Xem Nhiều 5/2022 # Luận Văn, Cải Cách Hành Chính Cấp Xã, Tài Liệu Hot, Hay # Top Trend

Xem 27,027

Cập nhật thông tin chi tiết về Luận Văn, Cải Cách Hành Chính Cấp Xã, Tài Liệu Hot, Hay mới nhất ngày 28/05/2022 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 27,027 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Cải Cách Thủ Tục Hành Chính, Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh
  • Cải Cách Hành Chính Góp Phần Nâng Cao Chất Lượng Y Tế
  • Cải Cách Hành Chính Trong Ngành Y Tế: Nhiều Kết Quả Tích Cực
  • Các Giải Pháp Để Các Bệnh Viện Công Lập Phát Triển Đúng Hướng Khi Đã Chuyển Đổi Sang Cơ Chế Tự Chủ
  • Bệnh Viện Đk Tỉnh: Đẩy Mạnh Cchc, Nâng Cao Chất Lượng Phục Vụ Người Bệnh
  • Published on

    Luận văn chọn đề tài: Cải cách hành chính cấp xã từ

    thực tiễn huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai để làm luận văn thạc sỹ Luật học

    1. 1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI HÀ VIẾT THẮNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHƢ SÊ, TỈNH GIA LAI Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số : 60.38.01.02 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. NGUYỄN MINH MẪN HÀ NỘI, năm 2022
    2. 2. LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành được luận văn này, trước tiên tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, các khoa, phòng, cơ sở học viện tại Đà Nẵng và quý thầy, cô trong Học viện Khoa học xã hội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức mới về chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Thầy giáo chúng tôi Nguyễn Minh Mẫn, Hội đồng giáo sư Nhà nước và Pháp luật – người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình để giúp tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này. Tôi xin chân thành biết ơn. Đà Nẵng, tháng 07 năm 2022 Hà Viết Thắng
    3. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của cá nhân tôi. Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả luận văn Hà Viết Thắng
    4. 4. MỤC LỤC MỞ ĐẦU………………………………………………………………………………………………………….1 CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH……..7 1.1. Nhận thức chung về cải cách hành chính ………………………………………………………..7 1.2. Các yếu tố tác động và các điều kiện bảo đảm cải cách hành chính………………….14 1.3. Kinh nghiệm cải cách hành chính của một số địa phương và bài học kinh nghiệm ……………………………………………………………………………………………………………18 CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƢ SÊ, TỈNH GIA LAI………………………………………………….28 2.1. Khái quát chung về cấp xã trên địa bàn huyện Chư sê, tỉnh Gia Lai …………………28 2.2. Kết quả thực hiện cải cách hành chính cấp xã trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai ……………………………………………………………………………………………………………34 2.3. Đánh giá chung về cải cách hành chính cấp xã trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai ……………………………………………………………………………………………………………55 CHƢƠNG 3. MỤC TIÊU, ĐỊNH HƢỚNG, GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHƢ SÊ, TỈNH GIA LAI…………………………………………………………………………………………………………64 3.1. Mục tiêu, định hướng cải cách hành chính cấp xã từ thực tiễn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai……………………………………………………………………………………………………..64 3.2. Một số giải pháp đẩy mạnh cải cách hành chính cấp xã từ thực tiễn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai………………………………………………………………………………………………..67 3.3. Một số kiến nghị………………………………………………………………………………………..74 KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………………………79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
    5. 5. DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT BCHTW Ban Chấp hành Trung ương CBCC Cán bộ, công chức CNH – HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CCHC Cải cách hành chính CNTT Công nghệ thông tin CNXH Chủ nghĩa xã hội HC – SN Hành chính – Sự nghiệp HCNN Hành chính nhà nước HĐND Hội đồng nhân dân NĐ Nghị định NQ Nghị quyết QLNN Quản lý nhà nước QĐ Quyết định TTg Thủ tướng TƯ Trung ương UBND Ủy ban nhân dân UBTVQH Ủy ban Thường vụ Quốc hội XHCN Xã hội chủ nghĩa
    6. 6. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong tiến trình đổi mới đất nước hiện nay, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề cải cách hành chính Nhà nước, coi đó là nhiệm vụ trọng tâm của việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước. Trong những năm qua cải cách hành chính ở nước ta đã đạt nhiều kết quả quan trọng trong các nội dung như cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tài chính công. Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới cải cách hành chính vẫn còn một số hạn chế,vướng mắc như: hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, chồng chéo; chế tài chưa cụ thể, chưa kịp thời; thủ tục hành chính còn rườm rà, thiếu công khai minh bạch; bộ máy hành chính nhà nước cồng kềnh, chức năng, nhiệm vụ chồng chéo; trình độ năng lực của bộ phận cán bô, công chức còn hạn chế, ý thức trách nhiệm, tinh thần phục vụ chưa cao; cơ sở vật chất còn thiếu, thiết bị công nghệ thông tin còn chưa đảm bảo Qua 10 năm triển khai thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 đã thu được nhiều kết quả tích cực. Nhận thức của các cấp, các ngành thấy rõ yêu cầu của cải cách hành chính nhà nước được nâng lên, cải cách hành chính nhà nước là một quá trình khó khăn, phức tạp đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ, lien tục và có quyết tâm thực hiện trong cả hệ thống chính trị. Kết quả cải cách hành chính nhà nước trên tất cả các nội dung: Cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công; hiện đại hóa nền hành chính đã góp phần tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội, ổn định chính trị và trật tự xã hộ, cải cách hành chính được xem như động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế, phát huy dân chủ và duy trì hoạt động của bộ máy hành pháp. Quán triệt đường lối của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30c/NQ- CP của Chính phủ ngày 08/11/2011, về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, trong đó đã xác định nhiệm vụ “Trọng tâm cải cách hành chính trong giai đoạn 10 năm tới là: Cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng cải cách hành chính sách tiền lương
    7. 7. 2 nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công” Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách hành chính, trong những năm qua, chính quyền từ cơ sở cấp xã đến huyện của tỉnh Gia Lai nói chung và nói riêng đã có nhiều nổ lực trong chỉ đạo triển khai, tổ chức thực hiện cải cách hành chính nhà nước ở cơ sở địa phương và đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, so với yêu cầu của công cuộc đổi mới và nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn hiện nay thì cải cách hành chính trên địa bàn vẫn chưa đáp ứng nhu cầu, nhiệm vụ. Bởi vậy, khảo sát đánh giá thực trạng cải cách hành chính cấp xã trên địa bàn huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai, từ đó đề xuất các giải pháp có tính khả thi, phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế của địa phương nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả cải cách hành chính cấp xã trên địa bàn huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Các xã trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai có vị trí đặt biệt quan trọng trong hệ thống các cấp chính quyền ở nước ta. hoạt động của chính quyền cấp xã, thị trấn bao quát các lĩnh vực chính trị kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn và hướng tới thực hiện nhiệm vụ bảo đảm cho các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước vào cuộc sống, tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật hành chính cấp xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh Gia Lai gồm 14 xã, 01thị trấn, được đặt trên địa bàn tỉnh Gia lai là nơi thực hiện cải cách hành chính, Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn nói trên điều nằm trong diện phải thực hiện cải cách hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết, việc cải cách này xuất phát yêu cầu thực tiễn về phát triển, quản lý của tỉnh Gia Lai. Là học viên ngành Luật Hiến pháp – Luật Hành Chính, hiện đang công tác ở trên địa bàn cấp xã của huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai, có nhiều trăn trở về công tác cải cách hành chính ở địa phương, nên tôi đã chọn đề tài: “Cải cách hành chính cấp xã từ thực tiễn huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai” để làm luận văn thạc sỹ Luật học. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Trong đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị, cải cách hành chính luôn được coi là vấn đề trọng tâm. Do vậy, vấn đề này đã và đang thu hút được đông đảo các cơ
    8. 9. 4 Các bài viết trên tạp chí của các nhà khoa học, quản lý như: Dương Quang Tung (2011), Tiếp tục điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ – khâu then chốt của cải cách bộ máy hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 8/2011; Hoàng Quang Đạt (2011), Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 6/2011; Nguyễn Văn Thâm (2011), Cải cách hành chính và những kinh nghiệm về bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp cơ sở, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 9/2011; Trần Văn Tuấn (2008, 2010), Đẩy mạnh hơn nữa cải cách hành chính để hội nhập và phát triển, Cải cách thủ tục hành chính và cơ chế một cửa một cửa liên thông, Tạp chí Cộng sản 8/2008, 3/2010; Đỗ Quốc Sam (2007,2008), Chương trình cải cách hành chính: Thực trạng và vấn đề đặt ra, Lại bàn về cải cách hành chính, Tạp chí Cộng sản 2/2007, 4/2008; Đinh Duy Hòa (2007), Đẩy mạnh cải cách hành chính nâng cao hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, Tạp chí Cộng sản 4/2007 v.v…….. Nhìn chung, các công trình, bài viết trên chỉ mới tập trung nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của cải cách hành chính trên phạm vi cả nước, chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá về thực trạng và đề xuất giải pháp đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước ở cấp xã trên địa bàn huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai nói riêng. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3.1. Mục đích nghiên cứu Luận văn tập trung nguyên cứu những vấn đề lý luận về cải cách hành chính và khảo sát, đánh giá thực trạng cải cách hành chính cấp xã ở huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai, từ đó đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh cải cách hành chính góp phần xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn có 3 nhiệm vụ cơ bản sau: – Hệ thống một số vấn đề cơ sở lý luận về cải cách hành chính để làm rõ mục tiêu, nội dung, hình thức và phương pháp cải cách hành chính trong điều kiện của Việt Nam, của tỉnh Gia Lai nói chung và các xã trên địa bàn huyện Chư Sê nói riêng. – Khảo sát, đánh giá, phân tích thực trạng cải cách hành chính cấp xã từ thực
    9. 12. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH 1.1. Nhận thức chung về cải cách hành chính 1.1.1. Khái niệm về cải cách hành chính Từ nhiều năm nay, cải cách hành chính đã là một vấn đề mang tính tương đối phổ cập của xã hội Việt Nam. Người dân, tổ chức cảm nhận được kết quả, tác động của cải cách hành chính một cách trực tiếp nhất khi có việc phải tiếp xúc, giải quyết công việc với các cơ quan hành chính nhà nước. Cải cách hành chính là một khái niệm đã được nhiều học giả, các nhà nghiên cứu hành chính trên thế giới đưa ra, dựa trên các điều kiện về chế độ, kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, cũng như phụ thuộc vào quan điểm và mục tiêu nghiên cứu, do đó hầu hết các định nghĩa này là khác nhau: Theo từ điển Pháp luật và hành chính do Giáo sư Đoàn Trọng Truyển chủ biên thì ” Nền hành chính nhà nước là tổng thể các tổ chức và quy chế hoạt động của bộ máy hành pháp có trách nhiệm quản lý công việc hang ngày của Nhà nước do các cơ quan có tư cách pháp nhân công quyền tiến hành bằng những văn bản dưới luật để giữ gìn trật tự công, bảo vệ quyền lợi công và phục vụ nhu cầu hằng ngày của công dân” . Quán triệt quan điểm đẩy mạnh cải cách hành chính và trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011- 2022, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 8/11/2011 của Chính phủ đã xác định vai trò của cải cách hành chính là: – Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước. – Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong việc tuân thủ thủ tục hành chính. – Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương tới cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng cường tính dân chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính phủ và của các cơ quan hành chính nhà nước. – Bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước. – Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước.
    10. 16. 11 Từ thực tiễn gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng có thể khẳng định rằng cải cách hành chính nhà nước luôn là một chủ trương nhất quán, thể hiện tầm nhìn của Đảng trong lãnh đạo tổ chức và hoạt động của nhà nước, thông qua các biện pháp cụ thể ở từng giai đoạn phát triển của đất nước để cải cách, đổi mới nền hành chính nhà nước phù hợp với yêu cầu của quá trình phát triển. Việt Nam đang trong quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiện nay Việt Nam đã trở thành thành viên của khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) từ tháng 7/1995, thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO tháng 11/2006 và hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là yêu cầu mới, khó khăn trong quản lý kinh tế xã hội, nếu bản thân nhà nước không đổi mới tổ chức và hoạt động, nâng cao hiệu quả quản lý thì không thể hoàn thành nhiệm vụ trên. Do đó yêu cầu tất yếu phải đổi mới, phải cải cách hành chính nhà nước để phù hợp với xu thế phát triển mới của xã hội hiện nay. Nước ta phải tiếp tục cải cách hành chính vì 10 năm qua thực hiện CCHC vẫn còn nhiều hạn chế bất cập đó là: Nhiều cấp, nhiều ngành chưa đặt đúng cải cách hành chính nhà nước là một trong ba giải pháp cơ bản thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, giai đoạn 2001-2010, 2010-2020. Tốc độ cải cách còn chậm, chưa nhất quán, hiệu quả còn thấp so với mục tiêu đặt ra là “Xây dựng được một nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại”. Nhìn một cách tổng thể, những kết quả đạt được trong cải cách hành chính nhà nước những năm qua còn chưa tương xứng với yêu cầu, quy mô đổi mới toàn diện theo tinh thần Nghị quyết của Đảng và mục tiêu chung mà chương trình tổng thể đề ra; kết quả đạt được chưa thiết thực, chưa bền vững. Hệ thống thể chế còn thiếu đồng bộ, thống nhất, còn chồng chéo, tăng về số lượng nhưng chất lượng còn hạn chế. Có sự giảm đầu mối trực thuộc Chính phủ, nhưng bộ máy bên trong các bộ còn chưa giảm. Công tác kiểm tra, sắp xếp, sau phân cấp còn buông lỏng. Chưa xây dựng cơ cấu cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước và chưa thực hiện tốt việc đào tạo trước khi bổ nhiệm; cơ chế quy định trách nhiệm
    11. 17. 12 của người đứng đầu chưa rõ ràng và chưa đánh giá được chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức sau đào tạo; công tác cải cách tiền lương triển khai còn chậm, tiền lương chưa thực sự là động lực thúc đẩy cán bộ, công chức thực thi công vụ. Cải cách tài chính công thực hiện mới chỉ là bước đầu, kết quả đạt được còn hạn chế. Các thể chế về cải cách tài chính công chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời cho phù hợp với thực tế. Việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước theo Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg ngày 20 tháng 6 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ, kết quả đạt được nhưng vẫn còn hạn chế. Việc hiện đại hoá công sở chưa đồng bộ, dẫn tới manh mún, phân tán. Kết quả đầu tư xây dựng trụ sở cấp xã, thị trấn vẫn chưa thực hiện được như Chương trình tổng thể đề ra. Ứng dụng công nghệ thông tin không đạt mục tiêu của Chương trình tổng thể. Có những đề án, dự án, biện pháp, chương trình hành động nhằm thực hiện cải cách hành chính nhà nước trên các nội dung Chương trình tổng thể về hình thức và bản chất thì rất có ý nghĩa nhưng vấn đề triển khai trong thực tế chưa mang lại nhiều kết quả như mong muốn, việc triển khai còn mang nặng tính hình thức, chưa chú ý sâu về chất lượng thực tế, chất lượng thực thi. Sự tham gia, đóng góp ý kiến của người dân, tổ chức, doanh nghiệp và công chúng vào quá trình cải cách hành chính còn ít, hạn chế. Các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đa phần là Nông nghiệp, sau nhiều năm với sự đoàn kết nỗ lực xây dựng kinh tế- xã hội, mặc dù đã có những tiến triển bước đầu, nhưng các xã, thị trấn của tỉnh Gia Lai vẫn còn nhiều khó khăn thử thách: cơ sở hạ tầng kém, nền kinh tế có điểm xuất phát thấp, kinh tế tự cung, tự cấp là chủ yếu, sản xuất nông nghiệp còn chậm hầu như không đáng kể, về quản lý hành chính đang tồn tại khá nhiều yếu kém cần phải thay đổi để đáp ứng yêu cầu đặt ra là: việc quản lý còn thiếu tập trung thống nhất, kỷ luật, kỷ cương hành chính trong một số xã, thị trấn chưa nghiêm, công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế, làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành. Chất lượng, năng lực của một bộ phận cán bộ, công chức
    12. 18. 13 có mặt còn hạn chế….Để khắc phục tình trạng này, giải pháp tối ưu các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai phải tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính bao gồm các mục tiêu của Chương trình tổng thể CCHC 2011-2020 theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ là: – Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước. – Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong việc thuân thủ thủ tục hành chính. – Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương tới cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính phủ và của các cơ quan hành chính nhà nước. – Bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước. – Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước. Trọng tâm cải cách hành chính trong giai đoạn 10 năm tới là: cải cách thể chế, xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công. 1.1.3. Nội dung của cải cách hành chính Chương trình CCHC giai đoạn 2011 – 2022 xác định rõ nhiệm vụ CCHC trên sáu lĩnh vực cụ thể là cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính.
    13. 19. 14 1.2. Các yếu tố tác động và các điều kiện bảo đảm cải cách hành chính 1.2.1. Các yếu tố tác động đến cải cách hành chính – Các yếu tố chủ quan Đội ngũ cán bộ, công chức mang yếu tố quyết định chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước dẫn đến sự thành công của quá trình cải cách hành chính. Nếu cơ chế tốt đến mấy, bộ máy hành chính có đơn giản gọn nhẹ đến mấy mà con người không sử dụng được thì vẫn không mang lại hiệu quả. Nhân tố con người ở đây chính là đội ngũ cán bộ, công chức. ” Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ đức, đủ tài và tâm huyết nghề nghiệp luôn là vấn đề mang tính chiến lược, phát huy yếu tố con người là điều kiện đặc biệt quan trọng đảm bảo sự thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” . Cải cách hành chính nhà nước không tách rời sự lãnh đạo của Đảng vừa là bài học kinh nghiệm, vừa là đặc trưng cải cách hành chính của Việt Nam. Mặt thuận lợi của vấn đề này chính là ở chỗ sự hiện diện của các tổ chức Đảng, của các đảng viên đang giữ các chức vụ lãnh đạo trong các cơ quan, tổ chức nhà nước từ Trung ương tới cơ sở. Các thành viên này có trách nhiệm triển khai Nghị quyết Đảng về cải cách hành chính thông qua các hình thức thích hợp, trong đó có hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước. Trước yêu cầu của giai đoạn phát triển mới của đất nước, cần đổi mới
    14. 21. 16 phương thức lãnh đạo của Đảng, đổi mới tổ chức Đảng, đổi mới sự vận động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể, có như vậy mới mong đạt được mục tiêu của cải cách hành chính. – Pháp lý Cải cách hành chính ở Việt Nam được đặt trong khuôn khổ các quan điểm và chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam về đổi mới hệ thống chính trị và cải cách bộ máy Nhà nước. Cải cách hành chính phải gắn liền với xây dựng và chỉnh đốn Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói chung và nền hành chính nói riêng nhằm giữ vững và phát huy bản chất của giai cấp công nhân, nhân dân trong xây dựng Nhà nước Việt Nam pháp quyền XHCN. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo, tăng cường sự chỉ đạo của Đảng thông qua việc định hướng chiến lược cải cách hành chính là một vấn đề có tính kiên quyết, có ý nghĩa quan trọng bảo đảm cho việc kiện toàn hợp lý tổ chức bộ máy Nhà nước, nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức và góp phần thiết lập kỷ luật, kỷ cương trong hệ thống các cơ quan hành chính. Với vị trí là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong chỉ đạo triển khai cải cách hành chính của đất nước. Từ chủ trương của Đảng, Chính phủ có trách nhiệm cụ thể hoá thành các chương trình, kế hoạch cải cách hành chính, trên cơ sở đó các bộ, ngành Trung ương và chính quyền địa phương các cấp xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch cải cách hành chính của mình nhằm bảo đảm mục tiêu chung của cải cách là xây dựng được một nền hành chính mạnh, hiệu lực, hiệu quả, vì dân phục vụ. Trước đây, Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 và Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2010-2020. Công tác chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đối với công cuộc cải cách hành chính đã bảo đảm rõ định hướng, mục tiêu cải cách hành chính; xác định rõ các nhiệm vụ cải cách; xác định các trọng tâm, ưu tiên cải cách theo từng thời kỳ; Xác định trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan hành chính, trước hết là các Bộ trưởng và Chủ tịch UBND cấp tỉnh trong triển khai cải cách hành chính; tổng kết từ thực tiễn
    15. 22. 17 cải cách để hoạch định thể chế, cơ chế mới, có tính chất áp dụng chung trong cả nước. – Bộ máy Chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò, chức năng của nhà nước nói chung, của từng cơ quan hành chính nói riêng cần phải có sự điều chỉnh lại cho phù hợp, từ đó dẫn đến tổ chức bộ máy phải có những thay đổi cần thiết. Bản thân tổ chức bộ máy hành chính từ Trung ương đến cơ sở còn nhiều bật cập, cồng kềnh, nhiều tầng nấc. Phương thức làm việc của các cơ quan hành chính chưa mang lại hiệu quả cao, đòi hỏi phải nghiên cứu cải cách. Hội nghị Trung ương 7 khoá VIII (08/1999) Kinh tế chủ yếu của huyện Chư Sê hiện nay là tập trung phát triển Nông nghiệp toàn diện về cao su, hồ tiêu, cà phê và chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng rừng gắn với từng bước đẩy mạnh phát triển tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ du lịch. Các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai là vùng có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, mùa nắng nóng bức, mùa mưa liên tục mưa dầm, khí hậu thay đổi thất thường. Những điều kiện tự nhiên nêu trên ít nhiều ảnh hưởng đến tâm lý con người, hành vi học tập nâng cao học vấn, khoa học kỹ thuật chưa vươn lên trong quá trình phát triển. * Đặc điểm về kinh tế – xã hội Từ năm 2001 đến nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện Chư Sê luôn đạt tỷ lệ cao. mức tăng trưởng kinh tế của huyện Chư Sê đạt 13,92%. Tổng giá trị sản xuất
    16. 35. 30 toàn huyện đạt 2.185 tỷ đồng (tính theo giá cố định 1994), trong đó nông – lâm nghiệp đạt 815 tỷ đồng (tăng 10,65%); công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – xây dựng đạt 690 tỷ đồng (tăng 15,38%); thương mại – dịch vụ 680 tỷ đồng (tăng 16,54%). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Thu nhập bình quân đầu người đạt 36, đồng/năm.Sản xuất nông nghiệp được coi là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương. Tổng diện tích gieo trồng trên địa bàn huyện trong năm đạt 28.883,68 ha; tổng sản lượng lương thực ước cả năm là 29.739,88 tấn. Lợi thế là địa bàn trọng điểm về phát triển hồ tiêu với thương hiệu Hồ tiêu Chư Sê, các năm qua, bằng nhiều chương trình khác nhau, huyện đã tiếp tục đẩy mạnh phát triển cây hồ tiêu theo chiều sâu với mục đích nâng cao hơn nữa năng suất và sản lượng thay thế vườn tiêu già cỗi, năng suất thấp… Đối với cây cà phê, năng suất, sản lượng trên địa bàn cao hơn niên vụ trước 10- 15%, giá thu mua cao và ổn định nên nhân dân yên tâm sản xuất. Song song với đẩy mạnh sản xuất, công tác bảo vệ thực vật, thủy lợi… cũng được các cấp triển khai đôn đốc, chủ động phòng trừ đạt hiệu quả, không để xảy ra dịch bệnh trên vật nuôi, cây trồng. Hiện nay, tổng đàn gia súc toàn huyện là 62.754 con đàn gia cầm 63.800 con. giá trị sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh ước đạt 81,4 tỷ đồng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt 1.150 tỷ đồng. Hiện nay, trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai hiện có 1.165 cơ sở kinh doanh, đã quy hoạch và phát triển hệ thống chợ với 8 chợ và 3 siêu thị đang hoạt động phục vụ nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của nhân dân, lượng vốn đầu tư xây dựng ước đạt 23.729,3 triệu đồng. Thu ngân sách tại địa bàn, không tính kết dư chuyển nguồn là 90 tỷ đồng, chi ngân sách ước thực hiện 409,73 tỷ đồng. Tổng mức huy động vốn của các ngân hàng ước đạt 1.089 tỷ đồng; dư nợ của các ngân hàng là 2.302 tỷ đồng; tỷ lệ nợ xấu bình quân 0,47%, mặc dù chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và lạm phát, nhưng nền kinh tế của huyện luôn giữ vững ổn định và phát triển. Cơ cấu kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 32,18%, công nghiệp – xây dựng chiếm 31,92%, Huyện đã thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, theo đó một số diện tích vùng trũng trồng cây ngắn ngày sang dài ngày. Nông nghiệp vẫn phát triển tương ứng với tốc độ phát triển nông nghiệp chung cả tỉnh.
    17. 36. 31 – Về nguồn nhân lực Các xã, thị trấn thuộc huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai có nguồn nhân lực tương đối thấp. Người dân các xã, thị trấn của huyện Chư Sê là vùng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong hai cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc. Huyện Chư Sê hiện có 69.200 người trong độ tuổi lao động, chiếm 56,2 % dân số; số lao động đang làm việc trong các ngành nghề là 67.800 người, trong đó: nông nghiệp, lâm nghiệp có 48.000 người, công nghiệp có 4.131 người, xây dựng có 2.190 người, dịch vụ và quản lý HCNN có 8.950 người. Hàng năm, nguồn lao động ở huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai và các xã, thị trấn được bổ sung từ 300 đến 500 người, đó là những người vừa tốt nghiệp phổ thông cơ sở, phổ thông trung học, các trường dạy nghề, các trường cao đẳng, đại học. Nguồn lao động có trình độ được bổ sung nhưng chất lượng còn thấp. Nếu so sánh với các huyện thuộc tỉnh Gia Lai thì huyện Chư Sê là huyện ít có điều kiện phát triển KTXH, số người thất nghiệp và số người không có việc làm, không có khả năng lao động rất lớn, đây là vấn đề đặt ra cần phải giải quyết, làm như thế nào để nguồn nhân lực này không ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội của các xã, thị trấn và đây cũng là vấn đề ảnh hưởng không nhỏ đến việc đẩy mạnh cải cách hành chính của huyện Chư Sê và các xã, thị trấn thuộc huyện UBND các xã, thị trấn do HĐND cùng cấp bầu ra là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên. UBND các xã, thị trấn thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở UBND các xã không có các cơ cấu trực thuộc mà chỉ có các chức danh chuyên trách các mảng công việc thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của UBND xã. Các mảng công việc đó là: Công an, Quân sự; Văn phòng- Thống kê; Địa chính – Xây dựng; Tài chính – Kế toán; Tư pháp – Hộ tịch; Văn hóa – Xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Cải Cách Hành Chính Cấp Xã
  • Cải Cách Hành Chính Với Chính Quyền Cấp Xã
  • Hưng Yên: Nâng Cao Hiệu Quả Cải Cách Hành Chính Cấp Xã
  • Huyện Phong Điền, Tỉnh Thừa Thiên Huế: Cải Cách Thủ Tục Hành Chínhh
  • Cải Cách Hành Chính Cấp Xã Còn Nhiều Khó Khăn
  • Bạn đang xem bài viết Luận Văn, Cải Cách Hành Chính Cấp Xã, Tài Liệu Hot, Hay trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100