Xem Nhiều 8/2022 # Luận Văn: Biện Pháp Điều Tra Theo Pháp Luật Tố Tụng Hình Sự, Hay # Top Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 8/2022 # Luận Văn: Biện Pháp Điều Tra Theo Pháp Luật Tố Tụng Hình Sự, Hay # Top Trend

Xem 6,138

Cập nhật thông tin chi tiết về Luận Văn: Biện Pháp Điều Tra Theo Pháp Luật Tố Tụng Hình Sự, Hay mới nhất ngày 10/08/2022 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 6,138 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Điều Tra Đặc Biệt Trong Vụ Án Hình Sự
  • Các Biện Pháp Điều Tra Trong Tố Tụng Hình Sự Luận Văn Ths. Luật
  • Khi Nào Được Dùng “biện Pháp Điều Tra Đặc Biệt”?
  • Bàn Về Hoạt Động Kiểm Sát Việc Áp Dụng Các Biện Pháp Điều Tra Tố Tụng Đặc Biệt
  • Bài 21: Để Biện Pháp Điều Tra Tố Tụng Đặc Biệt Phát Huy Tác Dụng Đấu Tranh Với Tội Phạm Tham Nhũng…
  • , DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Download luận văn thạc sĩ ngành luật với đề tài: Các biện pháp điều tra theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, cho các bạn làm luận văn tham khảo

    1. 1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGÔ XUÂN CHÍNH CÁC BIỆN PHÁP ĐIỀU TRA THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI, năm 2022
    2. 2. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGÔ XUÂN CHÍNH CÁC BIỆN PHÁP ĐIỀU TRA THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự Mã số: 60.38.01.04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC chúng tôi NGUYỄN THÁI PHÚC HÀ NỘI, năm 2022
    3. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác. Những kết luận khoa học của luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của tôi, chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác. Tác giả Ngô Xuân Chính
    4. 4. MỤC LỤC MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………………1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ …………………………………………………………7 1.1. Khái niệm, đặc điểm về biện pháp điều tra………………………………………….7 1.2. Các yêu cầu chung về áp dụng biện pháp điều tra ……………………………….19 1.3. Hệ thống các biện pháp điều tra……………………………………………………….21 Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CÁC BIỆN PHÁP ĐIỀU TRA VÀ KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI …………………………………………………………….. 36 2.1. Quy định về biện pháp điều tra trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam ….36 2.2. Biện pháp điều tra trong pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới ……………………………………………………………………………………. 48 Chương 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP ĐIỀU TRA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN……………………………………………………………………57 3.1. Thực trạng áp dụng các biện pháp điều tra trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội…………………………………………………………………………………57 3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp điều tra trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội………………………………………..68 KẾT LUẬN……………………………………………………………………………………………75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………….77
    5. 5. DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 3.1. Thống kê theo dõi số vụ, số bị can của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cầu Giấy …………………………………………………………………………60 Bảng 3.2. Thống kê số lượng vụ án có áp dụng các BPĐT của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cầu Giấy……………………………………………………..61
    6. 6. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ANTT : An ninh trật tự BPĐT : Biện pháp điều tra CAND : Công an nhân dân CQĐT : Cơ quan điều tra ĐTHS : Điều tra hình sự ĐTV : Điều tra viên KSV : Kiểm sát viên TTHS VAHS : : Tố tụng hình sự Vụ án hình sự
    7. 10. 4 pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng. Từ đó có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các BPĐT không chỉ đối với địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội mà còn có thể áp dụng với các địa bàn khác tương tự trên toàn quốc. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu – Mục đích nghiên cứu của đề tài + Làm rõ một số vấn đề lý luận về BPĐT hình sự. + Đánh giá thực trạng điều chỉnh hoạt động ĐTHS trong pháp luật TTHS Việt Nam. + Đánh giá thực tiễn áp dụng các BPĐT ở địa bàn quận Cầu Giấy và kiến nghị. – Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Để đạt được mục đích nêu trên, tác giả tập trung giải quyết một số nhiệm vụ sau: + Làm rõ bản chất của hoạt động ĐTHS từ đó làm rõ khái niệm về BPĐT hình sự, những đặc điểm của BPĐT hình sự, từ đó phân biệt với các hoạt động (hành vi) tố tụng khác, làm rõ tính hệ thống của BPĐT… + Làm rõ quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về các BPĐT hình sự, từ đó đánh giá quy định của pháp luật TTHS một số nước trên thế giới. + Làm rõ thực trạng áp dụng các BPĐT hình sự ở địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội từ đó đánh giá và kiến nghị. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu – Đối tượng nghiên cứu + Những vấn đề lý luận và quy định về các BPĐT theo pháp luật TTHS Việt Nam. Đề tài chỉ nghiên cứu về BPĐT hình sự ở góc độ khoa học TTHS, không nghiên cứu về chiến thuật, kỹ năng áp dụng dưới góc độ của các ngành khoa học khác. + Thực tiễn áp dụng các BPĐT trong điều tra VAHS trên địa bàn quận Cầu Giấy. + Những nguyên nhân làm phát sinh tồn tại và một số giải pháp loại trừ các nguyên nhân đó trong áp dụng các BPĐT khi tiến hành điều tra VAHS tại địa bàn quận Cầu Giấy. – Phạm vi nghiên cứu
    8. 13. 7 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1. Khái niệm, đặc điểm về biện pháp điều tra 1.1.1. Bản chất của hoạt động điều tra hình sự – Điều tra là hoạt động có mục đích khám phá sự thật khách quan phục vụ nhu cầu của con người. Hoạt động ĐTHS là hoạt động khám phá, phát hiện tội phạm. Hiện nay, trong khoa học pháp lý Việt Nam tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về hoạt động điều tra. Từ điển Luật học giải thích rằng, “Điều tra là công tác trong TTHS được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ” . Cách hiểu này chưa phân biệt được hoạt động điều tra với các hoạt động TTHS khác.
    9. 14. 8 Cách hiểu thứ ba coi hoạt động điều tra là hoạt động của CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa án nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án. So với hai cách nhìn nhận trên, cách nhìn nhận này đã nhìn nhận chủ thể của hoạt động điều tra rộng hơn. Tuy nhiên lại nhầm lẫn giữa các hoạt động của CQĐT với hoạt động điều tra, giữa chức năng của từng hoạt động điều tra với chức năng của các CQĐT và VKS. Về lý luận, ở Việt Nam hiện nay chưa có một khái niệm khoa học đáng tin cậy về “hoạt động điều tra”. Về mặt luật thực định, thuật ngữ hoạt động điều tra sử dụng không thống nhất trong các Bộ luật TTHS và chưa có điều luật nào giải thích hoặc định nghĩa về hoạt động điều tra, hoạt động điều tra được hiểu dưới nhiều các tên gọi khác nhau như hoạt động điều tra ban đầu, giai đoạn điều tra, BPĐT. Như vậy, khoa học pháp lý và thực tiễn hiện nay có những quan điểm khác nhau, chưa thống nhất nhận thức về hoạt động điều tra, vẫn còn có sự nhẫm lẫn giữa các khái niệm điều tra, thẩm quyền điều tra và hoạt động điều tra, giữa giai đoạn điều tra với hoạt động điều tra, BPĐT với các biện pháp tố tụng khác. Trong khoa học pháp lý Việt Nam hoạt động điều tra chưa được nghiên cứu sâu sắc, mà còn đang bỏ ngỏ với những cách hiểu, nhận thức khác nhau là không tránh khỏi. – Hoạt động điều tra là những hành vi tố tụng do những người tiến hành tố tụng cụ thể thực hiện. TTHS là tổng hợp các hành vi tố tụng do các chủ thể khác nhau thực hiện vì những mục đích khác nhau được luật TTHS quy định chặt chẽ về mặt hình thức, thủ tục tố tụng kèm theo khả năng cưỡng chế khi thực hiện. Theo mục đích tố tụng, hoạt động điều tra được thực hiện nhằm phát hiện, thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ phục vụ yêu cầu tố tụng là giải quyết đúng đắn VAHS. Pháp luật TTHS điều chỉnh chặt chẽ hoạt động điều tra từ khi ra quyết định tới khi thực hiện và phản ánh kết quả thực hiện thành chứng cứ để chứng minh.
    10. 15. 9 – Hoạt động điều tra mang bản chất của hoạt động nhận thức – hoạt động chứng minh. Hoạt động điều tra là tổng hợp những hành vi tố tụng làm rõ các sự kiện tình tiết của vụ án bằng cách tìm kiếm, phát hiện các thông tin về tội phạm, thu giữ, phản ánh các thông tin đó vào trong hồ sơ vụ án để làm phương tiện chứng minh. Bằng hoạt động điều tra mà chúng ta có thể từ sự kiện này chứng minh sự kiện khác. Từ thông tin ít ỏi có thể đi đế tri thức đầy đủ hơn về vụ án. Các hoạt động điều tra thường dựa vào phương pháp của hoạt động nhận thức: hỏi thông tin, quan sát và kết hợp cả hai. Trong hỏi cung, lấy lời khai, đối chất thì phương pháp nhận thức chủ đạo là hỏi. Trong khám xét, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra thì phương pháp chủ đạo là quan sát… Phần lớn các hoạt động điều tra về bản chất là các hành vi mà thông qua đó người tiến hành tố tụng tiến hành hoạt động điều tra tiếp nhận thông tin trực tiếp và ghi nhận, củng cố thông tin. Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu: “Hoạt động điều tra là các hành vi tố tụng do Bộ luật TTHS quy định có mục đích thu thập và kiểm tra chứng cứ do người tiến hành tố tụng thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ kèm theo khả năng áp dụng cưỡng chế nhà nước”. 1.1.2. Khái niệm biện pháp điều tra BPĐT hình sự được quy định trong pháp luật TTHS của nhiều nước trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng. Việc nhận thức thống nhất, đồng thời quy định và áp dụng đúng đắn các BPĐT hình sự là bảo đảm cần thiết cho việc thực hiện tốt các nhiệm vụ của TTHS để phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan, sai người vô tội. Trong lịch sử pháp luật TTHS Việt Nam, ngay từ sau khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đã xuất hiện các quy định về BPĐT. Tuy nhiên, trong các văn bản
    11. 16. 10 quy phạm pháp luật này không có quy phạm định nghĩa về khái niệm BPĐT. Bên cạnh đó, trong các Bộ luật TTHS của Việt Nam, BPĐT cũng như hoạt động điều tra được hiểu dưới nhiều các tên gọi khác nhau như hoạt động điều tra, hoạt động điều tra ban đầu, BPĐT, biện pháp tố tụng… thể hiện sự không thống nhất trong nhận thức về BPĐT. Xuất phát từ đặc điểm cơ sở pháp luật quy định nêu trên về BPĐT, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành khái niệm về BPĐT hình sự tồn tại những quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu. Có thể khái quát một số quan điểm chính về BPĐT như sau: Theo Từ điển Bách khoa CAND năm 2000 nêu khái niệm về BPĐT, xét hỏi: “BPĐT, xét hỏi là một trong những biện pháp công tác cơ bản của lực lượng CAND, được thực hiện theo quy định của pháp luật hình sự và TTHS nhằm xác định tội phạm, người có hành vi phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố, tìm nguyên nhân, kiến nghị các biện pháp phòng ngừa và mở rộng công tác trinh sát. Nội dung của BPĐT, xét hỏi bao gồm: khám nghiệm hiện trường, bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, hỏi cung bị can, đối chất, nhận dạng, lấy lời khai người làm chứng…” Từ điển Bách khoa CAND năm 2005 đã bổ sung, chỉnh lý khái niệm trên như sau: “BPĐT (BPĐT hình sự) là một hoạt động TTHS và là một trong những biện pháp công tác cơ bản của lực lượng CAND, được thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm khám phá và làm rõ tội phạm, đồng thời đáp ứng các yêu cầu phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Nội dung của BPĐT bao gồm: phát hiện, thu thập, củng cố, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ; lập hồ sơ vụ án hình sự để góp phần xử lý người phạm tội theo tinh thần đúng người, đúng tội, đúng đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; mở rộng công tác trinh sát; tìm nguyên nhân, điều kiện phạm tội và kiến nghị biện pháp phòng ngừa…” Dưới góc độ của Khoa học hình sự Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra khái niệm cụ thể về BPĐT hình sự: “BPĐT là hệ thống những thủ thuật có mối liên hệ với nhau do ĐTV và những người theo luật định tiến hành nhằm phát hiện,
    12. 18. 12 thu thập theo trình tự của TTHS những tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra và phòng ngừa tội phạm” . Cách hiểu này về BPĐT tuy đã nêu rõ BPĐT phải là những biện pháp đo BLTTHS quy định với chủ thể áp dụng là cơ quan tiến hành tố tụng nhưng cũng giống như hai khái niệm nêu trên, mục đích áp dụng chỉ nhằm thu thập tài liệu, chứng cứ mà chưa phát hiện, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, qua đó cũng nhận thức chứng cứ là cái luôn có sẵn mà cơ quan tiến hành tố tụng chỉ việc thu lượm về để sử dụng mà không cần kiểm tra, đánh giá. Quan điểm khác lại cho rằng: “BPĐT hình sự là biện pháp được quy định trong Bộ luật TTHS, do các chủ thể có thẩm quyền điều tra tiến hành, áp dụng theo trình tự, thủ tục do pháp luật TTHS quy định và dựa trên những căn cứ, điều kiện nhất định nhằm thu thập chứng cứ, xác định sự thật khách quan của VAHS hay vụ việc mang tính hình sự đã xảy ra, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm” . BPĐT đối chất được áp dụng khi: có mâu thuẫn trong lời khai giữa các đối tượng thuộc vấn đề cần giải quyết của vụ án; khi không còn biện pháp xác minh nào khác để giải quyết mâu thuẫn, làm rõ sự thật. Đối chất có các đặc trưng cơ bản: + Hỏi hai người cùng một lúc theo trình tự, thủ tục Luật TTHS quy định. + Hỏi hai người về cùng một vấn đề của vụ án mà giữa lời khai của họ còn tồn tại mâu thuẫn. Việc hỏi đồng thời hai người trong cùng một bối cảnh không gian và thời gian sẽ thiết lập những điều kiện để hai người được tri giác trực tiếp nội dung lời
    13. 36. 30 trường. Trong khoa học TTHS và Bộ luật TTHS của Liên Bang Nga đây là hai BPĐT hoàn toàn độc lập với nhau. Do dó, cần nhận thức đúng đắn bản chất của BPĐT này, tránh nhầm lẫn, làm giảm hiệu quả áp dụng và sai quy định của pháp luật TTHS. Cơ sở để tổ chức các hoạt động đó là lời khai của những người tham gia tố tụng như bị can, người bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng hay giả thuyết của ĐTV về hành vi, sự việc, hiện tượng cần kiểm tra, xác minh. Căn cứ vào lời khai của họ và các tài liệu đã thu thập được, CQĐT có thể xác định được loại thực nghiệm điều tra cần tổ chức, mục đích cụ thể cần đạt được cũng như các điều kiện cụ thể cần tái tạo để tiến hành hoạt động này. Tác dụng của BPĐT thực nghiệm điều tra: giúp CQĐT kiểm tra, xác minh lời khai của bị can, người bị tạm giữ, người làm chứng, người bị hại; giúp CQĐT kiểm tra các giả thuyết điều tra đã đặt ra; giúp CQĐT củng cố chứng cứ phục vụ yêu cầu điều tra; mở rộng công tác điều tra phòng chống tội phạm. – Trưng cầu giám định Trưng cầu giám định trong ĐTHS là BPĐT của cơ quan có thẩm quyền, được tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật TTHS quy định, sử dụng các nhà chuyên môn tiến hành giám định tư pháp để kết luận về các vấn đề chuyên môn nhằm thu thập, củng cố, kiểm tra, đánh giá, xác lập chứng cứ, phục vụ điều tra, xử lý VAHS [14, tr. 188]. Trưng cầu giám định có những hoạt động đặc trưng chủ yếu sau đây: xác định vấn đề chuyên môn cần làm rõ dưới dạng các câu hỏi; yêu cầu tổ chức hoặc người giám định tiến hành giám định tư pháp theo trình tự, thủ tục luật định; bảo đảm các điều kiện cần thiết cho việc giám định (như: điều kiện về thời gian, số lượng, chất lượng đối tượng giám định…) Trong thực tiễn điều tra VAHS, trưng cầu giám định chủ yếu gồm: trưng cầu giám định pháp y; trưng cầu giám định pháp y tâm thần; trung cầu giám định kỹ thuật hình sự; trưng cầu giám định kế toán, tài chính; trưng cầu giám định văn hóa…
    14. 43. 37 động của những tổ chức chính trị, phản động trong nước;… điều tra khám phá để bài trừ trộm cắp, gian phi, mại dâm, rượu, thuốc phiện, theo dõi khám phá những hành động cổ hại đến trị an của xã hội….”. Đây là văn kiện rất quan trọng, xác định thống nhất về tổ chức và nhiệm vụ điều tra tội phạm của ngành Công an trong thời kỳ mổi, đáp ứng yêu cầu của Cách mạng. * Đánh giá về các QPPL về ĐTHS giai đoạn từ 1945-1953 cho thấy: + Số lượng QPPL chuyên ngành về ĐTHS tuy chưa nhiều nhưng các quy phạm cơ bản về hoạt động điều tra, BPĐT đã hình thành và được quy định trong các văn bản pháp luật chung về lĩnh vực bảo vệ ANTT. + Các văn bản chỉ đạo trong tiến hành TTHS nói chung và ĐTHS nói riêng có tính chất chính trị – pháp lý, tuy nhiên lại có tác dụng rất lớn, rất thiết thực trong việc chuẩn bị cho sự hình thành và phát triển hệ thống các quy phạm pháp luật chuyên ngành ĐTHS sau này. – Giai đoạn 1953 – 1975. Thực hiện chỉ thị số 05/CT-TƯ, ngày 16/02/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 141/SL, đổi Nha Công an Việt Nam thành Thứ Bộ Công an, Sắc lệnh này quy định tổ chức bộ máy của Thứ Bộ Công an, trong đó nổi bật là việc thành lập cơ quan Chấp pháp ở ngành Công an là một bước chuyển đổi cơ bản về tổ chức và hoạt động điều tra tư pháp ở nước ta. Năm 1955, Bộ Công an tách bộ phận quản lý trại cải tạo ra khỏi lực lượng chấp pháp; theo đó, chuyển Vụ Chấp pháp (Phòng xét hỏi) trở thành Phòng Chấp pháp thuộc Vụ bảo vệ chính trị, có nhiệm vụ: theo dõi tình hình bắt, giam giữ, hỏi cung, xét xử ở các điạ phương; theo dõi nghiên cứu những vụ án lớn ở địa phương, hướng dẫn xử lý; xét hỏi các vụ án của các phòng trinh sát đã hoàn thành để xử lý; làm báo cáo tuần, tháng, năm về bắt, giữ, hỏi cung, xét xử.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Điều Tra Tố Tụng Đặc Biệt
  • Cách Xử Lý Chống Thấm Bể Nước Ngầm? Quy Trình Chống Thấm Bể Nước
  • Chống Thấm Bể Nước Uổng, Bể Nước Ngầm
  • Giải Pháp Chống Thấm Bể Nước Ngầm
  • Thi Công Chống Thấm Bể Nước
  • Bạn đang xem bài viết Luận Văn: Biện Pháp Điều Tra Theo Pháp Luật Tố Tụng Hình Sự, Hay trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100