so với thông lệ quốc tế và thị trường TPCP trong nước, thị trường TPDN Việt Nam còn thiếu vắng hệ thống đăng ký phát hành/cấp phép phát hành trực tuyến; Hệ thống đấu thầu tiêu chuẩn; Hệ thống cấp mã ISIN trực tuyến; Hệ thống niêm yết thông tin TP; Hệ thống thông tin định giá TP; Hệ thống thông tin cấp quốc giá về TPDN.

4. Đánh giá và kết luận về phát triển thị trường TPDN Việt Nam

Nếu giai đoạn 2010-2015, thị trường TPDN Việt Nam chỉ đạt quy mô dưới 4%GDP thì từ 2016 tới nay, quy mô vốn hóa thị trường đã tăng dần và đạt mức 8,6% năm 2018. Tuy nhiên, con số này vẫn nhỏ hơn nhiều mức bình quân của khu vực Asean +3 là 21,7% GDP cho thấy tiềm năng phát triển của thị trường TPDN Việt Nam là rất lớn. Lý do là quy mô nền kinh tế Việt Nam so với khu vực Asean +3 khá tương đương và có nhiều tiềm năng tăng trưởng trong những năm tới.

Vì thế công cụ trái phiếu với khả năng đảm bảo an toàn đầu tư cao sẽ giúp nhà đầu tư có nhiều sự lựa chọn hơn. Mặt khác, do hệ thống ngân hàng trong nước đang chịu nhiều sức ép do hệ số nợ khó đòi cao, sự phát triển mạnh của thị trường TPDN sẽ tạo ra một kênh huy động vốn mới dài hạn, ổn định cho các công ty Việt Nam.

+ Sự vắng mặt của các tổ chức định mức tín nhiệm (ĐMTN) và các dịch vụ ĐMTN ở thị trường Việt Nam đã kìm hãm sự phát triển thị trường TPDN. Các đợt phát hành TPDN hiện nay vẫn mang bản chất của thị trường tín dụng hơn là thị trường đầu tư công cụ nợ; dẫn đến tình trạng thanh khoản không cao. Nghị định số 88/2014 do BTC ban hành là khung pháp lý đầu tiên cho việc thành lập các tổ chức ĐMTN ở Việt Nam, nhưng do thiếu cơ chế, chính sách khuyến khích nên cho tới nay vẫn chưa có tổ chức ĐMTN nào chính thức hoạt động ở Việt Nam. Bên cạnh đó, cả các công ty phát hành và các nhà đầu tư chưa có văn hóa trả phí cho việc dùng các thông tin, dịch vụ do các tổ chức ĐMTN cung cấp.

+ Sự thống trị tuyệt đối của các đợt phát hành riêng lẻ, cùng với thị trường giao dịch phi tập trung thiếu tính thanh khoản khiến tính minh bạch về thông tin TPDN còn kém. Gần 99% TPDN tại Việt Nam được phát hành theo hình thức riêng lẻ, cao hơn rất nhiều so với kinh nghiệm quốc tế (chiếm khoảng 12% tại Mỹ; 10% tại Đức, từ 0.4-15% tại Hàn Quốc). Theo Nghị định số 163/2018 các doanh nghiệp phát hành TPDN sẽ phải đáp ứng các yêu cầu chặt chẽ hơn về công bố thông tin trước và sau đợt phát hành. Tuy nhiên, các yêu cầu chuẩn hóa và chặt chẽ hơn về công bố thông tin thường áp dụng đối với các đợt phát hành ra công chúng. Bộ Tài chính hiện nay là cơ quan được báo cáo đầy đủ về hoạt động phát hành TPDN, tuy nhiên chưa có hệ thống hay cơ chế ủy quyền đại lý thông tin để cung cấp ra thị trường. Thiếu minh bạch thông tin trong các đợt phát hành TPDN sẽ khiến cho các nhà phát hành và nhà đầu tư tiềm năng lo ngại việc gia tăng chi phí và rủi ro.

+ Các sản phẩm của thị trường khá đơn giản, chưa đa dạng hóa và chưa đủ hấp dẫn với nhà đầu tư, chủ yếu tập trung vào phân mảng trung hạn, trả lãi coupon cố định hoặc thả nổi. Hiện chưa có sản phẩm trái phiếu gắn với chỉ số lạm phát; các trái phiếu kèm quyền mua/chứng quyền đã được phát hành nhưng chưa nhiều.

+ Các NHTM trong nước hiện vẫn là nhà đầu tư lớn nhất trên thị trường TPDN, trong khi các nhà đầu tư chuyên nghiệp dài hạn đóng vai trò khá khiêm tốn. Một đặc điểm chính của trung gian tài chính dựa trên hệ thống ngân hàng ở châu Á và ở Việt Nam là các ngân hàng thường là những người mua TPDN chính trong giai đoạn đầu của thị trường. Một mặt, với việc NHNN siết chặt các quy định đối với các NHTM trong nước nhằm quản lý rủi ro và áp dụng cơ chế quản lý vốn theo Basel II, các ngân hàng trong nước sẽ chịu sự kiểm soát chặt chẽ từ NHNN trong việc đầu tư vào TPDN, làm giảm cầu với TPDN. Mặt khác, để đáp ứng các tiêu chí yêu cầu về vốn của Basel II nhiều NHTM sẽ phải đẩy mạnh kế hoạch phát hành trái phiếu dài hạn để tái cơ cấu vốn. Vì vậy, họ sẽ đẩy mạnh nguồn cung trên thị trường này. Trong bối cảnh đó, việc tăng cường sự có mặt của các định chế đầu tư chuyên nghiệp là cần thiết để phát triển thị trường TPDN.

+ Việc tổ chức giao dịch đối với TPDN đang phân tán thành TPDN được niêm yết và trái phiếu giao dịch OTC. TPDN có thể được niêm yết trên các Sở tuy nhiên quy mô còn rất ít, hầu như không đáng kể. Hệ thống thanh toán cho TPDN hầu như chưa hình thành. Giao dịch TPDN trên thị trường OTC chủ yếu là giao dịch trực tiếp, TPDN không niêm yết do vậy các phương thức thanh toán chuẩn DVP chưa được áp dụng. Hệ thống mã ISIN quốc gia chưa áp dụng cho TPDN.

+ Các hệ thống công nghệ thông tin hỗ trợ cho sự hoạt động của thị trường TPDN còn thiếu. Chất lượng và sự đồng bộ của một hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh (hỗ trợ cho việc đăng ký cấp phép/trực tuyến; cấp mã ISIN cho các nhà phát hành trái phiếu; hệ thống định giá/yết giá TP trực tuyến; hệ thống thông tin TPDN tập trung…) là một trong những yếu tố cốt lõi cho sự phát triển thành công của thị trường này và để hỗ trợ cho cả hai bên nhà phát hành và nhà đầu tư tiềm năng.

+ Nhận thức còn hạn chế của các công ty phát hành trái phiếu, các định chế đầu tư, trung gian và các nhà đầu tư về tầm quan trọng của thị trường TPDN. Một trong những lý do dẫn tới việc công tác đào tạo, tuyên truyền về trái phiếu chưa được chú trọng nhiều là vì đây được coi là thị trường chủ yếu dành cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp và các định chế đầu tư, những người vốn được coi là có đủ năng lực hành nghề trên thị trường này. Do đó, các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức đào tạo hành nghề cần chú trọng công tác đào tạo nhà đầu tư về thị trường TPDN.

Bài viết là một phần của đề tài nghiên cứu cấp nhà nước “Luận cứ khoa học cho việc hình thành và phát triển thị trường mua bán nợ của doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng của Việt Nam”, thuộc Chương trình KX01/16-20.

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN: 1Tổng hợp số liệu từ báo cáo của Bộ Tài chính, VCBS và HNX năm 2018, 6 tháng đầu năm 2019. 2Báo cáo của Quỹ BHXH 2019. 3Bài “Thực trạng hoạt động của các quỹ hưu trí tự nguyện tại Việt Nam” – ThS. Trần Nguyễn Minh Hải, Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số 18/2019. TÀI LIỆU THAM KHẢO

Asian Development Bank (2012). ASEAN + 3 bond market guide Vietnam

Ayako Yamaguchi, Institute for International Monetary Affairs (IIMA) (2012). Domestic Bond Markets in the Asian region.

Hannah Levinger, Deutsche Bank (2014). What’s behind recent trends in Asian corporate bond markets?

Hiroshi Yoshikawa, Nomura Institute of Capital Markets Research (2016). The reforms and developments of Japan’s Corporate Bond market.

Hyun Suk, Korea Capital Market Institute (2014). ABMF and the standardization of the Asian Corporate Bond Market.

IOSCO Research Department. (2014) Corporate Bond Markets: A Global Perspective. Working paper Volume 1 April 2014.

IOSCO (2011). Development of the corporate bond markets in the emerging markets.

Satoshi Shimizu, Japan Research Institute (2008). Corporate bond markets of Korea, Malaysia and Thailand.

Yoshitomi, Masaru and Sayuri Shirai, Designing a Fiancial market structure in Post-crisis Asia – How to develop corporate bond markets. ADB Institute Working Paper 15 March 2001.

VCBS, Báo cáo thị trường TPDN 2018.

HNX, Đề án phát triển thị trường TPDN Việt Nam, 2016.

Nguyen Thi Thanh Huong, Nomura Journal of Asian Capital Markets 2016, “The overview of Vietnam securities market – 16 years of establishment and development”.

OVERVIEW ABOUT THE DEVELOPMENT OF CORPORATE BOND MARKET IN VIETNAMAssoc. Prof. PhD. NGUYEN THI MINH HUE

Lecturer, School of Banking – Finance, National Economics University

NGUYEN THI THANH HUONG

The Securities Research And Training Center State Securities Commission of Vietnam

ABSTRACT:

Vietnam’s corporate bond market has been progressing in the past two years. This has provided many opportunities for Vietnamese firms, but it has also raised challenges to Vietnam’s policy makers when the Vietnamese infrastructure has not met the requirement of the market development. Research on corporate bond market in Viet show the situation of critical issues of the market such as information publishment, market size, bond maturity, investor structure, ect. From there, the article reviews and provides policy implication for developing Vietnam’s corporate bond market.

Keywords: Bond market, business, Vietnam.

Bạn đang xem bài viết Làm Sao Để Doanh Nghiệp Phát Triển Thị Trường Một Cách Hiệu Quả trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!