Xem Nhiều 2/2023 #️ Mấy Giải Pháp Thúc Đẩy Giáo Dục Quyền Con Người Trong Quân Đội Hiện Nay # Top 6 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Mấy Giải Pháp Thúc Đẩy Giáo Dục Quyền Con Người Trong Quân Đội Hiện Nay # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Mấy Giải Pháp Thúc Đẩy Giáo Dục Quyền Con Người Trong Quân Đội Hiện Nay mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1/12/2021 9:40:45 PM

Điều 65, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 bổ sung thêm một nhiệm vụ mới của Quân đội là làm tròn nghĩa vụ quốc tế. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, cán bộ, chiến sĩ Quân đội không chỉ nắm chắc pháp luật Nhà nước, mà còn phải có hiểu biết về luật pháp quốc tế; trong đó, có pháp luật về quyền con người. Vì vậy, tìm các giải pháp nhằm thúc đẩy giáo dục quyền con người trong Quân đội hiện nay là rất cần thiết.

 1. Giáo dục quyền con người – quan niệm và quá trình nhận thức

Theo nghĩa chung nhất, quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, tự do cơ bản của con người. “Giáo dục và đào tạo nhân quyền bao gồm tất cả các hoạt động giáo dục, đào tạo, thông tin, nâng cao nhận thức và học tập nhằm thúc đẩy sự tôn trọng và tuân thủ tất cả các quyền con người và các quyền tự do cơ bản và do đó góp phần ngăn chặn các vi phạm nhân quyền bằng cách cung cấp cho mọi người kiến thức, kỹ năng, sự hiểu biết và phát triển thái độ, hành vi của họ để trao quyền cho họ đóng góp vào việc xây dựng và thúc đẩy văn hóa phổ quát về quyền con người”1. Nghị quyết số 59/113A, ngày 10/12/1994 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về tuyên bố kỷ nguyên giáo dục quyền con người giai đoạn 1995 – 2004, khẳng định: “Các quốc gia có nghĩa vụ pháp lý trong việc giáo dục nhân quyền; đồng thời, nên đưa vào các chính sách giáo dục ở cấp độ quốc gia”. Sau đó, 3 chương trình giáo dục quyền con người đã được tiếp tục bổ sung từ năm 2005 đến 2019.

Ở Việt Nam, trước năm 1986, các nghiên cứu về nhân quyền và giáo dục đào tạo về nhân quyền hầu như không được chấp nhận. Năm 1986, Đảng ta khởi xướng đường lối đổi mới với quan điểm lấy con người là trung tâm của hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội. Năm 1991, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lần đầu tiên trong văn kiện của Đảng đề cập đến quyền con người: “Nhà nước định ra các đạo luật quy định quyền công dân, quyền con người”. Sau đó, Hiến pháp năm 1992, khái niệm về quyền con người được ghi nhận ở Điều 50. Từ năm 1992 đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn kiện về quyền con người, trong đó có Quyết định số 1039/QĐ-TTg, ngày 05/9/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc thông qua Đề án đưa nội dung giáo dục quyền con người vào chương trình giáo dục chính thống của hệ thống giáo dục quốc dân; đảm bảo đến năm 2025, 100% các nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân giáo dục nội dung này. Hiện nay, giáo dục và đào tạo về quyền con người đã được thực hiện ở cả chương trình giáo dục chính thức và không chính thức. Giáo dục chính thức, được tiến hành trong các cơ sở giáo dục quốc dân, từ cấp tiểu học đến đại học; chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo quản lý trung cấp và cao cấp trong hệ thống chính trị. Đồng thời, được thực hiện ở cấp sau đại học tại Đại học Quốc gia Hà Nội; Học viện Khoa học xã hội và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Giáo dục không chính thức, thông qua các khóa tập huấn, hội nghị, giáo dục ngoại khóa.

2. Thực trạng giáo dục quyền con người trong Quân đội hiện nay

Ngày 25/9/2018, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam ban hành Quyết định số 1650/QĐ-CT và Quyết định số 1651/QĐ-CT về việc Ban hành chương trình giáo dục các môn khoa học xã hội và nhân văn đào tạo sĩ quan cấp phân đội, trình độ đại học trong Quân đội. Quyết định số 1650 có một chuyên đề Công ước quốc tế về chống tra tấn, Quyết định số 1651 có chuyên đề Luật Quốc tế.

Ngày 11/12/2018, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị ban hành Quyết định số 2159/QĐ-CT về Chương trình đào tạo cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật trình độ trung cấp; trong đó, có 2 chuyên đề về giáo dục quyền con người: Quyền con người và Công ước quốc tế về chống tra tấn. Năm 2018 và 2019, tất cả đơn vị trong Quân đội tổ chức các chuyên đề giáo dục pháp luật ngoại khóa cho cán bộ, chiến sĩ: Quyền con người trong tố tụng hình sự; Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm.

Mặc dù, một số đơn vị đã đưa nội dung giáo dục quyền con người vào giáo dục pháp luật, nhưng công tác giáo dục quyền con người trong Quân đội hiện nay còn một số hạn chế. Đó là, còn thiếu tính chỉnh thể, tính liên thông, tính cập nhật và thống nhất theo cách tiếp cận “giáo dục dựa trên quyền” – cách tiếp cận phổ biến của cộng đồng quốc tế hiện nay. Dung lượng kiến thức về giáo dục quyền con người trong chương trình giảng dạy của đa số các trường sĩ quan còn ít, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ mới của Quân đội. Đặc biệt, chưa đưa ra các quan điểm, cách tiếp cận của Đảng, Nhà nước về giáo dục quyền con người, giúp người học nhận diện và phê phán các quan điểm sai trái về bảo vệ quyền con người ở Việt Nam. Đồng thời, chưa có một chương trình chi tiết về giáo dục quyền con người thống nhất trong các trường sĩ quan; việc đưa nội dung giáo dục quyền con người vào chương trình giảng dạy còn tùy thuộc vào nhận thức về mức độ cần thiết và năng lực của mỗi đơn vị. Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, người học và chiến sĩ chưa được trang bị kiến thức cơ bản về giáo dục quyền con người; tài liệu giảng dạy, học tập ở các cơ sở đào tạo còn thiếu, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả giáo dục quyền con người trong Quân đội.

3. Thúc đẩy giáo dục quyền con người trong Quân đội hiện nay

Để góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ quốc tế của Quân đội trong thời gian tới và khắc phục hạn chế, thiếu sót nêu trên, cần thực hiện đồng bộ, kịp thời các nhóm giải pháp sau đây:

Một là, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nhận thức được vai trò của giáo dục quyền con người trong bối cảnh Quân đội hội nhập quốc tế hiện nay. Giáo dục quyền con người đã trở thành một vấn đề quốc tế quan trọng sau Hội nghị quốc tế về quyền con người tổ chức tại Viên năm 1993. Đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng được ghi ở Lời thề Thứ Năm trong 10 Lời thề danh dự của quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam: Nêu cao tinh thần làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa,… làm tròn nghĩa vụ quốc tế. Gương mẫu chấp hành và vận động nhân dân thực hiện mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước.

Giáo dục tốt nội dung này, còn giúp cán bộ, chiến sĩ có nhận thức và hành động đúng trong đối xử với tù hàng binh. Bởi vì, bản chất của chiến tranh là việc sử dụng bạo lực của các bên nhằm làm suy yếu và phá hủy sức mạnh quân sự của kẻ thù. Bất luận trong trường hợp nào, chiến tranh không bao giờ là mối quan hệ giữa con người với nhau mà là quan hệ giữa các quốc gia, trong đó các cá nhân vô tình trở thành kẻ thù của nhau không phải với tư cách con người hay công dân nói chung mà là với tư cách của những người lính. Bởi vì, mục đích trước mắt của chiến tranh là tiêu diệt kẻ thù, cho nên việc giết người lính của đối phương khi họ đang cầm súng được coi là hợp pháp. Nhưng khi họ đã hạ vũ khí và đầu hàng, thì không còn là kẻ địch mà là một người dân thường. Bởi vậy, việc giết chết họ trong trường hợp này là bất hợp pháp2.

Hai là, tổ chức tốt nguồn nhân lực, vật lực cho giáo dục quyền con người trong Quân đội. Giáo viên và báo cáo viên pháp luật đóng vai trò rất quan trọng trong công tác giáo dục quyền con người hiện nay. Vì vậy, tăng cường công tác tổ chức cán bộ và bảo đảm vật chất cho giáo dục quyền con người là rất quan trọng. Trong những năm tới cần: (1). Tiếp tục xây dựng đội ngũ giáo viên pháp luật và báo cáo viên pháp luật đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng; (2). Duy trì nền nếp hoạt động của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật; (3). Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn, tổ chức đoàn thể trong giáo dục quyền con người, nhất là Công đoàn, Hội Phụ nữ các cấp trong Quân đội.

Bên cạnh việc tăng cường nguồn nhân lực kể trên thì việc đầu tư giáo trình, tài liệu tham khảo chính thống cho các đơn vị là cần thiết. Mặc dù, trong thời đại bùng nổ thông tin, trên các trang mạng xã hội, chúng ta có thể thấy vô số các thông tin về nhân quyền. Tuy nhiên, cần thống nhất nguồn tài liệu chính thống nhằm định hướng nội dung bảo đảm tính nhất quán theo quan điểm, đường lối của Đảng, giúp cán bộ, chiến sĩ nhận diện và phòng, chống các thông tin xấu độc về nhân quyền. Do đó, việc bảo đảm vật chất, tài liệu học tập chính thống cho công tác này ở các đơn vị trong toàn quân cần được quan tâm thực hiện.

Ba là, đổi mới nội dung, chương trình, hình thức, phương pháp giáo dục quyền con người trong Quân đội theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Thực tiễn chỉ ra rằng, nội dung, chương trình chưa thống nhất, đầy đủ thì các chủ thể giáo dục rất khó có được hình thức, phương pháp giáo dục thống nhất và hiệu quả. Do vậy, cần chuẩn hóa và công nghệ hóa nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện giáo dục pháp luật nhằm đảm bảo sự thống nhất về chất lượng giáo dục quyền con người trong toàn quân. Chú trọng đổi mới hình thức trong giáo dục quyền con người cho cán bộ, chiến sĩ, như: sân khấu hóa, ứng dụng công nghệ thông tin, v.v. Tăng cường hơn nữa nội dung quyền con người và Luật Nhân đạo quốc tế vào chương trình tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ hằng năm.

Bốn là, tập trung giáo dục quyền con người trong các nhà trường Quân đội. Giáo dục quyền con người trong Quân đội hiện nay gồm 2 mảng chính là giáo dục chính thức trong các nhà trường Quân đội và giáo dục không chính thức thông qua mô hình “Ngày Pháp luật” hằng tháng ở các đơn vị. Ngày Pháp luật đã và đang được thực hiệt tốt và ngày càng chứng minh hiệu quả của mô hình này thông qua chỉ số vi phạm pháp luật trong toàn quân đang giảm dần, nhận thức pháp luật của cán bộ, chiến sĩ ngày càng được củng cố và nâng cao. Trong những năm trước mắt cần tập trung vào giáo dục quyền con người trong các nhà trường Quân đội. Bởi, đây là nơi đào tạo ra sĩ quan chỉ huy, giáo viên, báo cáo viên pháp luật cho toàn quân. Để nâng cao chất lượng giáo dục, các nhà trường Quân đội, nhất là các trường đào tạo sĩ quan chỉ huy và sĩ quan chính trị cần tập trung đào tạo cán bộ, giảng viên nòng cốt; đầu tư về nội dung, chương trình, cơ sở vật chất, tài liệu giảng dạy để thúc đẩy hoạt động giáo dục quyền con người trong toàn quân.

Giáo dục quyền con người là nhiệm vụ cần thiết. Việc thực hiện các giải pháp trên góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ về thực hiện quyền con người trong thực thi nhiệm vụ được giao.

Đại tá, TS. NGUYỄN VĂN VI, Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự __________________

1 – Điều 2, Tuyên ngôn Liên hợp quốc về giáo dục quyền con người năm 2011.

2 – Jean Jacques Rousseau – Bàn về khế ước xã hội, Nxb Chính trị – Hành chính, H. 2013, tr. 61.

Quyền Con Người Ở Việt Nam Hiện Nay

Những thành tựu nổi bật trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người

Năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng chính thức tuyên bố đường lối đổi mới, với nội dung cơ bản là chuyển nền kinh tế từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN; dân chủ hóa đời sống xã hội trên cơ sở xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; mở cửa tăng cường giao lưu hợp tác với bên ngoài trên tinh thần Việt Nam sẵn sàng làm bạn với các nước, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển.

Với việc đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, đường lối đổi mới kể trên không chỉ tác động đến kinh tế, xã hội mà đồng thời chi phối mạnh mẽ nhận thức và thực tế bảo đảm quyền con người ở nước ta trong thời gian qua.

Bảo đảm các quyền dân sự, chính trị ở nước ta trong quá trình đổi mới ở Việt Nam, so với các Hiến pháp năm 1959 và 1980, Hiến pháp năm 1992 đã thể hiện một bước phát triển mới trong việc pháp điển hóa các quyền con người, với việc khẳng định khái niệm và sự tôn trọng các quyền con người (Điều 50) cũng như bổ sung một loạt các quyền và tự do mới trên tất cả các lĩnh vực. Xét trên lĩnh vực dân sự, chính trị, trong Hiến pháp 1992, có 5 quyền quan trọng được ban hành mới hoặc bổ sung thêm, bao gồm: quyền sở hữu tài sản (bao gồm cả tư liệu sản xuất); quyền tự do kinh doanh; quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo luật định; quyền được thông tin theo luật định; quyền bình đẳng của các tôn giáo; quyền không bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, Hiến pháp năm 1992 còn đề cập đến việc Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và mở rộng việc bảo vệ, giúp đỡ các nhóm xã hội dễ bị tổn thương.

Nội dung đảm bảo quyền dân sự – chính trị ở nước ta được thể hiện một cách cụ thể: – Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật của công dân: Bình đẳng trong bầu cử, ứng cử, tự ứng cử; bình đẳng trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và nhiều dạng quan hệ dân sự khác, đặc biệt là bình đẳng trong hoạt động sản xuất – kinh doanh; bình đẳng trong lĩnh vực văn hóa – giáo dục, khoa học – công nghệ như quyền được học tập của công dân, quyền nghiên cứu, sáng tạo, chuyển giao, chuyển nhượng kết quả nghiên cứu của mọi công dân.

– Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, cụ thể: ngăn ngừa những hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người (trong đó kể cả những bị can, bị cáo và những phạm nhân đang thi hành án phạt tù)…

– Bảo đảm một số quyền dân sự, chính trị khác: Quyền tự do ngôn luận, quyền tự do lập hội, hội họp, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo…

Bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa

Nhằm bảo đảm thực hiện các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của nhân dân trong giai đoạn mới, từ năm 1986 đến nay, bên cạnh Hiến pháp năm 1992, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng, trong đó có thể kể như Bộ Luật Dân sự (1995), Bộ Luật Lao động (1994), Luật Giáo dục (1998), Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em (1991), Luật Phổ cập giáo dục tiểu học (1991), Pháp lệnh về người tàn tật (1998)…

Nội dung bảo đảm quyền kinh tế, xã hội, văn hóa được cụ thể trong các quyền tiêu biểu nhất:

– Bảo đảm quyền làm việc: ở nước ta, quyền làm việc được ghi nhận trong các bản Hiến pháp và được Hiến pháp năm 1992 quy định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động” (Điều 55).

Bên cạnh việc thiết lập một hành lang pháp lý, từ khi đổi mới đến nay, Nhà nước đã xây dựng và thực hiện hàng loạt chính sách, chương trình kinh tế – xã hội nhằm thúc đẩy việc bảo đảm quyền làm việc, tập trung vào việc mở mang, phát triển các ngành nghề tại các địa phương, hỗ trợ các doanh nghiệp, mở rộng hợp tác quốc tế về đào tạo nghề và xuất khẩu lao động…

– Bảo đảm quyền được tiếp cận với giáo dục: Ngay từ khi mới giành được độc lập, Nhà nước ta đã hết sức quan tâm đến quyền được tiếp cận với giáo dục của nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH do Đảng đề ra năm 1991 xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu. Quan điểm này được thể chế hóa trong Điều 35 Hiến pháp năm 1992: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”. Đây là cơ sở tư tưởng cho việc hiện thực hóa quyền được tiếp cận với giáo dục của nhân dân trong thời kỳ mới.

Bên cạnh quy định kể trên, Hiến pháp năm 1992 cũng nêu rõ, học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân (Điều 59), đồng thời xác định nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền này (Điều 36). Trên cơ sở đó, một loạt các văn bản pháp luật khác được ban hành nhằm cụ thể hóa việc bảo đảm quyền được tiếp cận với giáo dục, trong đó quan trọng nhất là Luật Giáo dục (năm 1998).

– Bảo đảm quyền được chăm sóc y tế: Từ khi đổi mới đến nay, cũng giống như các lĩnh vực kinh tế, xã hội khác, có sự chuyển đổi về hướng tiếp cận việc bảo đảm quyền được chăm sóc y tế từ chế độ bao cấp hoàn toàn của Nhà nước sang hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ y tế, thực hiện chế độ BHYT, tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khỏe. Sự chuyển đổi này không có nghĩa là Nhà nước giảm bớt sự quan tâm đến việc bảo đảm quyền được chăm sóc y tế của nhân dân, mà ngược lại, Nhà nước vẫn thừa nhận và nỗ lực bảo đảm quyền này, nhưng theo một cách thức phù hợp và hiệu quả hơn.

– Quyền được bảo đảm xã hội: Từ khi đổi mới, Đảng và Nhà nước chủ trương đổi mới chính sách bảo đảm xã hội theo hướng mọi người lao động và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, tách quỹ BHXH với công nhân, viên chức nhà nước và những người làm công ăn lương ra khỏi ngân sách theo hướng xã hội hóa công tác BHXH. Điều 56 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ BHXH đối với viên chức nhà nước và những người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động”. Ban hành Luật BHXH (2006), hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2007 đối với BHXH bắt buộc, từ ngày 1/1/2008 đối với BHXH tự nguyện và từ ngày 1/1/2009 đối với bảo hiểm thất nghiệp.

Nhờ đổi mới hướng tiếp cận trong chính sách, pháp luật về công tác BHXH, việc thực hiện quyền được BHXH ở nước ta từ khi đổi mới đã đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ: Số lượng đối tượng tham gia và được hưởng BHXH ngày càng được mở rộng, quyền được BHXH có sự phát triển về chất; mức trợ cấp bình quân cho các đối tượng BHXH nói chung và mức tiền lương hưu bình quân nói riêng liên tục tăng. Thành công nổi bật nhất trong việc thực hiện quyền được bảo đảm xã hội ở nước ta từ khi đổi mới đến nay là việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo – một chủ trường và quyết sách lớn của Đảng, Nhà nước ta trong lĩnh vực kinh tế, xã hội. Xuất phát từ quan điểm: Vấn đề nghèo khó không được giải quyết thì không có một mục tiêu nào mà cộng đồng quốc tế, cũng như quốc gia đặt ra như tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống, hòa bình, ổn định, bảo đảm các quyền con người được thực hiện, Nhà nước ta đã coi Chương trình xóa đói giảm nghèo là một trong bảy chương trình mục tiêu quốc gia và đã có những ưu tiên đặc biệt về nguồn nhân lực, vật lực cho chương trình này.

Một số vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện quyền con người ở nước ta hiện nay

Mặc dù về cơ bản, pháp luật nước ta không mâu thuẫn với các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền và việc bảo đảm các quyền con người trên thực tế là phù hợp, thậm chí ở mức tiến bộ, so với thông lệ quốc tế; tuy nhiên, trong việc bảo đảm quyền con người ở nước ta hiện nay vẫn còn một số vấn đề tồn tại nhất định.

– Về nhận thức của cán bộ, công chức: Thực tế cho thấy, hiểu biết về nhân quyền ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế, dẫn đến có những hành động cố ý hoặc vô ý vi phạm các quyền hợp pháp của công dân, đặc biệt là ở một số cơ quan công quyền và một số cơ quan tư pháp. Sự hạn chế như vậy có nguyên nhân từ công tác tuyên truyền, giáo dục về nhân quyền.

– Sự tham gia của các cơ quan thông tin đại chúng trong hoạt động tuyên truyền và đấu tranh chống vi phạm nhân quyền: Các phương tiện thông tin đại chúng ở nước ta hiện nay chủ yếu đề cập đến vấn đề nhân quyền dưới dạng phê phán sự xuyên tạc, lợi dụng nhân quyền để chống phá ta của các thế lực phản động, thù địch. Nhân quyền được coi là một vấn đề nhạy cảm, ít khi những vấn đề nhân quyền trong nước được đề cập một cách trực tiếp trên các phương tiện thông tin đại chúng.

– Cơ chế bảo đảm nhân quyền chưa hiệu quả: Hiện nay, nước ta vẫn chưa có một cơ quan chuyên trách về vấn đề thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền; chưa có một quy chế chặt chẽ trong việc xử lý các tố cáo và vi phạm nhân quyền.

– Sự thiếu hụt các nguồn vật chất bảo đảm: Mặc dù đòi hỏi ở mức độ khác nhau, song việc bảo đảm bất cứ quyền con người nào cũng không thể tách rời các điều kiện vật chất. Do những khó khăn về kinh tế, ở nước ta hiện nay còn thiếu các điều kiện để chăm sóc, giải quyết việc làm cho các đối tượng: những người bị nhiễm HIV/AIDS, những người làm mại dâm, những người vi phạm pháp luật sau khi mãn hạn tù…

Các giải pháp bảo đảm phát triển các quyền cơ bản của con người

Bảo đảm thực hiện quyền con người được đặt ra trước hết xuất phát từ mục tiêu, bản chất của chế độ; đó cũng là một trong những nội dung và đặc trưng rất cơ bản và quan trọng của Nhà nước pháp quyền XHCN mà chúng ta đang xây dựng; đồng thời, trước xu thế dân chủ hóa, giao lưu và hội nhập quốc tế ngày càng gia tăng, đòi hỏi quyền con người và các quyền tự do cơ bản của cá nhân công dân phải được tôn trọng và tăng cường hơn nữa. Trước yêu cầu đó, trong điều kiện nước ta hiện nay, bảo đảm hiện thực hóa quyền con người cần phải áp dụng một hệ thống đồng bộ các nhóm giải pháp.

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ, thúc đẩy và phát triển quyền con người, quyền công dân

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta và trong các Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X đều xác định: Nhà nước ta định ra các đạo luật quy định quyền con người, quyền công dân, trong đó bên cạnh các luật về kinh tế, Nhà nước cần ưu tiên xây dựng các luật về quyền công dân.’ nước ta, tồn tại một nguyên tắc Hiến định: các quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp và Luật. Như thế, các quyền được quy định trong Hiến pháp tạo thành hệ thống các quyền và nghĩa vụ cơ bản có tính nguyên tắc nền tảng. Các quyền được quy định trong luật, một mặt, là cụ thể hóa các quyền trong Hiến pháp, mặt khác, phát triển và bổ sung thêm những quyền mới. Vì vậy, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm quyền con người, quyền công dân đòi hỏi tăng cường hoạt động lập pháp của Quốc hội như là điều kiện tiên quyết để bảo đảm quyền con người.

Trước mắt, cần tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm các quyền con người về dân sự, chính trị; các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa; quyền của nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội như quyền trẻ em, quyền phụ nữ; quyền của công dân cao tuổi… Để làm được điều đó, cần có sự nghiên cứu và tổng kết toàn diện và sâu sắc hệ thống pháp luật hiện hành, có sự phân tích, so sánh đối chiếu với các quy định quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia.

Trên cơ sở các quan điểm về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đặt ra trong thời gian tới, các quy phạm pháp luật về các quyền dân sự, chính trị cần được chế định thêm, cụ thể và rõ ràng hơn trong Hiến pháp; tiến tới mỗi quyền trong Hiến pháp cần được quy định trong một đạo luật cụ thể, chẳng hạn như quyền được thông tin (cần có Luật về thông tin); quyền tự do lập hội, hội họp (cần phải sửa đổi luật hiện hành); các quyền tham gia công việc nhà nước như quy định về trưng cầu dân ý (cần có Luật trưng cầu dân ý); các quy định về dân chủ ở cơ sở (cần nâng cấp Quy chế dân chủ ở cơ sở lên thành Luật về dân chủ ở cơ sở…).

Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa cũng cần gấp rút được nghiên cứu và tổng kết thực tiễn; trên cơ sở đó chế định quyền sở hữu cá nhân cần phải được quy định cụ thể hơn. Vì đây là quyền giữ vị trí chi phối các quyền khác. Theo đó, cần hoàn thiện pháp luật cụ thể hóa Điều 58 Hiến pháp 1992, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để cá nhân, công dân tự kiểm soát, bảo vệ tài sản của mình và Nhà nước thông qua công cụ pháp lý và bộ máy chuyên chính có trách nhiệm bảo vệ tài sản của cá nhân, công dân. Chỉ khi quyền sở hữu cá nhân được bảo đảm, công dân mới an tâm đưa vốn vào sản xuất kinh doanh, tạo ra của cải làm giàu cho bản thân và xã hội.

Trong nhà nước pháp quyền không chỉ bảo vệ quyền lợi của người dân nói chung mà xuất phát từ đặc thù về thể chất, tâm lý, quyền lợi của trẻ em, phụ nữ, công dân cao tuổi cũng như những người bị khuyết tật… phải được coi là đối tượng ưu tiên trong việc bảo vệ, yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của nhóm đối tượng này là: Không được có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào trong các quy định của pháp luật; quyền lợi của họ phải được bảo đảm trên thực tế. Đồng thời, từ chủ nghĩa nhân văn, “uống nước nhớ nguồn”, sớm hoàn thiện nâng lên thành luật định bảo đảm quyền lợi của gia đình cách mạng và người có công với đất nước trước những biến đổi sâu sắc của bối cảnh xã hội và những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường.

Xây dựng chế độ trách nhiệm của cán bộ, công chức nhà nước và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát bảo đảm nhân dân tham gia thực sự công việc nhà nước

Trước mắt và trong thời gian tới đối với cán bộ, công chức nhà nước trong mối quan hệ với nhân dân (quan hệ cá nhân và Nhà nước) đòi hỏi xây dựng chế độ trách nhiệm bảo đảm mỗi cán bộ, công chức nhà nước có thể phát huy hết năng lực cá nhân; đồng thời, xác định cụ thể trách nhiệm cá nhân của mỗi cán bộ, công chức nhà nước trong quá trình thực thi công vụ, giảm thiểu nguy cơ có thể xâm phạm quyền của công dân. Theo đó, pháp luật phải cụ thể hóa mối quan hệ giữa cá nhân, công dân với Nhà nước. Nhà nước là tổ chức công quyền, nghĩa là người làm công, mang quyền lực được ủy quyền từ nhân dân, do đó xác định cụ thể các quyền của công dân theo hướng công dân có quyền được làm tất cả những gì luật pháp không cấm, còn cán bộ, công chức nhà nước chỉ được phép làm những gì mà luật pháp quy định. Đồng thời, trách nhiệm của Nhà nước là phải tôn trọng, bảo đảm thực hiện quyền con người; và công dân cũng phải làm tròn những nghĩa vụ phát sinh từ việc hưởng thụ các quyền do Hiến pháp và pháp luật quy định.

Quyền và nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân bảo đảm tính ràng buộc hai chiều, trước hết nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức là phục vụ nhân dân, chứ không phải “làm quan cách mạng”. Trong điều kiện nước ta hiện nay, đòi hỏi chuyển mạnh từ “nền hành chính cai trị sang nền hành chính phục vụ”.

Phát huy dân chủ, bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và tạo điều kiện để nhân dân tham gia tích cực, chủ động vào công việc nhà nước, công việc xã hội, trong đó có việc nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước, hoạt động của cán bộ, công chức nhà nước. Kiểm tra và giám sát hoạt động của Nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước – những người phục vụ nhân dân, đòi hỏi Nhà nước phải báo cáo hoạt động trước nhân dân, bảo đảm quyền của công dân được cung cấp thông tin một cách chân thực và chính xác từ phía cơ quan công quyền. Những người trực tiếp do nhân dân bầu ra, phải thường xuyên tiếp xúc với nhân dân. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát cán bộ, công chức nhà nước, tăng cường hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở, nhất là tổ, khu dân phố nơi cán bộ, vợ con của cán bộ, công chức sinh sống và làm việc.

Xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, giảm sự phân hóa giàu nghèo, nền tảng cho phát triển bền vững

Bảo đảm thực hiện quyền con người trong nhà nước pháp quyền XHCN tự bản thân đã đòi hỏi nghèo đói phải được giải quyết về căn bản. Điều đó cho thấy, bảo đảm quyền kinh tế cho mọi người, quyền bình đẳng trong lĩnh vực kinh tế, đòi hỏi chiến lược xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội và dần dần giảm sự phân cách giàu nghèo là rất quan trọng.

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phải là một xã hội người giàu với số lượng ngày càng đông và người nghèo số lượng ngày càng giảm. Để thực hiện được điều đó, vấn đề quan trọng hiện nay là Nhà nước với vai trò điều tiết vĩ mô, quản lý nền kinh tế, dùng công cụ, sức mạnh thông qua chính sách thuế, thực hiện việc điều tiết, phân phối lợi ích và bảo đảm phúc lợi xã hội, trong đó chú trọng đến các đối tượng hưởng chính sách xã hội, đến vùng sâu, vùng xa; đồng thời, có chiến lược phát triển kinh tế vùng miền, bảo đảm vùng sâu, vùng xa dần tiến kịp với các thành phố, đô thị…

Kinh nghiệm chỉ ra rằng, những bất ổn về chính trị, sự phân hóa và ly khai có những nguyên nhân sâu xa của nó, nhưng đều bắt nguồn từ sự phân bổ không công bằng về lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần và sự phân cách giàu nghèo quá lớn trong xã hội. Vì thế, để khắc phục tình trạng trên, cần thực hiện tốt chiến lược xóa đói, giảm nghèo. Trong đó, việc đào tạo nghề, cho vay vốn, ưu tiên trong giáo dục, đào tạo, trong đầu tư… đối với đối tượng nghèo, gia đình khó khăn, gia đình thuộc diện chính sách, con em nông dân và đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số phải là bước đi đầu tiên trong hoạch định chính sách cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Và phát triển đồng đều phải trở thành một nguyên tắc trong hoạch định chính sách xã hội, chính sách kinh tế.

Tăng cường bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự

Bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự, đó là trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và cả quá trình giam giữ, cải tạo phạm nhân, bảo đảm rằng mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh, và suốt quá trình tiến hành tố tụng không được làm oan người vô tội. Người phạm tội phải bị đưa ra xét xử, chịu hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội. Những mục đích của hình phạt lại không phải chỉ là trừng trị mà giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa tội phạm là mục đích ưu tiên hàng đầu. Đây là yêu cầu rất cơ bản để bảo đảm quyền con người trong nhà nước pháp quyền XHCN.

Trong điều kiện nước ta hiện nay, đòi hỏi xây dựng được một đội ngũ cán bộ tư pháp tận tâm, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có khả năng hoàn thành nhiệm vụ; đồng thời hoàn thiện kể cả về tổ chức với một cơ chế giám sát, chỉ đạo điều hành chặt chẽ từ phía Đảng, cơ quan nhà nước, đoàn thể, nhân dân là rất cần thiết.

– Trước hết, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan tư pháp. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng không phải là can thiệp vào hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, mà bảo đảm sự lãnh đạo chỉ đạo bằng đường lối, chủ trương lớn ở tầm vĩ mô; về xây dựng tổ chức, bộ máy, về công tác cán bộ…

– Tăng cường sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đối với cơ quan tư pháp.

– Tăng cường sự giám sát của đoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trị xã hội đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm sự tham gia trong lĩnh vực đấu tranh phát giác tội phạm và tham gia hoạt động xét xử (cơ chế hội thẩm).

– Cuối cùng, nhưng chiếm vị trí quan trọng là nâng cao vị trí, vai trò của luật sư trong hoạt động tư pháp. Luật sư phải là người đại diện thực sự cho thân chủ. Sự tham gia của luật sư là để giúp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình tiến hành tố tụng, nhanh chóng làm sáng tỏ bản chất thật sự của vụ án, tránh và giảm thiểu đến mức thấp nhất oan sai, không vô tư, khách quan trong hoạt động tố tụng.

Làm Sao Thúc Đẩy Xã Hội Hóa Giáo Dục?

GD&TĐ – Xã hội hoá giáo dục (XHHGD) là con đường quan trọng để thực hiện dân chủ hoá giáo dục, làm cho hệ thống giáo dục từ một thiết chế hành chính thành một thiết chế giáo dục của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đồng thời xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm thúc đẩy hoạt động xã hội hóa nói chung và XHHGD nói riêng. Hành lang pháp lý về XHHGD cũng từng bước được hoàn thiện, nhằm tạo thuận lợi, ưu đãi, khuyến khích đầu tư phát triển giáo dục.

Thực tế triển khai chính sách XHH đã mang lại những kết quả đáng khích lệ. Theo đó, thu hút được một nguồn lực đáng kể của xã hội đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá góp phần nâng cao chất lượng và phát triển GD-ĐT.

Với những chủ trương đúng đắn về huy động nguồn lực, tạo điều kiện cho tư nhân đầu tư vào giáo dục đã góp phần đưa giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học ngoài công lập trong những năm qua đạt được những kết quả nhất định.

Tỷ lệ huy động trẻ, học sinh trong độ tuổi ra lớp được nâng lên, phổ cập giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển loại hình trường, lớp, chương trình chất lượng cao đáp ứng nhu cầu học tập của người dân, giảm gánh nặng cho ngân sách…

Các bộ, ngành, cơ sở giáo dục chưa có ý thức về việc vận động, huy động nguồn lực để phát triển giáo dục. Cách làm và thực hiện chính sách chưa làm cho nhà đầu tư tin tưởng vào việc sử dụng hiệu quả nguồn lực huy động từ công tác XHH.

Người dân chưa hiểu rõ quy trình, trình tự thủ tục huy động XHH, các cơ quan quản lý Nhà nước chưa triển khai, hướng dẫn và giám sát việc thực thi các chính sách. Còn thiếu các chính sách ưu đãi chuyên biệt dành cho các nhà đầu tư vào lĩnh vực GD-ĐT…

Để các chính sách đi vào cuộc sống trong điều kiện khả năng đáp ứng của ngân sách Nhà nước cho giáo dục còn nhiều khó khăn, quá trình đổi mới đất nước đã và đang đặt ra nhiều thách thức cho việc đổi mới GD-ĐT, điều đó đòi hỏi cần phải có kinh phí bổ sung để đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy, trang bị thêm phương tiện, thiết bị, công nghệ dạy học mới.

Vì vậy, để thúc đẩy hoạt động XHHGD, huy động tối đa nguồn lực của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, đầu tư phát triển GD-ĐT, chúng ta cần thực hiện có hiệu quả hệ thống những chủ trương, đường lối đã được Đảng và Nhà nước triển khai trong thời gian qua.

Đồng thời, điều chỉnh những chính sách phù hợp, hoàn thiện các văn bản, chính sách, tạo hành lang pháp lý đầy đủ, thuận lợi để khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo.

Trách nhiệm của các cơ quan quản lý từ Trung ương đến địa phương cần phổ biến và tuyên truyền giải thích rộng rãi, vận động cho nhân dân, toàn xã hội hiểu đúng về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về XHHGD.

Các đơn vị giáo dục phải hiểu đúng quy định, quy trình và bản chất XHHGD để tránh hiểu nhầm và phát sinh những hiện tượng tiêu cực. Có như vậy mới nhận được sự đồng thuận của toàn xã hội, từ đó thu được kết quả tốt cho ngành Giáo dục và khi đó chính sách XHHGD mới thực sự đi vào cuộc sống.

Từ Tình Hình Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Trong Quân Đội, Suy Nghĩ Về Tăng Cường Công Tác Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Hiện Nay

Tổng kết thực tiễn

Nghiên cứu – Tìm hiểu

Thông tin – Tư liệu

Tạp chí và Tòa soạn

Từ tình hình vi phạm pháp luật, kỷ luật trong quân đội, suy nghĩ về tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay

Quân đội là một bộ phận cấu thành Nhà nước. Ngoài việc tham gia vào các hoạt động của xã hội như các bộ phận, lực lượng khác, quân đội còn hoạt động trong môi trường mang tính đặc thù. Vì thế, cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhân dân với tư cách là công dân có nghĩa vụ và trách nhiệm chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, còn phải thực hiện nghiêm điều lệnh, điều lệ, kỷ luật quân đội với tư cách là quân nhân. Việc thực hiện tốt hay không tốt nghĩa vụ, trách nhiệm trên sẽ tác động trực tiếp tích cực hay tiêu cực tới toàn xã hội và quân đội, nhất là bản chất, truyền thống tốt đẹp, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội nhân dân.

Từ năm 2000 đến nay, tình hình vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội ở các cơ quan, đơn vị trong toàn quân giảm về số lượng loại hình vụ việc và mức độ thiệt hại về người, tài sản; riêng số vụ vi phạm pháp luật và tội phạm giảm đáng kể; vụ việc vi phạm kỷ luật thông thường nhiều đơn vị dưới mức tỷ lệ 0,5%. Theo số liệu thống kê, số vụ vi phạm năm 2001 so với năm 2000 giảm 16,9% số vụ, năm 2002 không giảm, năm 2003 giảm 12,1%, năm 2004 giảm 7,2 %, năm 2005 giảm 9,3%. Điều đó nói lên ý thức chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội trong toàn quân đã được nâng lên; một trong những nguyên nhân quan trọng là quân đội đã thực hiện khá tốt công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL).

Tuy số lượng vụ việc và người vi phạm ít hơn so với tình hình ngoài quân đội, song so với điều kiện được thử thách, tôi luyện trong môi trường kỷ luật quân đội thì số vụ vi phạm hằng năm vẫn còn cao, và so sánh trong điều kiện quân số giảm thì tỷ lệ giảm thấp. Về cơ cấu vi phạm cũng đa dạng, bên ngoài xã hội có những loại hình tội phạm nào thì trong quân đội cũng có như vậy. Một trong những vấn đề đáng quan tâm là, không ít vụ vi phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, diễn biến phức tạp, tăng giảm thất thường, không theo xu hướng chung. Vì vậy, vụ việc vi phạm pháp luật trong quân đội tuy có giảm nhưng chưa vững chắc, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội vẫn nghiêm trọng.

Qua theo dõi, nghiên cứu tổng hợp cho thấy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình hình trên, trong đó không thể phủ nhận công tác PBGDPL trong quân đội cũng còn những mặt bất cập, hạn chế so với yêu cầu. Cấp ủy, chỉ huy một số cơ quan, đơn vị nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của công tác GDPL, chưa phát huy hết trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ này; nội dung giáo dục còn dàn trải, chưa phù hợp với từng đối tượng; hình thức, biện pháp PBGDPL ở một số cơ quan, đơn vị chưa phong phú, dẫn đến nhận thức, ý thức về pháp luật của một số quân nhân vẫn còn hạn chế; có trường hợp nhận thức đúng nhưng coi thường pháp luật, việc chấp hành kỷ luật có nơi thực hiện chưa nghiêm. Việc phòng gian, bảo mật, quản lý quân số, vũ khí, trang bị, tài sản còn thiếu cảnh giác, thiếu chặt chẽ. Chưa chủ động, tích cực phối hợp giữa lãnh đạo của cấp ủy Đảng với chỉ huy đơn vị trong phòng, chống các vụ việc vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội. Thực tế cho thấy, một số nơi chưa thực sự coi trọng công tác phòng ngừa tội phạm; khi có vụ việc xảy ra mới tập trung lãnh đạo và tìm cách tháo gỡ, giải quyết nên hiệu quả phòng, chống không cao. Cá biệt có đơn vị, người chỉ huy nhận thức việc xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm còn khiên cưỡng, chỉ muốn xử lý bằng kỷ luật hoặc có đơn vị lại cố tình giấu giếm, không báo cáo cấp trên và cơ quan chức năng vì sợ ảnh hưởng đến thành tích đơn vị. Vì thế, không thể tránh khỏi hiện tượng bỏ lọt vụ việc và người vi phạm hoặc xử lý không nghiêm, làm hạn chế hiệu quả công tác giáo dục, phòng ngừa. Cũng cần phải đề cập thêm là, hoạt động của các cơ quan chức năng trong quân đội còn chưa đủ mạnh; nhiều trường hợp phát hiện chậm, giải quyết chưa kịp thời, còn để lọt người, lọt tội. Có trường hợp nể nang, né tránh, xử lý thiếu kiên quyết của lãnh đạo, chỉ huy…

Mặt khác, phải nói đến hoạt động chống phá không ngừng của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, bằng các hình thức lôi kéo, kích động, tán phát tài liệu phản động tấn công vào trận địa tư tưởng, phá hoại mối đoàn kết nội bộ quân đội và đoàn kết quân dân; dùng tiền, vật chất để mua chuộc, cưỡng bức quân nhân. Sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường dẫn đến sự phân hoá giàu, nghèo, bất bình đẳng trong xã hội ngày càng nhiều; chính sách xã hội không điều tiết kịp trước những bất cập diễn ra trong đời sống hằng ngày, tạo ra những sơ hở trong quản lý, ảnh hưởng đến tư tưởng, lối sống của cán bộ, chiến sĩ. Tệ nạn xã hội không những chưa được ngăn chặn mà còn có xu hướng gia tăng, trong đó ma tuý, cờ bạc đang nổi cộm như một vấn nạn của xã hội. Mật độ phương tiện tham gia giao thông tăng nhanh, trong khi hạ tầng cơ sở về giao thông không phát triển kịp cũng là một trong những xuất phát điểm của vi phạm về giao thông…

Từ thực trạng và những nguyên nhân trên, theo chúng tôi, vấn đề quan trọng là cần phải đẩy mạnh, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác PBGDPL trong quân đội; trong đó tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, cấp ủy, chỉ huy cơ quan, đơn vị đề cao trách nhiệm, tăng cường công tác chỉ đạo, tổ chứcPB GDPL. Đây là yêu cầu quan trọng hàng đầu, đồng thời cũng là yếu tố nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL trong quân đội. Lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần nhận thức rõ hơn vai trò quan trọng của công tác GDPL, coi đó là nhiệm vụ thường xuyên của mình. Thực hiện tốt công tác PBGDPL sẽ trực tiếp phòng ngừa vi phạm, duy trì nghiêm kỷ luật, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị; qua đó thiết thực góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần tiếp tục quán triệt và tích cực thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Chính phủ, các chỉ thị, quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về công tác PBGDPL trong toàn quân.

Tiếp tục củng cố, kiện toàn các Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL ở các đơn vị, có cơ cấu hợp lý và có biện pháp đảm bảo cho các Hội đồng hoạt động đi vào nền nếp, có hiệu quả. Thường xuyên chú trọng rút kinh nghiệm, phân biệt rõ nhiệm vụ của Hội đồng với các cơ quan chức năng khác. Trên cơ sở các văn bản của Bộ Quốc phòng và tình hình cụ thể, cấp ủy các đơn vị cần có nghị quyết lãnh đạo chuyên đề về PBGDPL, phòng, chống tội phạm ở đơn vị mình và tổ chức thực hiện tốt công tác này. Đẩy mạnh sự phối hợp giữa các cơ quan có nhiệm vụ tham mưu và thực hiện công tác PBGDPL, bao gồm các Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL, các ban chức năng của Bộ Quốc phòng như Ban chỉ đạo về Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, chống tham nhũng, phòng chống các tệ nạn xã hội và về an toàn giao thông, các cơ quan chính trị, các cơ quan thông tấn, báo chí quân đội và các cơ quan pháp luật trong quân đội… Theo chức năng, nhiệm vụ của mình, Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL phải là trung tâm của sự phối hợp này. Đồng thời, tăng cường kiểm tra các cơ quan, đơn vị, nhà trường, kịp thời phát hiện những mặt còn hạn chế để có biện pháp chấn chỉnh, khắc phục, nâng cao chất lượng PBGDPL, ngăn ngừa vi phạm trong quân đội.

Tuy nhiên, việc đổi mới chương trình, nội dung PBGDPL không có nghĩa là xóa bỏ hệ thống cũ đã và đang phát huy tác dụng, mà đổi mới phải trên cơ sở kế thừa có chọn lọc, cắt bỏ những nội dung không còn phù hợp, cập nhật sự phát triển của hệ thống pháp luật Nhà nước và điều lệnh, điều lệ, các qui định mới ban hành trong quân đội. Trước mắt, cần tập trung phổ biến, tuyên truyền các chỉ thị, quyết định của Chính phủ, Bộ Quốc phòng, hướng dẫn của cơ quan cấp trên và những văn bản pháp luật phục vụ cho nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội trong sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhân dân ta, trực tiếp là phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Nội dung PBGDPL cần tập trung vào những vấn đề trọng tâm, trọng điểm, ngắn gọn, dễ tiếp thu, dễ nhớ để mọi quân nhân nắm vững những kiến thức cơ bản. Trên cơ sở nội dung đó, các cơ quan, đơn vị cần cụ thể hóa nội dung sát với nhiệm vụ, đối tượng và điều kiện cụ thể của mình. Chẳng hạn như, đối với Quân chủng Hải quân thì chương trình PBGDPL phải quan tâm những qui định, Công ước về biển, đảo của Việt Nam và quốc tế. Với những đơn vị làm nhiệm vụ ở biên giới thì chương trình phải tập trung vào Luật Biên giới. Đơn vị công tác ở vùng đồng bào có đạo cần giáo dục cho bộ đội về Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước. Những đơn vị làm nhiệm vụ ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số cần nắm vững chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Đối với những cơ quan, đơn vị đứng chân ở địa bàn thành phố, nơi đông đúc dân cư hoặc quản lý, sử dụng nhiều phương tiện xe máy thì phải quan tâm nhiều đến tuyên truyền, phổ biến các qui định về bảo đảm an toàn giao thông…

Kết hợp với đổi mới chương trình, nội dung, phải tăng cường PBGDPL trên các phương tiện thông tin đại chúng nói chung và của quân đội nói riêng. Các báo, đài cần bám sát đời sống pháp luật của xã hội và quân đội để xây dựng chương trình, nội dung tuyên truyền phù hợp, kịp thời chuyển tải những thông tin pháp lý đến mọi quân nhân. Vận dụng các hình thức, biện pháp giáo dục phong phú, đa dạng như: lên lớp, tổ chức nói chuyện pháp luật, trao đổi, mạn đàm, tranh luận… qua đó định hướng cho mọi quân nhân có nhận thức đúng đắn về các sự kiện pháp lý xảy ra trong xã hội.

Ba là, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, báo cáo viên tuyên truyền PBGDPL. Thực tế hiện nay, đội ngũ cán bộ tiến hành công tác PBGDPL còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa ngang tầm đòi hỏi của nhiệm vụ; đa số chưa được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng PBGDPL một cách bài bản. Do đó, phải chủ động thực hiện tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, giáo viên pháp luật trong các đơn vị, nhà trường; xây dựng đội ngũ tuyên truyền viên, báo cáo viên pháp luật trong toàn quân. Các lớp tập huấn báo cáo viên pháp luật toàn quân hằng năm do Bộ Quốc phòng mở là rất cần thiết, quan trọng. Song để đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao về số lượng, chất lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên, các đơn vị cần chủ động có kế hoạch và biện pháp tự bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác này bảo đảm cả trước mắt và lâu dài.

Ngoài những nội dung trên, để ngăn ngừa vi phạm, tội phạm xảy ra trong quân đội, công tác tuyển quân cần phải thực hiện đúng quy trình, chặt chẽ, không để lọt các đối tượng mắc tệ nạn xã hội hoặc phạm tội vào quân đội. Quản lý chặt chẽ tài liệu công tác, nhất là tài liệu bí mật Nhà nước, bí mật quân sự. Quản lý tốt an ninh mạng vi tính ở các đơn vị; thường xuyên nêu cao ý thức cảnh giác, phòng gian, bảo mật tránh để rò rỉ tin tức bí mật. Việc quản lý quân số, vũ khí, trang bị, tài sản phải được coi trọng, trong đó đề cao vai trò giám sát, kiểm tra của lãnh đạo, chỉ huy. Đồng thời, thực hiện nghiêm Quy chế dân chủ ở cơ sở, duy trì chế độ công khai, minh bạch và tăng cường vai trò, trách nhiệm của Hội đồng quân nhân. Các cấp uỷ Đảng và chỉ huy các đơn vị quan tâm hơn nữa trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhằm nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và chấp pháp trong quân đội lên một bước mới. Những vấn đề vướng mắc nảy sinh trong việc phối hợp hoạt động giữa các cơ quan này phải được giải quyết kịp thời, dứt điểm. Mỗi cơ quan tiến hành tố tụng trong quân đội phải thường xuyên rút kinh nghiệm; nhìn nhận và sửa chữa sai lầm, khuyết điểm nghiêm túc, cầu thị; giải quyết các vụ việc phải khách quan, công minh, đúng pháp luật.

Phó viện trưởng Viện Kiểm sát QSTƯ

Bạn đang xem bài viết Mấy Giải Pháp Thúc Đẩy Giáo Dục Quyền Con Người Trong Quân Đội Hiện Nay trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!